Tải bản đầy đủ (.pdf) (38 trang)

Các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (458.58 KB, 38 trang )

Cỏc bin phỏp iu tra trong t tng hỡnh s
Nguyn Th Minh
Khoa Lut
Lun vn ThS ngnh: Lut Hỡnh s; Mó s: 60 38 40
Ngi hng dn: PGS.TS. Trn Vn
Nm bo v: 2008
Abstract: Gii thiu nhng vn lý lun c bn v iu tra trong tng hỡnh s: a ra
cỏc khỏi nim, nhim v, nguyờn tc, yờu cu v cỏc bin phỏp ca hot ng iu tra
trong t tng hỡnh s. Trỡnh by chi tit cỏc quy nh ca lut t tng hỡnh s Vit Nam
v cỏc bin phỏp iu tra nh: khi t b can, ly li khai, i cht, nhn dng, khỏm xột,
thc nghim iu tra, trng cu giỏm nh... xut mt s gii phỏp nhm nõng cao
hiu qu cỏc bin phỏp iu tra trong t tng hỡnh s nh: nõng cao trỡnh , nng lc,
phm cht ca iu tra viờn, hon thin t chc, biờn ch cỏc c quan iu tra, i mi
hỡnh thc, phng phỏp o to, bi dng cao tớnh c lp sỏng to ca iu tra viờn,
tng cng phng tin, k thut hin i cho c quan iu tra, tng cng mi quan h
phi hp vi cỏc c quan hu quan, c bit l gia cỏc c quan tin hnh t tng.
Keywords: Bin phỏp iu tra; Lut hỡnh s; Lut t tng hỡnh s; Phỏp lut Vit Nam

Content
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật tố tụng hình sự đ-ợc ban hành nhằm đảm bảo việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. ý nghĩa đó đ-ợc thể hiện trong suốt quá
trình tố tụng ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Để đạt đ-ợc mục đích đó, Bộ
luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan và ng-ời tiến hành tố
tụng (gồm các cơ quan chức năng của Nhà n-ớc, các tổ chức xã hội và công dân) nhằm phát hiện
và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan ng-ời vô
tội.
Trong quá trình đổi mới đất n-ớc, do tác động của mặt trái nền kinh tế thị tr-ờng, của xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình tội phạm ở n-ớc ta trong thời gian vừa qua và trong những
năm tới đang và sẽ diễn biến rất phức tạp, ch-a có chiều h-ớng giảm. Tội phạm ngày càng tinh


vi, xảo quyệt về thủ đoạn, ph-ơng thức và ngày càng nghiêm trọng về tính chất, mức độ nguy
hiểm. Điều tra là một hoạt động trong tố tụng hình sự đ-ợc tiến hành nhằm xác định sự thật của
vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Công tác điều tra rất quan trọng, điều tra đúng


là cơ sở để xét xử đúng; điều tra sai là sai ngay từ b-ớc đầu, dễ dẫn tới xét xử sai, vi phạm
nghiêm trọng tới quyền, lợi ích của công dân.
Ngày 17/3/2003, ủy ban Th-ờng vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH11 về bồi
th-ờng thiệt hại cho ng-ời bị oan do ng-ời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra,
đã nhận đ-ợc sự h-ởng ứng đồng tình từ phía đông đảo nhân dân. Điều này không chỉ có ý nghĩa
lớn đối với những ng-ời bị oan sai mà còn ảnh h-ởng lớn tới tâm lý của tất cả mọi ng-ời, tạo cho
ng-ời dân yên tâm, tin t-ởng hơn nữa vào chính sách pháp luật của Nhà n-ớc ta. Đồng thời, Nghị
quyết này còn đặt ra một thách thức, yêu cầu lớn cho những ng-ời tiến hành tố tụng. Họ phải
thận trọng, tỷ mỷ trong hoạt động của mình để tránh gây ra tổn thất về tinh thần cũng nh- vật
chất cho những ng-ời tham gia tố tụng. Muốn nh- vậy, ngay từ b-ớc điều tra ban đầu cần phải
tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, yêu cầu trình độ chuyên môn cao, làm việc một cách
khách quan và hoàn toàn phục vụ vì công lý.
Điều tra trong tố tụng hình sự là giai đoạn đầu tiên có vai trò rất quan trọng trong quá trình
giải quyết một vụ án hình sự. Chính vì vậy mà pháp luật tố tụng hình sự quy định rất chặt chẽ về
các biện pháp điều tra. Điều này đ-ợc thể hiện trong BLTTHS, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình
sự và các văn bản chuyên ngành khác. Vì vậy việc nghiên cứu cụ thể về các biện pháp điều tra trong
tố tụng hình sự và thực tiễn hoạt động điều tra, phân tích làm sáng tỏ các quy định của pháp luật
tố tụng hình sự về các biện pháp điều tra, để từ đó có những giải pháp hoàn thiện pháp luật tố
tụng về điều tra, nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra có ý nghĩa rất quan trọng về lý luận cũng
nh- thực tiễn. Những phân tích đó lý giải cho việc chúng tôi chọn đề tài "Các biện pháp điều tra
trong tố tụng hình sự" để làm luận văn Thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, điều tra trong tố tụng hình sự cũng là một vấn đề đang đ-ợc quan
tâm nghiên cứu của các chuyên gia luật học cả về lý luận lẫn thực tiễn, đáng chú ý là các công
trình: "Sổ tay điều tra hình sự" (Nhà xuất bản Công an nhân dân); "Khoa học Điều tra hình sự"

(Tr-ờng Đại học Luật Hà Nội), "Giáo trình Điều tra hình sự" (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà
Nội) và một số bài báo đ-ợc công bố trong một số tạp chí... Đây là những công trình nghiên cứu cơ
bản các vấn đề thuộc lĩnh vực điều tra hình sự, đã đề cập đến các biện pháp điều tra hình sự. Tuy
nhiên các công trình này mới chỉ đề cập tới vấn đề mang tính bình luận các quy định của pháp luật
hoặc chiến thuật điều tra mà ch-a đi phân tích thực tiễn hoạt động điều tra, phân tích các bất cập,
hạn chế, từ đó đ-a ra đề xuất về giải pháp hoàn thiện, cũng nh- những kiến nghị trong việc hoàn
thiện pháp luật về các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự.
Cho đến nay, trong khoa học pháp lý Việt Nam ch-a có một công trình chuyên khảo nghiên
cứu sâu, toàn diện, đầy đủ về biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích
Trên cơ sở luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn về điều tra hình sự cũng nh- các biện pháp điều
tra hình sự cụ thể, luận văn đề xuất những giải pháp cơ bản về các biện pháp điều tra trong tố
tụng hình sự.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đ-ợc mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
+ Nghiên cứu một số vấn đề chung về biện pháp điều tra;


+ Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp điều tra và thực tiễn áp
dụng các biện pháp đó;
+ Đ-a ra giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng các
biện pháp điều tra trong thực tiễn.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự cả về ph-ơng
diện quy phạm pháp luật cũng nh- về thực tiễn
4. Ph-ơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t- t-ởng Hồ Chí
Minh; đ-ờng lối, chủ tr-ơng, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà n-ớc Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam; các văn bản pháp luật về vấn đề điều tra trong tố tụng hình sự và các

văn bản khác, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan tới đề tài.
Ph-ơng pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng và kết hợp chặt chẽ ph-ơng pháp lôgíc với
ph-ơng pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp; ph-ơng pháp so sánh, thống kê, khảo sát, điều tra,
tổng kết thực tiễn.
5. ý nghĩa của việc nghiên cứu
Luận văn là một công trình nghiên cứu về các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự một
cách hệ thống, toàn diện. Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ vấn đề lý luận cũng nh- thực
tiễn áp dụng các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự; đề xuất những giải pháp cơ bản nâng
cao chất l-ợng điều tra trong tố tụng hình sự hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3
ch-ơng:
Ch-ơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về điều tra trong tố tụng hình sự.
Ch-ơng 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về các biện pháp điều tra.
Ch-ơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự.
nội dung cơ bản của luận văn
Ch-ơng 1
Những vấn đề lý luận cơ bản
về điều tra trong tố tụng hình sự
1.1. Khái niệm, nhiệm vụ, nguyên tắc, yêu cầu của hoạt động điều tra trong tố tụng hình
sự
1.1.1. Khái niệm
Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó cơ quan Điều tra và các
cơ quan khác đ-ợc giao một số hoạt động điều tra đ-ợc sử dụng các biện pháp do Luật tố tụng
hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, ng-ời phạm tội và những vấn đề
khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. Đồng thời, thông qua hoạt


động điều tra xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các
biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan.

Điều tra vụ án hình sự là một dạng hoạt động nhận thức đặc biệt. Đối t-ợng nhận thức của
hoạt động điều tra là tội phạm đã xảy ra, những ph-ơng tiện, biện pháp đ-ợc áp dụng trong hoạt
động điều tra phải phù hợp với pháp luật, không trái với giá trị pháp lý của kết quả điều tra vụ án.
1.1.2. Nhiệm vụ
Nhanh chóng khám phá từng vụ án xảy ra:
- Một vụ án hình sự chỉ đ-ợc thừa nhận là đã đ-ợc khám phá khi cơ quan điều tra đã làm rõ
đ-ợc những vấn đề cần phải chứng minh đ-ợc quy định tại BLTTHS (bốn yếu tố cấu thành tội
phạm, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, nguyên nhân và điều kiện
phạm tội và những tình tiết khác liên quan đến vụ án).
Lập hồ sơ và đề nghị truy tố bị can của vụ án.
- Để tạo điều kiện cho quá trình truy tố, xét xử một cách khách quan, toàn diện, trong quá
trình điều tra, Điều tra viên cần phải áp dụng mọi biện pháp đ-ợc pháp luật cho phép để thực hiện
quyền và nghĩa vụ của những ng-ời tham gia tố tụng, đặc biệt là quyền khiếu nại, tố cáo của
ng-ời bị hại, của bị can, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.
Đảm bảo bồi th-ờng thiệt hại:
- Điều tra viên cần khẩn tr-ơng tiến hành các biện pháp nh- khám xét, kê biên tài sản, tiền
bạc và những giá trị vật chất khác để bảo đảm khả năng thực tế bồi th-ờng thiệt hại.
- Nghiên cứu tỷ mỷ, thận trọng tất cả những tài liệu chứng cứ đã đ-ợc thu thập về vụ án, hỏi
cung bị can, lấy lời khai ng-ời bị hại, đại diện của những cơ quan, tổ chức bị hại, lấy lời khai của
ng-ời làm chứng để làm rõ chính xác mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra, những bị can nào phải
bồi th-ờng và mức độ bồi th-ờng của từng bị can.
- Giải thích cặn kẽ cho những ng-ời tham gia tố tụng quyền khiếu nại dân sự và thực hiện các
biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn dân sự.
Làm rõ các nguyên nhân, điều kiện phạm tội để đề xuất những biện pháp khắc phục, ngăn
ngừa không để vụ án t-ơng tự xảy ra trong t-ơng lai.
- Những sơ hở, không đầy đủ, chặt chẽ của những văn bản pháp luật, nguyên tắc quản lý kinh
tế, công tác tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra của cấp trên đối với cấp d-ới;
- Những thiếu sót của công tác quản lý về trật tự, an toàn xã hội, những sơ hở, mất cảnh giác
của người bị hại Những tình tiết này hoàn toàn có thể làm rõ được trong quá trình điều tra.
- Giáo dục mọi ng-ời nắm đ-ợc pháp luật, có ý thức tôn trọng pháp luật, vận động quần

chúng nhân dân giúp đỡ cơ quan Điều tra trong quá trình điều tra vụ án. Đặc biệt, cần giáo dục,
làm cho bị can nhận thức đ-ợc hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải một cách thành thực, tự
nguyện trở lại con đ-ờng làm ăn l-ơng thiện.
1.1.3. Nguyên tắc của hoạt động điều tra
- Tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ hoạt động điều tra
vụ án hình sự.


+ Kết thúc giai đoạn điều tra vụ án và hành vi phạm tội của bị can đ-ợc làm rõ, đúng sự thật nhtrong thực tế đã xảy ra. Không đ-ợc xuyên tạc, cố ý bóp méo hay làm sai sự thật do nhiều động
cơ, mục đích khác nhau.
- Tuân theo pháp luật, chấp hành các nguyên tắc của BLTTHS.
+ Trong quá trình điều tra, Điều tra viên không chỉ đơn thuần chấp hành những yêu cầu của
pháp luật, nhất là BLTTHS mà còn áp dụng hiệu quả những thủ thuật, chiến thuật, những ph-ơng
tiện kỹ thuật trong hoạt động điều tra.
+ Không cho phép áp dụng trong hoạt động điều tra những biện pháp, ph-ơng tiện trái pháp luật,
chống lại pháp luật. Tất cả những biện pháp đ-ợc áp dụng trong hoạt động điều tra phải theo đúng thủ
tục, trình tự, kết quả tiến hành phải đ-ợc phản ánh chính xác, khách quan trong các văn bản tố tụng.
- Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, ng-ời
tham gia tố tụng nói riêng.
+ Hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự động chạm nhiều nhất đến quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân. Các biện pháp điều tra đ-ợc áp dụng, nhất là các biện pháp c-ỡng chế tố tụng phải
đ-ợc thực hiện trong khuôn khổ pháp luật cho phép, không đ-ợc xúc phạm, hạ thấp danh dự,
nhân phẩm, tài sản, sức khỏe của công dân.
- Cơ quan điều tra cấp d-ới chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của cơ quan điều tra cấp trên.
+ Cơ quan điều tra các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình và mối quan
hệ lãnh đạo, chỉ đạo giữa cơ quan điều tra cấp trên và cơ quan điều tra cấp d-ới do pháp luật quy
định. Mặt khác, công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động điều tra phải mang tính trực tiếp để đảm
bảo sự nhanh chóng của hoạt động điều tra, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của cơ quan
điều tra các cấp, Thủ tr-ởng, Phó Thủ tr-ởng cơ quan điều tra và Điều tra viên trong quá trình
điều tra v.v

1.1.4. Yêu cầu của hoạt động điều tra vụ án hình sự
- Hoạt động điều tra phải đ-ợc tiến hành có kế hoạch
- Tiến hành nhanh chóng và linh hoạt
- Sử dụng có hiệu quả những biện pháp trinh sát, những ph-ơng tiện kỹ thuật trong quá trình
điều tra
- Vận động quần chúng tham gia vào hoạt động điều tra
1.2. Các biện pháp điều tra
Các biện pháp điều tra bao gồm: Khởi tố bị can và hỏi cung bị can; lấy lời khai; thu giữ vật
chứng; đối chất; nhận dạng; khám xét, thu giữ tài liệu, vật chứng; khám nghiệm hiện tr-ờng, tử
thi, xem xét dấu vết; thực nghiệm điều tra; tr-ng cầu giám định.
Trong quá trình điều tra, tùy từng vụ án cụ thể mà các biện pháp điều tra đ-ợc thực hiện toàn
bộ hay một phần. Có những biện pháp luôn luôn bắt buộc phải thực hiện (nh- khởi tố bị can, hỏi
cung bị can, lấy lời khai ng-ời tham gia tố tụng), có những biện pháp có thể không bắt buộc phải
thực hiện tùy theo nhu cầu điều tra.
Việc xác định phạm vi, giới hạn các biện pháp điều tra có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong
việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Việc điều tra phiến diện, không đầy đủ là một trong
những căn cứ để Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung (Điều 168, 179 BLTTHS) hoặc
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (Điều 273 BLTTHS) v.v


1.3. Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp điều tra trong tố
tụng hình sự
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến tr-ớc năm 1989
Các quy định pháp lý về hoạt động điều tra hình sự đ-ợc ban hành với số l-ợng ch-a lớn và
chủ yếu d-ới dạng các văn bản d-ới luật, nội dung ch-a đầy đủ, phần lớn mới chỉ quy định về tổ
chức cơ quan điều tra và thẩm quyền điều tra, về nội dung này, tính hợp lý vẫn ch-a cao.
1.3.2. Từ năm 1989 đến năm 2003
BLTTHS đầu tiên ra đời năm 1989 là một điểm mốc lớn trong lịch sử phát triển pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam, có tác động tích cực trong quá trình tố tụng hình sự nói chung và hoạt động điều
tra hình sự nói riêng. Bộ luật đã dành 6 ch-ơng với 49 Điều luật để quy định những vấn đề quan trọng

liên quan đến hoạt động điều tra hình sự, phần lớn các điều luật này đ-ợc dành để quy định về trình tự,
thủ tục tiến hành các biện pháp điều tra cụ thể.
Những thay đổi của Bộ luật Hình sự năm 1999 về phân loại tội phạm còn có ảnh h-ởng đến
việc tổ chức hoạt động điều tra hình sự và đòi hỏi cần có sự điều chỉnh trong pháp luật tố tụng hình
sự. Do đó, trong lần sửa đổi, bổ sung thứ 3 đối với BLTTHS năm 1988, vấn đề thời hạn điều tra và
thời hạn tạm giam để điều tra các loại tội phạm đã đ-ợc quy định lại một cách cụ thể phù hợp với sự
thay đổi nêu trên của Bộ luật Hình sự năm 1999, tạo thuận lợi cho việc áp dụng các chế định này
trong thực tế điều tra hình sự.
1.3.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
- Xây dựng đ-ợc hệ thống các cơ quan điều tra và các cơ quan khác đ-ợc giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra khá hợp lý, b-ớc đầu đảm bảo đ-ợc tính chuyên sâu.
- Bổ sung những quy định làm cơ sở pháp lý cho việc tăng c-ờng mối quan hệ phối hợp giữa
điều tra theo tố tụng và điều tra trinh sát.
BLTTHS năm 2003 đã kế thừa và phát triển các quy định về hoạt động điều tra nói chung, các
biện pháp điều tra nói riêng. Các biện pháp điều tra tuy vẫn giữ nguyên nh- cũ nh-ng nội dung, trình
tự, thủ tục tiến hành các biện pháp điều tra đ-ợc bổ sung nhiều theo h-ớng đảm bảo tính khách quan
của biện pháp đ-ợc thực hiện; tôn trọng, bảo vệ quyền của ng-ời tham gia tố tụng trong hoạt
động điều tra. Những sửa đổi, bổ sung đó phù hợp với định h-ớng tăng c-ờng tính dân chủ trong
hoạt động tố tụng, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền và cải cách t- pháp hiện nay
ở n-ớc ta theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Có thể khẳng định rằng, các quy định pháp lý về hoạt động điều tra hình sự về cơ bản ngày
một hoàn thiện, đáp ứng khá kịp thời đòi hỏi của thực tiễn điều tra hình sự, góp phần đáng kể vào
những thành tựu mà cơ quan điều tra đã đạt đ-ợc trong thời gian qua.
Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến l-ợc cải cách t- pháp đến năm 2020 đã nêu
rõ: "Xác định rõ nhiệm vụ của cơ quan điều tra trong mối quan hệ với các cơ quan khác đ-ợc
giao một số hoạt động điều tra theo h-ớng cơ quan điều tra chuyên trách điều tra tất cả các vụ
án hình sự, các cơ quan khác chỉ tiến hành một số hoạt động điều tra sơ bộ và tiến hành một số
biện pháp theo yêu cầu của cơ quan điều tra chuyên trách. Tr-ớc mắt tiếp tục thực hiện mô hình
tổ chức cơ quan điều tra theo pháp luật hiện hành; nghiên cứu và chuẩn bị mọi điều kiện để tiến
tới tổ chức lại cơ quan điều tra theo h-ớng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh

sát và hoạt động điều tra tố tụng hình sự".


Ch-ơng 2
Quy định của Luật tố tụng hình sự Việt Nam
về các biện pháp điều tra
2.1. Khởi tố bị can và hỏi cung bị can
2.1.1. Khởi tố bị can
Khởi tố bị can là việc cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố đối với một
ng-ời khi có đủ căn cứ xác định rằng ng-ời đó đã thực hiện hành vi phạm tội.
Quyết định khởi tố bị can là văn bản pháp lý cần thiết để cơ quan điều tra áp dụng tất cả các
biện pháp ngăn chặn, thu thập chứng cứ, biện pháp đảm bảo việc giải quyết vụ án đối với bị can.
2.1.2. Hỏi cung bị can
Hỏi cung bị can là biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự, do Điều tra viên tiến hành bằng
cách tác động trực tiếp vào tâm lý bị can nhằm mục đích thu đ-ợc lời khai trung thực, đúng đắn
và đầy đủ về hành động phạm tội của bị can và đồng bọn cũng nh- những tin tức cần thiết khác
góp phần làm sáng tỏ sự thật của vụ án.
- Là biện pháp điều tra phổ biến nhất, có khả năng thu nhiều tin tức nhất về vụ án đang điều
tra cũng nh- các tin tức khác mà cơ quan điều tra cần thu thập.
- Hỏi cung cũng dễ dẫn đến sai lầm chủ quan, xâm phạm nghiêm trọng tới quyền lợi của bị
can. Chính vì vậy mà khoản 2 Điều 72 BLTTHS năm 2003 đã quy định lời nhận tội của bị can, bị
cáo chỉ có thể đ-ợc coi là chứng cứ nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án. Không đ-ợc
dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội.
2.2. Lấy lời khai ng-ời làm chứng, ng-ời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,
ng-ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
2.2.1. Lấy lời khai ng-ời làm chứng
Lấy lời khai của ng-ời làm chứng là biện pháp điều tra đ-ợc tiến hành nhằm thu thập, theo trình
tự tố tụng hình sự, lời khai của ng-ời làm chứng về những tình tiết của vụ án đang đ-ợc điều tra và
những tin tức, tài liệu khác có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm.
- Lời khai của ng-ời làm chứng th-ờng thu thập đ-ợc nhiều thông tin về vụ án, đối t-ợng gây án

và những tình tiết khác có liên quan đến vụ án xảy ra.
- Khi lấy lời khai của ng-ời làm chứng ch-a đủ 16 tuổi phải mời cha mẹ hoặc ng-ời đại diện
hợp pháp khác hay thầy cô giáo của ng-ời đó tham dự. Do vậy, khi triệu tập ng-ời làm chứng
ch-a đủ 16 tuổi, Điều tra viên cũng phải gửi giấy mời cho cả những ng-ời nói trên.
- Lời khai của ng-ời làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng để chứng
minh sự thật của vụ án, sau khi đ-ợc kiểm tra, xác minh thận trọng cần đ-ợc sử dụng có hiệu quả
trong quá trình tiến hành hoạt động điều tra để chứng minh sự thật của vụ án; cũng nh- trong
hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm.
- Không dùng lời khai của ng-ời làm chứng nh- chứng cứ duy nhất để kết luận về vụ án.


2.2.2. Lấy lời khai của ng-ời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ng-ời có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
- Ng-ời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự... là những ng-ời mà quyền lợi, nghĩa vụ
của họ bị ảnh h-ởng bởi các tình tiết của vụ án. Chính vì vậy mà lời khai của họ có thể không
khách quan, mà thiên theo h-ớng chủ quan có lợi cho mình.
- Cần phải đối chiếu với nhiều lời khai của các đối t-ợng khác và những chứng cứ khác thu
thập trong quá trình điều tra để tìm ra đ-ợc lời khai chân thật, đáng tin cậy để sử dụng vào trong
việc khám phá sự thật khách quan của vụ án.
2.3. Đối chất
Đối chất là biện pháp điều tra đ-ợc áp dụng trong tr-ờng hợp có sự mâu thuẫn trong lời khai
giữa những ng-ời tham gia tố tụng với nhau về cùng một vấn đề nhằm xác định sự thật khách
quan của vụ án.
- Nh-ợc điểm: dễ bộc lộ những chứng cứ đã thu thập đ-ợc; bị can dễ có điều kiện thông
cung, nên Điều tra viên phải thận trọng và chỉ sử dụng biện pháp đối chất khi đã sử dụng các biện
pháp điều tra khác không giải quyết đ-ợc mâu thuẫn trong lời khai.
2.4. Nhận dạng
Nhận dạng là biện pháp điều tra đ-ợc tiến hành nhằm mục đích làm rõ sự đồng nhất, sự
t-ơng đồng hay sự khác biệt giữa đối t-ợng nhận dạng và đối t-ợng có liên quan đến vụ án mà
ng-ời nhận dạng đã tri giác đ-ợc tr-ớc đây bằng cách quan sát, so sánh các đặc điểm, vết tích

của đối t-ợng nhận dạng với hình ảnh đối t-ợng mà ng-ời nhận dạng đã tri giác tr-ớc đây còn
ghi nhớ trong trí nhớ của ng-ời nhận dạng.
- Việc nhận dạng cũng có thể làm ảnh h-ởng tới quyền lợi của mỗi ng-ời, việc quyết định và đ-a
ra hình thức nhận dạng phù hợp cũng là một yêu cầu đặt ra cho Điều tra viên trong hoạt động của
mình. Chọn ng-ời nhận dạng và đối t-ợng nhận dạng không đúng, không những khó phát huy đ-ợc
tác dụng mà còn có thể làm ảnh h-ởng đến sự an toàn của ng-ời đ-ợc chọn để nhận dạng, hoặc ảnh
h-ởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án.
- Ng-ợc lại, sau khi xác minh đ-ợc kết quả nhận dạng đúng thì có thể sử dụng nó nh- là một
trong những chứng cứ của vụ án, tr-ờng hợp ng-ời nhận dạng đ-a ra kết luận nghi vấn đối t-ợng
nhận dạng có liên quan đến vụ án thì chỉ đ-ợc sử dụng vào việc nhận định, phán đoán, xác định
ph-ơng h-ớng điều tra.
2.5. Khám xét
Khám xét là một biện pháp điều tra do những ng-ời có thẩm quyền tiến hành bằng cách lục soát,
tìm kiếm trong ng-ời, đồ vật, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, th- tín b-u kiện, b-u phẩm của một
ng-ời, nhằm phát hiện và thu giữ vật chứng, tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án. Việc khám xét
chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm đ-ợc tiến hành khi cần phát hiện ng-ời đang bị truy nã.
- Biện pháp khám xét sẽ ảnh h-ởng tới quyền tự do cá nhân. Nếu không đủ căn cứ do pháp
luật quy định thì không đ-ợc quyền khám xét.
- Việc khám ng-ời, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm chỉ đ-ợc tiến hành khi có căn cứ để nhận định
trong ng-ời, chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm của một ng-ời có công cụ, ph-ơng tiện phạm tội, đồ vật,
tài sản do phạm tội mà có, hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án. Việc khám chỗ ở, chỗ
làm việc, địa điểm cũng đ-ợc tiến hành khi cần phát hiện ng-ời đang bị truy nã.


- Khi khám xét, chỉ đ-ợc thu giữ những đồ vật, tài liệu có ý nghĩa cho hoạt động điều tra và mô tả
đúng thực trạng vào biên bản, đ-a vào hồ sơ vụ án.
Các biện pháp khám xét đ-ợc trình bày ở các điểm sau đây.
2.5.1. Khám ng-ời
Khám ng-ời là việc lục soát, tìm kiếm, nghiên cứu trong ng-ời, quần áo đang mặc và đồ vật,
ph-ơng tiện mang theo của họ nhằm phát hiện và thu giữ công cụ, ph-ơng tiện phạm tội, đồ vật,

tài sản do phạm tội mà có, những dấu vết, đồ vật, tài liệu có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra.
2.5.2. Khám chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm
Khám xét chỗ ở, địa điểm là việc tìm kiếm các chứng cứ phạm tội tại chỗ ở, địa điểm nhất
định
2.5.3. Khám xét, thu giữ th- tín, điện tín, b-u kiện, b-u phẩm tại b-u điện
Các th- tín, điện tín, b-u kiện, b-u phẩm bị khám xét phải còn đang nằm trong sự quản lý của cơ
quan b-u điện ch-a giao cho ng-ời nhận, nếu đã giao cho ng-ời nhận mang theo ng-ời hoặc để tại
chỗ thì đ-ợc coi là đồ vật.
Trong thực tiễn, hoạt động điều tra có những tr-ờng hợp cần thiết phải tiến hành khám xét
nhiều đối t-ợng ở nhiều nơi cùng một lúc. Khi khám xét đòi hỏi phải tiến hành đồng thời, có sự
phối hợp thống nhất trong hành động của các lực l-ợng, đảm bảo không để cho đối t-ợng tẩu tán,
tiêu hủy tài liệu, vật chứng của vụ án.
Hoạt động khám xét còn bao gồm cả khám xét lại ng-ời, đồ vật, chỗ ở, địa điểm, th- tín, điện
tín, b-u kiện, b-u phẩm.
2.6. Khám nghiệm hiện tr-ờng, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể
2.6.1. Khám nghiệm hiện tr-ờng
Khám nghiệm hiện tr-ờng là biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự, do Điều tra viên trực tiếp
tiến hành nhằm nghiên cứu, ghi nhận, mô tả hiện tr-ờng; phát hiện, thu thập, đánh giá các dấu vết, vật
chứng, các tin tức, tài liệu liên quan tại hiện tr-ờng phục vụ cho điều tra, xử lý tội phạm, đồng thời
phát hiện những nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, phát hiện ph-ơng thức, thủ đoạn hoạt
động mới của tội phạm để phục vụ phòng ngừa tội phạm.
- Khám nghiệm hiện tr-ờng là một hoạt động điều tra phức tạp, đan xen nhiều yếu tố về tố
tụng, về nghiệp vụ điều tra, kỹ thuật hình sự, tổ chức lực l-ợng, thậm chí có thể liên quan đến
hoạt động điều tra khác đ-ợc tiến hành đồng thời nh- việc lấy lời khai.
- Những ng-ời trực tiếp thi hành cần chú ý rèn luyện t- duy tốt về nghiệp vụ điều tra, đầu ttốt trang bị kỹ thuật phục vụ cho công tác khám nghiệm hiện tr-ờng đảm bảo đ-ợc tính khoa học
và hiệu quả cao.
2.6.2. Khám nghiệm tử thi
Khám nghiệm tử thi là biện pháp điều tra của Điều tra viên có bác sĩ pháp y, kiểm sát viên
và có thể là giám định viên pháp y tham gia đối với tử thi nhằm phát hiện dấu vết tội phạm trên
thân thể ng-ời chết hoặc nguyên nhân cái chết.

- Khám nghiệm tử thi có ảnh h-ởng rất lớn đến phong tục, tập quán và tình cảm của những
ng-ời gần gũi, có mối quan hệ với tử thi, khi thực hiện biện pháp này cần chú ý tuân thủ nghiêm
chỉnh các quy định của pháp luật, đảm bảo việc giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, tìm ra sự
thật của vụ án.


- Trong nhiều tr-ờng hợp, khám nghiệm tử thi không đ-a ra đ-ợc kết luận cuối cùng thì phải
tiến hành thêm biện pháp giám định để có đ-ợc câu trả lời cho vụ án.
2.6.3. Xem xét dấu vết trên thân thể
Xem xét dấu vết trên thân thể là biện pháp điều tra nhằm phát hiện trên thân thể ng-ời bị bắt
bị tạm giữ, bị can, ng-ời bị hại, ng-ời làm chứng để phát hiện dấu vết của tội phạm hoặc các dấu
vết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
- Chỉ có những vụ án mà Điều tra viên thấy cần thiết phải tiến hành xem xét dấu vết trên thân
thể để khẳng định đ-ợc những chứng cứ, tài liệu khác đã đ-ợc thu thập.
2.7. Thực nghiệm điều tra
Thực nghiệm điều tra là một biện pháp điều tra do cơ quan điều tra tiến hành theo quy định
của pháp luật tố tụng hình sự mà bản chất của nó là sử dụng những kiến thức chuyên môn, kỹ thuật
cần thiết nhằm tiến hành các hoạt động thực nghiệm d-ới dạng: dựng lại, diễn lại, thử nghiệm những
hành vi, tình huống, tình tiết của một sự việc nhất định có ý nghĩa đối với vụ án nhằm xác định khả
năng diễn ra của chúng và kiểm tra, củng cố những chứng cứ đã có, thu thập chứng cứ mới, kiểm tra
đánh giá những giả thuyết điều tra, góp phần giải quyết đúng đắn vụ án hình sự và phòng ngừa tội
phạm
- Kết quả thực nghiệm điều tra là ph-ơng tiện để kiểm tra kết quả điều tra.
- Tác dụng chính của thực nghiệm điều tra là giải quyết những mâu thuẫn phát sinh từ những
tình tiết, tình huống nào đó có ý nghĩa cho hoạt động điều tra.
- Không phải là biện pháp cuối cùng để đi đến sự thật khách quan của vụ án. Trong khi thực
nghiệm điều tra, Điều tra viên sẽ phát hiện ra những mâu thuẫn trong những chứng cứ đã thu thập
đ-ợc. Sau khi tiến hành hoạt động thực nghiệm điều tra sẽ là cơ sở cho việc tiến hành các biện
pháp điều tra tiếp theo. Đến khi nào các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án đều đã đ-ợc kiểm
chứng và phù hợp với nhau thì mới có thể coi là hoạt động điều tra kết thúc, sự thật của vụ án

đ-ợc làm sáng tỏ.
2.8. Tr-ng cầu giám định
Tr-ng cầu giám định là việc cơ quan hoặc ng-ời tiến hành tố tụng đề nghị cơ quan có thẩm
quyền xem xét, kết luận một vấn đề về chuyên môn, kỹ thuật cần đ-ợc làm rõ trong vụ án hình sự
trong những tr-ờng hợp do pháp luật quy định hoặc khi cần thiết.
Những tr-ờng hợp bắt buộc phải tr-ng cầu giám định:
- Nguyên nhân chết ng-ời, tính chất th-ơng tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả năng lao
động;
- Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo trong tr-ờng hợp có nghi ngờ về năng lực trách
nhiệm hình sự của họ;
- Tình trạng tâm thần của ng-ời làm chứng hoặc ng-ời bị hại trong tr-ờng hợp có nghi ngờ về
khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn đối với những tình tiết của vụ án;
- Tuổi của bị can, bị cáo, ng-ời bị hại, nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ án nếu không có tài
liệu khẳng định tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;
- Chất độc, chất ma túy, chất phóng xạ, tiền giả.


Ngoài ra, xét thấy cần thiết thì cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định tr-ng cầu giám định.
Những tr-ờng hợp bắt buộc phải tr-ng cầu giám định là những tr-ờng hợp liên quan trực tiếp đến
việc xác định tội danh, cũng nh- khung hình phạt dành cho ng-ời phạm tội.
Trong quá trình giám định, giám định viên có thể phát hiện cho cơ quan điều tra những
nguyên nhân, điều kiện thực hiện việc phạm tội; những sơ hở, thiếu sót của ta và những thủ đoạn
hoạt động của kẻ phạm tội. Điều đó có ý nghĩa phòng ngừa tội phạm hoặc có tác dụng đấu tranh
đối với hoạt động phạm tội.
Pháp luật không quy định việc cá nhân tự mình tr-ng cầu giám định. Trong nhiều tr-ờng hợp
khi kết quả cá nhân tự tr-ng cầu giám định sẽ đ-ợc cơ quan điều tra xác minh và chấp nhận,
nh-ng có những cơ quan điều tra lại không chấp nhận việc tr-ng cầu giám định của cá nhân. Việc
tr-ng cầu giám định của ng-ời tham gia tố tụng cũng là một hoạt động để đ-a ra chứng cứ chứng
minh cho vụ án, vì vậy cần phải đ-ợc tôn trọng, cơ quan điều tra có thể sử dụng những kết quả
tr-ng cầu giám định của ng-ời tham gia tố tụng phục vụ cho quá trình chứng minh sự thật của vụ

án sau khi đã thẩm định lại tính hợp pháp và sự chính xác của kết quả đó.
2.8.1. Việc tiến hành giám định
Việc tiến hành giám định có thể tiến hành tại cơ quan giám định hoặc tại nơi tiến hành điều
tra vụ án ngay sau khi có quyết định tr-ng cầu giám định.
Thứ nhất: tiến hành tại cơ quan giám định bởi giám định t- pháp là công việc phức tạp, đòi
hỏi phải sử dụng kiến thức, ph-ơng tiện, ph-ơng pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên
ngành, phải đ-ợc tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ với thời gian cần thiết. Đồng thời, tại cơ
quan giám định sẽ đáp ứng đ-ợc yêu cầu bảo mật về nội dung vụ án.
Thứ hai: Tại hiện tr-ờng, việc tiến hành giám định đáp ứng đ-ợc yêu cầu kịp thời của hoạt
động điều tra và giải quyết vụ án.
2.8.2. Nội dung kết luận giám định
Kết luận giám định là lời khẳng định mang tính chuyên môn của ng-ời giám định về vấn đề
đ-ợc tr-ng cầu. Từ kết luận này, cơ quan điều tra và cụ thể là Điều tra viên sẽ đ-a ra đ-ợc h-ớng
điều tra tiếp theo hoặc kết luận về nội dung vụ án đang cần đ-ợc làm sáng tỏ. Kết luận giám định
hoàn toàn không đồng nghĩa với kết luận về nội dung vụ án.
2.8.3. Giám định bổ sung hoặc giám định lại
Giám định bổ sung đ-ợc tiến hành trong tr-ờng hợp nội dung kết luận giám định ch-a rõ,
ch-a đầy đủ hoặc khi phát sinh những vấn đề mới liên quan đến những tình tiết của vụ án đã đ-ợc
kết luận tr-ớc đó.
Giám định lại đ-ợc tiến hành trong khi có nghi ngờ về kết quả giám định hoặc có mâu thuẫn
trong các kết luận giám định về cùng một vấn đề cần giám định.


Ch-ơng 3
Giải pháp nâng cao hiệu quả
các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự
3.1. Dự báo tình hình tội phạm và những yêu cầu đối với công tác điều tra trong giai
đoạn mới
Trong quá trình đổi mới đất n-ớc, do tác động của mặt trái nền kinh tế thị tr-ờng, của xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình tội phạm ở n-ớc ta trong thời gian vừa qua và trong những

năm tới đang và sẽ diễn biến rất phức tạp; tội phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt về thủ đoạn,
ph-ơng thức và ngày càng nghiêm trọng về tính chất, mức độ nguy hiểm.
Yêu cầu hệ thống cơ quan t- pháp ở n-ớc ta, trong đó cơ quan điều tra phải đ-ợc củng cố,
kiện toàn, đổi mới toàn cả về quy mô và chất l-ợng, đáp ứng đ-ợc yêu cầu đấu tranh phòng,
chống tội phạm trong tình hình mới. Việc đổi mới mô hình tổ chức cơ quan điều tra cần đ-ợc đặt
trong tổng thể của tiến trình đổi mới hệ thống chính trị, bộ máy nhà n-ớc và cơ quan t- pháp;
phải kế thừa đ-ợc những -u điểm của mô hình tổ chức cơ quan điều tra trong quá trình hình
thành, phát triển từ năm 1945.
Các cơ quan điều tra cùng với các Điều tra viên là chủ thể tiến hành tố tụng trong hoạt động
điều tra vụ án. Việc bố trí, sắp xếp đội ngũ Điều tra viên, tổ chức phân công công việc hợp lý cho
từng ng-ời quyết định sự thành công hay thất bại trong công tác điều tra. Cán bộ điều tra cần
không ngừng học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt, tự rèn luyện các phẩm chất nhân cách để
ngày càng hoàn thiện mình.
Bên cạnh yêu cầu thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động trinh sát và hoạt động
điều tra, cần hoàn thiện mô hình tổ chức cơ quan điều tra theo nguyên tắc phải t-ơng xứng với chức
năng, nhiệm vụ đ-ợc giao để cơ quan điều tra trở thành công cụ đủ mạnh của Nhà n-ớc nhằm
ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả mọi hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã
hội..., không bỏ lọt tội phạm, không làm oan ng-ời vô tội, bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà n-ớc, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới đất n-ớc, đáp ứng
đ-ợc yêu cầu kịp thời, nhanh nhạy trong việc điều tra, khám phá tội phạm.
3.2. Những giải pháp
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự, đặc biệt là pháp luật về điều tra
trong tố tụng hình sự
- Về thời hạn của việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm: Cần quy định thời hạn cho từng
giai đoạn giải quyết vụ án hợp lý hơn, vừa đảm bảo đ-ợc yêu cầu giải quyết vụ án nhanh chóng,
đồng thời, đảm bảo thời gian cho những vụ án có tính chất phức tạp.
- Nên bổ sung biện pháp ghi âm, ghi hình khi lập biên bản hoạt động tố tụng tại Điều 95,
Điều 125 BLTTHS.
- Cần bổ sung vào Điều 139 BLTTHS về đối t-ợng là băng ghi âm, ghi hình để nhận dạng, phù
hợp với sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện nay.

- Để đảm bảo tính khách quan và quyền lợi của bị can, bị cáo thì BLTTHS cần có quy định
khi cơ quan điều tra mở niêm phong và kiểm tra các thông tin đ-ợc l-u giữ trong các máy tính, ổ
cứng, đĩa mềm, đĩa CD, ổ USD phải có mặt Kiểm sát viên, chủ sở hữu hoặc ng-ời quản lý máy
tính, các ổ đĩa máy tính đó.


- Cần quy định về việc cho phép ng-ời tham gia tố tụng tự mình yêu cầu giám định (tự chi
phí). Cần tránh những quan niệm sai lầm cho rằng BLTTHS chỉ quy định cơ quan điều tra mới có
thẩm quyền tr-ng cầu giám định, cho nên chỉ có những kết luận giám định do cơ quan tiến hành
tố tụng tr-ng cầu mới có giá trị chứng minh.
- Cần có những quy định thích hợp để chuyển hóa tài liệu trinh sát thành chứng cứ gián tiếp bằng
cách sử dụng tài liệu đó nh- là một ph-ơng pháp tác động tâm lý trong việc hỏi cung bị can, lấy lời
khai của ng-ời tham gia tố tụng, thực nghiệm điều tra, xây dựng và khám nghiệm hiện tr-ờng
v.v
3.2.2. Các giải pháp nâng cao chất l-ợng công tác điều tra
Nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất Điều tra viên
- Xây dựng cho cán bộ điều tra t- cách đạo đức trong sáng, mẫu mực, biết đặt lợi ích của Nhà
n-ớc, của tập thể, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, có ý thức cao về nhiệm vụ, hoàn thành
tốt mọi nhiệm vụ đ-ợc giao; tạo mối quan hệ tốt với quần chúng nhân dân.
- Cần -u tiên lựa chọn và bố trí vào các cơ quan điều tra những cán bộ có khả năng hoạt động
điều tra nh-: hiểu biết rộng; có khả năng quan sát tốt, nhạy bén và nhanh chóng phát hiện đ-ợc
vấn đề, có khả năng diễn đạt lập luận lôgíc, chặt chẽ, có tác phong chững chạc, có khả năng kiềm
chế bản thân và có độ ổn định cảm xúc, ý chí cao.
Hoàn thiện tổ chức, biên chế các cơ quan điều tra.
- Xây dựng tổ chức biên chế cho phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của từng địa ph-ơng.
- Xây dựng nguồn nhân lực dự trữ dồi dào để có thể sẵn sàng đáp ứng đ-ợc yêu cầu trong bất
kỳ tình huống nào.
+ Nguồn đ-ợc tuyển chọn từ các tr-ờng đào tạo nghiệp vụ;
+ Đội ngũ chiến sĩ nghĩa vụ có nguyện vọng ở lại phục vụ lâu dài trong lực l-ợng vũ trang.
Những đối t-ợng này đều phải đ-ợc thẩm tra t- cách lý lịch rõ ràng, phẩm chất đạo đức trong

sáng.
Giáo dục, đào tạo gắn chặt với sử dụng Điều tra viên theo quy trình chặt chẽ, định h-ớng
thống nhất cho cả nhà tr-ờng và cơ quan chuyên môn
- Từ khâu tuyển chọn đầu vào của cán bộ làm công tác điều tra bằng việc kiểm tra sức khỏe, xác
minh lý lịch, kiểm tra những kiến thức cần thiết cũng nh- t- cách đạo đức tr-ớc khi tiến hành đào
tạo chuyên môn nghiệp vụ.
- Th-ờng xuyên sàng lọc sao cho lựa chọn đ-ợc những cán bộ vững về chính trị, mẫu mực về
đạo đức và giỏi về chuyên môn để có thể hoàn thành nhiệm vụ đ-ợc giao trong điều kiện tốt nhất.
- Coi trọng việc tập huấn bồi d-ỡng cho Điều tra viên
Đổi mới hình thức, ph-ơng pháp đào tạo, bồi d-ỡng đề cao tính độc lập sáng tạo của Điều
tra viên.
- Đào tạo, gắn chặt với tình huống thực tế, phát huy tính độc lập sáng tạo của học viên để có
thể đáp ứng đ-ợc yêu cầu của công việc sau khi kết thúc khóa đào tạo, tiếp cận với công việc thực
tiễn.
Tăng c-ờng việc bảo đảm ph-ơng tiện, kỹ thuật hiện đại cho cơ quan điều tra


Trang bị ph-ơng tiện, kỹ thuật hiện đại cũng đồng nghĩa với việc những ng-ời trực tiếp làm
công tác điều tra cũng cần th-ờng xuyên học hỏi để làm chủ công nghệ, kỹ thuật, biết tận dụng
công cụ, máy móc phục vụ cho công việc của mình.
Có chính sách hỗ trợ, khuyến khích, động viên cán bộ điều tra
- Tạo cơ chế chính sách hỗ trợ khuyến khích cán bộ điều tra giữ vững đ-ợc lập tr-ờng kiên
định của mình.
- Chế độ khen th-ởng xứng đáng mỗi khi họ hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Tăng c-ờng mối quan hệ phối hợp với các cơ quan hữu quan, đặc biệt là giữa các cơ quan
tiến hành tố tụng.
- Mối quan hệ với Viện kiểm sát: kiểm tra việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra,
nhằm đảm bảo hoạt động điều tra tuân thủ các quy định của BLTTHS và Pháp lệnh tổ chức điều tra
hình sự. Tăng c-ờng mối quan hệ chặt chẽ hơn nữa với Viện kiểm sát giúp cơ quan điều tra thực hiện
công việc của mình đúng thủ tục hơn, thuận lợi hơn trong việc khám phá vụ án.

- Chú trọng tới quan hệ quần chúng và mối liên hệ với các cơ quan, tổ chức khác. Cần cho họ
thấy trách nhiệm của mình trong việc giúp đỡ cơ quan điều tra khám phá sự thật của vụ án, nhận
thức đ-ợc trách nhiệm tố giác tội phạm không chỉ có ý nghĩa giúp cơ quan điều tra hoàn thành tốt
nhiệm vụ của mình, mà còn có ý nghĩa trong việc bảo vệ trật tự trị an xã hội, bảo vệ an toàn cho
cơ quan, tổ chức và cá nhân.
kết luận
Các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự là đề tài rộng, phức tạp và đòi hỏi kinh nghiệm
thực tiễn sâu rộng. Với khả năng có hạn, chúng tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài và đạt đ-ợc
một số kết quả khiêm tốn. Những kết quả đó đ-ợc thể hiện ở một số điểm sau đây:
1- Có vai trò quan trọng trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án, từ đó xác định nguyên
nhân, điều kiện phạm tội, đề ra ph-ơng h-ớng khắc phục trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội
phạm, hoạt động điều tra trong thời gian qua đã đạt đ-ợc những kết quả nhất định. Từ những ngày đầu
thành lập n-ớc, Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã nhận thức rằng công tác đấu tranh
phòng và chống tội phạm là một trong những công tác trọng tâm và ban hành văn bản pháp luật điều
chỉnh lĩnh vực hoạt động này. Cho đến nay đã có nhiều văn bản pháp luật ra đời, củng cố thêm hệ thống
pháp luật về hoạt động điều tra nói chung và các biện pháp điều tra nói riêng mà BLTTHS năm 2003 và
Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 là những văn bản pháp lý có giá trị cao nhất và đang có
hiệu lực thi hành. Tuy vẫn còn những quy định ch-a phù hợp với thực tế, nh-ng các biện pháp điều tra
đ-ợc quy định trong tố tụng hình sự đã thể hiện đ-ợc những điểm tiến bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động điều tra, khám phá sự thật khách quan của vụ án.
2- Trong số các biện pháp điều tra đ-ợc phân tích ở ch-ơng hai, mỗi biện pháp lại đ-ợc sử dụng
trong một hoàn cảnh, điều kiện khác nhau, và có ph-ơng thức thực hiện khác nhau, nh-ng đều có thể
giúp cho cán bộ làm công tác điều tra xác định sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy, có thể nói, các biện
pháp điều tra đó có giá trị ngang nhau, không phụ thuộc vào đó là biện pháp đơn giản hay phức tạp, tiến
hành tr-ớc hay sau. Mỗi biện pháp đều thể hiện đ-ợc -u điểm và nh-ợc điểm trong quá trình sử dụng.
Tuy nhiên, điều đó lại không làm ảnh h-ởng đến hoạt động điều tra nếu cán bộ làm công tác điều tra biết
cách sử dụng linh hoạt, nhuần nhuyễn những biện pháp đó trong từng tình huống cụ thể.


3- Để thực hiện đ-ợc các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự, cán bộ làm công tác điều tra

không chỉ dựa vào những quy định của pháp luật mà còn phải không ngừng nâng cao kỹ năng nghiệp
vụ của mình. Pháp luật về các biện pháp điều tra chỉ quy định trình tự, thủ tục thực hiện, còn
chiến thuật thực hiện trong từng điều kiện, hoàn cảnh, trong từng vụ án cụ thể lại phụ thuộc vào
ph-ơng pháp, kinh nghiệm của mỗi cán bộ làm công tác điều tra. Điều này không đ-ợc giảng dạy
trong các tr-ờng đào tạo hay đ-ợc quy định trong các văn bản pháp luật mà phải thông qua hoạt
động thực tiễn, cán bộ làm công tác điều tra tự tích lũy cho mình.
4- B-ớc sang thế kỷ 21, n-ớc ta đã đạt đ-ợc nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi mới
đất n-ớc. Cùng với việc mở rộng mối quan hệ hòa bình, hợp tác, hữu nghị với các n-ớc trên thế giới,
nền kinh tế n-ớc ta đã không ngừng phát triển. Song song với đó là sự giao l-u văn hóa, xã hội với các
n-ớc trong khu vực và trên thế giới. Bên cạnh những thành quả đã đạt đ-ợc, xã hội đã xuất hiện không
ít những mặt tiêu cực. Nổi bật lên là những loại tội phạm có tính chất nguy hiểm, những băng nhóm côn
đồ, hành xử theo kiểu xã hội đen, những tội phạm xuyên quốc gia, tội buôn ng-ời, rửa tiền... nhóm tội
phạm sử dụng công nghệ kỹ thuật cao phục vụ cho mục đích đen tối của chúng. Điều này là một khó
khăn thách thức lớn cho những ng-ời làm công tác bảo vệ pháp luật nói chung và công tác điều tra nói
riêng. Muốn hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả thì tr-ớc hết phải có một hệ thống
pháp luật hoàn thiện về lĩnh vực đó. Tiếp sau đó cần phải tập trung đầu t- vào yếu tố con ng-ời. Phải
đào tạo đ-ợc nguồn cán bộ làm công tác điều tra có đầy đủ tâm, tầm và tài để có thể đối phó đ-ợc với
mọi âm m-u, thủ đoạn của kẻ xấu.
5- Để nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra, cần có hệ thống các giải pháp toàn diện, đồng bộ.
Trong đó, các giải pháp quan trọng là hoàn thiện các quy định của BLTTHS về điều tra nói chung,
các biện pháp điều tra nói riêng, các biện pháp nâng cao chất l-ợng hoạt động điều tra nh- nâng cao
trình độ, năng lực Điều tra viên. Hoàn thiện tổ chức, biên chế các cơ quan điều tra, tăng c-ờng trang bị
ph-ơng tiện kỹ thuật cho cơ quan điều tra, tăng c-ờng mối quan hệ giữa các cơ quan liên quan trong
điều tra vụ án hình sự v.v...
Refferences
Các văn bản, Nghị quyết của Đảng
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về
một số nhiệm vụ trọng tâm công tác t- pháp trong thời gian tới, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về
Chiến l-ợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định

h-ớng đến năm 2020, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về
Chiến l-ợc cải cách t- pháp đến năm 2020, Hà Nội
Các văn bản pháp luật của nhà n-ớc


4. Bộ Công an (2001), Quyết định số 57/2001/QĐ-BCA(C11) ngày 06/02 của Bộ tr-ởng Bộ
Công an ban hành Quy chế phân công trách nhiệm giữa các lực l-ợng Công an nhân
dân trong công tác khám nghiệm hiện tr-ờng, Hà Nội.
5. Bộ Công an (2001), Chỉ thị số 02/2001/CT-BCA(C11) ngày 06/02 của Bộ tr-ởng Bộ Công an
về công tác khám nghiệm hiện tr-ờng của lực l-ợng Công an nhân dân, Hà Nội.
6. Bộ Công an (2006), Chỉ thị số 07/2006/CT-BCA(C11) ngày 22/8 của Bộ tr-ởng Bộ Công an
về tăng c-ờng công tác kỹ thuật hình sự trong tình hình mới, Hà Nội.
7. Chính phủ (2005), Nghị định số 67/2005/NĐ-CP ngày 19/5 quy định chi tiết thi hành một số
điều của Pháp lệnh Giám định t- pháp, Hà Nội.
8. Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự, Hà Nội.
9. Quốc hội (2002), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội.
10. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội.
11. ủy ban Th-ờng vụ Quốc hội (1989), Pháp lệnh Tổ chức Điều tra hình sự, Hà Nội.
12. ủy ban Th-ờng vụ Quốc hội (2000), Pháp lệnh Giám định t- pháp, Hà Nội.
13. ủy ban Th-ờng vụ Quốc hội (2003), Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3 về bồi
th-ờng thiệt hại cho ng-ời bị oan do ng-ời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình
sự gây ra, Hà Nội.
14. ủy ban Th-ờng vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh Tổ chức Điều tra hình sự, Hà Nội.
Các tài liệu tham khảo khác
15. Tr-ơng Công Am (2003), Một số vấn đề về tâm lý hoạt động hỏi cung, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội.
16. Nguyễn Ngọc Anh (2006), Sổ tay pháp luật của Điều tra viên, Nxb T- pháp, Hà Nội.
17. Nguyễn Nh- Bằng, Đinh Gia Đức, Trần Văn Liễu, Đào Thế Tân (1992), Giám định y pháp với
Điều tra hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

18. D-ơng Thanh Biểu (2006), "Một số vấn đề rút ra về công tác khám nghiệm hiện tr-ờng,
khám nghiệm tử thi trong một số vụ án có oan, sai gần đây", Kiểm sát, (11).


19. Bùi Thanh Bình, Nguyễn Xuân Yêm (2000), Thực nghiệm điều tra tại hiện tr-ờng trong điều
tra vụ án hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
20. Bộ Công an (2006), Thông t- số 09/2006/TT-BCA-C11 ngày 22/8 h-ớng dẫn thực hiện một số
quy định của Nghị định số 67/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giám định t- pháp trong lực l-ợng công an nhân
dân, Hà Nội.
21. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc
gia Hà Nội, Hà Nội.
22. Nguyễn Văn Du (2006), "Đặc điểm của hoạt động chứng minh trong giai đoạn xét xử vụ án
hình sự", Nhà n-ớc và pháp luật, (8).
23. Đỗ Văn Đ-ơng (2006), "Nguyên tắc thu thập, đánh giá chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt
Nam", Kiểm sát, (4).
24. L-ơng Thanh Hải (2006), "Một số vấn đề trong hoạt động lấy lời khai ng-ời tham gia tố tụng
hình sự là ng-ời dân tộc ít ng-ời", Kiểm sát, (11).
25. Nguyễn Văn Ho (2007), "Kỹ thuật hình sự trong phòng, chống tội phạm", Báo Nhân Dân,
ngày 08/6.
26. Lê Quốc Huy (2007), "Những vấn đề nảy sinh trong khám nghiệm hiện tr-ờng hiện nay và
giải pháp khắc phục", Kiểm sát, (10).
27. Nguyễn Nông (2006), "Ng-ời phiên dịch, ng-ời giám định và vấn đề tính hợp pháp của
chứng cứ", Kiểm sát, (4)
28. Hà Thị Quế (2005), "Những v-ớng mắc, bất cập trong việc áp dụng các quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 về khởi tố, điều tra vụ án hình sự và quyết định việc truy
tố", Kiểm sát, (24).
29. Trịnh Minh Tân (2006), "Một số v-ớng mắc trong quá trình thực hiện Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2003", Kiểm sát, (9).
30. Nguyễn Huy Thuật, Nguyễn Anh Nhật, Sổ tay Điều tra hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà

Nội.
31. Tòa án nhân dân tối cao (1976), Hệ thống hóa luật lệ về hình sự, Hà Nội


32. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ T- pháp (1989),
Thông t- liên ngành số 02-TTLN ngày 12/01 h-ớng dẫn thi hành một số quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự, Hà Nội.
33. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ (1992), Thông t- liên
ngành số 03/TTLN ngày 20/6 h-ớng dẫn thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự về lý lịch của bị can, bị cáo, Hà Nội.
34. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ và Bộ T- pháp (1993),
Thông t- liên ngành số 01/TTLN ngày 20/3 h-ớng dẫn áp dụng một số quy định của
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội.
35. Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ
T- pháp (1998), Thông t- liên tịch số 06/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTCBTP ngày 24/10 h-ớng dẫn một số vấn đề về bảo quản và xử lý tài sản là vật chứng, tài
sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, Hà Nội.
36. Tr-ờng Đại học Luật Hà Nội (1993), Khoa học điều tra hình sự, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
37. Từ điển luật học (1999), Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.
38. Khổng Minh Tuấn (2006), Kỹ thuật điều tra hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
39. Lê Minh Tuấn (2007), "Quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong hoạt động kiểm
sát việc khám nghiệm hiện tr-ờng", Kiểm sát, (10).
40. Phùng Thế Vắc, Trần Văn Luyện, Phạm Thanh Bình, Nguyễn Đức Mai, Nguyễn Sĩ Đại,
Nguyễn Mai Bộ (2001), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999 (phần các tội
phạm), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
41. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ T- pháp, Bộ Ngoại giao (1988), Thông t- liên
ngành số 01-TTLN ngày 08/9 h-ớng dẫn việc điều tra, xử lý các vi phạm luật lệ giao
thông đ-ờng bộ do ng-ời, ph-ơng tiện giao thông n-ớc ngoài gây ra, Hà Nội.
42. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (1989), Thông t- số 79/TT ngày 15/9 h-ớng dẫn thực hiện Pháp
lệnh tổ chức điều tra hình sự, Hà Nội.

43. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ Lâm nghiệp, Tổng cục Hải
quan (1992), Thông t- liên ngành số 03-TTLN ngày 15/5 h-ớng dẫn việc thi hành các


quy định của luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác và tin báo về tội
phạm, Hà Nội.
44. Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2006), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội.


Cỏc bin phỏp iu tra trong t tng hỡnh s
Nguyn Th Minh
Khoa Lut
Lun vn ThS ngnh: Lut Hỡnh s; Mó s: 60 38 40
Ngi hng dn: PGS.TS. Trn Vn
Nm bo v: 2008
Abstract: Gii thiu nhng vn lý lun c bn v iu tra trong tng hỡnh s: a ra
cỏc khỏi nim, nhim v, nguyờn tc, yờu cu v cỏc bin phỏp ca hot ng iu tra
trong t tng hỡnh s. Trỡnh by chi tit cỏc quy nh ca lut t tng hỡnh s Vit Nam
v cỏc bin phỏp iu tra nh: khi t b can, ly li khai, i cht, nhn dng, khỏm xột,
thc nghim iu tra, trng cu giỏm nh... xut mt s gii phỏp nhm nõng cao
hiu qu cỏc bin phỏp iu tra trong t tng hỡnh s nh: nõng cao trỡnh , nng lc,
phm cht ca iu tra viờn, hon thin t chc, biờn ch cỏc c quan iu tra, i mi
hỡnh thc, phng phỏp o to, bi dng cao tớnh c lp sỏng to ca iu tra viờn,
tng cng phng tin, k thut hin i cho c quan iu tra, tng cng mi quan h
phi hp vi cỏc c quan hu quan, c bit l gia cỏc c quan tin hnh t tng.
Keywords: Bin phỏp iu tra; Lut hỡnh s; Lut t tng hỡnh s; Phỏp lut Vit Nam

Content
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật tố tụng hình sự đ-ợc ban hành nhằm đảm bảo việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. ý nghĩa đó đ-ợc thể hiện trong suốt quá
trình tố tụng ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Để đạt đ-ợc mục đích đó, Bộ
luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan và ng-ời tiến hành tố
tụng (gồm các cơ quan chức năng của Nhà n-ớc, các tổ chức xã hội và công dân) nhằm phát hiện
và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan ng-ời vô
tội.
Trong quá trình đổi mới đất n-ớc, do tác động của mặt trái nền kinh tế thị tr-ờng, của xu thế
hội nhập kinh tế quốc tế, tình hình tội phạm ở n-ớc ta trong thời gian vừa qua và trong những
năm tới đang và sẽ diễn biến rất phức tạp, ch-a có chiều h-ớng giảm. Tội phạm ngày càng tinh
vi, xảo quyệt về thủ đoạn, ph-ơng thức và ngày càng nghiêm trọng về tính chất, mức độ nguy
hiểm. Điều tra là một hoạt động trong tố tụng hình sự đ-ợc tiến hành nhằm xác định sự thật của
vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Công tác điều tra rất quan trọng, điều tra đúng


là cơ sở để xét xử đúng; điều tra sai là sai ngay từ b-ớc đầu, dễ dẫn tới xét xử sai, vi phạm
nghiêm trọng tới quyền, lợi ích của công dân.
Ngày 17/3/2003, ủy ban Th-ờng vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 388/NQ-UBTVQH11 về bồi
th-ờng thiệt hại cho ng-ời bị oan do ng-ời có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra,
đã nhận đ-ợc sự h-ởng ứng đồng tình từ phía đông đảo nhân dân. Điều này không chỉ có ý nghĩa
lớn đối với những ng-ời bị oan sai mà còn ảnh h-ởng lớn tới tâm lý của tất cả mọi ng-ời, tạo cho
ng-ời dân yên tâm, tin t-ởng hơn nữa vào chính sách pháp luật của Nhà n-ớc ta. Đồng thời, Nghị
quyết này còn đặt ra một thách thức, yêu cầu lớn cho những ng-ời tiến hành tố tụng. Họ phải
thận trọng, tỷ mỷ trong hoạt động của mình để tránh gây ra tổn thất về tinh thần cũng nh- vật
chất cho những ng-ời tham gia tố tụng. Muốn nh- vậy, ngay từ b-ớc điều tra ban đầu cần phải
tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, yêu cầu trình độ chuyên môn cao, làm việc một cách
khách quan và hoàn toàn phục vụ vì công lý.
Điều tra trong tố tụng hình sự là giai đoạn đầu tiên có vai trò rất quan trọng trong quá trình
giải quyết một vụ án hình sự. Chính vì vậy mà pháp luật tố tụng hình sự quy định rất chặt chẽ về

các biện pháp điều tra. Điều này đ-ợc thể hiện trong BLTTHS, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình
sự và các văn bản chuyên ngành khác. Vì vậy việc nghiên cứu cụ thể về các biện pháp điều tra trong
tố tụng hình sự và thực tiễn hoạt động điều tra, phân tích làm sáng tỏ các quy định của pháp luật
tố tụng hình sự về các biện pháp điều tra, để từ đó có những giải pháp hoàn thiện pháp luật tố
tụng về điều tra, nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra có ý nghĩa rất quan trọng về lý luận cũng
nh- thực tiễn. Những phân tích đó lý giải cho việc chúng tôi chọn đề tài "Các biện pháp điều tra
trong tố tụng hình sự" để làm luận văn Thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây, điều tra trong tố tụng hình sự cũng là một vấn đề đang đ-ợc quan
tâm nghiên cứu của các chuyên gia luật học cả về lý luận lẫn thực tiễn, đáng chú ý là các công
trình: "Sổ tay điều tra hình sự" (Nhà xuất bản Công an nhân dân); "Khoa học Điều tra hình sự"
(Tr-ờng Đại học Luật Hà Nội), "Giáo trình Điều tra hình sự" (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà
Nội) và một số bài báo đ-ợc công bố trong một số tạp chí... Đây là những công trình nghiên cứu cơ
bản các vấn đề thuộc lĩnh vực điều tra hình sự, đã đề cập đến các biện pháp điều tra hình sự. Tuy
nhiên các công trình này mới chỉ đề cập tới vấn đề mang tính bình luận các quy định của pháp luật
hoặc chiến thuật điều tra mà ch-a đi phân tích thực tiễn hoạt động điều tra, phân tích các bất cập,
hạn chế, từ đó đ-a ra đề xuất về giải pháp hoàn thiện, cũng nh- những kiến nghị trong việc hoàn
thiện pháp luật về các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự.
Cho đến nay, trong khoa học pháp lý Việt Nam ch-a có một công trình chuyên khảo nghiên
cứu sâu, toàn diện, đầy đủ về biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích
Trên cơ sở luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn về điều tra hình sự cũng nh- các biện pháp điều
tra hình sự cụ thể, luận văn đề xuất những giải pháp cơ bản về các biện pháp điều tra trong tố
tụng hình sự.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đ-ợc mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
+ Nghiên cứu một số vấn đề chung về biện pháp điều tra;



+ Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp điều tra và thực tiễn áp
dụng các biện pháp đó;
+ Đ-a ra giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng các
biện pháp điều tra trong thực tiễn.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự cả về ph-ơng
diện quy phạm pháp luật cũng nh- về thực tiễn
4. Ph-ơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, t- t-ởng Hồ Chí
Minh; đ-ờng lối, chủ tr-ơng, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà n-ớc Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam; các văn bản pháp luật về vấn đề điều tra trong tố tụng hình sự và các
văn bản khác, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan tới đề tài.
Ph-ơng pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng và kết hợp chặt chẽ ph-ơng pháp lôgíc với
ph-ơng pháp lịch sử, phân tích và tổng hợp; ph-ơng pháp so sánh, thống kê, khảo sát, điều tra,
tổng kết thực tiễn.
5. ý nghĩa của việc nghiên cứu
Luận văn là một công trình nghiên cứu về các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự một
cách hệ thống, toàn diện. Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ vấn đề lý luận cũng nh- thực
tiễn áp dụng các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự; đề xuất những giải pháp cơ bản nâng
cao chất l-ợng điều tra trong tố tụng hình sự hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3
ch-ơng:
Ch-ơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về điều tra trong tố tụng hình sự.
Ch-ơng 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về các biện pháp điều tra.
Ch-ơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả các biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự.
nội dung cơ bản của luận văn
Ch-ơng 1
Những vấn đề lý luận cơ bản
về điều tra trong tố tụng hình sự

1.1. Khái niệm, nhiệm vụ, nguyên tắc, yêu cầu của hoạt động điều tra trong tố tụng hình
sự
1.1.1. Khái niệm
Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó cơ quan Điều tra và các
cơ quan khác đ-ợc giao một số hoạt động điều tra đ-ợc sử dụng các biện pháp do Luật tố tụng
hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, ng-ời phạm tội và những vấn đề
khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án. Đồng thời, thông qua hoạt


động điều tra xác định nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các
biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan.
Điều tra vụ án hình sự là một dạng hoạt động nhận thức đặc biệt. Đối t-ợng nhận thức của
hoạt động điều tra là tội phạm đã xảy ra, những ph-ơng tiện, biện pháp đ-ợc áp dụng trong hoạt
động điều tra phải phù hợp với pháp luật, không trái với giá trị pháp lý của kết quả điều tra vụ án.
1.1.2. Nhiệm vụ
Nhanh chóng khám phá từng vụ án xảy ra:
- Một vụ án hình sự chỉ đ-ợc thừa nhận là đã đ-ợc khám phá khi cơ quan điều tra đã làm rõ
đ-ợc những vấn đề cần phải chứng minh đ-ợc quy định tại BLTTHS (bốn yếu tố cấu thành tội
phạm, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, nguyên nhân và điều kiện
phạm tội và những tình tiết khác liên quan đến vụ án).
Lập hồ sơ và đề nghị truy tố bị can của vụ án.
- Để tạo điều kiện cho quá trình truy tố, xét xử một cách khách quan, toàn diện, trong quá
trình điều tra, Điều tra viên cần phải áp dụng mọi biện pháp đ-ợc pháp luật cho phép để thực hiện
quyền và nghĩa vụ của những ng-ời tham gia tố tụng, đặc biệt là quyền khiếu nại, tố cáo của
ng-ời bị hại, của bị can, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.
Đảm bảo bồi th-ờng thiệt hại:
- Điều tra viên cần khẩn tr-ơng tiến hành các biện pháp nh- khám xét, kê biên tài sản, tiền
bạc và những giá trị vật chất khác để bảo đảm khả năng thực tế bồi th-ờng thiệt hại.
- Nghiên cứu tỷ mỷ, thận trọng tất cả những tài liệu chứng cứ đã đ-ợc thu thập về vụ án, hỏi
cung bị can, lấy lời khai ng-ời bị hại, đại diện của những cơ quan, tổ chức bị hại, lấy lời khai của

ng-ời làm chứng để làm rõ chính xác mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra, những bị can nào phải
bồi th-ờng và mức độ bồi th-ờng của từng bị can.
- Giải thích cặn kẽ cho những ng-ời tham gia tố tụng quyền khiếu nại dân sự và thực hiện các
biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn dân sự.
Làm rõ các nguyên nhân, điều kiện phạm tội để đề xuất những biện pháp khắc phục, ngăn
ngừa không để vụ án t-ơng tự xảy ra trong t-ơng lai.
- Những sơ hở, không đầy đủ, chặt chẽ của những văn bản pháp luật, nguyên tắc quản lý kinh
tế, công tác tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra của cấp trên đối với cấp d-ới;
- Những thiếu sót của công tác quản lý về trật tự, an toàn xã hội, những sơ hở, mất cảnh giác
của người bị hại Những tình tiết này hoàn toàn có thể làm rõ được trong quá trình điều tra.
- Giáo dục mọi ng-ời nắm đ-ợc pháp luật, có ý thức tôn trọng pháp luật, vận động quần
chúng nhân dân giúp đỡ cơ quan Điều tra trong quá trình điều tra vụ án. Đặc biệt, cần giáo dục,
làm cho bị can nhận thức đ-ợc hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải một cách thành thực, tự
nguyện trở lại con đ-ờng làm ăn l-ơng thiện.
1.1.3. Nguyên tắc của hoạt động điều tra
- Tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ hoạt động điều tra
vụ án hình sự.


+ Kết thúc giai đoạn điều tra vụ án và hành vi phạm tội của bị can đ-ợc làm rõ, đúng sự thật nhtrong thực tế đã xảy ra. Không đ-ợc xuyên tạc, cố ý bóp méo hay làm sai sự thật do nhiều động
cơ, mục đích khác nhau.
- Tuân theo pháp luật, chấp hành các nguyên tắc của BLTTHS.
+ Trong quá trình điều tra, Điều tra viên không chỉ đơn thuần chấp hành những yêu cầu của
pháp luật, nhất là BLTTHS mà còn áp dụng hiệu quả những thủ thuật, chiến thuật, những ph-ơng
tiện kỹ thuật trong hoạt động điều tra.
+ Không cho phép áp dụng trong hoạt động điều tra những biện pháp, ph-ơng tiện trái pháp luật,
chống lại pháp luật. Tất cả những biện pháp đ-ợc áp dụng trong hoạt động điều tra phải theo đúng thủ
tục, trình tự, kết quả tiến hành phải đ-ợc phản ánh chính xác, khách quan trong các văn bản tố tụng.
- Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung, ng-ời
tham gia tố tụng nói riêng.

+ Hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự động chạm nhiều nhất đến quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân. Các biện pháp điều tra đ-ợc áp dụng, nhất là các biện pháp c-ỡng chế tố tụng phải
đ-ợc thực hiện trong khuôn khổ pháp luật cho phép, không đ-ợc xúc phạm, hạ thấp danh dự,
nhân phẩm, tài sản, sức khỏe của công dân.
- Cơ quan điều tra cấp d-ới chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của cơ quan điều tra cấp trên.
+ Cơ quan điều tra các cấp thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình và mối quan
hệ lãnh đạo, chỉ đạo giữa cơ quan điều tra cấp trên và cơ quan điều tra cấp d-ới do pháp luật quy
định. Mặt khác, công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động điều tra phải mang tính trực tiếp để đảm
bảo sự nhanh chóng của hoạt động điều tra, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của cơ quan
điều tra các cấp, Thủ tr-ởng, Phó Thủ tr-ởng cơ quan điều tra và Điều tra viên trong quá trình
điều tra v.v
1.1.4. Yêu cầu của hoạt động điều tra vụ án hình sự
- Hoạt động điều tra phải đ-ợc tiến hành có kế hoạch
- Tiến hành nhanh chóng và linh hoạt
- Sử dụng có hiệu quả những biện pháp trinh sát, những ph-ơng tiện kỹ thuật trong quá trình
điều tra
- Vận động quần chúng tham gia vào hoạt động điều tra
1.2. Các biện pháp điều tra
Các biện pháp điều tra bao gồm: Khởi tố bị can và hỏi cung bị can; lấy lời khai; thu giữ vật
chứng; đối chất; nhận dạng; khám xét, thu giữ tài liệu, vật chứng; khám nghiệm hiện tr-ờng, tử
thi, xem xét dấu vết; thực nghiệm điều tra; tr-ng cầu giám định.
Trong quá trình điều tra, tùy từng vụ án cụ thể mà các biện pháp điều tra đ-ợc thực hiện toàn
bộ hay một phần. Có những biện pháp luôn luôn bắt buộc phải thực hiện (nh- khởi tố bị can, hỏi
cung bị can, lấy lời khai ng-ời tham gia tố tụng), có những biện pháp có thể không bắt buộc phải
thực hiện tùy theo nhu cầu điều tra.
Việc xác định phạm vi, giới hạn các biện pháp điều tra có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong
việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Việc điều tra phiến diện, không đầy đủ là một trong
những căn cứ để Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung (Điều 168, 179 BLTTHS) hoặc
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm (Điều 273 BLTTHS) v.v



1.3. Khái quát các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp điều tra trong tố
tụng hình sự
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến tr-ớc năm 1989
Các quy định pháp lý về hoạt động điều tra hình sự đ-ợc ban hành với số l-ợng ch-a lớn và
chủ yếu d-ới dạng các văn bản d-ới luật, nội dung ch-a đầy đủ, phần lớn mới chỉ quy định về tổ
chức cơ quan điều tra và thẩm quyền điều tra, về nội dung này, tính hợp lý vẫn ch-a cao.
1.3.2. Từ năm 1989 đến năm 2003
BLTTHS đầu tiên ra đời năm 1989 là một điểm mốc lớn trong lịch sử phát triển pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam, có tác động tích cực trong quá trình tố tụng hình sự nói chung và hoạt động điều
tra hình sự nói riêng. Bộ luật đã dành 6 ch-ơng với 49 Điều luật để quy định những vấn đề quan trọng
liên quan đến hoạt động điều tra hình sự, phần lớn các điều luật này đ-ợc dành để quy định về trình tự,
thủ tục tiến hành các biện pháp điều tra cụ thể.
Những thay đổi của Bộ luật Hình sự năm 1999 về phân loại tội phạm còn có ảnh h-ởng đến
việc tổ chức hoạt động điều tra hình sự và đòi hỏi cần có sự điều chỉnh trong pháp luật tố tụng hình
sự. Do đó, trong lần sửa đổi, bổ sung thứ 3 đối với BLTTHS năm 1988, vấn đề thời hạn điều tra và
thời hạn tạm giam để điều tra các loại tội phạm đã đ-ợc quy định lại một cách cụ thể phù hợp với sự
thay đổi nêu trên của Bộ luật Hình sự năm 1999, tạo thuận lợi cho việc áp dụng các chế định này
trong thực tế điều tra hình sự.
1.3.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
- Xây dựng đ-ợc hệ thống các cơ quan điều tra và các cơ quan khác đ-ợc giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra khá hợp lý, b-ớc đầu đảm bảo đ-ợc tính chuyên sâu.
- Bổ sung những quy định làm cơ sở pháp lý cho việc tăng c-ờng mối quan hệ phối hợp giữa
điều tra theo tố tụng và điều tra trinh sát.
BLTTHS năm 2003 đã kế thừa và phát triển các quy định về hoạt động điều tra nói chung, các
biện pháp điều tra nói riêng. Các biện pháp điều tra tuy vẫn giữ nguyên nh- cũ nh-ng nội dung, trình
tự, thủ tục tiến hành các biện pháp điều tra đ-ợc bổ sung nhiều theo h-ớng đảm bảo tính khách quan
của biện pháp đ-ợc thực hiện; tôn trọng, bảo vệ quyền của ng-ời tham gia tố tụng trong hoạt
động điều tra. Những sửa đổi, bổ sung đó phù hợp với định h-ớng tăng c-ờng tính dân chủ trong
hoạt động tố tụng, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà n-ớc pháp quyền và cải cách t- pháp hiện nay

ở n-ớc ta theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Có thể khẳng định rằng, các quy định pháp lý về hoạt động điều tra hình sự về cơ bản ngày
một hoàn thiện, đáp ứng khá kịp thời đòi hỏi của thực tiễn điều tra hình sự, góp phần đáng kể vào
những thành tựu mà cơ quan điều tra đã đạt đ-ợc trong thời gian qua.
Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến l-ợc cải cách t- pháp đến năm 2020 đã nêu
rõ: "Xác định rõ nhiệm vụ của cơ quan điều tra trong mối quan hệ với các cơ quan khác đ-ợc
giao một số hoạt động điều tra theo h-ớng cơ quan điều tra chuyên trách điều tra tất cả các vụ
án hình sự, các cơ quan khác chỉ tiến hành một số hoạt động điều tra sơ bộ và tiến hành một số
biện pháp theo yêu cầu của cơ quan điều tra chuyên trách. Tr-ớc mắt tiếp tục thực hiện mô hình
tổ chức cơ quan điều tra theo pháp luật hiện hành; nghiên cứu và chuẩn bị mọi điều kiện để tiến
tới tổ chức lại cơ quan điều tra theo h-ớng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh
sát và hoạt động điều tra tố tụng hình sự".


×