VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY ĐỂ
XÂY DỰNG
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HOA-HIỆN ĐẠI HOÁ
Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử vô cùng trọng đại, xóa bỏ xã hội cũ, lạc
hậu, xây dựng xã hội mới tiến bộ, giải phóng giai cấp mình đồng thời giải phóng
toàn nhân loại trên phạm vi toàn thế giới. Ngày nay đứng trước tình hình phát
triển mới của đất nước và thế giới, nhân loại bước vào thiên niên kỷ mới, nhiều ý
kiến đặt ra cho việc xây dựng và phát triển giai cấp công nhân. Đảng ta khẳng
định giai cấp công nhân Việt Nam vẫn là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công
nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) đất nước. Trong bài viết này, chúng tôi
xin đề cập tới việc nhận thức vai trò của giai cấp công nhân trong điều kiện ngày
nay để xây dựng và phát triển giai cấp công nhân đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH
đất nước.
1. Trong thời đại ngày nay, giai cấp công nhân vẫn là lực lượng đi đầu trong
quá trình xây dựng và bảo vệ chế độ mói, trong sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước.
Do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nên cơ cấu
kinh tế, cơ cấu xã hội đã có những biến đổi mới làm cho “giai cấp công nhân
hiện đại” khác với “giai cấp công nhân cổ điển” ở thời kỳ thế kỷ XIX, thời kỳ
Mác còn sống, trên một số điểm như là : Tỉ lệ số người làm dịch vụ so với số
người sản xuất trực tiếp tăng lên; trình độ văn hóa chung và tay nghề chuyên
môn cao hơn; mức thu nhập khá hơn trước, làm cho một bộ phận người lao động
trở thành “trung lưu hóa”. Một bộ phận trong giai cấp công nhân đã mua cổ phần
và được chia lợi nhuận với giai cấp tư sản. Tầng lớp quản lý ngày càng có vai trò
quan trọng và kiêm nhiều chức năng phụ của giới chủ. Những biểu hiện trên đây
chứng tỏ giai cấp công nhân ngày càng phát triển, chứ không phải "teo đi" như
một số người quan niệm.
Ở thế kỷ XIX giai cấp công nhân chủ yếu là lao động chân tay, điều kiện sản xuất
lúc đó còn hạn chế. Ngày nay trong điều kiện mới, khi lực lượng sản xuất đang
trên đà phát triển mạnh, giai cấp công nhân không chỉ bao gồm những người lao
động chân tay mà còn cả lao động trí óc thông qua các máy điện toán với những
thành tựu của tin học. Giai cấp công nhân có sự phát triển về chất lượng để đảm
đương được nhiệm vụ của mình trong điều kiện mới, hay nói cách khác “công
nhân hóa trí thức” và “trí thức hóa công nhân” là xu thế tất yếu của nền đại công
nghiệp, của quá trình tự động hóa, tin học hóa. Giai cấp công nhân đang lớn lên
với đội ngũ trí thức của mình và giai cấp công nhân luôn luôn là người trực tiếp
sản xuất, tham gia vào quá trình tạo ra những giá trị vật chất, những của cải to
lón cho xã hội.
Giai cấp công nhân bao gồm những người lao động trong lĩnh vực công nghiệp,
dịch vụ công nghiệp; những nhà nghiên cứu, sáng chế, áp dụng những thành tựu
của khoa học công nghệ phục vụ cho sản xuất; những kỹ sư, kỹ thuật viên, cán
bộ kỹ thuật thực hiện chức năng của công nhân lành nghề trong sản xuất và tái
sản xuất của cải vật chất. Giai cấp công nhân có mặt trong các ngành kinh tế:
Công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, trong đó
công nhân công xưởng, nhà máy sản xuất công nghiệp hiện đại, tiên tiến là bộ
phận nòng cốt, tiêu biểu cùng với quá trình phát triển của giai cấp công nhân, bộ
phận trí thức gắn trực tiếp với lao động công nghiệp, với quy trình sản xuất công
nghiệp tạo ra của cải vật chất cho xã hội cũng nằm trong nội dung khái niệm giai
cấp công nhân.
Trong điều kiện ngày nay, cơ cấu của giai cấp công nhân hiện đại rất đa dạng, có
nhiều trình độ khác nhau và không ngừng biến đổi theo hướng không thuần nhất:
Công nhân kỹ thuật ngày càng tăng công nhân ngày càng được nâng cao về trình
độ, đóng vai trò chính trong quá trình phát triển, công'nhân truyền thống giảm
dần. ở các nước tư bản phát triển “công nhân áo xanh” chỉ chiếm 12 - 15% tổng
số công nhân (l). ở Italia công nhân kỹ thuật cao “công nhân áo trắng” chiếm
53% tổng số công nhân. ở Nhật 90% công nhân có trình độ đại học. ở Tây Ban
Nha công nhân kỹ thuật chiếm 53%. Công nhân làm việc trong các ngành dịch
vụ tăng lên xấp xỉ 50% tổng số công nhân (2). Mặc dù một số ít trong giai cấp
công nhân có cổ phần trong các xí nghiệp của tư bản, nhưng về cơ bản giai cấp
công nhân vẫn bị bóc lột, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, sự phân biệt giàu
nghèo và tình trạng bất công xã hội vẫn tăng lên, bản chất bóc lột giá trị thặng dư
vẫn tồn tại, dù được biểu hiện dưới hình thức tinh vi hơn. Cả sự bần cùng hóa
tuyệt đối lẫn bần cùng hóa tương đối của giai cấp công nhân vẫn đang tồn tại.
Tuy đại bộ phận tầng lớp trí thức và lao động có kỹ năng đang có việc làm được
cải thiện mức sống và gia nhập vào tầng lớp trung lưu, nhưng vẫn không xóa
được sự phân hóa giàu nghèo. Chính những nhà xã hội học tư sản tiến bộ đã
chứng minh ở các nước tư bản hiện nay sự bóc lột còn cao hơn và với cơ chế
càng tinh vi hơn thời Mác. Tỉ lệ m/v thời Mác là 1/1 thì thời nay là 3/1.
Như vậy dù mức sống có cao hơn trước, dù công nhân có được tham gia quản lý
thông qua đại biểu trong hội đồng xí nghiệp theo “chế độ tham dự” và “chế độ ủy
nhiệm”' nhưng họ vẫn là người làm thuê bán sức lao động, ý chí của chủ nghĩa tư
bản vẫn là quyền lực chi phối, tầng lớp “nhà quản lý” vẫn chỉ là kẻ phụ thuộc vào
giới chủ. Giai cấp công nhân vẫn luôn là lực lượng sản xuất cơ bản và trực tiếp,
vẫn là giai cấp tiên phong trong xã hội. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
không thể chuyển vào tay một giai cấp hay tầng lớp xã hội nào khác: Những chỉ
dẫn cơ bản về đặc trưng bản chất của giai cấp công nhân của Mác - ăng Ghen Lênin đưa ra vẫn là cơ sở phương pháp luận để xem xét, phân tích giai cấp công
nhân hiện đại trong các quốc gia tư bản chủ nghĩa phát triển hay trong những
nước đang tiếp tục con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, các nước thế giới thứ
ba và toàn thế giới nói chung, trước đây cũng như hiện nay.
Giai cấp công nhân là giai cấp của những người lao động ra của cải vật chất trong
lĩnh vực công nghiệp với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại. Sản
phẩm thặng dư do họ làm ra là nguồn gốc chủ yếu cho sự giàu có và sự phát triển
của xã hội.
Giai cấp công nhân vừa là người lãnh đạo, đồng thời cùng với nông dân, trí thức
và các giai cấp, tầng lớp lao động khác họp thành lực lượng tổng hợp của quá
trình thực hiện sứ mệnh lịch sử đó.
Giai cấp công nhân Việt Nam đã và đang là lực lượng xã hội đi đầu trong công
cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong điều kiện hiện
nay chúng ta phải xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam tiên tiến, hiện đại, đáp
ứng yêu cầu CNH, HĐH, mở cửa, hội nhập với bên ngoài nhằm phát huy tốt nhất
bản chất và những đặc điểm của giai cấp công nhân.
2. Những đặc điểm chi phối quá trình xây dựng giai cấp công nhân Việt
Nam trong quá trình CNH, HĐH gắn với quá trình mở của hội nhập với thế
giới.
Một là: Chúng ta đang chuẩn bị bước vào thiên niên kỷ mới. Thế giới có nhiều
chuyển biến. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển rất mạnh mẽ làm
cho lực lượng sản xuất thế giới phát triển nhanh chóng càng tăng nhanh xu
hướng quốc tế hóa, khu vực hóa và càng làm cho xu thế phụ thuộc lẫn nhau trong
cộng đồng quốc tế về kinh tế, chính trị ngày càng rõ. Biểu hiện mới nhất là cuộc
khủng hoảng tài chính ở Đông á, Đông Nam á năm 1997 đã tác động đến kinh tế,
chính trị ở nhiều khu vực trên tất cả các châu lục. Điều đáng chú ý là sự phụ
thuộc lẫn nhau về kinh tế bị chi phối bỏi các tổ chức, tập đoàn kinh tế khổng lồ
của các nước tư bản phát triển. Các công ty xuyên quốc gia đang trở thành hình
thức chủ yếu của sự quốc tế hóa tư bản độc quyền. Do thực lực mạnh mẽ của
chúng, các công ty xuyên quốc gia đang thao túng nền kinh tế và chính trị của
các nước sở tại, từ đó tăng cường thế lực của các trùm tài chính trên lĩnh vực
kinh tế và chính trị quốc tế. Các công ty xuyên quốc gia có đặc điểm mới mà các
tổ chức độc quyền khác không có. Họ có chiến lược toàn cầu của mình, lấy thị
trường thế giới làm mục tiêu cạnh tranh, lấy nhân dân toàn thế giới làm đối tượng
bóc lột. Hệ thống các công ty con rải khắp thế giới đảm bảo cho việc kinh doanh
và thực hiện mục tiêu lâu dài của các công ty xuyên quốc gia. Hiện nay, trong
nền kinh tế thế giới có khoảng 3700 công ty xuyên quốc gia thực thụ kiểm soát
80% hoạt động nghiên cứu và triển khai, 60% mậu dịch quốc tế, 40% sản lượng
công nghiệp, 90% đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.
Với tiềm lực kinh tế to lớn, với hệ thống chi nhánh trải rộng khắp thế giới, các
công ty xuyên quốc gia vừa là sản phẩm của quá trình quốc tế hóa sản xuất và tư
bản lại vừa thúc đẩy mạnh hơn nữa quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế, vừa hợp
tác vừa cạnh tranh dưới những hình thức mới, phong phú, đa dạng. Nó vừa tạo
thời cơ cho những nước đi sau có thể rút ngắn quá trình phát triển của mình, vừa
đặt ra những thách thức lón dẫn đến nguy cơ tụt hậu xa hơn của những nước
đang phát triển. Từ thách thức này, đòi hỏi các nước đang phát triển phải nắm
được thời cơ, phát huy thế mạnh của mình, ra sức xây dựng và phát triển lực
lượng sản xuất, áp dụng tốt những thành tựu của khoa học và công nghệ để đưa
nền kinh tế của đất nước mình phát triển nhanh hơn.
Hai là: Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thủ tiêu chế độ tư bản và tiền tư
bản chủ nghĩa; từng bước xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng
sản chủ nghĩa; xóa bỏ áp bức bóc lột; giải phóng mình đồng thời giải phóng toàn
nhân loại... Sứ mệnh này được thực hiện trên phạm vi thế giới với hai giai đoạn.
Giai đoạn thứ nhất giai cấp công nhân và chính đảng của nó tiến hành cuộc đấu
tranh giành chính quyền, trở thành giai cấp thống trị “giai cấp công nhân phải tự
mình trở thành dân tộc”; giai đoạn thứ hai, giai cấp công nhân liên minh với
quảng đại quần chúng nhân dân do đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo tiến
hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Mối quan hệ giữa giai cấp với dân tộc, giải quyết trước hết trên địa bàn dân tộc
có ý nghĩa rất quan trọng. Trong điều kiện ngày nay việc giải quyết tốt nhiệm vụ
trên địa bàn dân tộc, phát huy nội lực của dân tộc mình để khỏi tụt hậu để phát
triển lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Phát huy nội lực là một khái niệm
rộng, bao hàm nhiều vấn đề. Đó là giải quyết mối quan hệ bên trong dân tộc.
Quan hệ giữa các tộc người, các tôn giáo, các giai cấp, tầng lớp; các cộng đồng
người Việt Nam sống ở trong nước và nước ngoài, các thành phần kinh tế, các tổ
chức chính trị, xã hội; giải quyết tốt mối quan hệ giữa quá khứ và hiện tại, giữa
bên trong và bên ngoài, giữa truyền thống và hiện đại; phát huy được sức mạnh
của các vùng trong nước, sức mạnh tinh thần và vật chất để khai thác tốt nhất
những tiềm năng vốn có của dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam, sức mạnh
Việt Nam. Giai cấp công nhân là một bộ phận trong dân tộc Việt Nam, bộ phận
lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Phải phát huy sức mạnh to lớn của giai cấp công
nhân Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tư tưởng rất quan
trọng của Đại hội IX sắp tới là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phải
phát huy những truyền thống tết đẹp của dân tộc trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn
minh. Điều này càng đặt ra cho chúng ta phải xây dựng giai cấp công nhân Việt
Nam như thế nào để xứng đáng với sứ mệnh lịch sử của mình, xứng đáng với
truyền thống vẻ vang của dân tộc trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.
Ba là : Nước ta đang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do
nền kinh tế nhiều thành phần nên cơ cấu xã hội cũng có nhiều giai cấp với những
lợi ích kinh tế khác nhau, làm việc trong các xí nghiệp khác nhau. Kinh tế thị
trường có những mặt tích cực, đem lại sự phát triển lực lượng sản xuất, tăng
trưởng kinh tế cao. Nhưng bên cạnh đó còn nhiều khuyết tật về mặt xã hội như :
Phá sản, khủng hoảng, phân hóa giàu nghèo, lừa đảo, giả dối, áp bức, bất công,
tàn phá môi trường. Những khuyết tật này đòi hỏi phải có sự quản lý vĩ mô của
Nhà nước, phải sử dụng các công cụ quản lý : Pháp luật, tài chính, thông tin, kế
hoạch. và thực hiện nhất quát các chính sách phù họp với quá trình phát triển,
gắn với lợi ích để tạo ra được động lực phát triển xã hội. Có như vậy mới phát
huy được khả năng sáng tạo của giai cấp công nhân trong hnh hình mới.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai cấp công nhân có sự biến đổi lớn về
cơ cấu nghề nghiệp và số lượng. Do đòi hỏi của nền sản xuất hiện đại trong điều
kiện cách mạng khoa học công nghệ, giai cấp công nhân thực sự là giai cấp tiên
phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Bốn là : ở nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhưng
nhiều nước trên thế giới và khu vực đã nói nhiều đến nền kinh tế tri thức. Trong
tháng 6 năm 2000, tại Hà Nội đã có cuộc hội thảo bàn về kinh tế tri thức. Kinh tế
tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai
trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất
lượng cuộc sống. Kinh tế tri thức có những ngành mới như công nghiệp thông tin
(công nghiệp phần cứng, công nghiệp phần mềm), các ngành công nghiệp dịch
vụ mới dựa vào công nghệ cao, và cũng có thể là những ngành truyền thống
(nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) được cải tạo bằng khoa học, công nghệ cao.
Trong các nước OECD, kinh tế tri thức đã chiếm hơn 50% GDP, công nhân trí
thức chiếm trên 60% lực lượng lao động (3).
Đại hội Đảng lần thứ VIII đã quyết định phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa để đến khoảng năm 2020 nước ta về cơ bản trở thành nước công nghiệp.
Trong thời gian hai thập kỷ ấy, kinh tế thế giới sẽ chuyển mạnh sang nền kinh tế
tri thức, tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao, khoảng cách giữa các nước giàu và
nghèo càng gia tăng. Trong bài nói của đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu nhân
lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, có đoạn : “Trong thời đại
cách mạng- thông tin hiện nay, chúng ta không có sự lựa chọn nào khác là phải
tiếp cận nhanh chóng với tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại
hóa nền kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng từng bước hình
thành nền kinh tế tri thức, có năng lực cạnh tranh với giá trị gia tăng ngày càng
cao”.
Chúng ta không thể rập khuôn theo mô hình công nghiệp hóa mà các nước đi
trước đã đi. Cũng không nên hiểu công nghiệp hóa chủ yếu là xây dựng công
nghiệp, mà phải hiểu đây là sự chuyển nền kinh tế từ tình trạng lạc hậu, năng suất
chất lượng hiệu quả thấp, dựa vào phương pháp sản xuất nông nghiệp, lao động
thủ công là chính sang nền kinh tế có năng suất, chất lượng hiệu quả cao, theo
phương pháp sản xuất công nghiệp, dựa vào tiến bộ khoa học và công nghệ mới
nhất; vì vậy công nghiệp hóa phải đi đôi với hiện đại hóa. Như vậy kinh tế tri
thức là vận hội để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Để có thể làm được việc đó, cần phải có đủ năng lực trí tuệ, có khả năng sáng tạo
nắm bắt và làm chủ các tri thức mới nhất của thời đại, phảI chủ động hội nhập
quốc tế, phát huy lợi thế so sánh của mình. Muốn vậy phải có kế hoạch đào tạo
bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ người lao động nói chung, giai cấp công nhân nói
riêng để phát triển đất nước.
Như vậy chúng ta đã tìm hiểu những nét cần chú ý cả về sự tác động bên ngoài,
của nội lực bên trong; cả tình hình phát triển trong cơ chế thị trường hiện nay
trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sự chuyển dần của thế giới
sang nền kinh tế tri thức. Những vận hội và thách thức này đòi hỏi chúng ta phải
xây dựng đội ngũ giai cấp công nhân Việt Nam có sự phát triển mới về chất.
3. Những nội dung quan trọng nhất để xây dựng giai cấp công nhân Việt
Nam trong điều kiện ngày nay.
Từ những đặc điểm đã được nêu ra trên đây, gắn với công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở nước ta phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ : Chuyển kinh tế nông
nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức.
Hai nhiệm vụ ấy phải thực hiện đồng thời. Điều đó có nghĩa là phải nắm bắt các
tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại hóa nông nghiệp, đồng
thời với phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ dựa vào tri thức, vào khoa
học và công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành
kinh tế tri thức. Thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ ấy sẽ đặt nước ta trước một
tình huống vừa thừa quá nhiều lao động giản đon, công nhân tạp vụ, vừa thiếu
gay gắt công nhân có trình độ cao. Tình thế càng khó khăn do chúng ta không thể
chạy theo tốc độ tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Ngày nay phát triển được quan
niệm là tăng trưởng kinh tế gắn với xóa đói giảm nghèo, giảm thất nghiệp và
giảm bất bình đẳng trong xã hội. Chính vì vậy theo chúng tôi có hai nội dung
chính, đáng quan tâm nhất trong việc xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam
hiện nay :
Một là : Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam tiên tiến, hiện đại, phát triển về
số lượng và nâng cao chất lượng, có khả năng nắm bắt khoa học hiện đại để xây
dựng và phát triển đất nước.
Muốn vậy phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân
tài. Đẩy mạnh giáo dục đào tạo để cung cấp đủ yêu cầu về “công nhân cổ vàng”
và “công nhân cổ xanh” cho quá trình công nghiệp hóa, nhất là công nhân cho
những ngành dệt, may, công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy
sản và xuất khẩu lao động. Có phương sách thích hợp để tuyển chọn đúng nhân
tài và đào tạo “công nhân cổ trắng”. Do ngân sách Nhà nước giành cho giáo dục
thấp nên người dân phải tự trang trải chi phí giáo dục quá lớn so với thu nhập của
họ. Con em nông dân và công nhân nghèo thường không có điều kiện học lên
cao, mặc dù có nhiều em rất thông minh, có năng khiếu. Cần tổ chức những
trường, lóp như các trường bổ túc công nông trước đây ở các tỉnh, tuyển chọn
những học sinh giỏi con nhà nghèo được bao cấp ít nhất từ lớp 10 đến tốt nghiệp
đại học. Sau khi tốt nghiệp, Nhà nước bố trí vào những ngành kinh tế tri thức, trả
lưong xứng đáng để họ có thể trả nợ ngân hàng (nếu họ vay trong thời gian học).
Đồng thời có chính sách khuyến khích các cơ quan, doanh nghiệp cấp học bổng
cho các học sinh giỏi con nhà nghèo và sử dụng họ sau khi tốt nghiệp.
Về lâu dài, lao động nông nghiệp sẽ dần dần được chuyển sang công nghiệp và
dịch vụ, nhưng phải qua đào tạo.
Có thể nói đào tạo để phát triển giai cấp công nhân là một vấn đề vô cùng quan
trọng mà mỗi ngành mỗi cấp, mỗi cơ quan xí nghiệp cần có kế hoạch để thực
hiện tốt nhất. Trong những năm tới phải tăng mạnh đầu tư để phát triển giáo dục
nhằm xây dựng thế hệ người Việt Nam có bản lĩnh, có lý tưởng, có khả năng
sáng tạo, làm chủ được tri thức hiện đại, để phát triển đất nước.
Hai là : Giáo dục truyền thống đấu tranh cách mạng, chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam, ý thức và vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân để thực hiện tốt
các nhiệm vụ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập với khu vực
và thế giới. Điều quan trọng là vừa kế thừa được tinh hoa của nhân loại nhưng
phải giữ gìn phát huy được bản sắc tốt đẹp của dân tộc, phát huy được nội lực,
sức mạnh Việt Nam trong quá trình phát triển.
Con người Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam phải thấm sâu chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam, đó là : có lòng tự hào dân tộc sâu sắc; có hoài bão khát vọng ý
chí thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” vững
bước tiến lên chủ nghĩa xã hội; sẵn sàng làm mọi việc vì dân vì nước; không
dung thứ với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.
Để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam cần áp dụng đồng bộ các giải pháp, đó là : giáo dục chủ nghĩa yêu nước cho
toàn dân, trọng điểm là thanh niên công nhân, thế hệ trẻ; không ngừng đẩy mạnh
phong trào thi đua yêu nước; xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ giáo dục
chủ nghĩa yêu nước; xây dựng môI trường văn hóa trong giáo dục chủ nghĩa yêu
nước; các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị xã hội có kế hoạch giáo
dục thường xuyên chủ nghĩa yêu nước cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội
viên. ..
Có thể nói có rất nhiều nội dung, nhưng nếu chúng ta triển khai tốt, làm tốt hai
nội dung trên đây, chắc chắn giai cấp công nhân Việt Nam sẽ phát huy được bản
chất tiên tiến, cách mạng, tính kỷ luật và bản chất quốc tế và sẽ làm tốt vai trò
lãnh đạo, vai trò đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
TƯ TƯỞNG CỦA CÁC MÁC VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG
NHÂN VÀ THỜI ĐẠI NGÀY NAY
(ĐCSVN)-Các Mác sinh ngày 5 - 5 - 1818, năm nay, 2007 là
Các Mác
kỷ niệm lần thứ 189 ngày sinh của vị lãnh tụ vĩ đại của phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế, người dành trọn cuộc đời
cho sự nghiệp giải phóng GCCN, nhân dân lao động. Cùng với phương pháp duy vật
lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư, học thuyết về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới
của GCCN là một trong ba cống hiến vĩ đại của C.Mác. Từ đây, GCCN thế giới có
được “vũ khí lý luận” sắc bén trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng và lý luận chỉ
đạo
quá
trình
xây
dựng
xây
dựng
xã
hội
XHCN
và
CSCN.
Sứ mệnh lịch sử thế giới của GCCN là một tất yếu khách quan bắt nguồn từ chính thực
tiễn sản xuất hiện đại, từ nhu cầu phát triển theo xu hướng xã hội hóa của lực lượng sản
xuất (LLSX) mà sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp ngày càng hiện đại là biểu
hiện tập trung nhất. Sứ mệnh đó còn bắt nguồn từ địa vị kinh tế - xã hội của GCCN, một
giai cấp “là sản phẩm của đại công nghiệp”, trực tiếp sản xuất của cải vật chất cho xã
hội, người đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, cho xu thế xã hội hóa sản xuất.
Chính sự phát triển của CNTB, đến một ngưỡng nhất định, làm rõ mâu thuẫn cơ bản
giữa LLSX xã hội cao với QHSX tư nhân TBCN. Sở hữu tư nhân TBCN ngày đối lập với
xu hướng xã hội hóa. Nó kìm hãm tiến bộ xã hội thông qua việc duy trì chế độ bóc lột
giá trị thặng dư và áp bức, bất công xã hội. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại bằng
cách xóa bỏ QHSX tư nhân TBCN, tạo ra một QHSX mới mang tính xã hội hóa và giải
phóng GCCN - “LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại” là quy luật của lịch sử và cũng
là nội dung cơ bản nhất của
sứ
mệnh này.
Trong tư tưởng của Mác, tất yếu khách quan ấy được thể hiện và thực hiện thông qua
quá trình phát triển về chính trị, tư tưởng và tổ chức của GCCN để trở thành một giai
cấp tự giác. Sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân, sự trưởng
thành của đảng Cộng sản và sự xác lập nhà nước của GCCN chính là những biểu hiện
tập trung của tính tự giác ấy. Từ đó, quá trình thực hiện sứ mệnh là quá trình cách
mạng XHCN. Nội dung của nó bao gồm: cách mạng trên lĩnh vực chính trị để phá hủy
nhà nước của GCTS, thiết lập nhà nước của GCCN, nền dân chủ XHCN từ đó tiến hành
cách mạng trên lĩnh vực kinh tế, thông qua việc cải tạo QHSX cũ, xác lập QHSX công
hữu để đáp ứng nhu cầu phát triển của LLSX và xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH;
cùng với đó là cuộc cách mạng văn hóa tư tưởng để xác lập vị trí chủ đạo của hệ tư
tưởng GCCN, tiếp thu những giá trị của truyền thống, văn minh nhân loại và dần khắc
phục những tàn dư tư tưởng của xã hội cũ...Đó là quá trình cách mạng toàn diện, triệt
để,
khó
khăn,
phức
tạp
và
lâu
dài.
Ngày nay, do tính quy định của sản xuất hiện đại, GCCN có một số biểu hiện mới: trình
độ văn hóa - tay nghề cao hơn; một số công nhân đã có cả tư liệu sản xuất, cổ phiếu,
đời sống một bộ phận được cải thiện v.v... Song, những biểu hiện đó không làm thay đổi
địa vị cơ bản của công nhân trong CNTB. Họ vẫn đang là lực lượng chủ yếu làm ra của
cải cho xã hội và lợi nhuận cho các nhà tư bản; là lực lượng đối lập trực tiếp với GCTS,
bị bóc lột nhiều nhất và khoảng cách về mức thu nhập giữa họ với giới chủ ngày càng
lớn. Công nhân trong các nước tư bản phát triển được trí tuệ hóa, lao động bớt nặng
nhọc hơn, có chút ít cổ phần trong doanh nghiệp... thì họ càng bị ràng buộc chặt chẽ
hơn vào guồng máy sản xuất của tư bản, càng bị bóc lột nặng nề và tinh vi hơn. Theo Tổ
chức lao động quốc tế (ILO) tỷ suất bóc lột giá trị thặng dư trung bình ở thế kỷ XIX là
20, thì hiện nay là 300, cá biệt có nơi, như tập đoàn Microsoft tỷ suất này lên tới 5000.
Từ một chiều cạnh khác, hiện nay sự tăng lên lượng tri thức khoa học và văn hóa của
công nhân lại cũng là một tiền đề quan trọng để giúp họ nhận thức và cải tạo xã hội. Họ
đang phê phán CNTB và đến với CNXH như đến với cái đúng và do sự thôi thúc của lý
trí chứ không chỉ do nghèo đói. Với tri thức và khả năng làm chủ công nghệ cao, với
năng lực sáng tạo và ý thức về sứ mệnh, GCCN hiện đại đang có thêm điều kiện để tự
giải
phóng.
Nhờ có những điều chỉnh lớn và tận dụng được thành tựu của cách mạng khoa học và
công nghệ, đặc biệt là qua toàn cầu hóa kinh tế, CNTB đang còn khả năng tiếp tục kéo
dài sự tồn tại nhưng không thể tránh được “định mệnh” mà Mác đã vạch ra từ sứ mệnh
lịch sử thế giới của GCCN. Quá trình toàn cầu hoá kinh tế hiện nay là biểu hiện tập
trung của xu thế xã hội hóa LLSX và cũng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn cơ bản trong
lòng CNTB. Nó khai triển mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất TBCN đến mọi
ngõ ngách của thế giới qua những biểu hiện xã hội đa dạng. Đó là mâu thuẫn giữa
GCCN hiện đại đang bị CNTB toàn cầu bóc lột giá trị thặng dư với một GCTS “ngày
càng trở nên là giai cấp thừa” trong sản xuất và phản động về chính trị; Đó là mâu
thuẫn giữa các nước phát triển với các nước đang phát triển, hay “phương Bắc và
phương Nam”, giữa “trung tâm và ngoại vi”...; là mâu thuẫn của lợi ích từng quốc gia
- dân tộc với lợi ích của các tập đoàn tư bản; giữa những nước phát triển và đang phát
triển; giữa chủ quyền quốc gia - dân tộc với xu thế đồng hóa cưỡng bức; giữa văn hoá
dân tộc với cuộc xâm lăng bằng tư tưởng, lối sống của những nước đế quốc trong môi
trường toàn cầu đang vận hành theo những cơ chế bất bình đẳng; Đó còn là mâu thuẫn
giữa các nước tư bản xung quanh việc tranh giành vị trí, thế lực và ảnh hưởng thông
qua việc chiếm lĩnh ưu thế về KH&CN, những
nguồntài
nguyên...
Nhìn chung từ thực tiễn hiện đại, nhu cầu có một toàn cầu hóa với chất lượng mới đang
hiện rõ. Và, mầm mống của một phương thức sản xuất mới cũng đang lớn dần, chủ yếu
là theo cách này. Sứ mệnh lịch sử thế giới của GCCN mang bản chất quốc tế và không
hề xa lạ với những hiện tượng quốc tế phản ánh tiến bộ xã hội. Chủ động, tích cực hội
nhập quá trình toàn cầu hóa kinh tế; tận dụng những thời cơ, tranh thủ ngoại lực từ quá
trình toàn cầu hoá hiện nay và làm biến đổi nó theo hướng tích cực là một tiến trình hợp
quy luật và là con đường để thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của GCCN.
Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức và giữ vững định hướng XHCN là nội
dung cơ bản của sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam hiện nay. Sứ mệnh của GCCN
Việt Nam là giải phóng dân tộc và phát triển đất nước theo định hướng XHCN; qua đó
giải phóng giai cấp, giải phóng người lao động, xây dựng một “xã hội dân giàu, nước
mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”...Hiện nay, để sớm đưa đất nước khỏi tình kém
phát triển, nội dung trọng tâm là đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức và giữ
vững
định
hướng
XHCN.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định đẩy mạnh CNH, HĐH hiện nay là
“Rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của
nền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Theo đó phát triển GCCN nước ta cả về
số lượng và chất lượng, và tổ chức; nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ
học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp đổi mới. Phát
triển GCCN cũng chính là phát triển, hoàn thiện chủ thể của sứ mệnh lịch sử hiện đại cơ sở xã hội quan trọng nhất bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết
toàn dân tộc vì mục tiêu độc lập dân tộc
gắn
liền
với
CNXH.
Sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam cũng chỉ có thể thực hiện thắng lợi khi quyền lãnh
đạo cách mạng của GCCN, thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam,
được giữ vững và không ngừng tăng cường; Nhà nước XHCN và chế độ dân chủ XHCN,
quyền làm chủ của nhân dân lao động nước ta không ngừng được
hoàn thiện và
phát triển.
Kỷ niệm ngày sinh của Các Mác vĩ đại, GCCN cùng toàn Đảng, toàn dân ta tiếp tục
thực hiện lý tưởng cao đẹp của Người, xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam và góp
phần xứng đáng vào quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN./.