MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục các chữ viết tắt
vi
Danh mục bảng
vii
Danh mục sơ đồ, hình
viii
PHẦN I MỞ ĐẦU
1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
2
1.2.1
Mục tiêu chung
2
1.2.2
Mục tiêu cụ thể
2
1.3
Câu hỏi nghiên cứu
2
1.4
Đối tượng phạm vi nghiên cứu
3
1.4.1
Đối tượng nghiên cứu
3
1.4.2
Phạm vi nghiên cứu
3
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĂNG CƯỜNG
QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
4
2.1
Những vấn đề lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước
4
2.1.1
Một số khái niệm có liên quan
4
2.1.2
Quản lý chi ngân sách nhà nước và nội dung của quản lý chi ngân
sách nhà nước
8
2.1.3
Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách nhà nước
20
2.2
Cơ sở thực tiễn
22
2.2.1
Bài học kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước trong nước và
tỉnh Bắc Giang
22
Các công trình nghiên cứu có liên quan
27
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
29
2.2.2
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
29
3.1.1
Đặc điểm về tự nhiên
29
iv
3.1.2
Đặc điểm về kinh tế- xã hội
30
3.2
Phương pháp nghiên cứu
33
3.2.1
Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
33
3.2.2
Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin
33
3.2.3
Phương pháp phân tích số liệu
35
3.2.4
Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
35
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
36
4.1
Tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước huyện Tân Yên
36
4.2
Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Tân Yên
37
4.2.1
Lập, quyết định phân bổ, giao dự toán ngân sách nhà nước
37
4.2.2
Chấp hành dự toán
51
4.2.3
Công tác lập, duyệt và công khai quyết toán chi ngân sách
64
4.2.4
Công tác kiểm tra, thanh tra chi ngân sách nhà nước
67
4.2.5
Đánh giá công tác quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Tân Yên
tỉnh Bắc Giang
4.3
68
Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách nhà nước
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
72
4.3.1
Trình độ cán bộ tài chính, kế toán tại các đơn vị
72
4.3.2
Cơ sở vật chất phục vụ công tác quản lý chi ngân sách nhà nước
75
4.3.3
Chế độ chính sách quy định về quản lý chi ngân sách nhà nước
76
4.3.4
Ý thức chấp hành pháp luật của các đơn vị
76
4.4
Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Tân
Yên, tỉnh Bắc Giang
77
4.4.1
Các căn cứ để đưa ra các giải pháp
77
4.4.2
Các giải pháp cụ thể
79
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
87
5.1
Kết luận
87
5.2
Kiến nghị
88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
90
PHỤ LỤC
92
v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐTPT
:
Đầu tư phát triển
GTSX
:
Giá trị sản xuất
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
KBNN
:
Kho bạc nhà nước
KT-XH
:
Kinh tế - xã hội
NS
:
Ngân sách
NSNN
:
Ngân sách nhà nước
NSTW
:
Ngân sách trung ương
NSX
:
Ngân sách xã
SN
:
Sự nghiệp
TT
:
Thị trấn
UBND
:
Ủy ban nhân dân
XDCB
:
Xây dựng cơ bản
XH
:
Xã hội
vi
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
3.1
Số liệu phiếu khảo sát
4.1
Tình hình thực hiện thu ngân sách huyện Tân Yên
Trang
34
giai đoạn
2012-2014
37
4.2
Phân bổ kế hoạch vốn đầu tư theo nguồn vốn từ giai đoạn 2012-2014
40
4.3
Số lượng công trình XDCB từ giai đoạn 2012-2014
42
4.4
Phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách cấp huyện giai đoạn
2012-2014
4.5
44
Phân bổ và giao dự toán chi thường xuyên cho các đơn vị thực hiện theo
Nghị định 130/2005/NĐ-CP huyện Tân Yên giai đoạn 2012-2014
4.6
Phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị sự nghiệp thực hiện theo
Nghị định 43/2006/NĐ-CP huyện Tân Yên giai đoạn 2012-2014
4.7
46
48
Cơ cấu lập và giao dự toán chi dự phòng NS huyện Tân Yên giai
đoạn 2012-2014
49
4.8
Đánh giá về công tác lập và phân bổ dự toán chi NSNN
4.9
Công tác đấu thầu, lựa chọn nhà thầu huyện Tân Yên giai đoạn
2012-2014
50
54
4.10 Công nợ XDCB huyện Tân Yên giai đoạn 2012-2014
58
4.11 Điều chỉnh, bổ sung dự toán chi thường xuyên ngân sách cấp huyện
giai đoạn 2012-2014
59
4.12 Số lượng và ý kiến trả lời về nguyên nhân của việc chấp hành chi NS
chưa đúng qui định
63
4.13 Số liệu quyết toán chi NSNN huyện Tân Yên giai đoạn 2012-2014
65
4.14 Kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán giai đoạn 2012-2014
68
4.15 Đánh giá về công tác quản lý chi ngân sách nhà nước
70
4.16 Đánh giá năng lực của cán bộ tài chính, kế toán tham gia công tác
quản lý chi NSNN
73
vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Số sơ đồ
Tên sơ đồ
2.1 Tổ chức hệ thống NSNN
6
2.2 Trình tự lập dự toán NSNN
Số hình
Trang
10
Tên hình
Trang
3.1 Bản đồ hành chính huyện Tân Yên
29
3.2 Cơ cấu GTSX theo ngành kinh tế ( theo giá hiện hành) năm 2014
31
4.1 Sơ đồ phân bổ kế hoạch vốn đầu tư theo nguồn vốn
41
4.2 Kết quả thực hiện chi NSNN huyện Tân Yên giai đoạn 2012-2014
69
viii
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chi ngân sách là một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tác động
rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế. Để quản lý thống nhất nền tài chính
quốc gia, nâng cao tính chủ động là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, củng cố kỷ luật tài chính, sử
dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách và tài sản của Nhà nước, tăng tích lũy nhằm
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm
quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội Việt Nam khóa XI ngày
16/12/2012 đã ban hành Luật NSNN và có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách
2004, trong đó: Ngân sách huyện là bộ phận của ngân sách địa phương (NSNN gồm
ngân sách trung ương và ngân sách địa phương).
Với chủ trương phát triển toàn diện của Đảng, ngân sách huyện ngày càng
thể hiện rõ chức năng, vai trò, nhiệm vụ của mình cung cấp phương tiện vật chất
cho sự tồn tại và hoạt động của chính quyền cấp huyện, chính quyền cấp xã trên tất
cả các lĩnh vực. Đề cao trách nhiệm của chính quyền cấp huyện trong việc tham gia
quản lý tài chính Nhà nước, đồng thời tạo điều kiện cho huyện chủ động trong việc
xây dựng và thực hiện kế hoạch thu chi ngân sách huyện nhằm đẩy mạnh phát triển
kinh tế, văn hoá và cải thiện đời sống của nhân dân trên địa bàn. Tuy nhiên trong
điều kiện NSNN có hạn, thì việc chi ngân sách thế nào cho hiệu quả và tiết kiệm,
tránh được tình trạng thất thoát, thâm hụt luôn là vấn đề được đặt ra.
Tân Yên là huyện miền núi, nằm ở phía tây của tỉnh Bắc Giang, là huyện
nông nghiệp thuần túy, theo ranh giới hành chính, huyện bao gồm 24 xã, thị trấn với
tổng diện tích tự nhiên là 206,7 km2. Trong những năm qua cùng với sự phát triển
chung của tỉnh, huyện Tân Yên luôn nhận được sự quan tâm tạo điều kiện của Tỉnh
ủy, Hội đồng Nhân dân, ủy ban nhân dân và các Sở, Ban, Ngành của tỉnh trên tất cả
các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực chi NSNN. Công tác quản lý chi ngân sách tại
huyện Tân Yên đã có nhiều đổi mới, đạt được tiến bộ đáng kể, kinh tế ngày càng
1
phát triển, văn hoá xã hội khởi sắc, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
được cải thiện, an ninh quốc phòng được giữ vững và ngày càng đáp ứng tốt hơn
yêu cầu của công cuộc đổi mới hiện nay. Tuy nhiên với một địa phương nghèo,
nguồn thu chủ yếu là thu từ trợ cấp ngân sách cấp trên, mục tiêu 6/22 xã hoàn thành
xây dựng nông thôn mới vào năm 2016 là mục tiêu tương đối khó khăn cho huyện
với nguồn ngân sách hiện nay. Vì vậy quản lý ngân sách như thế nào để mang lại
hiệu quả và thiết thực cho địa phương là nhiệm vụ hết sức quan trọng.
Với sự nhận thức về tầm quan trọng về quản lý chi NSNN và những tồn tại
trong quản lý chi NSNN huyện Tân Yên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Tăng cường quản lý chi ngân sách nhhà nước huyện Tân Yên, tỉnh Bắc
Giang”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý chi NSNN huyện Tân Yên thời gian
qua; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý tốt chi NSNN huyện Tân
Yên, tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chi
NSNN;
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý chi NSNN và yếu tố ảnh hưởng
đến chi NSNN tại huyện Tân Yên, Bắc Giang.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi NSNN tại huyện
Tân Yên, Bắc Giang.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
1. Tình hình quản lý chi NSNN tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang trong
những năm qua?
2. Quản lý chi NSNN ở Tân Yên có thuận lợi và khó khăn gì?
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN?
4. Những giải pháp cần đề xuất nhằm tăng cường quản lý chi NSNN tại
huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang có hiệu quả?
2
1.4. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chi ngân sách huyện.
- Đối tượng điều tra: các đơn vị, UBND các xã, TT có sử dụng nguồn kinh
phí NSNN.
1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung liên quan đến
công tác quản lý chi ngân sách huyện Tân Yên: Quy trình lập, phân bổ dự toán;
công khai dự toán; chấp hành chi ngân sách và quyết toán ngân sách và công khai
quyết toán ngân sách.
- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu và thực hiện tại huyện Tân
Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Phạm vi thời gian: Đề tài sử dụng các số liệu liên quan đến thực trạng công
tác quản lý chi ngân sách ở huyện Tân Yên trong 3 năm trở lại đây (từ năm 20122014), các giải pháp đến năm 2020.
3
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
2.1. Những vấn đề lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước
2.1.1. Một số khái niệm có liên quan
2.1.1.1. NSNN và nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước
* Khái niệm: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo
đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Quốc hội, 2002).
* Nguyên tắc quản lý NSNN :
NSNN được quản lý thống nhất, tập trung, dân chủ, hiệu quả, tiết kiệm, công
khai, minh bạch, công bằng, bình đẳng; có phân cấp quản lý; gắn quyền hạn với
trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước các cấp (Quốc hội, 2002).
Trong hoạt động NS điều này có tầm quan trọng đặc biệt. Một mặt đảm bảo
sự thống nhất ý trí và lợi ích qua phân bổ NS để có hàng hóa dịch vụ công cộng có
tính chất quốc gia. Mặt khác nó phát huy tính chủ động, sáng tạo của các địa
phương, các tổ chức, cá nhân trong giải quyết từng vấn đề cụ thể. Tập trung không
phải độc đoán chuyên quyền mà trên cơ sở phát huy dân chủ cơ sở.
Toàn bộ các khoản thu, chi ngân sách phải được dự toán, tổng hợp đầy đủ
vào NSNN.
Các khoản thu ngân sách thực hiện theo quy định của cá luật thuế và chế độ
thu theo quy định của pháp luật.
Các khoản chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có dự toán được cấp có thẩm
quyền giao và phải bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quy định và được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân scsh hoặc
người được ủy quyền quyết định chi. Người ra quyết định chi phải chịu trách nhiệm
về quyết định của mình, nếu chi sai phải bồi hoàn cho công quỹ và tùy theo tính chất,
mức độ vị phạm còn bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm
hình sự (Bộ Tài chính, 2003).
4
Chi đầu tư chương trình, dự án phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội; chiến lược nợ quốc gia, cụ thể:
- Việc quyết định đầu tư chương trình, dự án có sử dụng vốn NSNN phải tuân
thủ theo đúng quy định của pháp luật về đầu tư và xây dựng; đảm bảo cân đối đủ vốn
trước khi quyết định đầu tư, đầu tư tiết kiệm, hiệu quả; trường hợp chương trình, dự án
đầu tư có sử dụng nguồn vốn hỗ trợ của NS cấp trên thì trước khi quyết định đầu tư
phải có thỏa thuận bằng văn bản của cấp có thẩm quyền về mức vốn hỗ trợ.
- Việc bố trí chi đầu tư XDCB phải phù hợp với khả năng cân đối bố trí
nguồn vốn theo cam kết bố trí dự toán chi ngân sách cho từng chương trình, dự án;
tuân thủ các nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư cho từng chương
trình, dự án trong từng giai đoạn được cấp có thẩm quyền; tập trung ưu tiêu bố trí
vốn cho các ngành, lĩnh vực, vùng lãnh thể theo mục tiêu và định hướng phát triển
của từng thời kỳ, đảm bảo tập trung tránh dàn trải (Chính phủ, 2010).
2.1.1.2. Hệ thống ngân sách nhà nước
Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp NS gắn bó hữu cơ với nhau, có mối quan
hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau trong quá trình phân phối và sử dụng nguồn thu để
thực hiện các nhiệm vụ chi của từng cấp NS (Đặng Thị Hồng Vân, 2010).
Tổ chức hệ thống NSNN luôn gắn liền với tổ chức bộ máy NN và vai trò, vị
trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trên cơ sở
hiến pháp, pháp luật. Phù hợp với mô hình chính quyền NN ta hiện nay, hệ thống
NSNN theo luật định bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương,
được thể hiện cụ thể qua sơ đồ 1.1 (Chính phủ, 2003).
Trong hệ thống NSNN ta hiện nay thì NSTW giữ vai trò chủ đạo bảo đảm
thực hiện các nhiệm vụ chi của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối
được ngân sách. Ngân sách trung ương đảm bảo 100% cho nhiệm vụ quốc phòngan ninh, đối ngoại, chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, thủy lợi
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội mang tính liên kết vùng, khu vực, chi hoàn thuế.
Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện
những nhiệm vụ chi được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã. Hội đồng
5
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định
việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương phù
hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý
của mỗi cấp trên địa bàn (Chính phủ, 2003).
NSNN VIỆT NAM
Ngân sách ĐP
Ngân sách TW
Ngân sách cấp
tỉnh
Ngân sách quận,
huyện
Ngân sách cấp xã
Ngân sách cấp huyện
Sơ đồ 2.1: Tổ chức hệ thống NSNN
2.1.1.3. Chi ngân sách nhà nước và phân cấp nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước
Phương Thị Hồng Hà (2006) nêu rõ: “Chi NSNN là quá trình phân phối và
sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của NN theo những
nguyên tắc nhất định.
Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung
vào NSNN và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Vì thế chi NSNN là những việc cụ
thể, không dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng
hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của NN”.
Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc
phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước;
6
chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật, trong đó:
- Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm;
việc ban hành chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách sau khi dự toán đã
được cấp có thẩm quyền quyết định thì phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài
chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp.
- Cơ quan quản lý nhà nước cấp trên có thể uỷ quyền cho cơ quan quản lý
nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ
ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó (Quốc hội, 2002).
Đặc điểm chi NSNN :
Chi NSNN nhằm phục vụ cho lợi ích chung của công đồng dân cư ở các
vùng hay ở phạm vi một quốc gia.
Chi NSNN luôn gắn liền với bộ máy NN và những nhiệm vụ kinh tế, chính
trị, xã hội mà NN thực hiện. Các khoản NSNN do chính quyền NN các cấp đảm
nhận theo nội dung đã được quy định trong phân cấp quản lý NSNN và các khoản
chi tiêu này nhằm đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý,
phát triển KT-XH.
Chi NSNN mang tính chất không hoàn trả hoặc hoàn trả không trực tiếp
(Quốc hội, 2002).
Phân cấp quản lý NSNN là việc xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn
của các, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý NSNN phù hợp với phân
cấp quản lý kinh tế - xã hội. Phân cấp quản lý NSNN bao gồm phân cấp nguồn thu
và nhiệm vụ chi của các cấp trong đó nhiệm vụ chi của các cấp bao gồm:
- Chính phủ (2003) có qui định nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước gồm:
+ “ Chi đầu tư phát triển:
Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả
năng thu hồi vốn do trung ương quản lý;
Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài
chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh
vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước;
7
Chi bổ sung dự trữ nhà nước;
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
+ Chi thường xuyên:
Các hoạt động sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin
văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt
động sự nghiệp khác do các cơ quan trung ương quản lý;
Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do các cơ quan trung ương quản lý;
Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội, không kể phần giao cho địa
phương;
Hoạt động của các cơ quan trung ương của Nhà nước, Đảng cộng sản Việt
Nam và các tổ chức chính trị - xã hội;
Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
Các chương trình quốc gia do trung ương thực hiện;
Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ;
Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội do trung ương đảm nhận;
Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp ở trung ương theo quy định của pháp luật;
Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
+ Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay;
+ Chi viện trợ;
+ Chi cho vay theo quy định của pháp luật;
+ Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của trung ương;
+ Chi bổ sung cho ngân sách địa phương”.
2.1.2. Quản lý chi ngân sách nhà nước và nội dung của quản lý chi ngân sách
nhà nước
Quản lý chi NSNN: Quản lý chi NSNN là một bộ phận trong công tác quản lý.
Quản lý chi NSNN là một khái niệm phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển và đưa ra
quyết định của nhà nước đối với quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực NSNN
nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước trong việc quản lý nhà nước, cung
8
cấp hàng hóa, dịch vụ công, phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng (Bùi Thị
Quỳnh Thơ, 2013).
Nội dung quản lý chi NSNN bao gồm:
Quản lý chi NSNN phải theo một chu trình. Một chu trình NS gồm ba khâu
nối tiếp nhau: Lập dự toán chi ngân sách, chấp hành NS, quyết toán NS. Chu trình
NS thường bắt đầu từ trước năm NS và kết thúc sau năm NS. Trong một năm NS
đồng thời diễn ra cả ba khâu của chu trình NS đó là: chấp hành NS của chu trình NS
hiện tại; quyết toán NS của chu trình NS trước đó và lập NS cho chu trình tiếp theo
(Thạc Văn Du và Hoàng Thị Thúy Nguyệt, 2012).
Bên cạnh chu trình quản lý trên, quản lý chi NSNN bao gồm quản lý việc
kiểm tra, thanh tra quản lý NS, công khai minh bạch dự toán, quyết toán NSNN.
2.1.2.1. Lập dự toán chi ngân sách nhà nước
a. Công tác hướng dẫn lập dự toán ngân sách nhà nước
Lập dự toán NSNN là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng thu và nhu
cầu nguồn tài chính của NN, từ đó xác lập các chỉ tiêu thu, chi, dự trữ NS một cách
đúng đắn có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn. Đồng thời trên cơ sở đó xác lập
những biện pháp về mặt KT-XH, tổ chức để thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
- Ý nghĩa của việc lập dự toán NSNN
Lập dự toán NSNN là khâu mở đầu có ý nghĩa quan trọng đến toàn bộ các
khâu của chu trình quản lý NSNN. Dự toán NSNN thực chất là lập kế hoạch thu-chi
của ngân sách cho một năm ngân sách kế tiếp. Kết quả của khâu này là dự toán
ngân sách đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định (Thạc Văn Du và
Hoàng Thị Thúy Nguyệt, 2012).
- Căn cứ lập dự toán chi NSNN
Dự toán NSNN hàng năm được lập căn cứ vào các nội dung chủ yếu như:
Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh; chỉ
tiêu nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch.
Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách và tỷ lệ phần trăm phân chia đối
với các khoản thu phân chia và mức bổ sung cân đối của ngân sách cấp trên cho
9
ngân sách cấp dưới; Định mức phân bổ ngân sách; chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi
ngân sách do cấp có thẩm quyền quy định.
Tình hình thực hiện ngân sách thu chi ngân sách của năm trước.
Căn cứ vào Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát
triển KTXH và dự toán NSNN năm sau; Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về
việc lập dự toán NS; hướng dẫn của UBND cấp tỉnh (Sở Tài chính) về lập dự toán
NS ở các cấp địa phương).
Dự toán NSNN được tổ chức xây dựng, tổng hợp từ cơ quan thu, đơn vị sử
dụng ngân sách, bảo đảm đúng thời gian và biểu mẫu quy định (Chính phủ, 2003).
- Trình tự lập dự toán chi NSNN: Dự toán chi NSNN cơ bản được triển khai
theo trình tự (Bộ Tài chính, 2003).
Chỉ thị Thủ tướng Chính phủ
Thông tư Bộ tài chính hướng dẫn xây
dựng dự toán NSNN
Công văn Sở Tài chính hướng dẫn xây
dựng dự toán NSNN
Phòng TC-KH các huyện thành phố triển
khai thực hiện xây dựng dự toán NSNNđến
đơn vị sử dụng ngân sách và các xã, TT
Các xã, TT, các đơn vị có liên quan đến
việc sử dụng ngân sách tiến hành triển khai
thực hiện xây dựng dự toán NSNN
Sơ đồ 2.2: Trình tự lập dự toán NSNN
10
b. Lập, quyết định, phân bổ, giao dự toán chi ngân sách nhà nước
- Lập dự toán:
+ Đối với dự toán NSNN và ngân sách trung ương: Bộ Tài chính chủ trì phối
hợp với Bộ, ngành liên quan, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập dự toán thu-chi NSNN và
phương án phân bổ ngân sách trung ương; tổ chức thực hiện NSNN trình Chính phủ.
+ Đối với ngân sách địa phương:
Sở Tài chính chủ trì phối hợp với sở, ban ngành, UBND các huyện, thành phố
tổng hợp và lập dự toán ngân sách của địa phương quản lý (gồm dự toán thu –chi trên
địa bàn; dự toán ngân sách huyện, xã và dự toán ngân sách cấp tỉnh), báo cáo Uỷ ban
nhân dân tỉnh để trình Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét trước khi báo cáo
Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Sở Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể
việc lập dự toán ngân sách các cấp ở địa phương phù hợp với yêu cầu, nội dung và thời
gian lập dự toán ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Quốc hội, 2002).
- Quyết định dự toán NSNN, phân bổ ngân sách trung ương, giao dự toán NSNN .
Căn cứ vào dự toán NSNN và phương án phân bổ ngân sách của Chính phủ
trình Quốc hội trước kỳ họp cuối năm. Quốc hội xem xét và quyết định dự toán
NSNN, phân bổ ngân sách trung ương năm sau trước ngày 15 tháng 11 năm trước.
Trước ngày 20/11 Thủ tướng Chính phủ giao dự toán thu chi ngân sách năm
sau cho từng bộ, cơ quan nganh bộ, cơ quan thuộc Chính phủ cơ quan khác ở Trung
ương và từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Căn cứ vào quyết định giao dự toán thu chi ngân sách của Thủ tướng Chính
phủ, Sở Tài chính tham mưu với UBND tỉnh về dự toán thu ngân sách, phương án
phân bổ chi ngân sách trình HĐND tỉnh. Trước ngày 10/12 HĐND cấp tỉnh ban hành
Nghị quyết về dự toán và phương án phân bổ ngân sách của địa phương mình; căn cứ
vào Nghị quyết dự toán NSNN của HĐND tỉnh, UBND tỉnh ban hành quyết định về
giao dự toán NSNN; kế hoạch đầu tư phát triển nguồn vốn NSNN cho các sở, ban
ngành và các huyện thành phố trực thuộc. Chậm nhất là 10 ngày kể từ khi có quyết
định giao dự toán thu chi ngân sách của UBND tỉnh, HĐND huyện phải ban hành
được Nghị quyết về dự toán NSNN; kế hoạch đầu tư phát triển nguồn vốn NSNN .
Trước ngày 31/12 các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ,
11
UBND các cấp ở địa phương phải hoàn thành việc giao dự toán ngân sách cho từng
cơ quan, đơn vị trực thuộc và UBND cấp dưới (Quốc hội, 2002).
2.1.2.2. Chấp hành ngân sách
Chấp hành ngân sách là bước tiếp theo trong chu trình quản lý ngân sách và
là khâu cốt yếu, trọng tâm và có ý nghĩa quyết định với quản lý ngân sách. Nếu
khâu lập kế hoạch đạt kết quả tốt thì cơ bản mới dừng ở trên giấy, nằm trong khả
năng và dự kiến, chúng có thể biến thành hiện thực hay không là tùy vào khâu chấp
hành ngân sách (Đồng Thị Hồng Vân, 2010).
Chấp hành NSNN là khâu quan trọng trong quá trình quản lý NSNN. Việc
chấp hành ngân sách đúng đắn và có điều chỉnh kịp thời dự toán là tiền đề quan
trọng bảo đảm điều kiện để thực hiện các khoản thu, chi đã ghi trong kế hoạch phát
triển kinh tế- xã hội của địa phương, tránh mất cân đối ngân sách.
a. Phân bổ và giao dự toán chi ngân sách nhà nước
Sau khi được Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân giao dự toán ngân
sách, các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương, các đơn vị dự toán có trách
nhiệm phân bổ và giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực
thuộc, bảo đảm đúng với dự toán ngân sách được giao cả về tổng mức, chi tiết theo
từng lĩnh vực chi, đồng gửi cơ quan tài chính cùng cấp và Kho bạc nhà nước nơi
giao dịch để thực hiện. Việc phân bổ và giao dự toán phải đảm bảo các yêu cầu:
- Đúng với dự toán ngân sách được giao cả về tổng mức và chi tiết theo từng
lĩnh vực, nhiệm vụ thu, chi được giao.
- Đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức chi.
- Phân bổ đủ vốn, kinh phí để thu hồi các khoản đã ứng trước dự toán đến
hạn thu hồi trong năm.
- Đối với phân bổ vốn đầu tư XDCB: Phải ưu tiên bố trí đủ vốn cho các dự
án đầu tư đã hoàn thành đưa và sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn, các dự án chuẩn
bị đầu tư và các chương trình, dự án chuyển tiếp có khả năng hoàn thành đưa vào sử
dụng trong năm kế hoạch. Sau đó mới bố trí công trình khởi công mới, đảm bảo
nguyên tắc tập trung tránh dàn trải; đối với dự án chuẩn bị đầu tư phải nằm trong
danh mục kế hoạch đầu tư để được cấp có thẩm quyền phê duyệt; không bố trí vốn
12
cho các chương trình, dự án chưa đủ thủ tục đầu tư theo quy định trừ trường hợp
được cấp có thẩm quyền cho phép.
- Đối với phân bổ các khoản bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho
ngân sách cấp dưới phải đảm bảo đúng mục tiêu, đúng đối tượng và thực hiện đúng
các cam kết hoặc quy định về bố trí ngân sách địa phương cho mục tiêu đó (Bộ Tài
chính, 2013).
b. Tổ chức thực hiện chi ngân sách nhà nước
Sau khi dự toán được phân bổ cho các đơn vị, các cấp ngân sách tiến hành
thực hiện dự toán được giao. Việc thực hiện dự toán chi NSNN phải đảm bảo
nguyên tắc:
Thứ nhất,tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trong quá
trình chi trả, thanh toán. Các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được giao,
đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định và đã được thủ
trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền chi.
Thứ hai, việc thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN thực hiện theo
nguyên tắc trực tiếp từ KBNN cho người hưởng lương, trợ cấp xã hội và người
cung cấp hàng hóa dịch vụ; trường hợp chưa thực hiện được thanh toán trực tiếp,
KBNN thực hiện thanh toán qua đơn vị sử dụng ngân sách.
Thứ ba, trong quá trình thực hiện chi NSNNN các khoản chi sai phải thu hồi
giảm chi hoặc nộp ngân sách. Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính hoặc
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện việc thu hồi cho
ngân sách nhà nước theo đúng quy định (Bộ Tài chính, 2012).
Căn cứ vào quyết định phân bổ dự toán, các đơn vị tiến hành thực hiện việc
cấp phát, thanh toán kinh phí theo quy định hiện hành như:
Đối với chi thường xuyên: phải đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn định mức
chi ngân sách do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; ưu tiên cho chi trả tiền
lương, phụ cấp cho cán bộ công chức, viên chức, chi trả cho các chế độ, chính sách
an sinh xã hội; trường hợp các cơ quan, đơn vị đã được cấp có thẩm quyền cho phép
thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và tài chính
thì thực hiện theo quy chế chi tiêu nội bộ và phù hợp với dự toán được giao.
13
Đối với các dự án đầu tư XDCB và các nhiệm vụ chi cấp thiết khác được tạm
ứng vốn, kinh phí để thực hiện các công việc theo hợp đồng đã ký kết. Mức vốn tạm
ứng căn cứ vào giá trị hợp đồng và trong phạm vi dự toán ngân sách được giao. Vốn,
kinh phí tạm ứng được thu hồi khi thanh toán khối lượng, nhiệm vụ hoàn thành.
Đối với NSNN cấp dưới thực hiện rút số bổ sung từ ngân sách cấp trên tại
Kho bạc nhà nước, trong trường hợp cần thiết có thể tạm ứng từ ngân sách cấp trên
để thực hiện nhiệm vụ chi.
Kho bạc nhà nước có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp của của chứng từ
chi và thực hiện chi ngân sách khi có đủ các điều kiện theo quy định để chi cho các
đơn vị có thể là tạm ứng hoặc thanh toán trực tiếp (Bộ Tài chính, năm 2013).
c. Thực hiện điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước
- Điều chỉnh tổng thể NSNN trong trường hợp có biến động về NSNN so với
dự toán đã phân bổ cần phải điều chỉnh tổng thể:
+ Chính phủ lập dự toán điều chỉnh tổng thể NSNN trình Quốc hội quyết định.
+ Căn cứ vào Nghị quyết của quốc hội về dự toán điều chỉnh tổng thể NSNN
và nhiệm vụ thu, chi ngân sách được cấp trên giao, UBND các cấp lập dự toán điều
chỉnh tổng thể ngân sách địa phương trình HĐND cùng cấp quyết đinh.
- Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh nhiệm vụ
thu, chi của một số bộ, cơ quan nganh bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở
trung ương và một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vào báo cáo Quốc hội tại
kỳ họp gần nhất, trong các trường hợp sau:
+ Dự kiến số thu không đạt dự toán được Quốc hội quyết định, phải giảm một
số khoản chi.
+ Có yêu cầu cấp bách về quốc phòng, an ninh hoặc vì một lý do khách quan
cần phải điều chỉnh.
- UBND trình Thường trực HĐND cùng cấp quyết định điều chỉnh dự toán
ngân sách địa phương và báo cáo HĐND tại kỳ họp gần nhất trong các trường hợp sau:
+ Dự kiến số thu không đạt dự toán được HĐND quyết định phải chỉnh giảm
một số khoản chi;
+ Khi cần điều chỉnh dự toán ngân sách của một số đơn vị dự toán hoặc địa
phương cấp dưới.
14
- Thủ tướng Chính phủ yêu cầu HĐND cấp tỉnh điều chỉnh dự toán ngân sách,
nếu việc bố trí ngân sách địa phương không phù hợp với nghị quyết của Quốc hội.
- Chủ tịch UBND yêu cầu HĐND cấp dưới điều chnrh dự toán ngân sách, nếu
việc bố trí ngân sách địa phương không phù hợp với nghị quyết của HĐND cấp trên.
Điều chỉnh dự toán đã giao cho các đơn vị sử dụng nguồn ngân sách: Khi có
sự điều chỉnh về chi NSNN thì cũng phải tiến hành điều chỉnh ở các đơn vị sử dụng
ngân sách cho phù hợp với tình hình thực tế (Quốc hội, 2002).
2.1.2.3. Quyết toán ngân sách nhà nước
Quyết toán chi ngân sách là công đoạn cuối cùng trong khâu quản lý chi
NSNN, từ việc tổng hợp, phân tích, đánh giá các khoản chi NSNN. Nội dung công
tác quyết toán chi ngân sách bao gồm:
* Lập quyết toán:
Kết thúc năm ngân sách, các cơ quan, đơn vị, tổ chức cá nhân có liên quan
đến thu, chi ngân sách thực hiện khóa sổ kế toán và lập báo cáo quyết toán NSNN
theo đúng nội dung ghi trong dự toán được giao, mục lục NSNN và hướng dẫn của
Bộ tài chính.
Việc lập báo cáo quyết toán phải đảm bảo yêu cầu:
- Số liệu chính xác, trung thực, đầy đủ ( số quyết toán thu NSNN là số thu đã
hạch toán vào thu NSNN qua KBNN, số quyết toán chi là số đã thực thanh toán
hoặc được phép hạch toán chi theo quy định).
- Số liệu quyết toán ngân sách của đơn vị sử dụng ngân sách, của chủ đầu tư
và của ngân sách các cấp phải được đối chiếu, xác nhận với Kho bạc Nhà nước nơi
giao dịch.
- Báo cáo quyết toán của ngân sách cấp huyện, cấp xã không được quyết toán
chi ngân sách lớn hơn thu ngân sách.
- Báo cáo quyết toán của đơn vị sử dụng ngân sách, đơn vị dự toán cấp trên,
ngân sách các cấp phải kèm theo thuyết minh giải trình rõ, chi tiết nguyên nhân
tăng, giảm thu, chi đối với từng nhiệm vụ, từng lĩnh vực so với dự toán được cơ
quan có thẩm quyền giao, tình hình tiết kiệm chi và sử dụng nguồn tiết kiệm đó. Đối
với ngân sách các cấp chính quyền địa phương còn phải thuyết minh chi tiết: thu
15
khác ngân sách, chi khác ngân sách; sử dụng dự phòng; sử dụng số tăng thu của
ngân sách địa phương; sử dụng thưởng vượt thu từ ngân sách cấp trên; tình hình
thực hiện các nhiệm vụ quan trọng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ kèm
theo quyết toán thu, chi ngân sách địa phương. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ báo cáo
đánh giá kết quả, hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực được
giao quản lý trên phạm vi cả nước và gắn với kết quả thực hiện các mục tiêu nhiệm
vụ kinh tế - xã hội bằng các số liệu, chỉ tiêu cụ thể. đánh giá kết quả, hiệu quả chi
ngân sách gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, địa phương, lĩnh vực,
chương trình, mục tiêu được giao phụ trách (Quốc hội, 2002).
- Lập quyết toán NSNN phải được thực hiện theo phương pháp lập từ cơ sở,
tổng hợp từ dưới lên
* Duyệt, thẩm định và phê duyệt quyết toán:
Duyệt, thẩm định quyết toán là việc xét duyệt từng khoản thu, chi phát sinh
tại đơn vị; các khoản thu phải theo quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ phí và các
chế độ thu khác của Nhà nước; các khoản thu, chi phải hạch toán theo đúng chế độ
kế toán nhà nước, đúng mục lục NSNN, đúng niên độ ngân sách; các chứng từ thu,
chi phải hợp pháp, số liệu trong sổ kế toán và báo cáo quyết toán phải khớp với
chứng từ và khớp với số liệu của Kho bạc Nhà nước (Bộ Tài chính, 2007).
Nội dung thẩm định quyết toán năm của các đơn vị sử dụng ngân sách, các
cấp ngân sách trên một số mặt chủ yếu:
- Kiểm tra danh mục báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán năm quy định.
- Kiểm tra tính chính xác của số liệu quyết toán thu phí, lệ phí và các khoản
thu khác được giao quản lý, thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp
luật (nếu có); bảo đảm khớp đúng với số liệu quyết toán của các đơn vị dự toán cấp
dưới trực thuộc đã được xét duyệt hoặc thẩm định;
- Kiểm tra tính chính xác và pháp lý của dự toán chi ngân sách được giao,
bảo đảm khớp đúng với dự toán được cấp có thẩm quyền giao về tổng mức và chi
tiết theo từng lĩnh vực chi (kể cả dự toán bổ sung, điều chỉnh trong năm). Riêng đối
với dự toán chi từ nguồn viện trợ thực hiện theo quy định hiện hành về chế độ quản
lý tài chính Nhà nước đối với nguồn viện trợ không hoàn lại.
16
- Kiểm tra tính chính xác và pháp lý của số liệu quyết toán so dự toán ngân
sách được giao; bảo đảm khớp đúng với số liệu quyết toán của các đơn vị dự toán
cấp dưới trực thuộc đã được xét duyệt hoặc thẩm định về tổng số và chi tiết theo
Mục lục ngân sách nhà nước;
- Kiểm tra việc thực hiện các kiến nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
qua công tác kiểm toán, thanh tra, thẩm định quyết toán năm.
Kết thúc việc thẩm định quyết toán năm, cơ quan có thẩm quyền thẩm định phải
lập biên bản thẩm định và thông báo số liệu quyết toán năm cho các cơ quan, đơn vị
được thẩm định quyết toán.
Trình tự, trách nhiệm thẩm định và phê chuẩn báo cáo quyết toán:
- Phòng Tài chính- Kế hoạch huyện thẩm định quyết toán thu chi NS xã; báo
cáo tài chính của đơn vị dự toán cấp I; lập báo cáo thu chi NS cấp huyện, tổng hợp lập
báo cáo NSNN trên địa bàn huyện và quyết toán thu chi NS huyện (bao gồm quyết
toán thu chi NS huyện, quyết toán thu chi NS xã) trình UBND huyện xem xét, gửi Sở
Tài chính; đồng thời UBND cấp huyện trình HĐND huyện phê chuẩn. Sau khi có
thông báo số liệu thẩm định quyết toán của Sở Tài chính và phê chuẩn quyết toán của
HĐND huyện ban hành quyết định công khai quyết toán năm theo đúng quy định.
- Sở Tài chính thẩm định quyết toán thu chi NS huyện, lập báo cáo quyết
toán thu chi cấp tỉnh; tổng hợp lập quyết toán thu chi NSNN trên của địa phương
trình UBND tỉnh gửi báo cáo Bộ Tài chính; sau khi có thông báo số liệu thẩm
định quyết toán NS địa phương trình HĐND tỉnh phê duyệt báo cáo quyết toán
NS địa phương.
- Bộ Tài chính thẩm định quyết toán thu chi NS địa phương, lập báo cáo
quyết toán thu chi NSNN trình Quốc hội phê chuẩn; sau khi đã có nghị quyết phê
chuẩn của Quốc hội gửi báo cáo quyết toán NSNN cho cơ quan kiểm toán NN (Bộ
Tài chính, 2007).
2.1.2.4. Công khai tài chính
- Mục đích công khai tài chính: Công khai tài chính là biện pháp nhằm phát
huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức Nhà nước, tập thể người lao động và
nhân dân trong việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng
17
vốn, tài sản Nhà nước; huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của nhân
dân theo quy định của pháp luật; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi
phạm chế độ quản lý tài chính; bảo đảm sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước,
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Nguyên tắc công khai tài chính: Cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các
thông tin tài chính phải công khai, phù hợp với từng đối tượng cung cấp và tiếp
nhận thông tin thông qua những hình thức quy định trong Quy chế này; Việc gửi
các báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước các cấp, báo cáo quyết toán tài chính
của các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ, các
doanh nghiệp nhà nước và các quỹ có nguồn thu từ các khoản đóng góp của nhân
dân được các cấp có thẩm quyền cho phép thành lập thực hiện theo chế độ báo cáo
tài chính và kế toán hiện hành.
Công khai tài chính phải được thực hiện ở tất cả các cấp ngân sách, các đơn
vị sử dụng nguồn NSNN và các đơn vị có nhận hỗ trợ từ nguồn NSNN cấp. Cụ thể:
Công khai tài chính đối với các cấp ngân sách: chậm nhất là 60 ngày kể từ
khi khi dự toán, quyết toán ngân sách hàng năm đã được Quốc hội, HĐND các cấp
quyết định, phê chuẩn các cấp ngân sách phải tiến hành công khai chi tiết số liệu dự
toán (quyết toán) theo từng lĩnh vực thu và tỷ lệ phân chia nguồn thu được phân
cấp, từng lĩnh vực chi, đồng thời phải công khai chi tiết một số hoạt động tài chính
khác của xã như: các quỹ công chuyên dùng, các hoạt động sự nghiệp.
Công khai tài chính đối với các đơn vị sử dụng NSNN: chậm nhất 30 ngày kể
từ khi nhận được dự toán (phê duyệt quyết toán) của cấp có thẩm quyền Thủ trưởng
các đơn vị dự toán ngân sách công bố công khai trong nội bộ đơn vị về dự toán kể
cả dự toán ngân sách điều chỉnh đã giao cho các đơn vị dự toán cấp dưới; công bố
công khai quyết toán ngân sách đã duyệt cho các đơn vị dự toán cấp dưới thông qua
hình thức: niêm yết tại trụ sở cơ quan; công bố trong hội nghị của tổ chức (Chính
phủ, 2004)
2.1.2.5. Kiểm tra, thanh tra, kiểm toán chi ngân sách nhà nước
* Công tác tự kiểm tra tài chính, kế toán tại đơn vị có sử dụng kinh phí
NSNN cấp tại Bộ Tài chính (2004) có nêu:
18
“Công tác tự kiểm tra tài chính, kế toán tại đơn vị có sử dụng kinh phí NSNN
cấp nhằm mục đích đánh giá tình hình triển khai chấp hành dự toán NSNN hàng
năm tại đơn vị theo quy định của pháp luật về NSNN, tình hình chấp hành công tác
thực hành tiết kiệm chống lãng phí của đơn vị (Bộ Tài chính, 2004).
Đánh giá chất lượng hoạt động, tình hình chấp hành cơ chế, chính sách và quản
lý các khoản thu, chi tài chính, quản lý và sử dụng tài sản, tiền vốn, sử dụng quỹ lương,
quỹ thưởng, các quỹ của cơ quan và công tác đầu tư XDCB trong đơn vị.
Phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm, áp dụng các biện pháp xử lý
các sai phạm theo đúng thẩm quyền đã được phân cấp. Đồng thời tổ chức rút kinh
nghiệm, đánh giá những tồn tại, tìm ra nguyên nhân và đưa ra phương hướng, biện
pháp khắc phục nhằm tăng cường công tác quản lý tài chính kế toán tại đơn vị”.
* Thanh tra quản lý chi NSNN:
Thanh tra là hoạt động nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính
sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc
phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ
chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thanh tra là việc xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật
quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách,
pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân (Quốc hội, 2010).
* Kiểm toán chi NSNN:
Kiểm toán là hoạt động giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng ngân
sách, tiền và tài sản nhà nước; góp phần thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng,
thất thoát, lãng phí, phát hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật; nâng cao
hiệu quả sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước.
Kiểm toán là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực
của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả
trong quản lý, sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước (Quốc hội, 2005).
Như vậy có thể nói công tác thanh tra, kiểm toán chi NSNN đều hướng đến
19
việc tuân thủ chính sách, pháp luật, sử dụng có hiệu quả nguồn kinh phí NSNN,
nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật tránh tình trạng lãng phí tham ô,
lãng phí nguồn NSNN.
2.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách nhà nước
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN, các nhân tố này có thể là
khách quan, chủ quan. Đó là các yếu tố do tự nhiên đem lại, các loại rủi ro có thể lường
trước hoặc không lường trước được, các yếu tố do con người mang lại như: trình độ
chuyên môn của các nhà quản lý NSNN, các văn bản hướng dẫn liên quan đến chế độ,
định mức chi và văn bản hướng dẫn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền….
2.1.3.1. Các yếu tố khách quan
- Điều kiện tự nhiên: Ở mỗi vùng, mỗi địa phương đều có vị trí địa lý, điều
kiện địa hình, thời tiết khí hậu khác nhau gây ảnh hưởng đến nguồn thu, nhiệm vụ
chi tại địa phương. Địa phương nào có nguồn thu thuận lợi thì việc quản lý thu,
chi NSNN cũng được chủ động và thuận lợi trong khâu điều hành NSNN và
ngược lại đối với địa phương có nguồn thu trên địa bàn không đáp ứng được
nhiệm vụ chi thường xuyên, đầu tư phát triển của địa phương thì việc quản lý và
điều hành ngân sách cũng sẽ bị bị động và hạn chế hơn.
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi vùng, miền có ảnh hưởng rất lớn đối với quản
lý chi NSNN tại mỗi quốc gia, mỗi vùng miền, địa phương đó. Bởi vì kinh tế quyết
định các nguồn lực tài chính và ngược lại nguồn lực tài chính cũng tác động mạnh
mẽ đến quản lý chi NSNN. Kinh tế càng phát triển nền tài chính cũng sẽ được củng
cố ổn định và phát triển khi đó Nhà nước điều hành nền kinh tế vĩ mô thông qua
chính sách tài khóa để phân bổ các nguồn lực cho xã hội sẽ được thuận lợi hơn.
Xã hội ổn định bởi chế độ chính trị ổn định, chế độ chính trị ổn định sẽ có
một nền kinh tế ổn định và phát triển, môi trường kinh doanh lành mạnh thu hút
được nguồn vốn đầu tư từ trong và ngoài nước sẽ ảnh hưởng tích cực đến nguồn thu
ngân sách và nhiệm vụ chi của NSNN.
- Quy định của nhà nước về quản lý chi NSNN.
Trong nền kinh tế hội nhập và mở cửa hiện nay việc xây dựng hệ thống các
20