Tải bản đầy đủ (.doc) (6 trang)

TLV so 7 (tự làm) lớp 9

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (145.74 KB, 6 trang )

Ánh trăng của Nguyễn Duy
Nếu như ta bắt gặp tuổi thơ ngây ngô, đáng yêu của Trần Đăng Khoa qua ánh trăng
“tròn như quả chin” “lửng lơ treo trước nhà” tinh yêu thiên nhiên, yêu vầng trăng của
Bác Hồ, rồi lại thấm thía tình đồng đội ở chiến khu gian khổ qua hình ảnh tuyệt đẹp
“trăng treo” trên ‘đầu súng” của Chính Hữu:
“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”
Nhưng khi đến với “Ánh trăng” của Nguyễn Duy ta lại bắt gặp một câu chuyện hoàn
toàn mới, đó là tình bạn thủy chung, chân thành của vầng trăng. Ánh trăng như một
gợi nhớ vẻ dẹp lúc ban đầu mà đôi khi chúng ta để mất. Ta được hiểu rõ hơn ý nghĩa
sâu sắc của bài thơ và những nỗi niềm thầm kín của tác giả qua khổ thơ cuối:
Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.

Vừa mới đọc ta đã thấy thật lạ: chữ đầu của dòng thơ không đươc viết hoa? Trong
các bài thơ khác, mỗi chữ đàu dòng đươc viết hoa để tạo nên hiệu quả nghệ
thuật, thế nhưng nhà thơ muốn đưa những cảm xúc dạt dào của mình trôi theo
tg, kỉ niệm. Mạch hồi ức trong thơ gắn liền với hình ảnh người bạn dịu dàng, trong
sáng thân thiết với nhà thơ suốt thời thơ ấu, thời trai trẻ kháng chiến nhưng rồi lại bị
lãng quên khi sống nơi đô thị phồn hoa, để rồi một đêm tắt điện, người bạn năm ưa
quay về
Khổ thơ cuối của bài thơ mang ý nghĩa độc đáo, đưa ta đến chiều sâu suy ngẫm.
Trăng tròn vành vạnh, tròn một cách tự nhiên, trong sáng. Dù lòng người có đổi thay,
dù con người có già đi nhưng tình cảm của vầng trăng là vĩnh hằng, là bất tử. Ngòi bút
của Nguyễn Duy thật tài hoa đem những tư tưởng thật thầm nhuầm chất nhân văn. Trăng
không trách” người vô tình “ mà mãi mãi chung thủy , không bao giờ đổi thay. Qua đó tác
giả muốn xây dưng một hình tượng người bạn than từ thuở nhỏ với một nhân cách cao đẹp
“Thà người phụ ta chứ ta không phụ người”



Bằng phép nhân hóa tài tình, khéo léo tác giả đã tạo nên một cuộc gặp mặt không lời
giữa trăng và người đã tạo nên một điểm nhấn rất riêng của Nguyễn Duy. Trăng xuất
hiện không một lời oán hờn trách cứ, nhưng đôi khi , im lặng lại là sự trừng phạt nghiêm khắc
nhất .Không gian như chững lại, lặng yên trong cuộc gặp mặt của hai người tri kỉ .Giây phút
ấy tác giả nhận ra trăng chính là người bạn ,là nhân chứng đã chứng kiến trọn vẹn quá khứ
nghĩa tình giờ lặng yên như nghiêm khắc nhắc nhở ta :con người có thể vô tình, có thể lãng
quên ,nhưng thiên nhiên và nghiã tình quá khứ thì luôn luôn tròn đầy,luôn luôn bất diệt .Điều
đó đã tạo nên cái “giật mình ” đầy ý nghĩa của tác giả: giật mình để nhớ lại, để tự hỏi lương
tâm ,để nhận ra và hoàn thiện chính mình…Giọng điệu tâm tình ,nhịp thơ lúc trầm lắng suy
tư, lúc lại nhịp nhàng,ngân nga, tha thiết đã góp phần làm nổi bật chủ đề ,tạo nên sự chân
thành và sức truyền cảm sâu sắc của bài thơ. Có lẽ vì thế mà khiến ta phải tự hỏi: Ta cũng đã
từng quên quá khứ nghĩa tình, quên những thành quả tốt đẹp mà ta nhận từ cha mẹ, thầy cô,


từ quê hương, dân tộc,…? Ta vì sung sướng, hạnh phúc quá đã có lúc quên mất nghĩa vụ
của mình với họ, với đất nước này. Nhưng rồi sự khoan dung và độ lượng của quê hương sẽ tha
thứ tất cả nếu ta biết quay đầu suy ngẫm, sống trách nhiệm với quá khứ. “Ánh trăng” của
Nguyễn Duy sẽ mãi mãi soi sáng để đưa ta hướng tới tương lai tươi đẹp. Đạo lí sống “Uống nước
nhớ nguồn” hiện lên một cách nhẹ nhàng, sâu lắng trong lòng người đọc.
Thành công của Nguyễn Duy chính là đã mượn cái “giật mình” của nhân vật trữ tình trong bài thơ để
qua đó rung lên một hồi chuông cảnh tỉnh, nhắc nhở mọi người đừng sống hời hợt trong quên lãng. Hãy
biết trân trọng cuộc sống và rồi ta sẽ được đón nhận hạnh phúc ở tương lai.

Viếng lăng Bác
“Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác nỗi mong cha”
Phải, Bác và nhân dân miền Nam luôn có một tình cảm gắn bó thiêng
liêng như cha con, như một gia đình. Vì vậy sự ra đi của Người bao
niềm nuối tiếc trong lòng mỗi người dân Nam Bộ. Và rồi Viễn

Phương- một người con miền Nam một lần vinh dự vào
viếng Lăng bác vừa khánh thành sau khi cuộc kháng chiến chống
Mỹ kết thúc thắng lợi, lòng thương nhớ dồn nén sau ba năm
mong mỏi đươc tuôn trào trong bài thơ vô cùng xuc động
“Viếng lăng Bác”. Bài thơ cũng là tiếng nói chung của
hàng triệu trái tim Việt Nam.
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”
Ngay từ câu thơ đầu, ta đã thấy thật lạ: Tên bài thơ tác giả dùng từ
“viếng” sao ở câu thơ đầu lại dung từ “thăm” ? Thế rồi ta nhận ra ẩn ý
khéo léo của tác giả. “Viếng” “viếng” đã thay bằng từ “thăm” để
giảm nhẹ nỗi đau cũng như bày tỏ niềm tin rằng Bác vẫn sống,
một sức sống mãnh liệt tronglòng dân tộc. Hai tiếng con - Bác nhẹ nhàng
vang lên xoá nhoà khoảng cách giữa lãnh tụ vĩ đại với một người dân lao
động. Nó như mối quan hệ máu thịt giữa cha và con, đặc biệt đứa con
miền Nam xa xôi được trở về bên người cha yêu dấu sau bao năm tháng
cách xa.
Thế rồi, trong sương mù của buổi sáng Hà Nội, ta chợt tìm thấy một
“hàng tre”. Từ “Ôi” thốt lên một cách bất ngờ, tác giả đã đưa ta đến với
Bác, đến với hàng tre rất riêng của làng quê Việt Nam qua những lời ru


cổ tích của bà, của mẹ. Đến với Bác là đến với dân tộc mình, thế mới đẹp
và thân thương làm sao! Màu xanh của tre chính là màu xanh của sức
sống VN, hạnh phúc và hoà bình. Tre đoàn kết, giản dị, cần cù. Tre
đã vất vả, chịu nhiều nắng mưa nhưng vẫn hiên ngang đứng giữa
trời xanh, như dân tộc ta không bao giờ khuất phục bọn giặc cướp
nước, kiên cường, bền bỉ:

"Bão bùng thân bọc lấy thân
Tay ôm tay níu tre gần nhau thêm
Thương nhau tre chẳng ở riêng
Lũy thành từ đó mà nên hỡi người"
Thế rồi nhà thơ không khỏi bùi ngùi xúc động khi bước vào lăng:
“ Ngày ngày…. Đỏ”
Hai câu thơ độc đáo kết hợp hài hòa giữa hình ảnh thực và hình
ảnh ẩn dụ. Cũng là “mặt trời” nhưng ở câu thơ thứ nhất là mặt trời của
thiên nhiên vũ trụ, ngày ngày ban ánh sáng cho muôn loài. thế nhưng ta
hiểu sâu sắc thêm về “mặt trời” của nhận dân VN. Bác chính là mặt trời
soi rọi con đừơng cách mạng lí tưởng giúp dân tộc ta thoát khỏi kiếp đời
nô lệ, là sức mạnh giúp nhân dân ta đi đến thắng lợi. Công lao của Bác
đối với dân tộc ta to lớn không kể xiết. Mặt trời Bác Hồ của dân
tộc “rất đỏ”, mãi mãi là nguồn sưởi ấm, là nguồn sáng để ta noi
theo. Hôm nay có hai mặt trời chiếu rọi trên đường đời: một mặt
trời tỏa sáng trên đầu, một mặt trời tỏa sáng tâm hồn.
Bằng điệp từ “ngày ngày”, hình ảnh mặt trời và dòng người vào
thăm lăng Bác chứng tỏ thời gian không ngừng trôi và lòng
người Việt Nam không bao giờ nguôi tình cảm nhớ thương,
yêu quí, kính trọng đối với Bác:
“Ngày ngày. Dòng…MX”
Tràng hoa đây là một hình ảnh ẩn dụ rất sáng tạo. Đó chính là
những đoá hoa thật sự của đàn con mà Bác đã cố công tạo nên
suốt bảy mươi chín mùa xuân Bác sống trên đời. Những bông hoa
trong vườn Bác nay đã lớn lên, nở rộ ngát hương kính dâng lên
Bác.
Thế nhưng nhà thơ vẫn nhẹ nhàng cố giấu đi bao đau xót:
“Bác nằm trong giấc ngủ…. dịu hiền”



Khung cảnh bên trong lăng thật êm dịu, thanh bình. Bác nằm đó
trong giấc ngủ vĩnh hằng, thiêng liêng. Bác chỉ nằm ngủ thôi, chỉ
ngủ thôi mà! Suốt bảy mươi chín năm cống hiến cho đất nước,
bây giờ đất nước đã bình yên, Bác phải được nghỉ ngơi chứ! Nhờ
hình ảnh ẩn dụ, ta thấy đc con người và tình yêu thương của Bác,
cũng ấm áp như mặt trời, cũng dịu hiền như ánh trăng. Lúc sinh thời
Bác luôn xem trăng là người bạn tri kỉ, vui buồn có nhau và Người đã sáng tác rất nhiều bài thơ về
trăng, ngay cả khi đang ở lao tù, đang “bàn việc quân”. Một

từ “nhói” của nhà thơ nói
hộ muôn triệu trái tim con người nỗi xót xa, nuối tiếc:
“Vân…nhói trong tim”
Lại them một hình ảnh ẩn dụ độc đáo. Bác vĩ đại như trời xanh
bao la, như mặt trời, như vầng trăng, tình thương của bác với quê
hương cũng mênh mông vô bờ bến: “Người la Cha, là Bác, là Anh.
Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”. Cũng như Viễn Phương, Tố
Hữu cũng không kiềm được cảm xúc khi chấp nhận rằng Bác ra đi
thật rồi:
“Thôi đập rồi chăng một trái tim?
Đỏ như sao hỏa sang sao Kim
Muốn òa khóc nức bên em nhỏ
Nước măt sao đành nuốt lặng im” (Theo chân Bác)
Với Tố Hữu, Bác dươc ví như sao Hỏa, sao Kim trong vũ trụ xa xôi
mà ta khó thấy, cho thấy Bác đã đi xa, về nơi an nghỉ. Còn ở Viễn
Phương, ta bắt gặp hình ảnh “mặt trời”, “mặt trăng” và “bầu trời”
cao hiện diện trên trái đất này cho thấy Bác vừa vĩ đại vừa thân
thương, giản dị, hiền hòa. Bác vẫn ở mãi bên chúng ta. Ba biểu
tượng đan xen nhau tạo nên nét hấp dẫn cho bài thơ,kết hợp khéo
léo giữa tình thương, lối sống và sức sống của vị Cha già kính yêu
sẽ mãi trường tồn trong tâm hồn dân tộc. Có lẽ, trên thế giới, chỉ có

lãnh tụ Hồ Chí Minh của Việt Nam mới có nét thân yêu với nhân dân đến
vậy.
Thành công nổi bật của bài thơ là ở khổ cuối, đã đến lúc nhà thơ
phải ra về như một lời từ biệt đầy xúc động:
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt”


Một tiếng “thương của miền Nam” lại vang lên trong giây phút chia
ly kề cận. “Thương” ấy là yêu, là biết ơn, là kính trọng Người Cha.
Trong suốt những năm đất nước bị chia cắt, nhân dân miền Nam
quyết tâm chiến đấu, ai cũng mong có lúc:
"Miền Nam chiến thắng mơ ngày hội
Đón Bác vào thăm thấy Bác cười"
Nhưng, niềm mong ước ấy không bao giờ thành hiện thực. Đó là
tiếng thương của nỗi đau xót khi mất Bác. Thương Bác lắm, nước
mắt trào ra, thật đúng tâm tình chân thành người miền Nam.
“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”
Cùng với nỗi niềm yêu thương vô hạn, tác giả nói lên muôn vàn lời
ước nguyện dâng hiến. Điệp ngữ “muốn làm” khẳng định mạnh
mẽ tấm lòng nhà thơ. Ước chi ta có thể biến hình thành những gì
thân yêu quanh nơi Bác ngủ. Một con chim nhỏ góp tiếng hót làm
vui, một đóa hoa tỏa hương thơm ngát hay một cây tre trong
nhập vào hàng tre bảo vệ bên lăng Bác, tất cả đều làm Bác vui và
ngủ an giấc hơn. Hình ảnh cây tre lại xuất hiện khép bài thơ lại.
Nếu ở khổ thơ thứ nhất, tre là biểu tượng cho phẩm chất kiên
cường, bất khuất; thì ở khổ thơ cuối, hình ảnh cây tre laị tượng
trưng cho phẩm chất trung hiếu. Cây tre đã trở thành biểu tượng
toàn vẹn phẩm chất của con người và dân tộc Việt Nam. Tuy nhỏ

bé hơn ước vọng của Thanh Hải muốn làm “mùa xuân nho nh ỏ”
góp vào mùa xuân chung của đất nước nhưng đây cũng chính là
nguyện ước của hàng triệu con tim người Việt sau một lần ra thăm
lăng Bác.
Bài thơ Viếng lăng Bác thật giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, mấy ai
đọc bài thơ mà không thấy rung động. Bài thơ sẽ tiếp tục sống
trong lòng người đọc, gợi nhắc cho những thế hệ kế tục thành quả
rực rỡ của cách mạng phải sống sao cho xứng đáng với sự hi sinh
của Chủ tịch Hồ Chí Minh- người đã sống trọn một đời vì dân tộc
vì quê hương .
“Bác ơi tim Bác mênh mông thế


Ôm cả non sông mọi kiếp người”

.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×