Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

Các công tác cơ bản trong PTN hóa học là cắt và uốn ống thủy tinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (136.11 KB, 13 trang )

Các công tác cơ bản trong PTN hóa học là cắt và uốn ống thủy tinh, chọn và khoan nút,
lắp và sử dụng các dụng cụ TN, hòa tan, lọc, kết tinh, pha chế dung dịch hóa chất, rửa
bình, lọ, đun nóng, bảo quản hóa chất, bảo hiểm trong PTN hóa học.
I. Cắt và uốn ống thủy tinh:
1. Chọn ống thủy tinh:
Ở PTN trường PT thường hay dùng loại ống thủy tinh có đường kính 4 - 6 mm và có bề
dầy 1 - 2 mm. Các loại ống thủy tinh sản xuất trong nước có thể đảm bảo được yêu cầu
này của PTN.
2. Cắt ống thủy tinh:
a. Loại ống thủy tinh có đường kính dưới 10 mm: Dùng dũa sắt có cạnh, giũa ngang chỗ
định cắt thành một vệt nông và bôi ngay nước lạnh vào vết cắt. Dùng hai tay nắm chặt
ống gần chỗ vết cắt, hai ngón tay cái đặt đối diện với nhau, cách nhau 2 cm, dứt ngang về
hai phía thì vệt cắt ở ống thủy tinh sẽ phẳng. Không nên bẻ gập ống thủy tinh thì vệt cắt
sẽ không thẳng. Sau khi cắt nên hơ nóng vệt cắt trên ngọn lửa đèn cồn để không còn cạnh
sắc.
b. Loại ống thủy tinh có đường kính từ 10 - 30 mm cũng dùng giũa có cạnh, giũa ngang
chỗ định cắt thành một vệt dài 3 - 4 mm, lập tức bôi ít nước lạnh vào vết giũa đó. Hơ
nóng đỏ một đầu đũa thủy tinh đã vuốt nhọn và đặt đầu đũa này vào gần vết cắt, ống sẽ
đứt hẳn ra.
-Các công tác cơ bản trong PTN hóa học là cắt và uốn ống thủy tinh, chọn và khoan nút,
lắp và sử dụng các dụng cụ TN, hòa tan, lọc, kết tinh, pha chế dung dịch hóa chất, rửa
bình, lọ, đun nóng, bảo quản hóa chất, bảo hiểm trong PTN hóa học.
I. Cắt và uốn ống thủy tinh:
1. Chọn ống thủy tinh:
Ở PTN trường PT thường hay dùng loại ống thủy tinh có đường kính 4 - 6 mm và có bề
dầy 1 - 2 mm. Các loại ống thủy tinh sản xuất trong nước có thể đảm bảo được yêu cầu
này của PTN.
2. Cắt ống thủy tinh:
a. Loại ống thủy tinh có đường kính dưới 10 mm: Dùng dũa sắt có cạnh, giũa ngang chỗ
định cắt thành một vệt nông và bôi ngay nước lạnh vào vết cắt. Dùng hai tay nắm chặt
ống gần chỗ vết cắt, hai ngón tay cái đặt đối diện với nhau, cách nhau 2 cm, dứt ngang về


hai phía thì vệt cắt ở ống thủy tinh sẽ phẳng. Không nên bẻ gập ống thủy tinh thì vệt cắt
sẽ không thẳng. Sau khi cắt nên hơ nóng vệt cắt trên ngọn lửa đèn cồn để không còn cạnh
sắc.
b. Loại ống thủy tinh có đường kính từ 10 - 30 mm cũng dùng giũa có cạnh, giũa ngang
chỗ định cắt thành một vệt dài 3 - 4 mm, lập tức bôi ít nước lạnh vào vết giũa đó. Hơ
nóng đỏ một đầu đũa thủy tinh đã vuốt nhọn và đặt đầu đũa này vào gần vết cắt, ống sẽ
đứt hẳn ra.
-3. Uốn ống thuỷ tinh:
Ở đây trình bầy kỹ thuật uốn ống thuỷ tinh trên đèn cồn, vì công việc uốn ống thuỷ tinh

1


ở các trường PT là rất cần thiết và thường chỉ được tiến hành với đèn cồn.
Ống thuỷ tinh cần được rửa sạch và để khô trước khi đem uốn. Khi uốn ống thuỷ tinh,
tay trái đỡ ống, tay phải cầm ống và dung ngón tay cái cùng với ngón tay trỏ xoay đều
ống trên chỗ nóng nhất của ngọn lửa đèn cồn. Cần hơ nóng đều một đoạn ống dài bằng
chiều dài của cung uốn, sau đó mới hơ nóng tập trung vào một chỗ. Khi uốn ống thuỷ
tinh nóng đỏ và mềm ra thì dung hai tay uốn nhẹ từ từ. Sau đó di chuyển ống thuỷ tinh đi
một chút và tập chung hơ nóng vào chỗ bên cạnh và tiếp tục uốn nhẹ. Từ lúc ống đã bắt
đầu bị uốn cong thì chỉ hơ nóng và xoay phía cong bên trong để ống khỏi có nếp gấp.
Không nên chỉ hơ nóng và uốn cong tại một điểm, làm như thế ống sẽ bị bẹp ở chỗ uốn
-II. Chọn nút và khoan nút:
1. Chọn nút:
Thường dung các loại nút sau đây: nút cao su, nút bấc, nút thuỷ tinh. Tuỳ theo hoá chất
trong bình mà tìm nút cho thích hợp. Nút cao su không dung để đậy những lọ đựng dung
môi hữu cơ như benzene, hay Cl2 hoặc chất làm hỏng cao su như H2SO4 đặc, HNO3.
Không nên dung nút bấc, lie đậy các axit mà nên dung nút thuỷ tinh.
Ba cỡ nút cao su hay dung ở PTN có đường kính ở đầu nhỏ là 1,5 – 2 – 2,5 cm. Nút bấc
thường có nhiều lỗ nhỏ nên nút không được kín, vì vậy sau khi đậy nên dung paraffin

tráng lên mặt và xung quanh cho kín.
Việc chọn nút cho thích hợp với miệng bình, miệng ống cũng rất quan trọng, nhất là khi
làm TN có các chất khí. Nếu dung nút bấc thì chọn nút lớn hơn miệng lọ một chút , sau
đó dung dụng cụ ép cho nút nhỏ hơn. Nếu dung nút cau su hay lie thì phải chọn vừa
miệng bình.
-2. Khoan nút:
Khi cần cắm ống dẫn khí, nhiệt kế… xuyên qua nút thì phải dung khoan để khoan nút.
Bộ khoan nút thường có từ 10 – 12 chiếc và một que thong. Phải chý ý giữ cho khoan nút
được tròn, không méo, sứt.
Khi khoan nút, bao giờ cùng dung khoan nhỏ hơn ống thuỷ tinh định lắp một ít, có như
vậy mới kín. Khi bắt đầu khoan, nhúng khoan vào nước hay xà phòng, tay phải cầm
khoan và cầm sát vào nút , tay trái giữ chặt nút. Đặt lưỡi khoan vào đầu to của nút ở đúng
chỗ muốn khoan, giữ cho trục khoan song song với trục nút. Xoay nhẹ khoan theo một
chiều nhất định. Khi lưỡi khoan bắt đầu in vào nút thì chuyển tay phải ra giữ đầu khoan
và khoan mạnh. Khi khoan gần xuyên qua nút thì kê nút lên mọt nút cũ đã hỏng hoặc một
tấm gỗ mềm rồi tiếp túc tục khoan, tuyệt đối không nên kê lên kim loại hay đá
-3. Lắp ống và đậy nút:
Ống thuỷ tinh lắp vào nút cần phải hơi lớn hơn lỗ khoan một ít. Nếu lỗ khoan nhỏ quá
thì dung giũa tròn hay dùi đã được đốt nóng dùi ra. Trước khi lắp ống vào nút nên nhúng
ống vào nước cho dễ lắp. Để cho ống thuỷ tinh không bị gẫy và làm đứt tay, tay phải cầm
ống gần sát phía đầu ống lắp và nút và xoay ống cho vào nút dần dần. Tuyệt đối không
cầm ở chỗ uốn cong của ống.

2


Khi đậy nút vào miệng lọ, ống nghiệm, tay trái cũng cầm hẳn vào cổ lọ hay ống nghiệm
ở gần phía nút, không được tỳ đáy bình cầu vào bàn hay vật khác, dung tay phải xoay nút
vào dần dần cho đến khi nút ngập sâu vào miệng bình khoảng 1/3.
Khi thiếu nút cao su có thể đem cắt những ống cao su (Loại thành dầy, lỗ nhỏ) ra và

đem sửa lại (Mài hoặc gọt) thành nút. Chọn những ống thuỷ tinh thích hợp lắp vào, ta sẽ
được những nút cao su có ống dẫn khí xuyên qua rất tốt.
-III. Lắp dụng cụ thí nghiệm:
Trước khi lắp dụng cụ TN cần phải phác hoạ sơ đồ dụng cụ, thống kê các bộ
phận cần thiết, chọn đủ các dụng cụ ấy rồi mới lắp. Cần lắp các bộ phận đơn giản trước.
Nếu có dung những hoá chất có tác dụng với cao su thì nên dung ống thuỷ tinh làm ống
dẫn, chỉ những chỗ nối mới lắp ống cao su. Đường kính bên trong của ống cao su phải
nhỏ hơn đường kính bên ngoài của ống thuỷ tinh. Không nên để ống thuỷ tinh dài uốn
cong nhiều khúc mà nên thay bằng những đoạn nối bằng ống cao su để tránh bị gấy ống
khi đang làm thí nghiệm. Đoạn ống cau su để nối đó không nên làm quá dài, nhất là khi
làm thí nghiệm với các chất ăn mòn ống cao su. Khi lắp dụng cụ cần chú ý hai yêu cầu
sau:
+ Thuận tiện cho thí nghiệm.
+ Hình thức bên ngoài gọn, đẹp, kích thước các bộ phận tương xứng với nhau.
Sau khi lắp xong cần thử lại xem dụng cụ đã kín chưa, nhất là dụng cụ dung trong TN có
chất khí tham gia. Có hai cách thử:
+ Dùng miện thổi vào và nhỏ nước lên chỗ nút để kiểm tra.
+ Nhúng đầu ống dẫn vào nước, dùng tay nắm chặt ống nghiệm hay bình cầu. Nếu dụng
cụ được lắp kín, thì do than nhiệt của bàn tay, không khí trong ống nghiệm hoặc bình cầu
nở ra sẽ đẩy nước và thoát ra ngoài thành những bọt khí.
-IV. Hoà tan, lọc, kết tinh lại:
1. Hoà tan:
Khi hoà tan hai chất lỏng vào nhau cần luôn luôn lắp bình đựng để hai dung dịch đồng
nhất.
Khi hoà tan chất rắn vào chất lỏng, nếu chất rắn có tinh thể to, ta phải nghiền nhỏ thành
bột trước khi hoà tan. Dùng nước cất để hoà tan hoá chất chứ không dung nước máy,
nước giếng… Nếu không có nước cất thì bất đắc dĩ dung nước mưa hứng ở trên cao và ở
chỗ sạch. Nếu hoà tan trong cốc thuỷ tinh hay bình nón thì dung đũa thuỷ tinh để khuấy.
Đầu các đùa thuỷ tinh phải được bọc bằng nút cao su lồng vừa khít vào ống thuỷ tinh, đầu
ống cao su dài hơn đầu đũa khoảng 2 mm. Nếu hoà tan một lượng lớn chất tan trong bình

cầu thì phải lắc tròn, hoà tan trong ống nghiệm thì lắc ngang, không lắc dọc ống nghiệm.
Đa số các chất rắn khi đun nóng sẽ tan tốt hơn, vì vậy khi hoà tan có thể đun nóng.
--2. Lọc:
Lọc là phương pháp tách những chất rắn không tan ra khỏi chất lỏng. Trong PTN
thường dung giấy lọc để lọc. Cũng có thể dung giấy bản loại tốt, bong, bong thuỷ tinh để

3


lọc.
a. Cách gấp giấy lọc:
Dưới đây là cách gấp giấy lọc đơn giản (không gấp thành nhiều nếp) dùng khi cần lấy
kết tủa ra và giữ kết tủa lâu. Lấy tờ giấy lọc hình vuông có cạnh bằng hai lần đường kình
phễu lọc. Gấp đôi rồi gấp tư tờ giấy, dung kéo cắt tờ giấy theo đường vòng cung thành
hình quạt, tách ba lớp giấy của hình quạt thành hình nón.
b. Cách lọc:
Trước hết đặt giấy lọc khô vào phễu và điều chỉnh cách gấp sao cho góc của nón phễu
giấy vừa bằng với góc của nón phễu thuỷ tinh để giấy lọc sát khít với phễu. Cần cắt giấy
lọc sao cho mép giấy lọc cao hơn mép phễu 5 – 10 mm. Để một ít nước cất vào tẩm ướt
giấy lọc rồi dung ngón tay cái đã rửa sạch đẩy cho giấy lọc ép sát vào phễu để đẩy hết
bong bong ra khỏi cuống phễu.
Đặt phễu lọc lên giá sắt, dung cốc sạch hứng dưới phễu sao cho cuống phễu chạm thành
cốc. Khi rót chất lỏng vào phễu lọc nên rót xuống theo một đùa thuỷ tinh.
Không đổ đầy chất lỏng đến tận mép giấy lọc, muốn lọc được nhanh nên để lắng trước,
không làm vẩn kết tủa và lọc phần trong trước.
-3. Kết tinh lại:
Kết tinh lại là quá trình một chất rắn kết tinh được chuyển vào dung dịch bằng cách
dung một dung môi nào đó và sau khi làm lạnh dung dịch nó lại xuất hiện ở trạng thái
tinh thể nhưng tinh khiết hơn.
Trong PTN hoá học, người ta thường lời dụng quá trình kết tinh lại để tinh chế các

chất, để phân chia hỗn hợp các chất kết tinh lại để tinh chế, …
Quá trình kết tinh laị dựa vào tính chất vật lý của chất kết tinh là thay đổi độ tan trong
dung môi theo nhiệt độ.
Cách tiến hành: Cho chất cần kết tinh vào bình hình nón, cho dần nước hay dung môi
hữu cơ vào để được dung dịch hơi quá bão hoà. Đun nóng dung dịch nhưng chỉ đun đến
nhiệt độ sôi của dung môi để được dung dịch bão hoà nóng. Lọc nhanh dung dịch bão
hoà nóng, phải dung phễu lọc nóng để lọc. Ở dưới phễu, để chậu kết tinh. Các tinh thể sẽ
được tạo thành dần dần, muốn có tinh thể nhỏ, ta làm lạnh nhanh bằng cách đặt chậu kết
tinh vào chậu nước lạnh hoặc nước đá, đồng thời lắc mạnh. Nếu muốn có tinh thể lớn thì
để bình nguội từ từ và không đụng chạm vào bình.
-V. Pha chế dung dịch:
Pha chế dung dịch là một trong những nhiệm vụ quan trọng của PTN hóa học
Khi pha chế dd cần tuân theo các nguyên tắc sau đây:
+ Bình, lọ để pha chế dd phải được rửa sạch và tráng nước cất trước khi pha.
+ Phải dùng H2O cất để pha dd, nếu không có thể dùng nước mưa sạch, tuy nhiên vẫn
không tinh khiết.
+ Trước khi pha dd cần tính toán lượng chất tan và lượng dung môi.
+ Nên pha dd kiềm đặc vào bình sứ.
+ Nếu có thể nên kiểm tra lại nồng độ dd bằng tỷ khối kế.
+ Sau khi pha dd, cần cho vào lọ thích hợp, đậy kĩ, dán nhãn để bảo quản.
Khi pha dd người ta thường dùng các loại ống đo, bình định mức, pipet có chia độ.

4


Bình định mức dùng để pha dd có nồng độ mol/l và nồng độ đương lượng. Vạch ở trên cổ
bình cầu hay pipet là để chỉ mức chất lỏng lấy vào bình cầu hay pipet. Khi quấy dd cần
dùng đũa thủy tinh có bọc cao su ở đầu để tránh vỡ ống đo hay bình.
Các dd thường được pha theo các loại nồng độ:
+ Nồng độ phần trăm.

+ Nồng độ mol/l.
+ Nồng độ đương lượng.
-1. Pha chế dung dịch của chất rắn trong nước theo nồng độ phần trăm:
- Pha dung dịch của chất rắn không ngậm nước: Trước khi pha phải tính lượng chất tan
và lượng nước cần dùng là bao nhiêu. Thí dụ pha chế 250 gam dung dịch 10% của một
chất đã cho (chẳng hạn NaCl, BaCl2, CuSO4…). Ta tính 10% của 250 gam, đó là 25
gam. Như thế phải lấy 25 gam chất tan và 225 gam H2O (225 gam H2O chiếm một thể
tích là 225 ml, ở đây bỏ qua sự thay đổi tỷ khối của H2O theo nhiệt độ). Dùng cân sẽ lấy
được chất tan còn dùng ống đong sẽ lấy được 225 ml H2O.
- Pha dung dịch của chất rắn ngậm nước: Trước hết phải tính lượng muối ngậm nước rồi
suy ra lượng muối không ngậm H2O. Thí dụ pha 100 gam dung dịch CuSO4 10% từ
CuSO4.5H2O. Lượng CuSO4 trong 100 gam dung dịch đó là 10 gam, khối lượng mol
của CuSO4 là 160 gam, của CuSO4.5H2O là 250 gam. Lượng CuSO4.5H2O là x gam
được tính theo tỷ lệ 250/160 = x/10
---> x = 250.10/160 = 15,6 gam
Như vậy phải cân lấy 15,6 gam CuSO4.5H2O và đong lấy 84,4 gam H2O đem hoà tan
vào nhau.
-2. Pha dung dịch chất lỏng trong nước theo nồng độ phần trăm:
Phương pháp này thường dùng để pha dung dịch có nồng độ đã định từ một dung dịch
khác.
Thí dụ: Pha 250 gam dung dịch H2SO4 10% từ dung dịch H2SO4 đặc hơn.
Cần phải dùng tỷ khối kế để đo tỷ khối của dung dịch H2SO4 đặc hơn đem pha (rót
axit đặc vào ¾ ống đo rồi nhúng từ rừ tỉ khối kế vào). Giả sử đo được d = 1,8. Bảng tính
sẵn cho ta biết nồng độ của dung dịch axit đó là 92%. Nếu lọ axit đặc đã được giữ kín cần
thận và vì không có tỷ khối kế thì có thể sử dụng các con số về tỉ khối và nồng độ trên
các nhãn của lọ axit đó.
Muốn pha 250 gam dd H2SO4 10% thì phải lấy 25 gam axit nguyên chất 100%.
Nhưng ở đây chỉ có axit 92% nên phải lấy: 25.100/92 = 27,2 gam.
Lượng axit này bằng 27,2/1,824 = 14,9 ml. Dùng ống đo nhỏ lấy 14,9 ml H2SO4 92% đã
cho rót vào ống đo khác đã đong sãn 222,8 ml (250 – 27,2 = 222,8 g) H2O ta sẽ được

dung dịch cần dùng. Có thể kiểm tra lại bằng cách dùng tỉ khối kế đo khối lượng riêng
dung dịch 10% axit trên mới pha có tỉ khối gần 1,1
-3. Pha dung dịch có nồng độ mol/l.
Thí dụ cần pha 250 ml dung dịch NaCl 0,1M. Khối lượng mol của NaCl là 58,5 gam.
Trong 1 lít dung dịch 0,1 M có 0,1 mol (5,85 gam) NaCl. Vậy trong 250 kml dung dịch
phải có 5,85/4 = 1,46 gam NaCl. Do đó cần lấy gần 1,5 gam NaCl vào ống đo sau đó
them H2O vào cho đủ 250 ml. Như thế ta được dung dịch cần pha chế. Muốn được chính
xác hơn thì pha chế vào bình định mức.

5


4. Pha dung dịch có nồng độ đương lượng N:
Thí dụ pha 100 ml dung dịch 0,1N muối BaCl2.2H2O. Muối BaCl2.2H2O có khối
lượng mol là 244 và đương lượng là 244/2 = 122. Dung dịch BaCl2 có nồng độ 0,1 N
nghĩa là trong 1 lít dung dịch có 12,2 gam BaCl2.2H2O. Vậy trong 100 ml dung dịch có
1,22 gam BaCl2.2H2O. Quá trình pha dung dịch được tiến hành như trên
-5. Pha dung dịch có nồng độ đã định trước theo khối lượng riêng:
Cách pha dung dịch đơn giản hơn cả là dùng tỷ khối kế, rồi đối chiếu với bảng nồng độ
được tính sãn.
Rót dung dịch vào ống đo, nhúng tỉ khối kế vào đó. Nếu muốn có dung dịch axit loãng
hơn thì rót them H2O từ từ vaò (Nếu là H2SO4 thì phải rót axit vào H2O).
6. Pha loãng dung dịch:
Trong nhiều TN ở trường PT ta cần dung dịch có nồng độ loãng hơn dung dịch hiện có
trong PTN. Lúc đó ta phải pha loãng dung dịch. Sự pha loãng thường được biếu thị bằng
tỷ số 1 : 1, nghĩa là cứ 1 thể tích dung dịch ban đầu ta them vào 1 thể tích dung môi.
-7. Pha chất chỉ thị và một số thuốc thử đặc biệt:
a. Dung dịch quỳ:
Quỳ tím là một chất hữu cơ có mầu được lấy từ một số loại rêu biển (địa y). Cũng
giống như một số chất mầu thực vật khác, mầu của nó biến đổi theo môi trường phản

ứng. Khoảng chuyển mầu là từ pH = 5 đến pH = 8, đỏ trong môi trường axit, xanh trong
môi trường kiềm.
Cách pha dung dịch quỳ: Hoà tan 1 gam bột quỳ vào 1 lít dung dịch etylic loãng (1
phần rượu + 4 phần nước). Cũng có thể hoà tan bột quỳ vào ngay nước cất nhưng nó tan
kém hơn và phải lọc kĩ hơn cho khỏi bị cặn.
Cách làm giấy quỳ: Trước hết biến đổi dung dịch đặc quỳ trung tính thành quỳ đỏ hay
quỳ xanh bằng cách them vào đó một lượng nhỏ axit (H2SO4 chẳng hạn) hay kiềm
(NaOH). Đổ dung dịch đó ra chậu thuỷ tinh có thành thấp. Nhúng các băng giấy lọc được
cắt sẵn kéo lướt qua dung dịch. Dùng cặp, kẹp các băng giấy đã nhuộm lên dây thép ở
trong phòng sao cho các băng giấy không chập vào nhau. Khi băng giấy khô, cắt thành
từng đoạn dài 6 – 8 cm. Cần giữ dấy quỳ trong bình thuỷ tinh có nút thật kín.
-Chuẩn bị và cách tiến hành các TNHH

Trong lĩnh vực Hóa Học, từ các thí nghiệm đơn giản trong phòng thí nghiệm cho đến các
đề tài nghiên cứu, đều yêu cầu chuẩn bị các dung dịch cơ bản cần thiết. Mới nghe thì bất
cứ sinh viên Hóa Học nào cũng cho là những việc đơn giản, thậm chí nhắm mắt cũng có
thể làm được, nhưng để chuẩn bị một dung dịch nào đó theo yêu cầu của công việc đòi
hỏi sự tinh khiết và tính chính xác cao thì chúng ta phải tiến hành chuẩn bị chúng rất cẩn
thận. Dưới đây là một vài thuật ngữ thường dùng.
Chất tan: Chất có khả năng hòa tan trong dung dịch.

6


Dung môi: Chất dùng để hòa tan một chất khác thành dung dịch. Đường ăn hòa tan trong
nước thì nước là dung môi dùng để hòa tan đường, còn đường là chất tan.
Dung dịch: Một hỗn hợp của 2 hay nhiều chất tinh khiết. Trong một dung dịch một chất
tinh khiết được hòa tan đồng ly bởi một chất tinh khiết khác. Ví dụ, trong dung dịch nước
đường thì hàm lượng đường được phân bố đồng đều trong dung dịch, và đó là một dung
dịch đồng ly.

Mol: Một đơn vị khối lượng được dùng trong Hóa Học. Thuật ngữ này đề cập đến một số
lượng rất lớn các hạt cơ bản (nguyên tử, phân tử, ion, electron...vv..) của một chất bất kỳ.
Một mol có khoảng 6.02 x 1023 hạt cơ bản của một chất nào đó (số Avogadro).
Dung dịch chuẩn: Nhiều dung dịch được dùng trong lĩnh vực phân tích mà nồng độ của
chúng cần được xác định một cách chính xác (đến các chữ số có nghĩa thích hợp). Chúng
có thể được chuẩn bị bằng cách cân một lượng xác định chất rắn tinh khiết rồi pha thành
dung dịch với thể tích xác định hoặc bằng cách chuẩn độ bằng một dung dịch chuẩn khác
có nồng độ xác định không đổi. Tóm lại dung dịch chuẩn là một dung dịch có nồng độ
xác định và không bị biến tính theo thời gian.
Độ chính xác và các chữ số có nghĩa: Nếu một dung dịch được pha từ 2.5 g chất rắn (+/0.1g) và ta biết rằng con số này có 2 chữ số có nghĩa và nồng độ của nó cũng có thể là số
có hai chữ số có nghĩa chẳng hạn như 1.5 M hay là 0.15 M... Nếu chất rắn được cân là
2.50 g (+/- 0.01g) ta biết rằng nồng độ của dung dịch cũng có thể chứa đến 3 chữ số có
nghĩa chẳng hạn như: 1.50 M hay là 0.150 M. Nếu khối lượng chất tan là 2.500 g (+/0.001g) thì nồng độ của dung dịch có thể có 4 chữ số có nghĩa chẳng hạn 1.500 M hoặc là
0.1500 M.
Tại sao chúng ta lại quan tâm đến các chữ số có nghĩa. Việc xác định các chữ số có nghĩa
giúp bạn xác định độ chính xác của mẫu cân. Trong các lớp học phổ thông thì việc xác
định các chữ số có nghĩa thì không mấy ai để ý nhưng trong các phòng thí nghiệm phân
tích việc xác định mức độ chính xác của mẫu là rất quan trọng. Để cân mẫu chính xác bạn
nên sử dụng các loại cân điện tử phù hợp cho công việc của bạn đòi hỏi. Cân có độ chính
xác càng sao thì giá thành sẽ càng cao. Khi bạn cân với hàm lượng mẫu lớn thì sẽ có ít sai
số hơn. Pha một lượng lớn dung dịch mẫu, cất vào kho rồi dùng từ từ, như vậy sẽ tiết
kiệm được công sức của bạn vừa lại tránh được các sai sót.
xem thêm tại liên kết sau:
-Ở mục dung môi "Chất dùng để hòa tan một chất khác thành dung dịch", em thấy chưa
đầy đủ vì dung môi ở đây có thể là chất lỏng hữu cơ dùng để hòa tan một chất tan hữu cơ
(không tan trong nước), nếu dùng từ dung dịch thì hàm ý chứa nước mà thôi!
-Giấy pH làm từ cây trạng nguyên
01/02/2007
Nhiều loại cây có chứa các sắc tố rất dễ phản ứng trong môi trường acid. Ví dụ như loại
cây trạng nguyên, loại cây mà lá của nó có màu sắc sặc sỡ như một bông hoa. Mặc dù cây

trạng nguyên là loại sống lâu năm ở những vùng có khí hậu ấm, nhưng nhiều người vẫn

7


thích trồng chúng như một loại cây để trang trí vào những ngày mùa đông. Bạn có thể
chiết tách sắc tố màu đỏ đậm của cây trạng nguyên và sử dụng nó để tự làm ra một loại
giấy pH cho riêng mình dùng kiểm tra xem một chất lỏng là acid hay kiềm.
Vật liệu:
-

lá cây trạng nguyên
1 cái cốc hoặc becher
nước nóng hoặc dĩa chịu nhiệt (dùng cho lò vi sóng)
kéo hoặc máy xay
giấy lọc hoặc dụng cụ lọc cà phê
dung dịch HCl 0.1 M
giấm (acid acetic loãng)
dung dịch soda cho một lần sử dụng (2g/200ml nước)
dung dịch NaOH 0.1 M

Quy trình thực hiện:
Cắt cánh hoa thành từng mảnh nhỏ hoặc nghiền bằng máy xay.
1.
Cho những mảnh cánh hoa vào trong cốc hay becher.
2.
Chỉ cho vào trong cốc một lượng nước vừa đủ ngập. Đem đi đun sôi cho đến khi
cánh hoa mất màu. (Cá nhân tôi, tôi đã dùng lò vi sóng đối với các mảnh lá đã cắt nhỏ
ngâm trong một chút nước trong thời gian khoảng 1 phút và khiến cho hỗn hợp ngâm sâu
trong nước, giống như ngâm trà).

3.
Lọc chất lỏng thu được qua một dụng cụ chứa khác, như dĩa petri. Bỏ đi chất
rắn còn lại.
4.
Thấm miếng giấy lọc sạch bằng dung dịch thu được. Sau đó để cho giấy lọc
khô. Bạn có thể cắt miếng giấy này bằng kéo để làm thành những mảnh giấy pH nhỏ.
5.
Sử dụng ống nhỏ giọt hoặc là tăm xỉa răng để cho một ít chất thử lên giấy để
thử giấy. Khoảng thay đổi màu đối với acid hay base sẽ tùy thuộc vào loại cây sử dụng.
Nếu thích, bạn có thể làm một thang màu riêng bằng cách đo màu của các mẫu đã biết
pH, để bạn có thể thử những mẫu chưa biết. Ví dụ như là acid chlohidric (HCl), giấm,
nước chanh đối với acid và dung dịch natri hydroxide (NaOH), dung dịch kali hydroxide
(KOH) hoặc dung dịch soda đối với base.
6. Một cách khác để sử dụng giấy pH là như giấy so màu. Bạn có thể vẽ trên giấy
pH dùng tăm hay miếng vải cotton đã nhúng qua acid hoặc base.
-Bài 1. Halogen
Thí nghiệm 1: Điều chế khí clo
* Thao tác:
+ Cho tinh thể KMnO4 vào bình cầu có nhánh. Lắp bình lên giá đỡ. Chuẩn bị các bình
khô để chứa clo.
+ Lắp phễu nhỏ giọt vào miệng bình, đóng khóa lại, dùng phếu đổ HCl đặc vào phễu nhỏ
giọt.
+ Đầu ra của bình cầu có nhánh cho qua 2 bình lọc, bình 1 đựng dd NaCl bão hoà, bình 2
đựng H2SO4 đặc.
+ Dùng bông có tẩm dd NaOH loãng để bịt miệng bình chứa khí clo khi thu, phải đặt đầu
ống gần sát đáy bình.

8



+ Mở khóa cho HCl nhỏ chậm xuống, các bình khác đã chuẩn bị sẵn sàng để thay thế
bình thứ nhất khi nó đầy (Có mầu vàng nhạt).
* Ý nghĩa:
+ Khí bay ra khỏi bình cầu có nhánh chứa khí HCl, Cl2, hơi H2O. Do đó, bình lọc đựng
dd NaCl bão hòa để hấp thụ khí HCl, khí này làm hạn chế tính tan của NaCl nhưng NaCl
bão hòa lại hạn chế tính tan của Cl2.
+ Khí Cl2 qua bình thứ nhất vẫn còn ẩm, do đó cho qua tiếp bình 2 đựng H2SO4 để thu
Cl2 khô và sạch.
+ Thu khí Cl2 bằng cách đẩy không khí nên phải cho ống dẫn khí gần sát đáy bình thu
khí. Phải dùng bông tẩm dd NaOH loãng để tránh Cl2 bay ra ngoài.
* Chú ý:
+ Có thể thay KMnO4 bằng KClO3, K2Cr2O7 nhưng nếu dùng MnO2 thì phải đung
nóng.
+ Phải làm trong tủ hốt hay nơi thoáng gió.
+ Tránh để tinh thể KMnO4 rơi vào nhánh bình cầu.
+ Các bình lọc không được lắp ngược lại, có thể bỏ đi nếu không cần Cl2 phải rất khô và
sạch.
+ Không được tẩm quá nhiều dd NaOH vào bông lọc để còn chỗ cho không khí thoát ra,
cũng không được tẩm quá ít nếu không sẽ có nhiều Cl2 thoát ra không khí.
+ Khi bình gần đầy Cl2 phải đóng khóa HCl, các thao tác thay bình mới phải nhanh, hạn
chế tối đa Cl2 thoát ra ngoài không khí.
Tùy điều kiện cơ sở vật chất từng trường mà sẽ có thay đổi, các vấn đề về an toàn và các
thao tác với hóa chất không trình bầy ở đây.
-Thí nghiệm 2: Clo tác dụng với Na
* Thao tác:
+ Dùng kẹp gắp mẩu Na trong bình ra, lau khô bằng giấy lọc.
+ Dùng dao gạt bỏ phần ngoài, cắt lát mỏng phần trong, lại cắt nhỏ lát ra bằng hạt thóc
một.
+ Xuyên muôi sắt qua một tấm bìa. Gắp mẩu Na lên muôi sắt.
+ Đốt nóng chẩy Na trên ngọn lửa đèn cồn, đưa nhanh vào bình chứa khí clo sao cho mẩu

Na cách đáy bình 1/3 chiều cao bình, tấm bìa vừa bịt kín miệng bình.
* Ý nghĩa:
+ Gạt bỏ phần ngoài cục Na để loại bỏ Na đã bị oxi hoá.
+ Tấm bìa để bảo vệ tránh NaCl nóng bắn ra ngoài.
* Chú ý:
+ Phải lau sạch cục Na trước khi cắt, không sờ tay vào cục Na.
+ Không lấy quá nhiều Na.
+ Bỏ ngay Na thừa trở lại bình đựng.
+ Không đun quá lâu viên Na trên ngọn lửa đèn cồn, khi thấy nó chẩy thành giọt sáng
như Hg là được.
+ Khoảng cách từ tấm bìa đến muôi Na phải được ướm trước theo chiều cao bình Cl2.
+ Không vứt Na thừa vào chậu nước hay chỗ ướt.
+ Làm xong không rửa bình bằng nước ngay mà phải cho vài giót dd NH3 vào lắc sau đó
mới rửa bằng H2O để tránh Cl2 dư bay ra.

9


* Hiện tượng lạ có thể xẩy ra:
+ Ngoài khói mầu trắng của NaCl có thể thấy khói mầu đen, nguyên nhân là do ta lau Na
không sạch, vẫn còn dính dầu bảo quản Na (Ankan) và Cl2 sẽ thế H trong dầu mãnh liệt
tạo khói đen là các hạt nhỏ C.
+ Có thể xuất hiện khói mầu nâu, đó chính là do cái muôi Fe đã bị clo oxi hóa tạo FeCl3
mầu nâu.
-Thí nghiệm 2: (Tiếp) Clo tác dụng với Cu:
* Thao tác:
+ Quấn vài sợi dây đồng thành hình cái lò xo, một đầu duỗi thẳng để kẹp.
+ Cho ít nước vào bình khí clo, đậy nhanh nắp lại.
+ Kẹp một đầu sợi dây đồng, đốt nóng đỏ phần lò xo trên ngọn lửa đèn cồn.
+ Đưa nhanh vào bình chứa khí clo.

+ Phản ứng xẩy ra xong đậy nắp bình, lắc đều.
* Ý nghĩa:
+ Nước có tác dụng bảo vệ bình và chứng minh đã TN đã sinh ra CuCl2 do tạo dung dịch
có mầu xanh nhạt.
* Chú ý:
+ Đưa dây đồng nóng đỏ vào bình clo và kênh nút phải nhanh.
+ Không cho nước vào bình khí clo quá sớm.
+ Không để sợi dây đồng nóng đỏ chạm thành bình.
* Hiện tượng:
+ Có thể có khói đen do dây đồng dùng dẫn điện có phủ lớp sơn cách điện mà ta chưa cạo
sạch.
+ Có khói nâu và khói trắng, đó là do Cu bị oxi hóa thành CuCl và CuCl2, sau khi lắc
bình sẽ thấy CuCl lởn vởn trong dung dịch.
-Thí nghiệm 3: Tính tẩy mầu của khí clo ẩm
* Thao tác:
+ Lấy hai bình khí clo ẩm, cho H2SO4 đặc vào một bình.
+ Kẹp 1 mẩu giấy mầu sát thành bình, lấy nắp giữ không cho giấy lọc rơi xuống đáy bình.
* Ý nghĩa:
+ Phải dùng 2 bình để tiện so sánh, bình cho H2SO4 đặc sẽ làm cho clo khô đi.
+ Để một lúc mới quan sát hiện tượng.
* Chú ý:
+ Cả hai giấy mầu phải khô.
* Hiện tượng:
+ Giấy mầu ở bình clo ẩm bị mất mầu, giấy mầu ở bình clo ẩm cho thêm H2SO4 đặc
không mất mầu.
Thí nghiệm 4: So sánh tính oxi hóa của Cl2, Br2, I2
* Thao tác:
+ Lấy hai ống nghiệm cho vào mỗi ống vài ml KBr và KI.
+ Cho thêm vài ml C6H6 vào mỗi ống nghiệm, lắc đều.
+ Cho vào mỗi ống vài ml nước clo, lắc đều, để lắng.

+ Cho thêm dd hồ tinh bột vào ống TN có KI.

10


* Ý nghĩa:
+ Lắc đều với C6H6 để chứng minh rằng KBr, KI không tan trong benzen, benzen vẫn
trong suốt.
+ Phải dùng benzen để chiết Br2 và I2 vừa sinh ra, vì các dung dịch Br2 và I2 trong nước
có mầu khó phân biệt so với nước clo nên khó quan sát TN.
+ Cho thêm dd tinh bột vào ống TN của KI để kiểm chứng đã sinh ra I2
* Chú ý:
+ Tuy KBr và KI không tan trong benzen nhưng vẫn không quan sát thấy sự phân lớp khi
lắc với benzen.
+ Sau khi cho nước clo phải để lắng để Br2 và I2 tan vào benzen và nổi lên tạo dd Br2
trong benzen mầu đỏ nâu, I2 trong benzen mầu tím hồng.
-Thí nghiệm 5: Nhận biết các ion Cl-, Br-, IThí nghiệm 6: Br2 tác dụng với Al
* Thao tác:
+ Lấy ông nghiệm khô có nút cao su kẹp lên giá.
+ Xuyên ống thủy tinh qua nút.
+ Lấy một ống cao su càng dài càng tốt, một đầu nối với ống thủy tinh, một đầu nỗi với
phễu úp ngược trong một cốc nước.
+ Phía dưới ống nghiệm đặt một chậu cát.
+ Cho Br2 khan lỏng vào ống nghiệm, đồng thời cạo sạch một lá Al mỏng.
+ Mở nhanh nút, cho miểng Al vào, đậy nhanh và ra xa quan sát.
* Ý nghĩa:
+ Phải dùng chậu cát để đề phòng ống nghiệm bị vỡ, khi đó Br2 sẽ rơi xuống chậu cát và
ta chỉ cần rắc vôi bột lên là xong.
+ Phải dùng dây cao xu nối ống nghiệm với phếu úp ngược để khi phản ứng xẩy ra, khí
Br2 không bay ra ngoài và khi phản ứng kết thúc, nhiệt độ trong ống giảm, nước sẽ

không theo dây hút vào trong bình.
+ Cạo sạch Al để loại bỏ lớp oxit
* Chú ý:
+ Phải dùng Br2 khan và Al sạch.
+ Phản ứng tỏa nhiều nhiệt nên phải cẩn thận.
+ Tránh Br2 lỏng dây ra tay sẽ tạo vết bỏng rất khó lành.(Nguy hiểm hơn H2SO4 đặc)
-Bắp cải đỏ chứa một loại nguyên tử sắc tố gọi là flavin (1 loại anthocyanin). Chất sắc tố
dễ tan trong nước trên cũng có thể tìm thấy ở vỏ táo, quả mận, hoa bắp và nho. Dung dịch
acid sẽ làm anthocyanin chuyển sang màu đỏ. Đối với dung dịch trung hòa thì chuyển
sang màu tim tím. Với dung dịch bazơ sẽ thấy màu xanh lá cây nhạt – vàng. Do đó, có
thể xác định pH của dung dịch dựa vào màu sắc thay đổi của sắc tố anthocyanin trong
dung dịch bắp cải đỏ.
Màu của dung dịch bắp cải thay đổi do sự thay đổi nồng độ ion hydrô. Sau đây là bảng
phân loại màu sắc của chỉ thị dung dịch bắp cải đỏ ở các pH khác nhau. Nếu muốn, bạn
cũng có thể làm riêng 1 bảng khác, sử dụng các chất hóa học với pH đã biết trước.

11


Bảng pH với chất chỉ thị là dung dịch bắp cải đỏ
pH

Màu

2...............................Đỏ
4...............................Đỏ tía
6...............................Tím
8...............................Xanh dương
10..............................Xanh dương lục
12..............................Hơi lục vàng

Nguyên vật liệu:
_ bắp cải đỏ
_ máy xay hoặc dao
_ nước sôi
_ giấy lọc
_ 1 cốc becher lớn hoặc dụng cụ thủy tinh
_ 6 becher 250 ml hoặc các ly thủy tinh nhỏ
_ ammonia (NH3)
_ sodium bicarbonate, NaHCO3
_ sodium carbonate, Na2CO3
_ nước chanh (acid citric, C6H8O7)
_ giấm (acid acetic, CH3COOH)
_ bột cao (Potassium bitartrate, KHC4H4O6)
_ chất chống acid (calcium carbonate, calcium hydroxide, magnesium hydroxide)
_ nước khoáng seltzer (acid carbonic, H2CO3)
_ acid muriatic hay nước rửa dùng trong công trình xây dựng (acid hydrochloric, HCl)
_ kiềm (potassium hydroxide, KOH hoặc sodium hydroxide, NaOH)
Quy trình thí nghiệm:
1. Cắt nhỏ bắp cải đỏ cho đến khi bạn có đầy 2 tách bắp cải. Cho bắp cải vào becher lớn
hay ly thủy tinh và đổ đầy nước sôi vào. Đợi 10 phút để các sắc tố trong bắp cải hòa tan
vào nước. (Hoặc bạn có thể cho bắp cải vào máy xay cùng với nước nóng.)

12


2. Lọc dung dịch và loại bỏ phần xác thực vật sẽ thu được dung dịch màu xanh dương
nhạt - đỏ - tím có pH khoảng 7. (Màu sắc thật của dung dịch bạn thu được còn tùy thuộc
vào nồng độ pH của nước)
3. Cho khoảng 50 – 100 ml dung dịch bắp cải đỏ vào mỗi cốc becher 250 ml.
4. Cho vào mỗi becher một loại dung dịch (thường dùng trong nhà) khác nhau cho đến

khi màu của chỉ thị thay đổi, nên sử dụng cốc becher khác để chứa đựng mỗi loại dung
dịch.
* Lưu ý:
1. Đây là thí nghiệm acid – bazơ, lưu ý nên dùng kính bảo hộ và găng tay, nhất là khi
dùng acid mạnh (HCl) và bazơ mạnh (NaOH hay KOH).
2. Các loại hóa chất dùng cho thí nghiệm này phải an toàn sau khi rửa bằng nước thường.
3. Để làm cho chỉ thị bắp cải đỏ đạt đến nồng độ pH trung hòa, đầu tiên cho dung dịch
acid như giấm hoặc nước chanh vào cho đến màu đo đỏ, sau đó cho sôđa NaHCO3 hoặc
chất chống acid để điều chỉnh pH đến 7.
4. Bạn có thể làm giấy chỉ thị pH bằng dung dịch chỉ thị bắp cải đỏ. Lấy giấy lọc ngâm
vào dung dịch bắp cải đỏ đậm đặc. Sau vài giờ, lấy giấy ra, để khô (treo bằng kẹp áo hay
sợi dây). Cắt nhỏ mảnh giấy này ra, và dùng làm giấy thử nồng độ pH cho các dung dịch
khác.
--

13



×