MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục chữ viết tắt
vii
Danh mục bảng
viii
Danh mục hình
x
MỞ ĐẦU
1
1
Tính cấp thiết của đề tài
1
2
Mục đích nghiên cứu
2
3
Yêu cầu của đề tài
2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
3
1.1.1 Nghiên cứu bệnh nấm hại vùng rễ
3
1.1.2 Một số biện pháp phòng trừ bệnh hại vùng rễ cây trồng
8
13
1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về bệnh nấm hại vùng rễ
13
1.2.2 Một số biện pháp phòng trừ bệnh hại vùng rễ hại cây trồng
22
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
24
2.1 Đối tượng nghiên cứu
24
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
24
2.3 Vật liệu nghiên cứu
24
2.4 Nội dung nghiên cứu
24
2.4.1 Điều tra thành phần bệnh nấm hại và diễn biến một số bệnh nấm
24
hại vùng rễ cây hoa lily và hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
2.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật trồng và yếu tố sinh
thái đến một số bệnh nấm hại vùng rễ cây hoa lily, hoa cúc tại Đà
Lạt - Lâm Đồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
24
Page iv
2.4.3 Khảo sát hiệu lực phòng trừ một số bệnh nấm chính hại vùng rễ
cây hoa lily, hoa cúc bằng biện pháp xử lý đất trước khi trồng tại
25
Đà Lạt - Lâm Đồng
25
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp điều tra thành phần bệnh nấm hại cây hoa lily, hoa
25
cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
2.5.2 Phương pháp điều tra diễn biến bệnh nấm hại vùng rễ cây hoa
26
lily, hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
2.5.3 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật trồng và
yếu tố sinh thái đến một số bệnh nấm hại vùng rễ cây hoa lily tại Đà
26
Lạt - Lâm Đồng
2.5.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật trồng và yếu tố sinh
thái đến một số bệnh nấm hại vùng rễ cây hoa cúc tại Đà Lạt -
28
Lâm Đồng
2.5.5 Phương pháp khảo sát hiệu lực phòng trừ một số bệnh nấm chính
hại vùng rễ cây hoa lily, hoa cúc bằng biện pháp xử lý đất trước
29
khi trồng tại Đà Lạt - Lâm Đồng
2.6 Phương pháp tính và xử lý số liệu
30
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
32
3.1 Điều kiện tự nhiên và đặc điểm khí hậu vùng trồng hoa Đà Lạt - Lâm Đồng
32
3.2 Điều tra thành phần bệnh nấm hại và diễn biến một số bệnh nấm hại
33
vùng rễ cây hoa lily, hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.2.1 Điều tra thành phần bệnh nấm hại và diễn biến bệnh nấm hại vùng
33
rễ cây hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.2.2 Điều tra thành phần bệnh nấm hại và diễn biến bệnh nấm hại vùng
37
rễ cây hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật trồng và yếu tố sinh thái
đến một số bệnh nấm hại vùng rễ cây hoa lily, hoa cúc tại Đà Lạt Lâm Đồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
41
Page v
3.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật trồng và yếu tố sinh
thái đến một số bệnh nấm hại vùng rễ cây hoa lily tại Đà Lạt -
41
Lâm Đồng
3.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật trồng và yếu tố sinh
thái đến một số bệnh nấm hại vùng rễ cây hoa cúc tại Đà Lạt -
52
Lâm Đồng
3.4 Khảo sát hiệu lực phòng trừ một số bệnh nấm chính hại vùng rễ cây
hoa lily, hoa cúc bằng biện pháp xử lý đất trước khi trồng tại Đà Lạt -
62
Lâm Đồng
3.4.1 Khảo sát hiệu lực phòng trừ một số bệnh nấm chính hại vùng rễ
cây hoa lily bằng biện pháp xử lý đất trước khi trồng tại Đà Lạt -
62
Lâm Đồng
3.4.2 Khảo sát hiệu lực phòng trừ một số bệnh nấm chính hại vùng rễ
cây hoa cúc bằng biện pháp xử lý đất trước khi trồng tại Đà Lạt -
66
Lâm Đồng
3.4.3 Hiệu quả kinh tế của các biện pháp xử lý đất trước khi trồng hoa
lily, hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
76
1
Kết luận
76
2
Kiến nghị
78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
79
PHỤ LỤC
83
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Chữ viết tắt
Từ viết vắt
1
BVTV
Bảo vệ thực vật
2
CABI
Trung tâm Khoa học Sinh học và Nông nghiệp Quốc tế
3
CS
Cộng sự
4
CT
Công thức
5
F. oxysporum
Fusarium oxysporum
6
F. solani
Fusarium solani
7
HLPT
Hiệu lực phòng trừ
8
NST
Ngày sau trồng
9
MĐPB
Mức độ phổ biến
10
TLB
Tỷ lệ bệnh
11
R. solani
Rhizoctonia solani
12
S. rolfsii
Sclerotium rolfsii
13
UNEP
Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
1.1
Tên bảng
Trang
Mối quan hệ nhiệt độ, thời gian cần thiết để tiêu diệt các sinh vật
gây hại
1.2
9
Tình hình tiêu thụ methyl bromide trong năm 2009 theo các vùng
địa lý trên thế giới
10
3.1
Điều kiện khí hậu tại Đà Lạt - Lâm Đồng
32
3.2
Thành phần bệnh nấm hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
33
3.3
Diễn biến bệnh thối thân (Phytophthora spp.) và bệnh héo vàng
(Fusarium oxysporum) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
36
3.4
Thành phần nấm hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
37
3.5
Diễn biến bệnh lở cổ rễ (R. solani) và bệnh héo vàng
(F.
oxysporum) hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.6
40
Ảnh hưởng của giống đến bệnh thối thân (Phytophthora spp.) và
bệnh héo vàng (F. oxysporum) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.7
42
Ảnh hưởng của biện pháp luân canh đến bệnh thối thân
(Phytophthora spp.) và bệnh héo vàng (F. oxysporum) hại hoa lily
tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.8
44
Ảnh hưởng của mật độ trồng đến bệnh thối thân (Phytophthora
spp.) và bệnh héo vàng (F oxysporum) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng 46
3.9
Ảnh hưởng của địa thế đất đai trồng đến bệnh thối thân
(Phytophthora spp.) và bệnh héo vàng (F. oxysporum) hại hoa lily
tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.10
48
Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến bệnh thối thân (Phytophthora
spp.) và bệnh héo vàng (F. oxysporum) hại hoa lily tại Đà Lạt Lâm Đồng
3.11
50
Ảnh hưởng của giống đến bệnh lở cổ rễ (R. solani) và bệnh héo
vàng (F. oxysporum) hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.12
52
Ảnh hưởng của biện pháp luân canh bệnh lở cổ rễ (R. solani) và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii
bệnh héo vàng (F. oxysporum) hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.13
Ảnh hưởng của mật độ trồng đến bệnh lở cổ rễ (R. solani) và bệnh
héo vàng (F. oxysporum) hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.14
56
Ảnh hưởng của địa thế đất đai đến bệnh lở cổ rễ (R. solani) và bệnh
héo vàng (F. oxysporum) hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.15
58
Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến bệnh lở cổ rễ (R. solani) và bệnh
héo vàng (F. oxysporum) hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.16
54
60
Hiệu lực phòng trừ của các biện pháp xử lý đất trước trồng đến
bệnh thối thân (Phytophthora spp.) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm
Đồng
3.17
63
Hiệu lực phòng trừ của các biện pháp xử lý đất trước trồng đến
bệnh héo vàng (F. oxysporum) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.18
Hiệu lực phòng trừ của các biện pháp xử lý đất trước trồng đến
bệnh lở cổ rễ (R. solani) hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.19
67
Hiệu lực phòng trừ của các biện pháp xử lý đất trước trồng đến
bệnh héo vàng (F. oxysporum) hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.20
69
Hiệu quả kinh tế của các biện pháp xử lý đất trước khi trồng hoa
lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.21
65
72
Hiệu quả kinh tế của các biện pháp xử lý đất trước khi trồng hoa
cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
74
Page ix
DANH MỤC HÌNH
Số hình
3.1
Tên hình
Trang
Diễn biến bệnh thối thân (Phytophthora spp.) và bệnh héo vàng
(Fusarium oxysporum) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.2
Diễn biến bệnh lở cổ rễ (R. solani) và bệnh héo vàng
36
(F.
oxysporum) hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.3
40
Ảnh hưởng của giống đến bệnh thối thân (Phytophthora spp.) hại
hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.4
42
Ảnh hưởng của giống đến bệnh héo vàng (F. oxysporum) hại hoa
lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.5
43
Ảnh hưởng của biện pháp luân canh đến bệnh thối thân
(Phytophthora spp.)hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.6
Ảnh hưởng của biện pháp luân canh đến bệnh héo vàng
44
(F.
oxysporum) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.7
45
Ảnh hưởng của mật độ trồng đến bệnh thối thân (Phytophthora
spp.) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.8
46
Ảnh hưởng của mật độ trồng đến bệnh héo vàng (F. oxysporum)
hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.9
47
Ảnh hưởng của địa thế đất đai trồng đến bệnh thối thân
(Phytophthora spp.) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.10
Ảnh hưởng của địa thế đất đai trồng đến bệnh héo vàng
49
(F.
oxysporum) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.11
49
Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến bệnh thối thân (Phytophthora
spp.) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.12
51
Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến bệnh héo vàng (F. oxysporum)
hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.13
51
Ảnh hưởng của giống đến bệnh lở cổ rễ (R. solani) hại hoa cúc tại
Đà Lạt - Lâm Đồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
53
Page x
3.14
Ảnh hưởng của giống đến bệnh héo vàng (F. oxysporum) hoa cúc
tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.15
53
Ảnh hưởng của biện pháp luân canh bệnh lở cổ rễ (R. solani) hại
hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.16
55
Ảnh hưởng của biện pháp luân canh bệnh héo vàng (F. oxysporum)
hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.17
55
Ảnh hưởng của mật độ trồng đến bệnh lở cổ rễ (R. solani) hại hoa
cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.18
57
Ảnh hưởng của mật độ trồng đến bệnh héo vàng (F. oxysporum)
hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.19
57
Ảnh hưởng của địa thế đất đai đến bệnh lở cổ rễ (R. solani) hại hoa
cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.20
59
Ảnh hưởng của địa thế đất đai đến bệnh héo vàng (F. oxysporum)
hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.21
59
Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến bệnh lở cổ rễ (R. solani) hại hoa
cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.22
61
Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến bệnh héo vàng (F. oxysporum)
hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.23
61
Hiệu lực phòng trừ của các biện pháp xử lý đất trước trồng đến bệnh
thối thân (Phytophthora spp.) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.24
64
Hiệu lực phòng trừ của các biện pháp xử lý đất trước trồng đến
bệnh héo vàng (F. oxysporum) hại hoa lily tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.25
Hiệu lực phòng trừ của các biện pháp xử lý đất trước trồng đến
bệnh lở cổ rễ (R. solani) hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
3.26
66
68
Hiệu lực phòng trừ của các biện pháp xử lý đất trước trồng đến
bệnh héo vàng (F. oxysporum) hại hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
70
Page xi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoa đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống tinh thần của con
người. Hoa là tượng trưng của cái đẹp, là nguồn cảm giác ngọt ngào của cuộc
sống. Hiện nay, đời sống vật chất của con người ngày càng được nâng cao thì đời
sống tinh thần cũng được cải thiện và ngày càng được chú trọng, do vậy nhu cầu
về hoa ngày càng tăng, không thể thiếu trong các dịp lễ tết, hội nghị… Do vậy,
nghề trồng hoa còn mang lại giá trị kinh tế cao cho người trồng hoa.
Với độ cao so với mặt biển từ 1,000-1,600 m, khí hậu ôn hòa mát mẻ quanh
năm, nhiệt độ bình quân năm từ 18-22oC, lượng mưa từ 1,400-1,800mm chia ra hai
mùa (mùa mưa và mùa khô) rõ rệt, thành phố Đà Lạt - Lâm Đồng có nhiều ưu đãi
và lợi thế về khí hậu phù hợp cho các loại rau, hoa sinh trưởng và phát triển quanh
năm. Thương hiệu Hoa Đà Lạt đã chiếm lĩnh được thị trường khó tính ở các địa
phương thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng... Ngoài ra đã xuất khẩu đi
nhiều nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Australia và Arabia Saudi…
Tính đến năm 2013, diện tích trồng hoa thành phố Đà Lạt khoảng 4.436 ha
với sản lượng 1.440.414 nghìn cành. Giá trị sản phẩm thu được trên 1 hecta đất
trồng hoa 1.414,6 triệu đồng (Cục thống kê tỉnh Lâm Đồng, 2013). Trong đó hoa lily
(Lilium) và hoa cúc (Chrysanthemum) được trồng tại Đà Lạt được người tiêu dùng
trong và ngoài nước ưu chuộng bởi đa dạng về chủng loại, màu sắc và chất lượng
hoa. Theo Chi Cục bảo vệ tỉnh Lâm Đồng, diện tích gieo trồng hoa lily dao động từ
120-140ha. Diện tích trồng hoa cúc khoảng 1.055 ha, tập trung chủ yếu tại Đà Lạt.
Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới đã cho thấy một hiện tượng mang
tính qui luật là: trồng trọt càng đi vào thâm canh, dịch hại càng phát triển mạnh và tổn
thất mùa màng do chúng gây ra càng gia tăng. Dịch hại nói chung và bệnh hại trong
đất là một thách thức lớn đối với sản xuất các loại cây rau, cây hoa, cây cảnh và các
cây khác ở cả điều kiện ngoài đồng cũng như trong nhà kính/nhà lưới. Dịch hại trong
đất rất khó phòng trừ và là yếu tố hạn chế chính trong sản xuất rau và hoa ở điều kiện
nhà kính/nhà lưới tại nhiều nước trên thế giới cũng như ở nước ta.
Để phòng trừ dịch hại trên cây hoa người dân Đà Lạt tiến hành phun thuốc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
định kỳ 2-3 ngày/lần, tổng số lần phun từ 25-30 lần/vụ. Bên cạnh đó, để quản lý
dịch hại trong đất, phần lớn người dân Đà Lạt hàng năm phải áp dụng biện pháp
xông hơi khử trùng đất bằng methyl bromide (hoạt chất Bromine – Gas 98%).
Theo nhận định của người nông dân trồng hoa tại Đà Lạt, đây là biện pháp cho
hiệu quả tối ưu nhất trong việc phòng trừ các loại nấm, tuyến trùng và cỏ dại
trong đất. Năm 2014 có khoảng 180 ha đất trồng hoa được nông dân Đà Lạt xử lý
bằng methyl bromide, với lượng thuốc khoảng 110 tấn. Tuy nhiên theo Nghị định
thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozon mà Việt Nam đã ký kết loại trừ
dần và tiến đến loại trừ hoàn toàn việc sử dụng methyl bromide trong các ứng
dụng ngoài kiểm dịch (Non – Quarantine and Pre-shipment, gọi tắt là non-QPS)
từ ngày 01 tháng 01 năm 2015. Vì vậy, nghiên cứu các giải pháp thay thế methyl
bromide để xử lý đất trồng mang lại hiệu quả kinh tế - kỹ thuật cao, đồng thời
bảo vệ được môi trường, môi sinh đang là yêu cầu cấp bách trong sản xuất cây
hoa có giá trị kinh tế cao như hoa lily, hoa cúc… tại Lâm Đồng.
Xuất pháp từ yêu cầu cấp thiết trong sản xuất, góp phần giải quyết những
vấn đề trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bệnh nấm
hại vùng rễ cây hoa lily, hoa cúc và biện pháp phòng trừ tại thành phố Đà Lạt
- Lâm Đồng”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nắm được thành phần, tình hình phát sinh gây hại của một số bệnh nấm
chính hại hoa lily, hoa cúc và xác định biện pháp phòng trừ một số bệnh nấm hại
vùng rễ cây hoa lily, hoa cúc tại thành phố Đà Lạt - Lâm Đồng đạt hiệu quả cao.
3. Yêu cầu của đề tài
- Điều tra thành phần bệnh nấm và diễn biến một số bệnh nấm hại chính
vùng rễ cây hoa lily, hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng;
- Điều tra ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật trồng và yếu tố sinh thái (giống,
biện pháp luân canh, mật độ trồng, địa thế đất đai, thời vụ) đến một số bệnh nấm
hại vùng rễ cây hoa lily, hoa cúc tại Đà Lạt - Lâm Đồng;
- Khảo sát hiệu lực phòng trừ một số bệnh nấm hại chính vùng rễ cây hoa lily,
hoa cúc bằng một số biện pháp xử lý đất trước khi trồng cây tại Đà Lạt - Lâm Đồng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Burgess và CS. (2001) cho rằng “Nấm là một trong những nguyên
nhân gây ra nhiều loại bệnh hại trên nhiều loại cây trồng, có khoảng 100 nghìn loài
nấm đã được miêu tả trong đó có trên 8 nghìn loài là nguồn gây bệnh hại cây trồng
vì thế còn rất nhiều loài chưa được quan tâm và nghiên cứu. Nguồn nấm tồn tại
trên các tàn dư cây trồng, trong đất, trong không khí, trong nước, trên quả, hạt hay
trong các dụng cụ bảo quản bởi chúng sống không phụ thuộc vào ánh sáng, chúng
có thể tồn tại và phát triển trong bóng tối giống như ngoài ánh sáng”.
Theo nghiên cứu của tác giả Blake, hoa cúc Chrysanthemum sp. thường bị
các bệnh sau: 07 bệnh vi khuẩn, 20 bệnh nấm (nấm trong đất: Fusarium
oxysporum, Fusarium solani, Fusarium sp., Pythium sp., Rhizoctonia solani,
Rhizoctonia sp., Sclerotium sp.) và 01 bệnh virus.
Trên cây hoa Lilium sp. (lily) thường bị 04 bệnh do nấm: Botrytis cinerea,
Botrytis elliptica, Pythium sp., Rhizoctonia sp. và 1 bệnh tuyến trùng.
1.1.1. Nghiên c u b nh n m h i vùng r
1.1.1.1. Bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum (Schlechtend) Snyder)
Nghiên cứu của Đại học mở Illinois, bệnh héo vàng do nấm Fusarium
được gây ra bởi một số hình thức chuyên môn cao đó là nấm Fusarium
oxysporum. Bệnh héo vàng do Fusarium đã tấn công nhiều khu vườn/nhà kính
trồng hoa và gây hậu quả nghiêm trọng ở bang Illinois như: cúc tây (China-aster),
cẩm chướng, hoa cúc, hoa lay ơn, hoa huệ và hoa thủy tiên.
Ngoài ra bệnh héo vàng do nấm Fusarium oxysporum còn gây bệnh trên
nhiều rau quả, trái cây, cây cảnh…
Nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ 25 - 300C. Bệnh phá hại nặng trong
điều kiện ấm và ẩm. Trong điều kiện nhiệt độ đất 25 - 300C và ẩm độ đất quá
cao kết hợp với cây sinh trưởng yếu là điều kiện để nấm xâm nhập gây bệnh.
Nấm F. oxysporum là loại nấm sống trong đất và phân bố rộng rãi trong các loại
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
đất trồng trọt và đất cỏ, loài nấm này bao gồm hơn 100 dạng chuyên hoá và
chủng nấm gây bệnh héo đối với nhiều loại rau, chuối, hồ tiêu, cây họ dưa và
nhiều cây cảnh khác (CABI, 2006).
Nguồn bệnh của nấm ở trong đất là dạng bào tử hậu, sợi nấm và bào tử lớn
phân bố tập trung ở tầng canh tác.
Nấm F. oxysporum có sẵn trong đất và rễ cây. Trong môi trường nuôi cấy
PDA, nấm F. oxysporum phát triển nhiều dạng khuẩn lạc. Nhìn chung, sợi nấm
khi sinh ban đầu có màu trắng, sau đó thay đổi trạng thái màu sắc khác nhau từ
màu tím đến màu tía hoặc có màu cá hồi và xanh nhạt có sắc đỏ, hay màu cá hồi
đến màu da cam, tuỳ thuộc vào chủng hay dạng đặc biệt của nấm F. oxysporum.
Đường kính khuẩn lạc sau cấy 3 ngày ở nhiệt độ 25oC - 30oC có thể đạt từ 2,5 cm
đến 4,0 cm. Nấm F. oxysporum sản sinh ra 3 loại bào tử vô tính đó là tiểu bào tử,
đại bào tử và bào tử hậu.
Các bào tử hậu thường có dạng hình tròn, có thành bào tử dày do các sợi
nấm tạo thành loại bào tử này thường có 1 đến 2 ngăn, chúng được sinh ra trong
các đại bào tử hoặc xen giữa các sợi nấm già.
Tiểu bào tử là các bào tử có 1 hay 2 ngăn, có hình trứng, hình bầu dục,
đây là dạng bào tử có nhiều nhất và được sản sinh trong tất cả các điều kiện,
thường được sinh ra trong các mạch dẫn của cây bị bệnh.
Đại bào tử là các bào tử có từ 3 đến 5 ngăn. Đại bào tử có hình bán nguyệt,
hình lưỡi liềm. Đại bào tử có thể tồn lưu trong đất lâu đến 30 năm và nó chính là
nguồn lan truyền bệnh cho các năm sau và các cây chủ khác (CABI, 2006).
1.1.1.2. Bệnh thối thân (Fusarium solani (Mart) Appel & Wollned)
Nấm F. solani gây hại nhiều loại cây trồng khác nhau, chúng gây hại từ khi
cây con có 1 lá thật đến khi thu hoạch. Bệnh trên hạt thường có màu trắng đến màu
kem, sợi nấm mảnh và xốp, khi có mặt của giọt nước thì nó chứa đầy các bào tử
phân sinh trên các nhánh dài của cành bào tử phân sinh, giọt nước mang bào tử
không màu, trong suốt không có hình dạng nhất định. Theo Denis (1991), khả năng
nhiễm nấm F. solani trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm là 29%.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
1.1.1.3. Bệnh thối gốc cây con Pythium spp.
Nhóm nấm Pythium spp. rất phổ biến trong đất, gây bệnh trên nhiều loại
cây trồng. Một số loài nấm Pythium spp. có thể tấn công giai đoạn đầu quá trình
sinh trưởng của cây, gây thối hạt, lở cổ rễ hoặc thối thân. Đây là một nhóm nấm
gây bệnh lở cổ rễ cây con. Ngoài ra, nhiều bộ phận khác của cây con cũng có thể
bị nấm này tấn công, gây bệnh.
Triệu chứng bệnh: Vết bệnh màu nâu tối, sũng nước bắt đầu trên rễ, sau lan
rộng dần lên thân, lên các bộ phận của cây ở phía trên mặt đất. Khi vết bệnh bao phủ
toàn bộ xung quanh gốc thân sẽ làm cho cây bị đổ rạp và chết. Bị bệnh nhẹ cây có
hiện tượng lùn.
Trong điều kiện ảm độ cao, một lớp sợi nấm trắng xốp như bông mọc trên
bề mặt các bộ phận bị bệnh của cây.
Đặc điểm phát sinh, gây hại
Nấm Pythium spp. gây bệnh lở cổ rễ cây con và bệnh thối thân cây trưởng thành.
Sự sinh trưởng của nấm Pythium spp. và sự phát triển của bệnh lở cổ rễ
cây con bị nhiều yếu tố trong đất, thời tiết ảnh hưởng (dinh dưỡng, nhiệt độ, pH,
độ ẩm, vi sinh vật đất). Mỗi loài Pythium có một điều kiện nhiệt độ tối thích cho
sự phát triển: nhiệt độ 20oC là tối thích cho loài nấm P. debaryanum, nhiệt độ
30oC là tối thích cho loài nấm P. myriotylum.
Nấm Pythium spp. phát triển nhanh trong điều kiện ẩm ướt. Hạt giống, cây
con sinh trưởng trong đất ướt dễ mẫn cảm với nấm Pythium spp. nhất là khi nhiệt
độ không thích hợp cho cây ký chủ. Cây con mọng nước cũng dễ bị nhiễm bệnh.
Cây trồng sinh trưởng kém do gặp điều kiện bất lợi (nhiệt độ quá cao/quá
thấp, úng nước, thiếu ánh sáng, mất cân bằng dinh dưỡng, thừa đạm) thường bị
bệnh nặng hơn so với ruộng cây khỏe.
Nấm Pythium phân bố ở trong đất, có thể sống hoại sinh hay ký sinh ở rễ
cây. Nấm Pythium lây lan nhờ mưa, nước tưới, cây bị nhiễm bệnh,
Pythium tấn công các mô trẻ: như các đầu rễ. Sau xâm nhập vào gốc nấm có
thể gây ra bệnh thối đen nhanh chóng toàn bộ gốc chính và thậm chí có thể di
chuyển lên vào mô thân. Nếu đất khô, rễ mới có thể được sản xuất và cây có thể
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
phục hồi hoặc không bao giờ có triệu chứng của bệnh. Dưới điều kiện ẩm ướt hoặc
tưới quá nhiều, nhiều rễ bị thối có thể gây héo cây, ngừng phát triển hoặc đổ cây và
chết. Rễ cây bị chuyển sang màu đen, teo lại và tạo thành một xác ướp cứng.
Trong việc kiểm soát bệnh Pythium, cần thiết lập hệ thống thoát nước tốt
và quản lý nước. Có thể dùng hơi nước (50°C trong 30 phút), dùng ánh sáng mặt
trời (60°C trong 30 phút hoặc 50°C lúc 1 giờ). Vệ sinh môi trường là quan trọng
vì Pythium spp. có thể tồn tại trong bụi, các hạt đất trên sàn nhà và căn hộ trong
nhà kính và chậu. Hủy bỏ và loại bỏ cây bị bệnh. Ngoài ra mycoparasite,
Gliocladium virens, được sử dụng như một tác nhân kiểm soát sinh học Pythium
(Theo UC IPM, 2014).
1.1.1.4. Bệnh lở cổ rễ cây con Rhizoctonia solani Kuhn
Theo trung tâm CABI (2006), nấm R. solani Kuhn là một trong những loại
nấm có nguồn gốc trong đất điển hình. Nấm được mô tả đầu tiên bởi Kuhn vào
năm 1858.
Nấm R. solani là một loại nấm hoại sinh điển hình, có thể tồn tại trong 3
tháng, thậm chí đến 9 tháng khi vắng mặt cây ký chủ, nấm tồn tại trong đất và
bảo tồn trong những hợp chất hữu cơ, sự phát triển của nấm phụ thuộc vào nhiệt
độ, pH và sự cạnh tranh vi sinh vật trong đất. Quần thể nấm thường tồn tại và
sinh trưởng trong độ sâu 10 cm, bảo tồn dưới dạng hạch nấm và sợi nấm khi gặp
điều kiện thuận lợi chúng phát sinh và gây hại, nấm gây bệnh có khả năng phân
giải mô tế bào bởi các enzym, sự phát triển của nấm còn liên quan tới tiềm năng
lây nhiễm. Triệu chứng gây bệnh của nấm thường thấy sau khi cây con mọc nấm
bắt đầu xâm nhiễm gây hại. Tại gốc cây sát mặt đất chỗ bị bệnh có vết màu thâm
đen hoặc màu nâu nhạt bao quanh làm cho mô tế bào cây bị hủy hoại mềm nhũn,
giai đoạn cây con thường bị gãy gục và chết (Sneh et al., 1998).
Bệnh có thể xuất hiện ngay trên thân sau khi mầm nhú lên khỏi mặt đất,
làm chết cây con, làm giảm mật độ trồng, nấm gây bệnh còn có thể phát triển trên
các vết nứt gây hiện tượng thối thân ở cây con, vết bệnh có màu nâu đen hoặc đỏ
nhạt, bệnh phát triển bao quanh thân và làm cho cây bị chết, sự phát triển của
bệnh phụ thuộc vào điều kiện đất đai và sự phá huỷ của độc tố nấm vào mô cây,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
nấm bệnh còn gây ra hiện tượng làm cho bó mạch trong thân bị tắc hoặc chỗ vết
bệnh trên thân lở loét, cuối cùng làm cho cây đổ và chết. Nấm R. solani gây hại ở
tất cả các vụ trong năm, những cây bị nhiễm bệnh mà còn sống sót trên đồng
ruộng thì cho năng suất rất thấp.
Nấm R. solani có thể sản sinh ra nhiều hạch trong mô cây ký chủ, hạch
nấm này tồn tại trong đất, trên tàn dư cây ký chủ và sẽ được nảy mầm khi được
kích thích bởi những dịch gỉ ra từ cây ký chủ bị nhiễm bệnh hoặc từ việc bổ sung
chất hữu cơ vào đất (Khetmalas et al., 1984).
Ở Philippines, hạch nấm có thể sống được vài tháng ở trong đất, sau khi
gieo hạt ở giai đoạn cây con mới hình thành nấm gây bệnh ở rễ, gốc thân sát mặt
đất tạo ra những vết bệnh màu nâu hoặc màu xám, gốc thân bị teo thắt lại nên
mềm yếu, cây gục xuống và chết. Bệnh hại nặng nhất ở giai đoạn cây con (Punju
and Damiami, 1966).
1.1.1.5. Bệnh héo gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii Saccardo)
Theo Purseglove (1968), nấm S. rolfsii thuộc bộ nấm trơ Myceliales. Sợi
nấm đa bào trong suốt phân nhánh rất mảnh và phát triển thành sợi nấm màu
trắng, từ sợi nấm hình thành hạch nấm có dạng hình cầu, đường kính từ 1-2 mm,
lúc đầu hạch màu trắng sau chuyển thành màu nâu. Theo tác giả Gulshan và CS.,
(1992), hạch nấm có thể tồn tại lâu dài trong đất từ năm này sang năm khác ở
tầng đất mặt, tầng đất canh tác. Hạch nấm và sợi nấm có thể tồn tại lâu dài trong
đất và trong tàn dư cây bệnh. Nấm S. rolfsii gây bệnh có thể sử dụng các chất
hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng, nấm sản sinh ra axit oxalic và men phân hủy mô
tế bào ký chủ.
Theo Gulshan và CS. (1992), ỏ giai đoạn cây con, nấm S. rolfsii thường
xâm nhập vào bộ phận cổ rễ, gốc thân sát mặt đất tạo thành vết bệnh màu nâu
đen, trên vết bệnh mọc ra lớp nấm trắng xốp như bông bao quanh gốc làm mô
cây thối mục, cây khô chết.
Nấm S. rolfsii phát triển trong điều kiện nóng ẩm, nhiệt độ thích hợp từ 25
- 300C, ở điều kiện nhiệt độ 400C nấm ngừng sinh trưởng. Sự thiệt hại do bệnh
gây ra tùy thuộc vào nhiệt độ không khí và độ ẩm đất, nấm thường phát sinh và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
phá hại nặng ở đất cát pha, tỷ lệ bệnh có thể giảm nếu bón canxi, nguồn bảo tồn
là hạch nấm, hạch nấm có thể lây lan qua quá trình làm đất và chăm sóc, hạch
nấm cũng là nơi bảo tồn nguồn bệnh, nấm bệnh sản sinh ra các men như enzym,
axit oxalic đồng thời giết chết mô tế bào.
1.1.1.6. Bệnh thối thân Phytophthora spp.
Theo nghiên cứu của Bakonyi et al. (2000), các hoa thuộc họ Lilium spp. đã
được trồng trên quy mô lớn (1,2 ha) trong nhà kính cho sản xuất hoa tại một vườn
ươm ở Dabas, một thị trấn 40 km về phía đông nam của Budapest. Năm 2000, 1020% số cây của các giống Stargazer và London là bệnh nặng. Một số cây đã phát
triển một thối mềm với các tổn thương lan rộng từ các cơ sở hoặc giữa các gốc vào
lá. Các tác nhân gây bệnh phát triển trong các mô bị bệnh xuất hiện là một
loài Phytophthora. Nó có sợi nấm aseptate và túi bào tử là có gai thịt nhỏ, cả hai
suy yếu và không suy yếu, và hình dạng của chúng dao động từ hình trứng mọc
dài ra và méo mó. Sáu phân lập được thu hồi từ các cây bị bệnh và mẫu đất trên
môi trường chọn lọc (Jeffers and Martin, 1986) trông rất giống nhau. Họ đã phát
triển khuẩn lạc màu trắng với sợi nấm trên không dồi dào và có nhiệt độ tăng
trưởng tối đa là 36,5°C trên môi trường thạch bằng hạt đậu. Bọc bào tử dài 43.9Â
± 1,35 mm, và rộng 33.2Â ± 0,8 mm, đều không phải là suy yếu và elip đến hình
trứng trong hình dạng; hình dạng méo mó không thấy ở văn hóa. Bào tử hậu có
đường kính 34.9Â ± 1,13 mm là thiết bị đầu cuối hoặc nhuận và hình thành đơn
lẻ. Bào tử trứng đã không quan sát thấy.
1.1.2. Một số biện pháp phòng trừ bệnh hại vùng rễ cây trồng
Theo UC IPM (2010), đất là một hồ chứa rất nhiều mầm bệnh thực vật và
cây trồng đang bị tấn công liên tục bởi sinh vật trong đất. Nếu điều kiện thuận lợi
cho chúng phát sinh phát triển thì cây sẽ bị bệnh. Để kiểm soát tốt các bệnh trong đất
bao gồm vi khuẩn, nấm, tuyến trùng và một số virus chúng ta cần tìm hiểu được tác
nhân gây bệnh cho cây trồng để có thể giảm số lượng của chúng trong đất bằng
phương pháp điều trị thích hợp. Do vậy cần kiểm tra thường xuyên ít nhất một lần/
tuần để biết được triệu chứng của bệnh hoặc có dấu hiệu của tác nhân gây bệnh.
Một số biện pháp được sử dụng có hiệu quả trong quản lý bệnh trong đất như:
+ Phơi ải đất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
+ Làm nóng đất: đa số các tác nhân gây bệnh có thể bị giết chết bởi nhiệt
độ 140°F (60°C) trong 30 phút.
Bảng 1.1. Mối quan hệ nhiệt độ, thời gian cần thiết để tiêu diệt
các sinh vật gây hại
Nhiệt độ ( 0C)
Thời gian (phút)
Cỏ dại (Đa số)
70-80
15
Côn trùng và nhện
60-70
20
Vi khuẩn (Đa số)
60
10
Fusarium
57
30
Botrytis
55
15
Tuyến Trùng
55
15
Rhizoctonia
52
30
Sclerotinia
50
5
Pythium
46
40
Sinh vật
(Nguồn: báo cáo về việc sử dụng methyl bromide tại Australia (2005))
+ Thuốc xông đất:
Xông hơi đất bằng cách sử dụng methyl bromide và chloropicrin là giải
pháp tốt nhất. Ngoài ra còn có thể sử metam-sodium (Vapam) và dazomet
(Basamid) cũng rất hiệu quả trong việc kiểm soát rất nhiều mầm bệnh trong đất
như Verticillium và Fusarium oxysporum.
Theo báo cáo về việc sử dụng methyl bromide tại Australia (2005), người
trồng hoa đã sử dụng methyl bromide là một chất xông hơi đất để giảm thiểu
nguy cơ sâu hại, cỏ dại và bệnh nhiễm ký sinh trùng.
Trồng hoa trong điều kiện đất được xông hơi khử trùng cho phép người
trồng thúc đẩy cây ra hoa nhanh hơn và tăng năng suất bằng cách tăng vụ/ năm,
tăng sức đề kháng của cây, hạn chế sâu bệnh.
Người trồng hoa ở bang Victoria của Úc hiện nay chỉ sử dụng gần 7 tấn
methyl bromide để khử trùng đất và đang có xu hướng giảm đi. Hiện nay, người
trồng hoa ở đây đã xác định được một sự thay thế methyl bromine về mặt kỹ thuật,
kinh tế đó là Telone C35. Telone C35 có hiệu quả rất tốt trong kiểm soát cỏ dại,
các bệnh hại tương đương với methyl bromide.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Bảng 1.2. Tình hình tiêu thụ methyl bromide trong năm 2009
theo các vùng địa lý trên thế giới
Vùng địa lý
Giới hạn theo Nghị
Lượng tiêu
Giảm so giai Số quốc
định thư Montreal
thụ năm
đoạn 1991-
gia sử
năm 1992 (tấn)
2009 (tấn)
2009 (%)
dụng
Châu Phi
4.471
629
75
53
Mỹ La tinh, Caribê
6.389
2.971
51
33
Châu Á, Thái bình dương
14.657
2.245
85
58
Châu Âu
21.472
0
100
49
Bắc Mỹ
25.729
2.300
91
2
Tổng số
72.718
8.145
89
195
(Nguồn: UNEP, 2011)
+ Thuốc diệt nấm đất:
Một số loại thuốc trừ nấm cho hiệu quả caokhisử dụng để xử lý đất trước
khi trồng hoặc sau khi gieo/ trồng. Hoạt chất Fosetyl-Al (Aliette) chống lại loài
Phytophthora và một số loài Pythium. Các thành phần hoạt chất trong
Gliocladium virens SoilGard giúp kiểm soát nấm Pythium và Rhizoctonia.
Hoạt chất Iprodione (Chipco 26.019) có hiệu quả chống lại Rhizoctonia
héo rủ, Sclerotinia, mốc xám, Sclerotium rolfsii.
Hoạt chất Streptomyces griseoviridis (Mycostop) là một thuốc xông hơi sinh
học giúp kiểm soát bệnh thối hạt, rễ, thối thân, héo gây ra bởi Alternaria và
Phomopsis trên cây cảnh ngoài đồng ruộng. Trong điều kiện nhà kính nó có thể ngăn
chặn nấm mốc xám Botrytis và thối rễ của Pythium, Phytophthora, Rhizoctonia.
Thiophanate-methyl (FungoFlo, Cleary của 3336, Zyban, Systec,...) kiểm
soát bệnh Rhizoctonia, thối như bông, Thielaviopsis thối, và một số bệnh
Cylindrocladium.
Trichoderma spp. (Garden Solutions, Guardian) là một loại thuốc diệt nấm
sinh học giúp kiểm soát bệnh ở rễ gây ra bởi Pythium, Rhizoctonia và Fusarium
trong vườn ươm và trồng cây nhà kính.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Biện pháp xông hơi sinh học (sử dụng các chất khí từ phân hủy sinh học
các chất hữu cơ) đã được ứng dụng thành công Tại Tây Ban Nha trên trong dâu
tây ở Andalusia và Valencia; ớt ở Murcia và Castilla-La Mancha; bầu bí ở
Valencia, Castilla-La Mancha và Madrid; cà chua ở Valencia và quần đảo
Canary; brassicae, hoa cắt cành, cây có múi và cây ăn quả ở Valencia; chuối
trong quần đảo Canary; và vườn nho ở Castilla-La Mancha. Xông hơi sinh học
gần đây cũng đã được áp dụng cho các loại cây trồng củ cải ở Thụy Sĩ, Madrid
và cây cà rốt ở Andalusia và Alicante. Các vật liệu sử dụng để xông hơi sinh học
hầu hết là phân dê, phân cừu và phân bò, các phụ phẩm từ gạo, nấm, ô liu, cây họ
cải (Bello el al.,1997: Bello and Melo, 1998: Bello and Miquel 1998a, 1998b;
Bello el al., 1998; Cebolla et al., 1999; García et al., 1999; Bello et al., 2000).
Sử dụng biện pháp sinh học để phòng trừ nhiều loại bệnh hại cây trồng nông
nghiệp đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Trong đó việc sử dụng
các vi sinh vật đối kháng để phòng trừ bệnh hại là một trong những hướng chính của
biện pháp sinh học.
Theo Martin and Abavi (1985) khi nghiên cứu về vi sinh vật đất cho thấy loài
nấm Trichoderma sp. là một trong những loài nấm đứng đầu của hệ vi sinh vật đất, nó
có tính đối kháng cao và đã được nghiên cứu rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Có
rất nhiều nấm đối kháng với các loài nấm gây bệnh, nấm đối kháng có thể kìm hãm,
ức chế sự sinh trưởng, phát triển của các nấm gây bệnh. Các loài nấm Penicilium
oxalicum, Penicilium frequentans, Penicilium nigiricaus, Penicilium chrysogetum là
những loài nấm đối kháng của nấm Pythium sp., R. solani, Sclerotium cepivorum,
Verticillum alboatrum.
Người đầu tiên đề xuất sử dụng loài nấm đối kháng Trichoderma sp. để
phòng trừ nguồn bệnh hại cây trồng là Weidling. Tác giả đã đề nghị dùng nấm
Trichoderma sp. để trừ nấm hại nấm Rhizoctonia sp. gây bệnh thối lở cổ rễ cây
con mới mọc từ hạt của cam quýt. Từ đó các nghiên cứu về loài nấm
Trichoderma sp. nhằm sử dụng chúng để phòng trừ bệnh hại cây trồng đã được
tiến hành ở nhiều nước trên thế giới. Cho đến nay đã có khoảng 30 nước nghiên
cứu và sử dụng nấm Trichoderma sp. để phòng trừ bệnh hại cây trồng như ở Nga,
Mỹ, Anh, Đức, Hungari, Ấn Độ, Thái Lan, Philippines…
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
Nấm Trichoderma sp. có khả năng phòng trừ bệnh nhờ có 4 cơ chế tác
động sau:
* Cơ chế kí sinh (Mycoparasitism)
Hiện tượng ký sinh của nấm Trichoderma trên nhóm gây bệnh cây được
R.Weindling mô tả từ năm 1932. Weindling gọi đó là hiện tượng “Giao thoa
sợi nấm”.
Trước tiên, sợi nấm Trichoderma vây xung quanh sợi nấm gây bệnh cây, sau
đó các sợi nấm Trichoderma thắt chặt lấy các sợi nấm gây bệnh, cuối cùng mới thấy
nấm Trichoderma xuyên qua sợi nấm gây bệnh làm thủng màng ngoài của nấm gây
bệnh, gây nên sự phân huỷ các chất nguyên sinh trong sợi nấm gây bệnh cây.
Những nghiên cứu chi tiết gần đây bằng kính hiển vi điện tử về vùng“Giao
thoa sợi nấm” cho thấy cơ chế chính của hiện tượng kí sinh ở nấm.
Trichoderma trên nấm gây bệnh cây là sự xoắn của sợi nấm
Trichoderma quanh sợi nấm vật chủ, sau đó xảy ra hiện tượng thuỷ phân thành
sợi nấm vật chủ, nhờ đó mà sợi nấm Trichoderma xâm nhập vào bên trong sợi
nấm vật chủ. Chúng phát triển mạnh ở bên trong sợi nấm vật chủ.
Điều này dẫn đến hiện tượng chất nguyên sinh ở sợi nấm vật chủ bị phá rối
từng phần hoặc hoàn toàn. Cuối cùng, nguyên sinh chất bị mất đi và sợi nấm vật chủ
phá vỡ, giải phóng các sợi nấm đang sinh sản của nấm Trichoderma.
Những sợi nấm chính của nấm vật chủ bị đánh thủng thành lỗ ở nhiều
chỗ. Đó là hiện tượng tan rã kitin vùng xung quanh nơi xâm nhập của nấm
Trichoderma (Dubey,1995).
* Cơ chế kháng sinh (antibiotic)
Nấm Trichoderma có khả năng sinh ra một số chất kháng sinh. Khả
năng sinh ra chất kháng sinh của các loài, chủng, các dạng sinh thái của nấm
Trichoderma không giống nhau.
- Gliotoxin: là chất kháng sinh được Rweindling và O.Emerson mô tả
năm 1936 do nấm Trichodermal lignorum tạo thành. Chất Gliotoxin có phổ tác
động rộng lên nhiều vi sinh vật: vi khuẩn (Mycobacterium tuberculosum,
Staphylococcus aureus,...), nấm (Ascochyta pisi, Rhizoctonia solani).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Chất Gliotoxin gây tác động độc không chỉ với các nấm khác mà còn
độc ngay cả với nấm Trichoderma (nhưng liều lượng gây chết Trichoderma rất
cao, gấp 40 lần so với nấm Rhizoctonia).
- Viridin: Là chất kháng sinh thứ 2 do nấm Trichoderma tạo thành trong
hoạt động sống của chúng. Chất kháng sinh này được Brian Hemming phát hiện
vào năm 1945. Viridin độc hơn nhiều so với Gliotoxin và có hoạt tính chống nấm
cao, với lượng 0.003 - 0.006 mg/ml hoàn toàn kìm hãm sự phát triển của nấm
Fusarium, Collectotrichum,v.v…
Ngoài ra đã xác định một số chất kháng sinh khác do nấm Trichoderma
sinh ra như: chất kháng sinh U- 21693 được Meyer phát hiện năm 1996 do chủng
UC - 4785 (loài T. viride) sinh ra.
* Cơ chế tác động của men (enzyme)
Nhiều loài Trichoderma có khả năng sản sinh ra men phân giải (như
men Laminarinaza, Chitinaza,…) (Score and Palfreyman, 1994).
Khi phát triển ở trên thành tế bào nấm vật chủ thì nấm Trichoderma có
thể tiết ra những loại men gây suy biến thành tế bào nấm gây bệnh cho cây như
men β (1-3) glucanase và chitinase.
* Cơ chế cạnh tranh
Nấm Trichoderma có thể biểu hiện tính đối kháng thông qua việc cạnh
tranh với nấm gây bệnh cây về dinh dưỡng, nơi cư trú. Nấm Trichoderma thường
định cư trước so với nấm gây bệnh cây.
1.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu về bệnh nấm hại vùng rễ
Theo Burgess và CS. (2009), các bệnh thối rễ và thân do tác nhân gây
bệnh tồn tại trong đất là nguyên nhân gây thiệt hại năng suất nghiêm trọng cho
cây trồng ở Việt Nam. Tính chất trồng trọt quanh năm tại các vùng châu thổ Việt
Nam, sự lan truyền của các tác nhân gây bệnh trong nước tưới, thoát nước kém,
cây giống không sạch bệnh và khí hậu nhiệt đới là những yếu tố tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển của các bệnh này .
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Các loại nấm trong đất gây hại như (Fusarium sp., Rhizoctonia sp., Sclerotium
sp., ...) thường xuyên xuất hiện và gây hại làm thiệt hại đáng kể về kinh tế.
Theo Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007), cây hoa cúc thường bị
các bệnh nấm gồm: bệnh đốm lá (Cercospora chrysanthemi), bệnh phấn trắng
(Odium Chysanthemi), bệnh đốm nâu (Pucinia Chrysanthemi), bệnh đốm vòng
(Alternasia sp.) và bệnh lở cổ rễ, thối gốc trắng (Rhizoctonia solani).
Theo Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng (2012), bệnh hại trên cây hoa
lily 05 bệnh do nấm gây ra: bệnh thối thân (Phytophthora spp.), bệnh khô lá
(Botrytis ulipica), bệnh mốc xám (Botrytis cinerea Pers), bệnh thối củ Fusarium
oxysporum, bệnh thối rễ do nấm Rhizoctinia solani, Pythium splendens,
Cylindrocarpodestructans. Sâu hại trên hoa lily gồm có: Rệp bông (Aphis
gossypii Glover), bọ trĩ (Frankliniella intonsa), nhện (Rhizoglyphus robini).
Hoa cúc thường bị 07 loại côn trùng, sâu hại chính là bọ trĩ (Frankliniella
sp.), nhện đỏ (Tetranychus urticae), ruồi đục lá (Liriomyza sp.), rệp hại hoa cúc
(Myzus percicae), sâu xanh da láng (Spodoptera exigua), sâu khoang
(Spodoptera liturafabricius), sâu xanh (Helicoverpa armigera hb).
Có 05 bệnh do nấm gây ra trên hoa cúc là: bệnh rỉ sắt (Puccinia sp.), bệnh
lở cổ rễ (Rhizoctonia solani),bệnh mốc xám (Botrytis cineraria), bệnh héo vàng
(Fusarium oxysporum), bệnh phấn trắng (Oidium chrysanthemi); 01 bệnh do vi
khuẩn gây ra: bệnh héo xanh (Erwinia chrysanthemi); 01 do tuyến trùng
(Aphelenchoides ritzemabosi).
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Ngô Mạnh Cường (2008), trong vụ
xuân hè 2008, trên các vùng trồng hoa của Hà Nội thành phần bệnh hại trên cây
hoa cúc gồm có 12 bệnh: Bệnh đốm đen lá (Septoria chrysanthemi Allesch),
bệnh gỉ sắt (Puccinia chrysanthemi Henn), bệnh đốm xám lá (Cercospora
chrysanthemi Heald), bệnh phấn trắng (Erysiphe cichoracearum DC), bệnh đốm
vòng (Altenaria chrysanthemi Keissler), bệnh đốm nâu (Stemphylium floridanum
Hannon & Weber), bệnh héo ngọn (Fusarium sp.), bệnh thán thư (Colletotrichum
violae-tricolonis), bệnh héo rũ gốc mốc trắng (Sclerotium rolfsii), bệnh lở cổ rễ
(Rhizoctonia solani Kuhn) và bệnh héo xanh vi khuẩn (Ralstonia solani Smith),
bệnh vàng lá sinh lý.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Tỉnh và CS., đối với cây hoa lily trồng
ở miền bắc thường bị các bệnh nấm hại như sau: bệnh héo rũ gốc mốc
trắng (Sclerotium rolfsii), bệnh thối hạch đen (Phytophthora) và bệnh thối củ,
vảy củ (Fusarium). Đối với cây hoa lily trồng trong chậu vại thì thường bị bệnh
thối củ, vảy củ (Fusarium).
Theo Đào Thanh Vân và Đặng Thị Tố Nga (2007), cây hoa lily thường bị
một số bệnh do nấm như sau: bệnh khô lá (Botrytis ulipica), bệnh mốc tro
(Botrylis cinerea Pers), bệnh đốm nâu (Pleospora sp.), bệnh thối rễ, củ
(Fusarium, Rhizotonia) và bệnh thán thư (Colletotriclum lilium).
1.2.1.1. Bệnh héo vàng (Fusarium oxysporum (Schlechtend) Snyder)
Chi Fusarium bao gồm nhiều loài gây bệnh cho cây như héo do tắc bó
mạch, thối rễ, thân và bắp, thối cổ rễ cây con và thối củ. Một số loài gây bệnh
cũng sản sinh độc tố nấm lẫn tạp trong hạt ngũ cốc.
Các bệnh héo Fusarium là vấn đề quan trọng ở Việt Nam. Những bệnh
héo này do các dạng loài của F. oxysporum gây ra. Một vài dạng F. oxysporum
cũng có thể gây thối dưa hấu và củ khoai tây đã bị sâu hoặc dụng cụ gặt hái làm
tổn thương.
Các bệnh héo Fusarium do các dạng loài của F. oxysporum gây ra. Mỗi
dạng loài thường chỉ có thể gây héo trên một loài ký chủ. Trên thế giới có tới hơn
100 bệnh héo Fusarium. Ở Việt Nam, bệnh héo Fusarium trên chuối là một trong
những bệnh héo quan trọng và được biết đến nhiều. Một số dạng loài Fusarium
gây héo và các bệnh do chúng gây ra ở Việt Nam.
Triệu chứng: các triệu chứng sớm bao gồm vàng lá, hơi héo trong ngày
và còi cọc. Khi trời nóng, những cây bệnh như cà chua và đậu Hà Lan sẽ chết
trong vòng vài ngày. Chuối bị bệnh thường chết chậm hơn, trong vòng 1-2 tháng.
Bảo tồn: các tác nhân gây bệnh héo Fusarium tồn tại dưới dạng bào tử
hậu trong đất qua thời gian dài. Bào tử hậu có hình tròn, là các bào tử một tế bào
với vách tế bào dày và có sức chống chịu cao, được hình thành trong mô bệnh.
Các tác nhân gây bệnh héo Fusarium cũng có thể có mặt ở vỏ rễ một số cây
không phải là ký chủ, kể cả cỏ dại và cây trồng.Bào tử hậu hình thành trong vỏ rễ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
khi cây chết. Như vậy những cây trồng không phải là ký chủ phải được kiểm tra
trước khi được khuyến cáo là cây trồng luân canh để phòng trừ héo Fusarium.
Xâm nhiễm: Sợi nấm và bào tử vô tính nảy mầm trong tàn dư cây bệnh
và đất xâm nhiễm vào rễ con còn non và lan dần vào các mạch xylem. Nấm bệnh
sau đó sẽ phát triển trong mạch xylem và lan lên hệ thống mạch dẫn trong thân.
Quá trình này gây phản ứng của cây, tạo ra các hợp chất phenol và thể sần có
màu nâu. Những hợp chất này gây hiện tượng hóa nâu của mạch dẫn, một dấu
hiệu dễ nhận thấy của bệnh héo khi cắt ngang thân. Hiện tượng tắc mạch xylem
làm giảm lượng nước di chuyển lên cây, khiến cho cây bệnh bị héo rồi chết.
Bệnh héo Fusarium thường liên hệ với tuyến trùng nốt sưng. Nấm Fusarium xâm
nhiễm vào cây qua vết thương do tuyến trùng gây ra.
Phòng trừ: Các bệnh héo Fusarium rất khó phòng trừ do bào tử hậu tồn
tại qua thời gian dài trong đất. Luân canh các cây trồng có khả năng kháng bệnh
ít nhất 2 năm trước khi trồng lại các cây trồng mẫn cảm có thể giúp làm giảm
nguồn bệnh. Tuy nhiên, loại nấm này vẫn có thể tồn tại bằng cách xâm nhiễm
vào vỏ rễ các cây trồng không phải là ký chủ và không biểu hiện triệu chứng.
Việc này nêu rõ sự cần thiết nghiên cứu đặc tính sinh học của loại nấm này ở
từng quốc gia nhằm xác định vai trò của những cây trồng không phải là ký chủ
và thời gian tồn tại của bào tử hậu trong đất.
Một số bệnh héo Fusarium đã được phòng trừ thành công bằng phương
pháp sử dụng gốc ghép có khả năng kháng bệnh. Ví dụ, phương pháp này đã
được áp dụng để phòng trừ bệnh héo Fusarium trên dưa hấu. Không có thuốc
trừ nấm hữu hiệu để phòng trừ.
* Theo Sở Nông nghiệp & PTNT Lâm Đồng (2012), để phòng trừ bệnh này trên
cây hoa lily cần thực hiện một số biện pháp sau:
+ Không sử dụng củ giống có biểu hiện nhiễm bệnh, nên chọn củ sạch
bệnh để làm giống. Khi phát hiện cây nhiễm bệnh cần nhổ bỏ và tiêu hủy. Ở
những vườn bị bệnh nặng cần thay lớp đất mặt khoảng 45cm. Vệ sinh và khử
trùng đất trước khi trồng.
+ Không nên bón nhiều đạm vì dư đạm củ sẽ bị mềm, phát triển nhanh và
dễ bị nhiễm bệnh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
+ Sử dụng phân hữu cơ đã ủ hoai và tránh không để phân tiếp xúc trực
tiếp với bộ rễ.
+ Trồng cây ở những nơi thoát nước tốt, tránh tưới nước lên cây trong
những tháng mùa khô.
+ Bệnh phát triển mạnh ở những chân đất chua vì vậy có thể bón thêm vôi
để tăng độ pH cho đất.
+ Trong quá trình chăm sóc tránh làm tổn thương cây.
+ Có thể sử dụng đất sạch và trồng lily vào chậu.
+ Sử dụng thuốc Trichoderma spp. 106 cfu/ml (1%) + K-Humate 3.5%)
+ Fulvate 1% + Chitosan 0.05% + Vitamin B10.1% (Fulhumaxin 5.65SC)
để phòng trừ bệnh.
* Trên cây hoa cúc cần thực hiện các biện pháp sau:
+ Vệ sinh tàn dư thực vật sạch sẽ trước khi cày bừa;
+ Cải tạo đất ho tơi xốp, tạo điều kiện cho rễ phát triển tối ưu;
+ Không tưới nước lúc trời nắng nóng;
+ Sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất Dazomet (min 98%) (Basamid
Granular 97MG) để phòng trừ.
1.2.1.2. Bệnh thối thân (Fusarium solani (Mart) Appel & Wollned)
Một số dạng Fusarium solani gây thối cổ rễ cây con họ đậu như đậu Hà
Lan, đậu cô ve, và thối rễ ở các cây trưởng thành. Các dạng khác có thể gây hại ở
khu vực gốc thân cây lớn như cây vải, bị yếu đi do yếu tố môi trường làm stress
và do các bệnh khác.
1.2.1.3. Bệnh thối gốc cây con Pythium spp.
Pythium gây bệnh tàn lụi và chết rạp cây con (bệnh do ẩm ướt), và gây
thối rễ con ở cây trưởng thành. Chúng cũng gây thối củ khoai tây, cà rốt và các
nông sản bảo quản khác. Thối rễ và quả do Pythium là một bệnh chủ yếu ở lạc.
Các triệu chứng bệnh điển hình ở cây con là héo và chết do thối nâu rễ con
và thối thân. Pythium cũng có thể gây hại rễ con nuôi cây, gây hiện tượng còi
cọc, và vàng lá ở các cây trưởng thành.
Khi cây bị bệnh trưởng thành, Pythium có thể phát triển và gây thối rễ
chính hay rễ cái. Pythium cũng có thể gây thối quả ở lạc.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17