BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỂ DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI
KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
HOÀNG THỊ ANH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN
NGÀNH KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 7/2007
Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại
Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Dự Báo Giá Xuất Khẩu
Cao Su Tự Nhiên Việt Nam” do Hoàng Thị Anh, sinh viên khóa 2005 – 2009, nghành
Kinh Tế Nông Lâm, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày _______________
Thái Anh Hòa
Giáo viên hướng dẫn
______________________________
Ngày
Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo
tháng
năm
Thư ký hội đồng cấm báo cáo
___________________________
___________________________
Ngày
Ngày
tháng
năm
tháng
năm
LỜI CẢM TẠ
Luận văn này là kết quả của những nổ lực hết mình trong những năm tháng học
tập và nghiên cứu tại trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh. Những kiến
thức và kinh nghiệm quý báu được học tại trường là hành trang để cho em bước vào
đời.
Em xin chân thành cảm ơn đến tất cả các thầy cô ở trường nói chung và ở khoa
Kinh Tế nói riêng, đã truyền đạt cho em những kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm
làm việc vô cùng quý báu.
Em xin cảm ơn thầy Thái Anh Hòa, người đã trực tiếp hướng dẫn cho em thực
hiện đề tài này.
Cảm ơn sự hỗ trợ về mặt vật chất lẫn tinh thần của gia đình, cảm ơn sự giúp đỡ
của bạn bè trong suốt thời gian qua là những nền tảng và động lực to lớn để em hoàn
thành luận văn này.
Tuy nhiên, do thời gian thực hiện đề tài có hạn cộng với trình độ hiểu biết và
tầm nhìn chưa rộng, dẫn đến nhiều nhận xét con mang tính chủ quan. Vì thế, luận văn
này chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và các
bạn.
Thành phố Hồ CHí Minh, ngày tháng năm 2009
HOÀNG THỊ ANH
NỘI DUNG TÓM TẮT
HOÀNG THỊ ANH. Tháng bảy 2009. “ÁP DỤNG MÔ HÌNH ARIMA ĐỀ
DỰ BÁO GIÁ LÚA GẠO TẠI KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”
HOANG THI ANH. July 2009. “Using ARIMA model to Forecast price of
rice at SONG CUU LONG”
Từ công việc thu thập số liệu giá lúa gạo của khu vực đồng bằng sông Cửu Long tại
trang web của Hiệp hội nông dân Việt Nam, khóa luận sử dụng phương pháp mô hình
hồi quy và mô hình Arima với công cụ Eview và Excel để tiến hành dự báo giá lúa gạo
tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong những tháng tới. Từ đó, xác định đường
khuynh hướng giá trong tương lai. Dự báo lúa gạo khu vực đồng bằng sông Cửu Long
trong tương lai sẽ tăng do nhu cầu gạo trên thế giới đang tăng, ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng kinh tế làm cho nền kinh tế các nước gặp khó khăn, nhu cầu gạo chất
lượng loại thường và trung bình như ở đồng bằng sông Cửu Long tăng lên ở nhiều
nước. Vì vậy, nông dân và các công ty xuất khẩu lúa gạo hoàn toàn yên tâm về giá lúa
gạo trong thời gian sắp tới, yên tâm đầu tư vào lúa gạo. Ngành lúa gạo đồng bằng sông
Cửu Long cần đầu tư nhiều hơn nữa về kỹ thuật, chủng loại giống tốt hơn, chủng loại
sản phẩm và thị trường kinh doanh một cách hợp lý tăng cường xâm nhập vào các thị
trường lúa gạo chất lượng cao của các nước phát triển trên thế giới. Để ngành nông
nghiệp đồng bằng sông Cửu Long có thể tồn tại và phát triển song song với các ngành
công nghiệp của đất nước, cạnh tranh với thị trường lúa gạo chất lượng cao, khẳng
định thương hiệu gạo đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, của Việt Nam nói chung
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các bảng
vii
Danh mục các hình
viii
Danh mục phụ lục
ix
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
01
1.1. Đặt vấn đề
01
1.2. Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa đề tài
03
1.2.1. Mục tiêu
03
1.2.2. Ý nghĩa đề tài
03
1.3. Phạm vi nghiên cứu
04
1.4. Cấu trúc của khóa luận
04
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN
06
2.1. Đặc điểm tổng quát của ngành lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long
06
2.1.1. Lịch sử ngành lúa gạo Việt Nam và lịch sử trồng lúa
khu vực đồng bằng sông Cửu Long
2.1.2. Thu hoạch
06
10
2.2. Tình hình giá lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long thời gian gần đây
10
2.2.1. Tình hình giá lúa gạo
10
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá lúa gạo
12
2.2.3. Vấn đề phát triển cây nông nghiệp
14
2.2.4. Thực trạng sản xuất khu vực đồng bằng sông Cửu Long
16
2.2.5. Thị trường tiêu thụ lúa gạo tại khu vực
đồng bằng sông Cửu Long
CHƯƠNG 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Các khái niệm dự báo
17
19
19
3.1.1. Thị trường, hiệu quả của thị trường và cơ chế
hình thành giá cả sản phẩm nông nghiệp
19
3.1.2. Dự báo và tính chất của dự báo
20
3.1.3. Chức năng, vai trò và các nguyên tắc của dự báo
20
v
3.1.4. Các nguyên tắc dự báo
21
3.2. Cung cầu và giá cả thị trường
21
3.2.1. Cung về sản phẩm lúa gạo
21
3.2.2. Cầu của sản phẩm lúa gạo
22
3.3. Cơ sở lý luận về phương pháp dự báo giá và
đánh giá kết quả của dự báo
22
3.3.1. Lựa chọn phương pháp dự báo
22
3.3.2. Đánh giá dự báo đối với phương pháp dự báo Box – Jenkins
24
3.4. Dự báo
25
3.5. Thu thập và xử lý số liệu
33
3.5.1. Thu thập số liệu
33
3.5.2. Xử lý số liệu
34
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
35
4.1. Hiện trạng sản xuất, tiêu thụ và thị trường
35
lúa gạo đồng bằng Sông Cửu Long
4.2. Tình hình xuất khẩu
38
4.3. Dự báo giá lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long
42
4.3.1. Thị trường lúa tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
44
4.3.2. Thị trường gạo xuất khẩu
51
4.4. Thảo luận
65
4.4.1. Thuận lợi
66
4.4.2. Khó khăn
67
4.5. Một số đánh giá dự báo của chuyên gia trong dự báo
giá lúa gạo năm 2009
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
67
70
5.1. Kết luận
70
5.2. Đề nghị
71
5.2.1. Về đầu tư phát triển
73
5.2.2. Với chính phủ
73
5.2.3. Về quản lý ngành sản xuất, dự trữ và tiêu thụ lúa gạo
74
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Diện tích gieo trồng lúa qua các năm (từ 1990 – 2007)
15
Bảng 3.1. Quy Tắc Kiểm Định
29
Bảng 3.2. Các Loại Mô Hình
32
Bảng 4.1. Cán Cân Xuất Nhập Khẩu Của Việt Nam Thời Kỳ 1989 – 1999
39
Bảng 4.2: Tỷ trọng xuất khẩu gạo qua các châu lục qua 17
năm qua (từ 1989-2005)
39
Bảng 4.3: Năng suất lúa tại đồng bằng Sông Cửu Long qua các năm.
41
Bảng 4.4. Diện tích lúa đồng bằng sông Cửu Long qua các năm
42
Bảng 4.5: Sản lượng lúa của cả nước qua các năm 1990-2007
43
Bảng 4.6: Giá lúa theo tháng bình quân từ 01/2007-05/2009
45
Bảng 4.7. So sánh các chỉ tiêu đánh giá các mô hình dự báo
48
Bảng 4.8: Gía lúa dự báo
49
Bảng 4.9: Dữ liệu giá gạo nguyên liệu loại 1 từ 20-25% tấm
52
Bảng 4.10: So sánh các chỉ tiêu đánh giá mô hình dự báo gạo nguyên liệu loại I 54
Bảng 4.11. Bảng dự báo của gạo nguyên liệu loại I
55
Bảng 4.12. Dữ liệu giá gạo 5% tấm xuất khẩu
58
Bảng 4.13 : So sánh các chỉ tiêu đánh giá (CTĐG) mô hình dự báo gạo
5% tấm xuất khẩu
59
Bảng 4.14: Bảng dữ liệu dự báo giá gạo 5% tấm
60
Bảng 4.15: Bảng dữ liệu về giá gạo 15% tấm
62
Bảng 4.16 : So sánh các chỉ tiêu đánh giá (CTĐG) mô hình
dự báo gạo 15% tấm xuất khẩu
Bảng 4.17: Bảng dự báo giá gạo 15% tấm
63
63
`
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Đồ thị diễn biến giá lúa tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long
46
Hình 4.2. Đồ thị dự báo giá lúa trên thị trường
50
Hình 4.3 : Đồ thị giá gạo nguyên liệu loại 1
53
Hình 4.4. Đồ thị dự báo của mô hình ARIMA (4,1,4) của gạo
nguyên liệu loại I
57
Hình 4.5: Biểu đồ giá gạo xuất khẩu 5% tấm
59
Hình 4.6: Đồ thị dự báo giá gạo 5% tấm
61
Hình 4.7. Đồ thị dự báo giá gạo 15% tấm
viii
DANH MỤC PHỤ LỤC
Trang
Phụ lục 1. Dự báo giá lúa đồng bằng sông Cửu Long
77
Phụ lục 2. Dự báo giá gạo nguyên liệu loại I
81
Phụ lục 3. Dự báo giá gạo 5% tấm xuất khẩu
85
Phụ lục 4. Dự báo giá gạo 15% tấm xuất khẩu
88
ix
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ, theo đó là sự phát triển của
ngành nông nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Với khoảng 80% dân số hoạt động
trong lĩnh vực ngành nông nghiệp, vị thế của nghành nông nghiệp tại Việt Nam có vai
trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Xuất khẩu lúa gạo ở
Việt Nam đứng hàng thứ hai trên thế giới, dù vậy câu chuyện lúa gạo ở Việt Nam luôn
là vấn đề cần quan tâm. Lúa là cây trồng chính, là nguồn thu nhập chính của trên 10
triệu hộ nông dân trong cả nước. Trong 20 năm đổi mới, sản xuất lúa tăng trưởng liên
tục cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Kết quả sản xuất lúa đông xuân năm 2007
cho thấy hai xu hướng rõ rệt của ngành sản xuất lúa ở hai miền: trong khi diện tích và
năng suất lúa các tỉnh miền Bắc đều giảm so với năm trước, thì ngược lại ở miền Nam,
hầu hết các tỉnh đều tăng diện tích sản xuất lúa và năng suất cũng tăng theo.
Vụ đông xuân năm 2006- 2007, diện tích lúa cả nước đạt 2.984 ha, giảm 4.000
ha so với năm trước, trong đó trong đó diện tích lúa đông xuân miền Bắc 1.136 nghìn
ha, giảm 11,2 nghìn ha, miền Nam gieo 1848,2 nghìn ha, tăng gần 8 nghìn ha. Sản
lượng lúa đông xuân 2006/2007 cả nước đạt 17210 nghìn tấn, giảm 320 nghìn tấn so
với vụ đông xuân trước, trong đó miền Bắc giảm 540 nghìn tấn, miền Nam tăng 220
nghìn tấn.
Diện tích gieo cấy lúa hè thu và lúa mùa đều thấp hơn cùng kỳ năm trước, do
các địa phương tiếp tục chuyển một phần diện tích lúa năng suất thấp sang gieo trồng
cây công nghiệp, cây ăn quả, rau màu và nuôi trồng thuỷ sản. Theo báo cáo của các địa
phương, tính đến trung tuần tháng 8 cả nước đã gieo cấy được 2014,7 nghìn ha lúa hè
thu, bằng 89,7% cùng kỳ năm trước, trong đó đồng bằng sông Cửu Long đã gieo cấy
1619,6 nghìn ha, bằng 87,8%. Lúa mùa cũng đã gieo cấy được 1418,3 nghìn ha, bằng
95,9%, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 1149,8 nghìn ha, bằng 96,7%; các
địa phương phía Nam gieo cấy 268,5 nghìn ha, bằng 92,7%.. Năm 1976, diện tích gieo
trồng lúa chỉ có 5,28 triệu héc-ta, năng suất bình quân 24 tạ/héc-ta/vụ và sản lượng
11,8 triệu tấn, đến năm 2006 đạt tương ứng đã lên tới 7,3 triệu héc-ta; 47,7 tạ/héc-ta và
35,8 triệu tấn. Xu hướng giảm diện tích gieo trồng lúa cả nước liên tục trong các năm
tiếp theo với quy mô và tốc độ khác nhau, chủ yếu theo hướng giảm diện tích gieo cấy
lúa vụ 3 và vụ mùa năng suất thấp, chuyển một phần đất lúa năng suất thấp, đất khô
hạn chuyển sang trồng màu, đất trũng và đất ven biển chuyển sang nuôi trồng thủy sản,
chủ yếu ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đất lúa ven đô thị năng
suất thấp chuyển sang trồng rau, hoa, cây ăn quả điển hình là ở các tỉnh đồng bằng
sông Hồng (ĐBSH): các tỉnh Nam Trung Bộ chuyển dịch cơ cấu từ ba vụ lúa ngắn
ngày sang hai vụ lúa trung ngày cho tổng sản lượng ổn định và cao hơn sản xuất ba vụ
lúa ngắn ngày.
Xét tình hình giá lúa gạo thì luôn luôn trong tình trạng trôi nổi bấp bênh, giá cả
lúa gạo thường thấp ở khâu thu mua của người nông dân, thêm vào đó việc sản xuất
theo phong trào cũng là một yếu điểm lớn gây thiệt hại cho người nông dân. Ngành
nông nghiệp thực sự cần một cơ quan có thể dự báo giá lúa gạo cho người nông dân
hoặc định hướng cho việc phát triển cây trồng vật nuôi ở từng địa phương, vùng miền
của tổ quốc để giúp người nông dân thoát khỏi vòng luẩn quẩn, không định hướng
được việc nuôi trồng của mình. Tuy nhiên tại Việt Nam chưa thực sự có cơ quan nào
đứng ra làm việc đó, việc dự báo chỉ là một số đánh giá, nhận định chủ quan của một
số chuyên gia trong lĩnh vực xuất khẩu lúa gạo hoặc các chuyên gia nhận định về kinh
tế.
Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long là hai vựa lúa lớn nhất cả
nước, đặc biệt là đồng bằng Sông Cửu Long với diện tích trồng lúa lớn và tăng trong
một số năm gần đây là vựa lúa chuyên cung cấp lúa gạo xuất khẩu trong nước. Vì
chuyên canh nông nghiệp là chính nên người nông dân chủ yếu sống từ nguồn thu của
các loại cây nông nghiệp. Do đặc tính giá cả hàng nông sản chịu rủi ro cao, việc biến
động giá lúa gạo sẽ ảnh hưởng rất lớn tới người nông dân. Đặc biệt trong vài năm gần
đây giá lúa gạo biến động mạnh ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống tới người dân trồng
lúa. Sự tác động khi giá cả lúa gạo biến động có cả tích cực và tiêu cực theo những
2
cách khác nhau tùy thuộc vào cấu trúc của nên kinh tế, khả năng thích ứng với sự thay
đổi liên tục của biến động giá và mức độ dự đoán một cách toàn diện về sự biến động
của giá cả. Sự biến động này đã dẫn tới hậu quả là người nông dân đang ngày càng
giảm diện tích trồng lúa và chuyển sang các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế
hơn.Tuy nhiên do không nắm vững được kỹ thuật nuôi trồng các loại cây mới, người
dân vẫn không đạt hiệu quả cao trong việc sản xuất kinh doanh của mình. Cuộc sống
luôn mãi trong khó khăn và trong vòng luẩn quẩn lựa chọn nên trồng cây gì và nuôi
con gì để có hiệu quả kinh tế? Vì vậy dự báo sự biến động của giá không chỉ có ý
nghĩa trong việc cung cấp các thông tin cho những nhà hoạch định chính sách mà còn
đối với cả các nhà kinh doanh trong việc điều chỉnh các chiến lược kinh doanh. Do vậy
việc dự báo giá có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sản xuất kinh doanh. Ngày nay
con người đã tìm rất nhiều cách để dự báo với mục tiêu định hướng được tình hình
trong tương lai. Mô hình ARIMA là một trong những mô hình về dự báo, dự đoán giá
trị của các biến số ( hoặc một dãy các biến số) tại một thời điểm trong tương lai căn cứ
vào những dữ liệu trong quá khứ.
Vì vậy việc thực hiện đề tài nghiên cứu “ Áp dụng mô hình ARIMA cho dự báo
giá lúa gạo tại khu vực đồng bằng Sông Cửu Long “ là cần thiết và có ý nghĩa.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu và ý nghĩa đề tài
1.2.1. Mục tiêu
Dự báo cho giá lúa gạo ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long và nêu ra một số
khuyến cáo trong sản xuất và tiêu thụ cho thị trường lúa gạo tại đây
Dự báo giá lúa gạo trong giai đoạn 2009-2010
Tìm hiểu một số nguyên nhân gây ra tính trạng biến động giá lúa gạo ảnh
hưởng đến người nông dân trong giai đoạn 2005-2009 và nêu ra một số khuyến cáo
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh lúa gạo ở đồng bằng Sông Cửu Long
1.2.2. Ý nghĩa đề tài
Đối với nhà nước và các cơ quan chuyên nghành nông nghiệp : có ý ngĩa trong
việc đưa ra các chính sách khuyến cáo người nông dân sản xuất nông nghiệp trong
việc đưa ra các chính sách xuất khẩu lúa gạo, trong quy hoạch và định hướng phát
triển ngành nông nghiệp tại khu vự đồng bằng Sông Cửu Long
3
Đối với các công ty, doanh nghiệp xuất khẩu lúa gạo có cái nhìn chung về tình
hình sản xuất, tiêu thụ và giá cả lúa gạo khu vực đồng bằng Sông Cửu Long để có
chiến lược hợp lý trong sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả và tăng khả năng
cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp thu mua hoặc bán lẻ mặt hàng lúa gạo có cái nhìn
tổng quan về tình hình chung sự biến động giá lúa gạo, hiệu quả sản xuất nông nghiệp
tìm được định hướng phát triển ngành hàng bán lẻ của mình.
Đối với người nông dân các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long có cái nhìn đúng
đắn về tầm quan trọng của hoạt động sản xuất nông nghiệp, và nắm được sơ lược về
tình hình giá thị trường để đưa ra một kế hoạch sản xuất phù hợp, nâng cao hiệu quả
sản xuất và chất lượng lúa gạo.
1.3. Phạm vi nghiên cứu
Nguyên nhân ảnh hưởng đến cung cầu lúa gạo và một số nguyên nhân chính
gây ra biến động giá lúa gạo các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2005-2009.
Tìm hiểu diễn biến giá lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn
2005-2009
1.4. Cấu trúc của khóa luận:
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
Chương mở đầu giới thiệu tổng quát lý do chọn lựa đề tài, mục tiêu nghiên cứu,
phạm vi nghiên cứu và tổng quan về cấu trúc luận văn.
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN
Chương tổng quan sẽ giới thiệu đặc điểm tổng quát của nghành lúa gạo đồng
bằng Sông Cửu Long, bao gồm lịch sử hình thành cây lúa và đặc điểm sinh học của
nó. Một mặt sẽ khái quát sơ lược về tình hình giá cả biến động trong thời gian ta dự
báo gia lúa 2007-2009.
CHƯƠNG 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nội dung và phương pháp nghiên cứu sẽ trình bày nội dung lý thuyết được
nghiên cứu để áp dụng cho khóa luận như xuất nhập khẩu, cung cầu và giá cả thị
trường, dự báo v.v…. Phương pháp nghiên cứu sẽ giới thiệu hai mô hình hồi quy và
ARIMA, được dùng trong khóa luận. Đặc biệt mô hình ARIMA được trình bày một
cách chi tiết, cụ thể.
4
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trình bày những kết quả mà đề tài đã thực hiện được, bao gồm: Tình hình sản
xuất, tiêu thụ và xuất khẩu lúa gạo trong nước và quan trọng nhất là thực trạng sản
xuất, xuất khẩu lúa gạo đồng bằng Sông Cửu Long. Mô tả thị trường xuất khẩu trong
việc xuất nhập khẩu lúa gạo. Tiến hành dự báo giá lúa gạo đồng bằng Sông Cửu Long
trong thời gian sắp tới. Đồng thời chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu của nghành lúa gạo
nước nhà, từ đó đưa ra nhiều đường lối, chiến lược kinh doanh.
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Tổng kết lại những kết quả đã đạt được, đặc biệt là kết quả về dự báo giá lúa
gạo trong tương lai. Đồng thời cũng đưa ra những kiến nghị và giải pháp, giúp lúa gạo
đồng bằng Sông Cửu Long có thể cạnh tranh trên thương trường cũng như thị trường
quốc tế - vốn ngày càng phức tạp và khó khăn.
5
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN
2.1. Đặc điểm tổng quát của ngành lúa gạo đồng bằng Sông Cửu Long
2.1.1. Lịch sử ngành lúa gạo Việt Nam và lịch sử trồng lúa đồng bằng sông Cửu
Long
Sản xuất lúa gạo đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế
nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Khoảng 80% trong tổng số 11 triệu hộ nông dân
có tham gia sản xuất lúa gạo và chủ yếu dựa vào phương thức canh tác thủ công truyền
thống.
Trong hơn ba thập kỷ qua nhờ có sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nên Việt
Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất lúa gạo, không những đáp ứng đủ
nhu cầu tiêu dùng trong nước mà hàng năm còn xuất khẩu được 3-4 triệu tấn gạo. Hiện
nay năng suất lúa bình quân của cả nước đã khá cao đạt khoảng 4,5 tấn/ha, song giữa
các vùng sinh thái khác nhau trong nước lại có sự chênh lệch đáng kể về năng suất lúa.
Lượng gạo tham gia vào các kênh lưu thông chủ yếu phụ thuộc vào hai nguồn cung
cấp chính đó là Đồng Bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng .
Các hoạt động chế biến và lưu thông lúa gạo tuy đã có những bước phát triển
đáng kể song vẫn đang còn nhiều trở ngại cần phải phấn đấu vượt qua. Ngành chế biến
xay xát lúa gạo chủ yếu là các cơ sở chế biến quy mô nhỏ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng
nội địa và chỉ có một số ít các nhà máy xay xát gạo qui mô lớn phục vụ cho thị trường
xuất khẩu. Nếu như trước kia cơ chế "kế hoạch hoá tập trung" là trở ngại lớn nhất cho
phát triển sản xuất lúa gạo, thì ngày nay trong cơ chế mới lại nổi lên những lực cản lớn
khác cho các bước phát triển tiếp theo, đó là nền kinh tế vẫn đang còn thiếu vắng một
môi trường phát triển thuận lợi về phương diện thể chế và cơ sở hạ tầng.
a. Các hệ thống canh tác lúa
Khí hậu là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hệ thống canh tác và năng suất lúa.
Việt Nam có ba vùng khí hậu cơ bản. Miền Bắc là khí hậu cận nhiệt đới có mùa đông
hanh khô và mùa hè ẩm ướt. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và miền
Đông của Đông Nam Bộ là điển hình của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao và
mưa nhiều. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long và miền Tây của Đông Nam Bộ có hai
mùa khô và mùa mưa rõ rệt, nhưng nhiệt độ cao hơn miền Bắc. Vì vậy, nông dân ở
phía Nam có thể trồng ba vụ lúa trong một năm, trong khi đó miền Bắc chỉ có thể
trồng hai vụ một năm, do nhiệt độ trong mùa đông thấp.
Ở miền Bắc cây lúa được trồng từ lâu đời nên mức độ thâm canh cao, hệ thống
thuỷ lợi được xây dựng tốt, mật độ dân số cao và quy mô nông hộ nhỏ. Ngược lại,
miền Nam có điều kiện khí hậu thuận lợi, cây lúa được đưa vào trồng muộn hơn, quy
mô nông hộ lớn hơn và gần đây, hệ thống cơ sở hạ tầng thuỷ lợi mới phát triển đem lại
nhiều cơ hội gia tăng sản lượng lúa.
b.Các loại giống lúa
Việt Nam trồng khá nhiều loại giống lúa khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện của
từng vùng sinh thái và từng mùa vụ. Các tỉnh phía Bắc sử dụng nhiều loại giống lúa
nhập từ Trung Quốc, trong khi đó các tỉnh phía Nam lại trồng nhiều giống lúa có
nguồn gốc từ Viện lúa quốc tế IRRI. Mặc dù có hàng 100 giống lúa khác nhau, nhưng
chỉ có 10 giống lúa được trồng phổ biến nhất, chiếm tới 60% tổng diện tích gieo trồng
lúa cả nước.
Các tỉnh phía Bắc chủ yếu trồng các giống lúa lai và lúa thuần Trung Quốc
(khoảng 60% diện tích). Đối với nông dân miền Trung, giống lúa IR có vị trí quan
trọng hơn. Hai giống lúa được trồng nhiều nhất là IR17494 và Khang Dân 18 chiếm
21% và 13% trong vụ Đông-Xuân và khoảng 12% và 8% trong vụ Hè-Thu.
IR50404 và OM1490 là hai giống lúa được trồng nhiều nhất ở các tỉnh phía Nam,
chiếm khoảng 13% trong vụ Đông-Xuân và 10-13% trong vụ Hè-Thu. Mặc dù giống
IR64 là giống lúa chính phục vụ cho xuất khẩu nhưng mới chỉ chiếm 5-6% diện tích
gieo trồng trong vụ Đông-Xuân và Hè Thu ở miền Nam
Theo báo Nông nghiệp Việt Nam 25/3/2009, với diện tích 4,2 triệu ha gieo
trồng lúa ở Nam Bộ, hàng năm yêu cầu 500.000 tấn giống xác nhận hay 120.000ha để
7
sản xuất giống. Nhưng các công ty giống lớn ở Nam bộ như Cty CP Giống cây trồng
miền Nam, Cty CP BVTV An Giang, Cty Giống cây trồng Đồng Tháp... chỉ đáp ứng
50.000 tấn giống lúa hàng năm, chỉ đảm bảo 10 - 15% lượng giống cung cấp cho sản
xuất; tư nhân sản xuất lúa giống đảm bảo chất lượng khoảng 10%; Như vậy trên thực
tế 70% hạt giống sản xuất vẫn chưa được cung ứng theo tiêu chuẩn quốc gia. Do đó
muốn đảm bảo lượng giống lúa xác nhận phải tổ chức lại sản xuất theo hướng: “Xã hội
hóa sản xuất lúa giống” ở Nam Bộ. Vào trước những năm 2000, tỷ lệ sử dụng giống
xác nhận của người dân chỉ đạt dưới 10%, nhưng đến năm 2006 - 2007 đã tăng đến 25
- 27% ở các tỉnh Nam bộ. Và trong 2 năm gần đây, tình hình sử dụng giống lúa càng
được để ý nhiều hơn, ý thức của người dân đã có những bước chuyển đáng kể về sử
dụng giống xác nhận. Tuy vậy, so với nhiều nước tiên tiến trong khu vực, mức độ sử
dụng giống xác nhận ở các tỉnh Nam bộ vẫn còn thấp. Vì vậy bước đầu tiên là làm cho
người sản xuất phải thay đổi tư duy về giống cây trồng. Người dân có ý thức càng cao
về vai trò quan trọng của giống cây trồng thì càng có động lực để thúc đẩy công tác
sản xuất giống, kích cầu cung ứng giống và do đó hệ thống giống từ khâu nghiên cứu,
sản xuất và lưu thông giống mới có điều kiện phát triển. Với vai trò chủ đạo của Nhà
nước mà trực tiếp là Bộ NN-PTNT lâu nay đã đề ra nhiều chủ trương chính sách từ
khâu nghiên cứu giống, khảo nghiệm và công nhận giống cây trồng. Các khâu kiểm
tra, kiểm định giống từ cấp trung ương đến địa phương. Đặc biệt trong sản xuất giống,
Bộ NN-PTNT đã quy định các cấp nhân giống siêu nguyên chủng, nguyên chủng và
cấp xác nhận. Bên cạnh đó để tạo điều kiện trong công tác lưu giữ bảo tồn, khai thác
nguồn gen và giống cây trồng địa phương; chọn tạo giống cây trồng mới. . Trong thực
tế, dưới sự hướng dẫn của các nhà khoa học, các dự án bảo tồn và phát triển đa dạng
sinh học cộng đồng ở ĐBSCL, nhiều nông dân đã được tập huấn kỹ năng lai tạo và
chọn lọc giống lúa.
c. Tình hình sản xuất giống
Hiện nay có “mạng lưới” sản xuất giống ở các địa phương, từ tổ giống đến
HTX. Các tổ chức này nhiều nơi còn mang tính tự phát, vì vậy cần củng cố, nâng chất
lượng hoạt động của các tổ nhân giống lúa cũ, thành lập thêm các tổ nhân giống lúa
mới, đặt dưới sự quản lý của HTX nông nghiệp. Hoặc các tổ nhân giống này đặt dưới
sự hướng dẫn của câu lạc bộ nhân giống, câu lạc bộ khuyến nông ở những nơi chưa có
8
HTX. Đặc biệt có sự quan tâm của các ngành các cấp của địa phương hỗ trợ về mặt kỹ
thuật, phương tiện, điều kiện nhân giống với số lượng giống lớn theo yêu cầu của từng
vùng sinh thái có chất lượng cao. Sự phát triển của mạng lưới sản xuất giống địa
phương từ khâu sản xuất, chế biến cung ứng giống, từng bước nâng dần diện tích sử
dụng giống có chất lượng, nhằm góp phần cải thiện năng suất, cải thiện chất lượng lúa
thương phẩm trên toàn vùng.
Để mở rộng mạng lưới sản xuất giống ở địa phương, trước hết các cơ sở kinh doanh
giống phải đăng ký, tập huấn và được cung cấp các thông tin quan trọng về quản lý
giống cây trồng. Các Sở NN-PTNT thành lập bộ phận quản lý về giống, củng cố và
nâng cấp các phòng kiểm định, kiểm nghiệm với đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ
chuyên môn. Các Sở NN-PTNT chịu trách nhiệm cấp giấy chứng nhận hành nghề về
giống ở địa phương. UBND cấp tỉnh ban hành những quy định quản lý nhà nước về
giống trên địa bàn của tỉnh dựa trên cơ sở quyết định của Nhà nước về quản lý giống
cây trồng.
d. Tình hình sản xuất lúa
Trong sản xuất lúa nhiều năm qua, bà con nông dân thường chú ý đến giống lúa
mà ít quan tâm đến chất lượng hạt giống,. Trong thực tế sản xuất ở Nam bộ, đa phần
người dân sử dụng giống tự sản xuất hoặc trao đổi giữa các nông dân với nhau, thậm
chí nhiều người còn dùng lúa ăn để làm giống.
Vì vậy hậu quả giống bị lẫn tạp, thoái hóa đã ảnh hưởng không nhỏ đến năng
suất, chất lượng lúa gạo, đồng thời giảm giá trị đối với người tiêu dùng và xuất khẩu.
Vai trò của Sở NN-PTNT, Trung tâm khuyến nông, Trung tâm giống của các
tỉnh rất lớn trong chiến lược xã hội hóa công tác giống. Vai trò, nhiệm vụ của các tổ
chức này thể hiện từ khâu quy hoạch cơ cấu giống của địa phương, tổ chức mạng lưới
khảo nghiệm, sản xuất thử, sản xuất giống, hỗ trợ giống cho nông dân, trình diễn, hội
thảo, xây dựng mô hình sản xuất giống nông hộ, tọa đàm, phát hành tài liệu, thông tin
qua báo đài... Nhờ đó giải quyết được đầu ra cho những nơi sản xuất giống và kích
thích sự phát triển của hệ thống giống. Vấn đề “liên kết 4 nhà”: nhà nông, nhà kinh tế,
nhà khoa học, nhà nước đối với xã hội hóa giống cũng cần phải đặt ra thật căn cơ dựa
trên nguyên tắc lợi ích và trách nhiệm của các bên, dựa trên các hợp đồng kinh tế - kỹ
thuật... Các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo, giống lúa phải vào cuộc ngay từ những
9
bước ban đầu: Quy hoạch cơ cấu giống, hỗ trợ giống cho nông dân, đầu tư kỹ thuật sản
xuất lúa giống, dự án cụ thể dưới sự giám sát của các tổ chức nhà nước và được hỗ trợ
về mặt kỹ thuật từ phía các nhà khoa học. Để liên kết “giữa các nhà” thật bền vững
phải dựa vào những cơ chế liên kết theo kinh tế thị trường và phải có sự hỗ trợ, giám
sát của Nhà nước.
So với Thái Lan trong sản xuất lúa gạo, Việt Nam có ưu thế về năng suất, sản
lượng, giá thành nhưng lại yếu thế về chất lượng lúa gạo. Nếu vấn đề “xã hội hóa sản
xuất và sử dụng giống xác nhận” thành công thì trong cuộc cạnh tranh trên thị trường
gạo quốc tế, Việt Nam sẽ có những bước đột phá ở thị trường gạo chất lượng cao.
2.1.2. Thu hoạch
Tình hình thu hoạch của đồng bằng Sông Cửu Long cũng là một vấn đề cần
được quan tâm. Do chịu ảnh hưởng của nước thủy triều nên thu hoạch thường gặp khó
khăn đặc biệt trong hai vụ hè thu và vụ mùa. Đây là thời điểm mà mùa mưa hoặc mùa
nước lũ nên nhiều khi nông dân bị mất trắng do nước tràn đầy đồng, thu hoạch không
kịp là mất mùa hoặc năng suất kém. Thêm vào đó do tình hình kho dự trữ lúa gạo
không tốt hoặc xuống cấp hay kho dự trữ ko có nên lúa vào các vụ này thường bị hư
hại nhiều, ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và gây thiệt hại nhiều về
kinh tế. Thời vụ thu hoạch chính là vụ Lúa đông xuân do vụ này điều kiện thiên nhiên
thuận lợi cho cả sản xuất nên thường thu hoạch vụ này có năng suất cao hơn.
2.2. Tình hình giá lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long thời gian gần đây .
2.2.1. Tình hình giá lúa gạo
Tình hình giá lúa gạo trong những năm gần đây ở khu vực đồng bằng sông Cửu
Long có rất nhiều biến động . Lúa gạo là một thị trường rất nhạy cảm và cũng hay biến
động, và tình hình lúa gạo trong những năm gần đây cũng phụ thuộc rất nhiều vào tình
hình biến động của giá lúa gạo trên thị trường thế giới và cũng chịu nhiều ảnh hưởng
của nhiều nhân tố khác như: dịch bệnh, rầy nâu, giá các yếu tố đầu vào tăng như phân
bón, kĩ thuật canh tác cây trồng và đặc biệt do các biến động của thời tiết như thiên
tai, lũ lụt, hạn hán .Nói chung tình hình giá lúa gạo VN trong những năm gần đây chịu
ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố.
Từ năm 2006-2007 ,giá lúa gạo trên thị trường VN cũng tương đối ổn định, giá
lúa và giá gạo vẫn giữ mức bình ổn . Người dân ta sản xuất lúa không những chỉ đủ
10
tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường thế giới, đem lại cho ngân sách
nhà nước một nguồn thu ngoại tệ lớn, đóng góp vào sự phát triển toàn diện của ngành
nông nghiệ . Nhưng đặc biệt trong năm 2008 ,giá lúa gạo ở VN có nhiều biến động rất
phức tạp, cụ thể như sau:
Năm 2007, thị trường gạo trên thế giới có nhiều biến động. Ngay từ đầu năm đã
dự báo nhu cầu gạo thế giới sẽ tăng khoảng 27,2 triệu tấn, nhưng đến tháng 7/2007, do
có sự đột biến, nhu cầu tăng lên hơn 30 triệu tấn. Các nước xuất khẩu gạo như Ấn Độ,
Việt Nam ngừng kí hợp đồng xuất khẩu gạo, do đó những tháng đầu năm 2008 giá lúa
gạo đã có xu hướng tăng lên .
Từ ngày 31-3-2008 đến tháng 6, giá lúa gạo tại ĐBSCL liên tục nhích lên do
lượng lúa gạo hàng hóa trên thị trường giảm. Từ tháng 6 tới nay, giá gạo
không ổn định, lúc lên lúc xuống. Từ đầu tháng 9, giá thóc gạo có xu hướng giảm nhẹ
do nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu thu mua cho xuất khẩu giảm. Giá thóc trong
nước hiện ở mức 4.000 - 6.300 đồng/kg và giá gạo ở mức 8.000 - 15.000 đồng/kg tuỳ
loại.Trước tình hình giá gạo trên thế giới giảm kéo theo giá gạo xuất khẩu của ta cũng
giảm đã làm cho giá lúa gạo trong nước đồng loạt giảm mạnh, nông dân thu hoạch lúa
không thể bán vì giá thấp không đủ chi phí sản xuất.
Khoảng giữa tháng 10/2008 tại các vựa lúa lớn mặc dù số lượng lúa nhiều
nhưng giá lúa quá thấp bán không được, các thương lái thì nằm chờ thời , còn các
doanh nghiệp kinh doanh thì than lỗ vì giá lúa gạo ngày một rớt giá . Cũng trong thời
gian đó giá lúa quá thấp trong khi giá gạo quá cao, vì vậy đó cũng là cơ hội để các
thương lái làm giàu vì giá lúa quá thấp, và giá gạo trong thời gian này cũng diễn biến
hết sức phức tạp từ người bán buôn lẻ đến thương lái, doanh nghiệp cung ứng gạo xuất
khẩu cũng gặp khó khăn.
Xuất khẩu gạo đã đang và sẽ ngày càng được nhà nước và các doanh nghiệp
quan tâm. Gạo nước ta đang được thế giới biết đến ngày càng nhiều thông qua việc
chúng ta ngày càng xuất khẩu ra nhiều nước và được thế giới chấp nhận. Đã có rất
nhiều nước đồng ý nhập khẩu gạo của nước ta và với khối lượng ngày càng tăng. Sản
lượng gạo xuất khẩu đã có sợ biến đổi qua các năm. Nếu như năm 2006 chúng ta xuất
khẩu được 5,2 triệu tấn thì đến năm 2007 sản lượng giảm xuống chỉ còn 4,5 triệu tấn,
đến năm 2008 sản lượng xuất khẩu của chúng ta sẽ là 4,68 triệu tấn.
11
Nếu như đầu tháng giêng năm 2008, gạo 5% tấm giá chỉ 355 USD/tấn thì tới
ngày 4/2, mức giá xuất khẩu của loại gạo này đã lên tới 400 USD/tấn, tăng 95-100
USD/tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, đến cuối tháng 4 khi cuộc khủng
hoảng lương thực thế giới lên tới đỉnh cao thì chính phủ đã ban hành lệnh cấm ký thêm
các hợp đồng mới về xuất khẩu gạo cho đến cuối tháng 6 để đảm bảo đủ gạo cho nhu
cầu trong nước. So với 2 tuần trước đó, giá gạo xuất khẩu của nước ta đã tăng thêm
bình quân khoảng 200 USD/tấn. Nguồn cung gạo cho xuất khẩu ở hầu hết các nước
châu Á xuất khẩu gạo đang khan hiếm. Tới tháng 10/2008, giá lúa có xu hướng giảm
nên theo đó giá gạo xuất khẩu cũng có xu hướng giảm theo.
Giá lúa gạo tiếp tục giảm từ tháng 10/2008 đến 12/2008, nhưng đến đầu năm
2009 có xu hướng tăng nhẹ và tiếp tục tăng lên do ảnh hưởng của dịp tết làm giá lúa
gạo có xu hướng tăng, đến tháng 4/2009 gạo lại có xu hướng giảm nhẹ do qua giai
đoạn tết và việc thu hoạch vụ lúa đông xuân có năng suất cao cũng làm ảnh hưởng giá
gạo, có xu hướng giảm nhẹ. Thêm vào đó, giá lúa gạo xu hướng giảm cũng một phần
là do người dân bị hàng xáo thu mua với giá thấp làm giá gạo giảm xuống. Ngoài ra,
giá gạo trong nước giảm, còn do tác động của thị trường gạo thế giới, dưới tác động
của khủng hoảng tài chính kinh tế, các nhà nhập khẩu chỉ mua đủ nhu cầu phân phối
mà ngại mua dự trữ như mọi năm.
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá lúa gạo
Ở Việt Nam, các yếu tố tác động đến giá lúa gạo có lẽ là những yếu tố sau:
Nhu cầu gạo gia tăng do dân số tăng. Hiện nay, Việt nam có khoảng 84 triệu
người, trong khi đó diện tích đất trồng lúa không tăng đáng kể, điều này cũng có thể là
một trong những nguyên nhân khiến giá lúa gạo tăng lên trong những năm vừa qua. Cơ
cấu đất đai nông nghiệp thay đổi. Một diện tích đáng kể đất đai sản xuất nông nghiệp
chuyển sang các mục đích khác phi nông nghiệp. Do đó diện tích đất đai nông nghiệp
giảm đi cả tương đối và tuyệt đối.
Các yếu tố đầu vào của sản xuất lúa như: đất đai, phân bón, nhân công, nước
các vật tư khác,…Xem xét các yếu tố của chi phí sản xuất cho thấy, tất cả các yếu tố
đầu vào đều tăng, trừ thuỷ lợi phí. Nhân công và phân bón là 2 yếu tố chiếm chi phí
lớn nhất trong sản xuất lúa. Cơ cấu lao động trong nông nghiệp - nông thôn thay đổi.
Một bộ phận lao động trẻ khoẻ, có trình độ, có kiến thức,... đi làm việc ở các đô thị, đi
12
xuất khẩu lao động, làm các công việc khác phi nông nghiệp. Trong cơ cấu chi phí sản
xuất lúa gạo hiện nay của Việt Nam, chi phí vật chất chiếm khoảng trên 60%, trong đó,
phân bón (chủ yếu là phân hóa học) , phân bón (chủ yếu là phân hóa học) chiếm tỷ
trọng nhiều nhất, trung bình cho cả nước là trên 38,4%, tiếp đến là hoạt động cơ giới
hóa trên 18%, thuốc bảo vệ thực vật trên 16%, nước tưới trên 9,3%, giống trên 8,8%.
Hiện nay, các doanh nghiệp trong nước mới chỉ sản xuất được 900 nghìn tấn
urê/năm, trong khi nhu cầu phân đạm cho nông nghiệp lớn hơn rất nhiều. Chính vì
vậy, Việt Nam vẫn phải phụ thuộc rất nhiều vào lượng urê nhập khẩu từ các nước, nhất
là từ Trung Quốc và Trung Đông. Do vậy, giá bán urê trong nước hoàn toàn phụ thuộc
vào giá urê và giá dầu mỏ thế giới. Theo tính toán của các chuyên gia Bộ Nông
nghiệp, đến năm 2011 Việt Nam mới cơ bản đủ phân đạm urê.
Hơn nữa giá lúa gạo trong nước biến động phụ thuộc nhiều vào việc thu mua
gạo nguyên liệu xuất khẩu và nguồn vốn của các nhà máy .Các doanh nghiệp có vốn
đã đồng loạt đẩy mạnh thu mua làm giá lúa gạo tăng lên từng ngày .Nhiều doanh
nghiệp chuyển sang mua gạo dự trữ và điều này cũng ảnh hưởng đến giá lúa gạo trên
thị trường vì các doanh nghiệp đã hạn chế thu mua hơn trước.
Sự đầu cơ lúa gạo trong nhũng tháng 4 và 5 vừa qua. Đặc biệt là vào những
ngày cuối tháng 4/2008 giá gạo tăng bột biến. Từ đại lý cho đến điểm bán gạo nhỏ lẻ
đều đóng cửa, treo thông báo hết gạo. Tuy nhiên, sau khi thông báo hết gạo, các tiểu
thương đã bán gạo trở lại nhưng giá cao ngất ngưởng.
Rõ ràng, tốc độ tăng giá lúa gạo đang song hành cùng với tốc độ tăng giá vật tư
đầu vào, chưa kể đến các yếu tố khác làm tăng chi phí sản xuất như thiên tai, lũ lụt;
tiếp cận thị trường qua nhiều khâu trung gian...Ngoài ra, giá xăng dầu cũng ảnh hưởng
đến qua chi phí vận chuyển vật tư, các máy móc vận hành trong sản xuất; chất lượng
gao.
Yếu tố chính sách của chính phủ cũng tác không nhỏ đến giá lúa gạo. Các quy
định, chính sách về đất đai, thủy lợi, tín dụng…
Cung và cầu về lúa gạo cũng như giá lúa gạo của thế giới cũng ảnh hưởng một
phần nào đó đến giá lúa gạo của Việt nam.
13
2.2.3 Vấn đề phát triển cây nông nghiệp
Vấn đề phát triển cây nông nghiệp đang là một vấn đề được chính phủ các nước
quan tâm do vấn đề về an ninh lương thực toàn cầu đang là một vấn đề bức thiết. Hiện
nay, với tốc độ phát triển và bùng nổ của các nghành công nghiệp và dịch vụ, ngành
nông nghiệp đang bị co cụm lại và vấn đề an ninh lương thực đang là một vấn đề bức
thiết được đặt ra. Hiện nay, ở nước ta chính phủ cũng rất quan tâm đến vấn đề phát
triển ngành nông nghiệp đất nước theo chiều hướng hiện đại, tăng cường nghiên cứu
các giống lúa mới loại ngon và cho năng suất cao để đảm bảo việc giảm diện tích sẽ
không ảnh hưởng nhiều đến sản lượng lương thực hàng năm phục vụ nhu cầu tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu.
Nhằm nâng chất lượng lúa gạo phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, tại Viện lúa
đồng bằng sông Cửu Long, hơn 150 đại biểu là cán bộ trường Đại học Cần Thơ, Trung
tâm Khảo nghiệm Giống cây trồng miền Nam, Sở Khoa học Công nghệ, Sở Nông
nghiệp và phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông, Trung tâm Giống Nông
nghiệp và nông dân sản xuất giỏi của 13 tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Cửu
Long đã tham dự đánh giá và bình chọn 9 giống lúa triển vọng cho sản xuất các vụ
chính năm 2009.
Theo tổng hợp của phó giáo sư, tiến sĩ, phó viện trưởng Viện lúa đồng bằng
sông Cửu Long ông Dương Văn Chín về nghiên cứu tập hợp kết quả của 120 thí
nghiệm so sánh giống và 18 cuộc đánh giá giống trên đồng ruộng trình diễn tại 17 tỉnh
thành phía Nam và tại Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long có tổng cộng 161 giống
trong danh sách đạt thành tích cao được xếp thứ tự từ 1 đến 5 trong thì nghiệm hoặc
các đánh giá giống. Tần suất xuất hiện của các giống được xếp theo thứ tự từ cao
xuống thấp. Với trên 110 giống lúa được được tuyển chọn và trồng trình diễn tại đây,
các đại biểu đã trực tiếp tuyển chọn ngoài đồng những giống ưu tú theo tiêu chuẩn như
giống đạt năng suất cao, phẩm chất gạo ngon đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, thích ứng với
điều kiện sinh thái, chống chịu sâu bệnh tốt, nhằm phục vụ nhu cầu nâng cao chất
lượng để tiêu thụ trong thời gian tới. Các giống được tuyển chọn theo tiêu chuẩn bình
chọn là giống lúa OM6073, OM5199, OM5451, OM6072, OM5464, OM5472,
OM5453, OM4088, OM2471.
14
Kết quả đánh giá chất lượng giống lúa đang sản xuất tại nhiều địa phương và ở
những điểm trồng khảo nghiệm cho thấy: các giống OM6073, OM4900 và OM5930
được đánh giá cao và nằm trong tốp đầu trong 9 giống lúa được bình chọn. Mục tiêu
của Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long là tổ chức đưa vào thực nghiệm các giống lúa
triển vọng đáp ứng cho các vùng sản xuất ở khu vực đất nhiễm phèn, các vùng đất đai
kém màu mỡ, trồng lúa khó khăn, năng suất không cao, tạo ra các giống có khả năng
kháng rầy nâu và bệnh vàng lùn xoắn lá, hướng tới nâng chất lượng hạt gạo, giúp nông
dân tiêu thụ lúa hàng hóa và tăng giá trị của hạt lúa. Một mặt đảm bảo tiêu dùng trong
nước, xuất khẩu và đảm bảo công tác an ninh lương thực cho đất nước khi dân số ngày
càng tăng.
Bảng 2.1: Diện tích gieo trồng lúa qua các năm( từ 1990 – 2007 )
(ĐVT: Nghìn ha)
Năm
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
Tổng số
6042.8
6302.8
6475.3
6559.4
6598.6
6765.6
7003.8
7099.7
7362.7
7653.6
7666.3
7492.7
7504.3
7452.2
7445.3
7329.2
7324.8
7201
Lúa đông xuân
Lúa hè thu
Lúa mùa
2073.6
1215.7
2753.5
2160.6
1382.1
2760.1
2279
1448.6
2747.7
2323.6
1549.1
2686.7
2381.4
1586.1
2631.1
2421.3
1742.4
2601.9
2541.1
1984.2
2478.5
2682.7
1885.2
2531.8
2783.3
2140.6
2438.8
2888.9
2341.2
2423.5
3013.2
2292.8
2360.3
3056.9
2210.8
2225
3033
2293.7
2177.6
3022.9
2320
2109.3
2978.5
2366.2
2100.6
2942.1
2349.3
2037.8
2995.5
2317.4
2011.9
2988.5
2204.8
2007.7
Nguồn: Hiệp Hội Nông Dân Việt Nam
Qua bảng trên ta thấy rằng diện tích trồng lúa liên tục tăng qua các năm từ năm 1990
đến 2005, và giảm dần từ 2005 đến nay. Trong thời điểm từ 2007 đến 2009, theo thông
tin trên báo đài thì diện tích cây lương thực đang có xu hướng giảm dần do chính sách
ưu tiên phát triển công nghiệp và các nghành nghề kinh doanh của nhà nước, các dự án
15
thu hút vốn đầu tư của nước ngoài nhằm phát triển kinh tế đất nước, diện tích cây
trồng trong lĩnh vực nông nghiệp giảm dần mà yêu cầu vẫn phải đảm bảo sản lượng
tăng. Tuy nhiên, bên cạnh các chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp và các ngành
nghề kinh doanh dịch vụ, nông nghiệp vẫn được nhà nước ta quan tâm, nghiên cứu
giống mới năng suất cao, đảm bảo sản lượng không giảm khi diện tích giảm.
2.2.4. Thực trạng sản xuất khu vực đồng bằng sông Cửu Long
Theo số liệu thống kê, hiện đồng bằng sông Cửu Long có diện tích trồng lúa trên
3,77 triệu ha, chiếm 51,59% tổng diện tích trồng lúa cả nước, sản lượng bình quân đạt
trên 18,19 triệu tấn/năm. Đây cũng là khu vực chiếm hơn 90% lượng lúa gạo xuất
khẩu hàng năm của cả nước, giúp Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu
trên thế giới, chỉ xếp sau Thái Lan. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, biến động về
an ninh lương thực trên thế giới và trong nước, đã buộc chúng ta phải có chiến lược
phát triển nghề trồng lúa một cách hợp lý và bền vững. Mặt khác, theo đánh giá của
nhiều chuyên gia, sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở khu vực này còn chịu tác động bởi các
yếu tố như: Đặc điểm chung của vùng ĐBSCL là phổ biến việc trồng lúa nước 3
vụ/năm; lại chịu ảnh hưởng rất lớn về thời tiết, mưa lũ, chế độ bán nhật triều biển
Đông, địa hình đất đai không đồng đều, sự xâm nhập mặn... ảnh hưởng không nhỏ đến
quá trình trồng lúa và gây thiệt hại nặng cho nông dân. Diện tích trồng lúa hiện nay đã
bị thu hẹp gần 200 nghìn ha, hoặc thời vụ phải xuống giống sớm hoặc chậm hơn so với
dự định. Bên cạnh đó, việc bảo quản và tiêu thụ lúa gạo tại ĐBSCL cũng đã nảy sinh
nhiều vấn đề như giá thành lúa gạo trên thị trường tăng, nhưng nông dân lại không có
lãi, do phải bán qua nhiều trung gian, bị doanh nghiệp trung gian ép giá, hình thức liên
kết tiêu thụ lúa trong nông dân còn yếu, việc tồn trữ lúa trong dân làm tăng chi phí...
Điều đó là vấn đề thực sự khó khăn không chỉ ảnh hưởng đến giá cả do sản lượng lúa
bị dồn nhiều cùng lúc, giá lúa giảm, mà còn làm giảm chất lượng lúa, ảnh hưởng đến
thu nhập của nông dân, và ngay cả đối với doanh nghiệp.
16