MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đất nước ta đã bước
vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
CNH, HĐH là xu thế phát triển chung của các nước trên thế giới và đó cũng
là con đường phát triển tất yếu của nước ta. CNH, HĐH không chỉ là công cuộc
xây dựng và phát triển kinh tế, mà còn là quá trình biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội. Để đảm bảo cho sự nghiệp này thành công, Đảng ta đã
xác định phải: "Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự
phát triển nhanh và bền vững".
Đây là quan điểm cơ bản chỉ đạo toàn bộ quá trình phát triển của đất nước.
NNL hiện nay đang là một trong những yếu tố quyết định đối với sự phát triển của
đất nước. Cho nên, Đảng ta đã xem con người không chỉ là mục tiêu, mà còn là
động lực của sự phát triển.
Trong các nguồn lực phát triển kinh tế xã hội (tài nguyên thiên nhiên, vốn;
nguồn nhân lực; khoa học công nghệ...), thì NNL giữ vai trò quyết định.
Đến nay, nước ta vẫn là một nước nghèo và kém phát triển. Tài nguyên thiên
nhiên phong phú, đa dạng nhưng phân bố không đều và khó khai thác; thiếu vốn
nghiêm trọng; kỹ thuật còn lạc hậu. Không những vậy, NNL hiện nay vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu về xây dựng và phát triển đất nước. Trong bối cảnh đó, việc
nâng cao chất lượng NNL ngày càng có tầm quan trọng đặc biệt bởi nó đã và đang
trở thành động lực thực sự của sự phát triển đất nước.
Theo số liệu năm 2009, dân số nước ta có trên 86 triệu người trong đó
70,4% là NNL nông thôn. Hơn nữa, NNL ở nông thôn nước ta lại phân bố không
đều, chủ yếu tập trung sản xuất nông nghiệp độc canh, thuần nông. Chỉ có hơn
15% NNL ở nông thôn hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp. Trong khi đó,
chất lượng NNL ở địa bàn nông thôn còn nhiều hạn chế. Yêu cầu đặt ra lúc này là
cần phải phát triển và sử dụng hợp lí NNL nông thôn nhằm đáp ứng sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước.
Thực tiễn ở nước ta trong những năm đổi mới vừa qua và kinh nghiệm của
nhiều nước trên thế giới đã cho thấy có nhiều giải pháp nhằm phát triển NNL nông
thôn nhưng lựa chọn giải pháp nào? Phương pháp thực hiện từng giải pháp trong
mỗi giai đoạn phát triển ra sao? Nếu lựa chọn và thực hiện có hiệu quả những giải
pháp đúng thì với NNL dồi dào, phong phú ở nông thôn nước ta, chúng ta không
những tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế, mà còn giải quyết được
những nội dung quan trọng liên quan tới chính sách xã hội - đó là vấn đề việc làm,
nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống nhân dân, góp phần giải quyết những
tiêu cực xã hội do tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm và mức sống thấp gây ra.
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề NNL nông thôn trong quá trình CNH, HĐH đất
nước là một đòi hỏi cấp bách, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Cho nên, nhóm tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nguồn nhân lực nông
thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay’’.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm gần đây, vấn đề NNL, đào tạo, sử dụng NNL, vấn đề phát
triển NNL đã có rất nhiều đề tài, công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này.
Nhiều tác giả đã đề cập đến vai trò của nhân tố con người trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội, tính tích cực xã hội của con người và con đường nâng
cao vai trò nhân tố con người. Nhìn chung, các tác giả đã tập trung nghiên cứu vấn
đề con người và vai trò của nó trong công cuộc đổi mới, trong sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước ở những góc độ khác nhau như:
Nguyễn Trọng Chuẩn: "Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước", Tạp chí Triết học, số 3, 1994; Nguyễn Thế Nghĩa: "Nguồn nhân
lực - động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Triết học, số
1, 1996; Nguyễn Thị Hằng: "Phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam đến năm
2010", Tạp chí Cộng sản, số 7, 1999...
Nguyễn Văn Trung: "Phát triển nguồn nhân lực trẻ ở nông thôn để CNH,
HĐH nông thôn nông nghiệp nước ta", NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998
TS. Phan Chính Thức: “ Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần
đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Luận án
TS. Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003.
Tuy nhiên, những công trình trên mới chỉ bàn đến hiệu quả sử dụng lao
động, NNL trên phạm vi toàn xã hội. Một số tác giả tuy có bàn đến vấn đề sử dụng
NNL nông thôn, chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn,... nhưng mới chỉ nêu lên
những nét khái quát như một phác thảo chung, chưa đi sâu nghiên cứu cơ bản về
vấn đề NNL nông thôn trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy
nhóm tác giả mạnh dạn nghiên cứu bước đầu về vấn đề “Nguồn nhân lực nông
thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay’’ một
cách có hệ thống.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình CNH, HĐH ở Việt
Nam.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu khái quát toàn bộ vấn đề về NNL nông thôn trong quá
trình CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài
Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về NNL nông thôn, chỉ ra thực trạng NNL
nông thôn trong quá trình CNH, HĐH đất nước hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất
một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NNL nông thôn phục
vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Nhiệm vụ của đề tài
- Làm rõ một số vấn đề cơ bản về NNL, NNL nông thôn.
- Nêu lên một bức tranh chân thực về thực trạng NNL nông thôn trong quá
trình CNH, HĐH ở Việt Nam, những ưu điểm đạt được, những bất cập và thách
thức mà NNL nông thôn đang gặp phải hiện nay.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển NNL
nông thôn trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài nhóm tác giả đã sử dụng các phương pháp
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó, đặc biệt
chú ý các phương pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp nghiên cứu hệ thống, phương
pháp thống kê kinh tế - xã hội...
6. Đóng góp về khoa học của đề tài
- Đề tài chỉ ra, phân tích thực trạng về những bất cập và thách thức mà NNL
nông thôn đang gặp phải trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm
phát triển và sử dụng có hiệu quả NNL nông thôn trong quá trình CNH, HĐH ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài gồm 3
chương
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực nông
thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về nguồn nhân lực
Trước hết nguồn có nghĩa là một tiềm năng, một tài sản của đất nước, có thể
khai thác được. Nguồn nhân lực ( humam resources) là nguồn lực về con người của
đất nước.
Theo Từ điển thuật ngữ của Liên Xô : “ Nguồn nhân lực là toàn bộ những
người lao động dưới dạng tích cực ( đang lao động) và tiềm tàng ( có khả năng lao
động nhưng chưa tham gia lao động)”.
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam, “ Nguồn nhân lực gồm những người đủ
15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao
động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không
có nhu cầu làm việc, những người thuộc các tình trạng khác như nghỉ hưu trước
tuổi”.
Con người vừa là một cá thể, vừa là một tập thể. Xét về mặt cá thể, con
người vừa là một sinh thể vừa là một nhân cách. Kết hợp tất cả các mặt cá nhân và
tập thể, sinh thể và nhân cách, con người có một năng lực tiềm ẩn to lớn, khi được
sử dụng, khai thác một cách đúng đắn thì tiềm năng đó được phát huy và con người
trở thành động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy con người được gọi là:
“Nguồn nhân lực”, là vốn quý nhất của đất nước.
1.1.2. Nguồn nhân lực nông thôn
NNL nông thôn là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, bao gồm toàn
bộ những người lao động dưới dạng tích cực ( lao động đang làm việc trong nền
kinh tế quốc dân ) và lao động tiềm tàng ( có khả năng tham gia lao động nhưng
chưa tham gia lao động ) thuộc khu vực địa lý bao trùm toàn bộ dân số nông thôn.
Phù hợp với phương pháp thống kê lao động hiện hành có thể tiếp cận với
khái niệm: NNL nông thôn gồm những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm việc
trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và những người
trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì lý do khác nhau hiện tại
chưa tham gia hoạt động kinh tế, độ tuổi lao động nông thôn có khả năng lao động
nhưng hiện tại chưa tham gia lao động do các nguyên nhân: đang thất nghiệp, đang
đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc, người thuộc
tình trạng khác.
1.1.3. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa là quá trình tất yếu mang tính quy luật
đối với tất cả các nước từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến lên nền kinh tế công
nghiệp hiện đại.
Đối với nước ta hiện nay CNH, HĐH không chỉ là quá trình mang tính tất
yếu khách quan mà còn là một đòi hỏi cấp bách…nhằm đáp ứng nhu cầu lợi ích
của các tầng lớp nhân dân và của cả dân tộc.
Tại Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (tháng 7-1994)
và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 8 (tháng 6 -1996) khi xác định nhiệm vụ căn
bản trong giai đoạn cách mạng mới ở nước ta hiện nay là tập trung mọi lực lượng,
tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn
diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng
ta khẳng định: thực chất CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế xã hội từ sử dụng lao
động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động, cùng với
công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển
công nghiệp và tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo ra năng xuất lao động xã hội cao,
đưa đất nước ta trở nên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,
cải biến xã hội Việt Nam truyền thống thành xã hội hiện đại, phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
CNH, HĐH ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là sự tổng hợp của các yêu
cầu cơ giới hóa, điện khí hóa, tự động hóa, hiện đại hóa, khoa học hóa… được thực
hiện tích hợp đồng bộ trong mọi nghành sản xuất và trong mọi hoạt động của xã
hội.
Mục tiêu chung nhất của CNH, HĐH ở giai đoạn này của Việt Nam là làm
cho nước ta nhanh chóng trở thành một nước có nền kinh tế xã hội phát triển theo
đà phát triển mạnh mẽ của thế giới, để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành
một nước công nghiệp.
1.2. Những đặc điểm cơ bản của nguồn nhân lực nông thôn hiện nay
Nguồn nhân lực nông thôn ở nước ta có những đặc điểm chính sau đây :
- Mức sống của cư dân nông thôn thấp ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân
lực. NNL nông thôn nước ta năm 2009 chiếm 70,4% tổng dân số cả nước, nhưng
khu vực nông thôn nước ta có nền kinh tế hàng hóa phát triển chậm, năng suất lao
động thấp, GDP bình quân đầu người của nông thôn thấp.Thu nhập thấp ảnh hưởng
đến khả năng nâng cao mức sống, phát triển giáo dục, đào tạo và cải thiện chăm
sóc sức khỏe của dân cư và người lao động nông thôn. Khả năng kinh tế thấp còn
ảnh hưởng đến đầu tư, các giao dịch kinh tế, xã hội...
- Tốc độ tăng dân số nông thôn hàng năm giảm dần, năm 1990 tỷ lệ tăng dân
số của nông thôn 1,8% đến năm 2002 là 0,83%, nguyên nhân là do giảm gia tăng
tự nhiên do kế hoạch hóa dân số và giảm dân số cơ học( di chuyển nông thôn ra
thành thị...). Bên cạnh đó, việc phát triển của thành phố đã có và xây dựng mới
thành phố cũng có tác động đến giảm dân số nông thôn. Giảm tốc độ tăng dân số
nông thôn dẫn đến giảm tốc độ tăng lao động, giảm quy mô nguồn nhân lực nông
thôn.
- Nhân lực nông nghiệp chuyển sang phi nông nghiệp với các hoạt động rất
đa dạng, đặc biệt là tại các trung tâm, thị trấn, thị tứ, các vùng nông thôn ven thành
phố, thị xã, dọc các trục đường giao thông lớn, xung quanh các khu công nghiệp
mới xây dựng...từ đó hình thành thị trường lao động nông thôn khá sôi động. Một
số ngành nghề phi nông nghiệp phát triển nhanh ở nông thôn thu hút nhiều lao
động như: cung ứng điện năng, thông tin liên lạc, thương mại, chế biến nông- lâmthủy sản, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ đời sống cá nhân và cộng đồng...
- Do nhiều nguyên nhân như: thiếu vốn, không tiếp cận được thị trường tiêu
thụ sản phẩm, thiếu lao động lành nghề, thiếu khả năng lựa chọn công nghệ...nên
hạn chế đến khả năng phát triển doanh nghiệp, trang trại sản xuất hàng hóa, ngành
nghề truyền thống...ở nông thôn để thu hút NNL phi nông nghiệp. Do đó, tại nhiều
vùng nông thôn kinh tế và thị trường lao động phát triển chậm.
- CNH, HĐH có tác động thúc đẩy dòng lao động di chuyển lao động từ
nông thôn đến thành thị, bao gồm cả lao động nhập cư và lao động đến thành phố
làm việc thời vụ.. Di chuyển lao động nông thôn đến thành thị đa số là lao động
trẻ, lao động vừa tốt nghiệp các cấp phổ thông chưa qua đào tạo. Di chuyển của lao
động nông thôn trong quá trình CNH, HĐH có tác động kích thích sự hoạt động sôi
động của thị trường lao động. Mặt trái của di chuyển ồ ạt lao động nông thôn vào
các thành phố lớn là gây lên tình trạng quá tải về lao động giản đơn tại các thành
phố, quá tải về hạ tầng cơ sở ( nhà ở, giao thông...) và tác động đến cảnh quan môi
trường đô thị.
- CNH, HĐH thu hút lao động nông thôn đến làm việc tại khu công nghiệp,
khu chế xuất, khu dịch vụ...đa số họ có trình độ văn hóa từ cấp II trở lên được các
doanh nghiệp tuyển dụng, đào tạo và sử dụng. Các khu công nghiệp tại Đồng Nai,
Bình Dương, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Quảng Ninh...có tỉ lệ lao động từ nông thôn là
70- 72%. CNH, HĐH do đó có tác dụng làm biến đổi chất lượng lao động nông
thôn dần dần có vị trí mới trong hệ thống sản xuất công nghiệp và dịch vụ.
- Lao động nước ta có nhiều bất cập về trình độ để đáp ứng nhu cầu của quá
trình CNH, HĐH. Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo thấp là trở ngại lớn thúc
đẩy phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, trở ngại tăng năng suất lao động nông
thôn để đáp ứng mục tiêu CNH, HĐH.
- Khu vực nông thôn thu hút dầu tư từ Chính phủ, tư nhân và các công ty
nước ngoài...chưa tương xứng với sự phát triển kinh tế, tạo việc làm, đặc biệt là đối
với vùng khó khăn về hạ tầng cơ sở, điều kiện tự nhiên và các vùng đầu tư ít có
khả năng sinh lãi cao...Đây là trở ngại lớn đối với phát triển NNL nông thôn.
1.3. Một số nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực nông thôn
Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, NNL nông thôn chịu sự ảnh
hưởng của nhiều nhân tố, sự di biến động của các nhân tố này sẽ kéo theo sự biến
động của NNL nông thôn. Hệ thống các nhân tố chính bao gồm:
Một là: Động thái dân số
Biến động về mức sinh, mức chết, di cư trong nước, ngoài nước, gia tăng
dân số ảnh hưởng đến cơ cấu NNL nông thôn hiện tại và trong các năm khi dân số
sinh thêm bước vào tuổi lao động.
Hai là: Mức sống của dân cư
Mức sống dân cư có tác động đến NNL nông thôn ở các khía cạnh: chế độ
dinh dưỡng, sứ khoẻ, chất lượng môi trường sống ( nhà ở, nguồn nước, điện năng,
chất đốt, chất lượng bầu không khí, đời sống văn hoá, tinh thần...) của dân cư và
người lao động.
Ba là: Giáo dục và đào tạo
Mức độ tham gia của người lao động nông thôn vào các cấp trình độ giáo
dục, đào tạo, dạy nghề có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển chất lượng của
NNL nông thôn. Đây là chỉ tiêu đã được Cơ quan Báo cáo phát triển con người của
Chương trình phát triển đã được Liên Hợp Quốc rất quan tâm, thể hiện bằng số
năm đi học văn hoá và đào tạo nghề của dân số trưởng thành ( 15 tuổi trở lên ) ở
nông thôn.
Bốn là: Tăng trưởng và phát triển kinh tế
Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh thì có khả năng nâng
cao thu nhập bình quân đầu người cho dân số nông thôn. Đây cũng là nhân tố quan
trọng liên quan đến khả năng tiếp cận, khả năng chi trả và sự lựa chọn của NNL
nông thôn trong hệ thống giáo dục, đào tạo, trong tìm kiếm và tự tạo việc làm phi
nông nghiệp. Đến lượt mình, chính các yếu tố này tác động trở lại nâng cao tiền
lương tiền công, thu nhập và mức sống của hộ gia đình nông thôn. Ngoài ra phát
triển kinh tế thị trường tác động đến NNL nông thôn ở các mặt: lao động nông thôn
phải nâng cao tính năng động, khả năng thích ứng, khả năng hoà nhập của nguồn
lao động vào thị trường trong nước và thi trường lao động khu vực và quốc tế.
Năm là: Việc làm và thu nhập
Tham gia tích cực của NNL nông thôn vào quá trình lao động là động lực
quan trọng phát triển NNL thể hiện ở các phương diện sau:
Quá trình lao động là quá trình sáng tạo và phát triển của từng cá thể người
lao động.
Quá trình lao động thúc đẩy người lao động không ngừng tu dưỡng, thu
nhận tri thức, rèn luyện kĩ năng và các phẩm chất lao động mới để đáp ứng nhu cầu
phát triển của nền kinh tế và thị trường lao động. Đặc biệt trong khuynh hướng
phát triển nền kinh tế tri thức, vai trò của lao động chất xám, lao động hàm lượng
khoa học - công nghệ cao dần chiếm ưu thế trong cơ cấu GDP.
Đảm bảo việc làm và thu nhập cho lực lượng lao động đồng thời là đảm bảo
vị trí xã hội và sự phát triển toàn diện của người lao động. Các nguồn thu nhập rất
quan trọng đối với sự phát triển của NNL vì nó liên quan tới mức sống, môi trường
sống ( chi tiêu, nhà ở...), giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khẻo, bảo hểm xã hội và
các mối quan hệ của người lao động.
Sáu là: Sự phát triển hệ thống giao thông và công nghệ thông tin
Giao thông và công nghệ thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội và phát triển NNL nông thôn. Ngày nay giao lưu và tiếp
nhận tri thức, học tập qua mạng Internet có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với
người lao động thành phố mà cả lao động nông thôn. Công nghệ thông tin ngày
càng trở thành phương tiện đắc lực, không thể thiếu được đối với hoạt động sản
xuất - kinh doanh, học tập nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn - kỹ thuật của
người lao động, trước hết là những người chủ doanh nghiệp và những người quản
lý trang trại kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân , các doanh nghiệp và hộ
gia đình hoạt động nghề truyền thống hướng về xuất khẩu. Sự phát triển công nghệ
thông tin ở nông thôn còn góp phần nâng cao trình độ của hệ thống cơ sở, trung
tâm dạy nghề tại các huyện, thi trấn, nhờ đó chất lượng đào tạo lao động kỹ năng
cho CNH, HĐH được nâng cao.
Bảy là: Chính sách của Chính phủ
Trong quá trình CNH, HĐH vai trò của Chính phủ rất quan trọng đối với
phát triển NNL nông thôn. Chính phủ hoạch định các chính sách liên quan đến cơ
cấu chuyển dịch lao động nông thôn, hỗ trợ phát triển NNL nông thôn đáp ứng nhu
cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Trong đó bao gồm các chính sách quan
trọng như:
Chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình nông thôn.
Chính sách thu hút vốn trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội, phát triển hạ tầng cơ sở, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ nông thôn,
thúc đẩy chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động nông thôn, để tạo
việc làm, cải thiện thu nhập cho NNL nông thôn.
Chính sách đất đai và các loại thuế, hướng vào lợi ích hài hoà giữa nông dân
với Nhà nước, tạo điều kiện cho nông dân cải thiện thu nhập, cải thiện chất lượng
nguồn nhân lực.
Chính sách đền bù và hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ tạo việc
làm đối với lao động nông thôn khi thu hồi đất trong quá trình CNH, HĐH.
Chính sách phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nhân lực
CMKT cho nông thôn.
Chính sách đào tạo nhân lực cho phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
truyền thống, nghành nghề mới ở nông thôn.
Chính sách chăm sóc y tế, bảo hiểm xã hội đối với dân cư và người lao động
nông thôn.
Chính sách xoá đó, giảm nghèo, trợ giúp phát triển kinh tế, tạo việc làm đối
với các vùng, hộ gia đình nông thôn dễ bị tổn thương do thiên tai ( bão, lụt, hạn
hán...).
Chính sách kiểm soát môi trường sinh thái và môi trường lao động trong quá
trìmh CNH, HĐH ở nông thôn.
1.4. Những yêu cầu đối với nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình CNH,
HĐH ở Việt Nam hiện nay
Các yêu cầu chung đối với phát triển nguồn nhân lực nông thôn
Nguồn nhân lực nông thôn phải được phát triển toàn dện, mang tính nhân văn.
Phát triển toàn diện nguồn nhân lực nông thôn mang tính nhân văn cao đặt ra
yêu cầu phải thúc đẩy gia tăng các chỉ số về chuyên môn, nghiệp vụ, thể lực và các
phẩm chất khác của người lao động, đồng thời mở ra cơ hội lực chọn, chủ động,
sáng tạo của NNL. Trong đó, bao gồm cả việc nâng cao chất lượng sống; cải thiện
môi trường sống, môi trường làm việc; tạo việc làm và nâng cao năng suất lao
động; giảm thiểu tiêu cực của cơ chế thị trường đối với người lao động; đảm bảo
cho các thành viên của NNL nông thôn tham gia vào quá trình phát triển xã hội.
Nguồn nhân lực nông thôn phải đáp ứng khả năng chuyển đổi nhanh, tính năng
động cao.
CNH, HĐH đòi hỏi NNL nông thôn phải đảm bảo yêu cầu chuyển đổi chỗ
làm việc, chuyển đổi nghề nghiệp, thay đổi kịp thời các xu hướng phát triển và cấu
trúc của nền kinh tế. NNL nông thôn phải có tính thích ứng, năng động cao đối với
thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế.
Nguồn nhân lực nông thôn phải có khả năng làm việc hiệu quả và có năng lực làm
chủ quá trình lao động của mình.
Khả năng làm việc của NNL nông thôn thể hiện ở việc đảm đương các chỗ
làm việc ngày càng có chất lượng và năng suất cao hơn, với yêu cầu CMKT cao
hơn, phạm vi đào tạo rộng, đa dạng, có tính sáng tạo, khả năng tư duy độc lập, có
khả năng làm việc theo nhóm. Tính làm chủ CMKT, làm chủ thông tin...đặt ra
ngày càng cao đối với NNL nông thôn, trong thế có sự vận động nhanh chóng của
khoa học, kĩ thuật.
Các yêu cầu cụ thể đối với nguồn nhân lực nông thôn
Yêu cầu về thể lực và phẩm chất lao động.
NNL nông thôn phải được không ngừng nâng cao về thể lực (chiều cao,
trọng lượng, sức chịu đựng dẻo dai...) và các phẩm chất mới như đạo đức nghề
nghiệp, tính thích ứng, linh hoạt, năng động trong kinh tế thị trường, tính năng
động lao động sáng tạo trong hoạt động lao động sản xuất kinh doanh.
Phát triển nguồn nhân lực nông thôn đáp ứng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn.
Phát triển NNL có trình độ cho nhu cầu sử dụng của các loại hình doanh
nghiệp nông thôn, nhu cầu thu hút lao động vào trang trại sản xuất hàng hóa...
Phát triển NNL có trình độ cho phát triển các làng nghề truyền thống, phát
triển các ngành nghề mới ở nông thôn.
Phát triển NNL có trình độ phát triển ngành nghề dịch vụ ở nông thôn.
Phát triển NNL có trình độ để đáp ứng một phần lao động cho các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu dịch vụ, du lịch hoạt động trên địa bàn nông thôn.
Phát triển NNL có trình độ đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động.
Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn là chuyển dịch từ lao động kĩ thuật
thấp, lạc hậu, năng suất lao động thấp sang lao động có công nghệ, trang thiết bị
hiện đại hơn, năng suất lao động cao hơn. Đây thực chất là quá trình đổi mới chất
lượng lao động nông thôn, bao gồm cả về trình độ văn hóa, chuyên môn- kĩ thuật,
tập quán sản xuất, trình độ quản lí, khả năng tiếp thị...Do đó, đào tạo phải luôn bám
sát các đặc trưng đổi mới lao động nông thôn, phù hợp với tiến trình đô thị hóa
CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn.
Phát triển nguồn nhân lực nông thôn đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong nội bộ ngành nông nghiệp
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nghề theo hướng
từ độc canh, thuần láu sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa đa canh với năng suất,
chất lượng và hiệu quả cao. Một bộ phận lao động nông nghiệp chuyển từ hoạt
động trồng trọt cây lương thực, cây công nghiệp sang chăn nuôi gia súc, gia cầm,
nuôi trồng thủy sản mang tính hàng hóa cao. Người lao động trong các lĩnh vực
này phải được đổi mới cơ bản về chất lượng. Người lao động phải có trình độ văn
hóa cao hơn, yêu cầu phải qua đào tạo chuyên môn để đáp ứng chuyển dịch hiệu
quả trong nội bộ ngành nông nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực nông thôn phải gắn với thị trường lao động các địa
phương, vùng, miền
Trong phát triển NNL nông thôn cần quan tâm vào thị trường lao động vùng
nông thôn thiếu lao động có chuyên môn nghiêm trọng như: vùng Tây Bắc, Duyên
Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long và các vùng sâu,
vùng xa. Phải chú trọng tới đặc điểm phát triển ngành nghề, phát triển thị trường
lao động từng địa phương, vùng để định hướng phát triển nguồn nhân lực đúng
hướng.
Phát triển nguồn nhân lực nông thôn đáo ứng thị trường lao động cả nước và thị
trường lao động quốc tế
Sự di chuyển của lao động nông thôn trên thị trường lao động cả nước và
trên thị trường lao động quốc tế là xu thế khách quan. Quá trình di chuyển lao động
nông thôn đặt ra các yêu cầu nâng cao tính cạnh tranh, tính linh hoạt và thích ứng
của NNL trên thị trường lao động. Phát triển NNL nông thôn phải gắn với quan hệ
cung cầu trên thị trường lao động, phải xuất phát từ nhu cầu đích thực của thị
trường lao động.
Phát triển nhân lực nông thôn phải nhấn mạnh phát triển đào tạo nghề, bao gồm
cả đào tạo công nhân lành nghề, công nhân lành nghề cao ( đào tạo mũi nhọn ) và
đào tạo đại trà ( bán lành nghề )
Đào tạo mũi nhọn cung cấp cho khu vực phi nông nghiệp nông thôn những
công nhân kĩ thuật bậc cao, các nghệ nhân có khả năng sáng tạo, thiết kế sản phẩm
mới, có khả năng tiếp thu và sử dụng thiết bị, công nghệ hiện đại, sản xuất những
sản phẩm chất lượng cao phục vụ xuất khẩu.
Đào tạo đại trà nhằm phổ cập nghề cho người lao động, trang bị cho họ
những kiến thức, kĩ năng nghề đơn giản, để lao động nông thôn có năng lực tiếp
nhận phương pháp làm việc, phương tiện sản xuất trong các cơ sở sản xuất công
nghiệp, xây dựng, dịch vụ, tạo khả năng chuyển từ hoạt động nông nghiệp sang
hoạt động phi nông nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực nông thôn đòi hỏi phải tích cực xóa đói, giảm nghèo
Hiện nay, ở nông thôn nước ta còn có tỉ lệ khá cao hộ nghèo. Mức sống của
các hộ này còn thấp và dễ bị tổn thương do nhiều yếu tố như thiên tai, ốm đau...
Bộ phận hộ nghèo nông thôn cần có sự hỗ trợ của Nhà nước trong phát triển nguồn
nhân lực. Nhà nước hỗ trợ trên cơ sở thực hiện các biện pháp như: phát triển hệ
thống đào tạo tại chỗ, mở rộng mạng lưới tín dụng đào tạo và dạy nghề tại các
vùng nông thôn, lồng ghép các chương trình phát triển kinh tế- xã hội với các
chương trình đào tạo nghề...
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC NÔNG THÔN TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Những ưu điểm của nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình CNH,
HĐH ở Việt Nam hiện nay
Trong những năm gần đây, nhất là từ khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi
mới đất nước, nguồn nhân lực nông thôn ở nước ta đã có nhiều biến đổi cả về số
lượng, chất lượng lẫn cơ cấu.
Về số lượng: nguồn nhân lực nông thôn được xác định dựa trên quy mô dân
số, cơ cấu tuổi tuổi, giới tính và sự phân bố theo khu vực, vùng lãnh thổ của dân
số.
Việt Nam có quy mô dân số vào loại lớn trên thế giới. Năm 2009 dân số Việt
Nam khoảng trên 86 triệu dân, trong đó 70.4 % là NNL nông thôn. NNL nông thôn
chiếm tỉ lệ cao như vậy là một tiềm năng cực kì to lớn về NNL để phát triển khu
vực nông thôn nói riêng và phát triển đất nước nói chung. Đặc biệt là với dân số
trẻ, NNL nông thôn đã và đang có trình độ văn hóa tương đối cao và thể lực ngày
càng được cải thiện.
Tiềm lực và năng lực NNL nông thôn nước ta từng bước được giải phóng
nhờ kết quả thực hiện công cuộc đổi mới và mở cửa với quan điểm tự do hóa trong
lao động, phát triển mạnh mẽ thị trường sức lao động đã tạo ra động lực mới cho
mọi người phát triển nghề nghiệp, tài năng, sức sáng tạo và nâng cao tính năng
động xã hội của lao động nông thôn.
Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách và giải pháp nhằm phát huy
tiềm năng to lớn của NNL nông thôn, đặc biệt giải phóng tiềm năng to lớn của phụ
nữ. Đó là những chính sách nhằm phát huy ưu thế cơ bản của NNL nông thôn
trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.
Về chất lượng: chất lượng NNL nông thôn chủ yếu được thể hiện ở thể lực
và trí lực của người lao động.
Về thể lực, từ đầu thập niên 90 của thế kỉ XX đến nay, tầm vóc và thể lực
của người Việt Nam nói chung và người lao động nông thôn nói riêng đã và đang
được cải thiện về chiều cao, cân nặng, song vẫn kém hơn nhiều so với một số nước
trong khu vực và trên thế giới.
Về trí lực, nhìn chung NNL nông thôn được đánh giá là có tư chất thông
minh, cần cù, sáng tạo, ham học hỏi, có khả năng vận dụng và thích ứng nhanh, có
thể theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ hiện đại, có khả năng nắm bắt nhanh
hơn nhiều so với các nước trong khu vực không những vậy NNL nông thôn đang
được trang bị tri thức và có trình độ văn hóa tương đối cao là chìa khóa quan trọng
để tiếp thu khoa học, kĩ thuật và công nghệ mới cho tăng trưởng kinh tế và phát
triển đất nước.
2.2. Những bất cập và thách thức của nguồn nhân lực nông thôn trong quá
trình CNH HĐH ở Việt Nam hiện nay
2.2.1. Những bất cập
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay, nông
nghiệp đang dần được cơ cấu lại theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn. NNL
nông thôn với số lượng lớn nhất của xã hội đang tiếp tục chuyển bớt ra khỏi khu
vực nông nghiệp, tham gia vào thị trường lao động công nghiệp, dịch vụ. Tuy
nhiên, NNL nông thôn hiện nay còn đang gặp phải nhiều bất cập về năng lực, trình
độ, khả năng thích nghi đang là vấn đề đau đầu của các ngành chức năng.
Theo Tổng cục Thống kê, dân số trung bình cả nước năm 2009 là trên 86
triệu người, trong đó khu vực nông thôn chiếm 70,4% ( 60.5 triệu người). Giai
đoạn 2000 – 2009, mỗi năm Việt Nam tăng thêm trên 1 triệu người. Dù đã di cư
nhiều ra đô thị nhưng khu vực nông thôn vẫn tăng 0,42 triệu người/năm. Quá trình
đô thị hoá nhanh và lao động dịch chuyển mạnh từ nông thôn ra thành thị khiến lao
động thành thị tăng lên 4,7% so với 2% giai đoạn 1996 – 1997. Năm 1996, lao
động nông thôn chiếm khoảng 80% tổng lực lượng lao động nhưng đến năm 2009,
lao động nông thôn đã giảm còn 70,4%. Có thể thấy, tỷ lệ lao động nông thôn còn
quá cao, tốc độ thu hút lao động ra khỏi nông nghiệp chậm. Một trong những
nguyên nhân chính của tình trạng này là do công tác phát triển NNL nông thôn còn
hạn chế.
Trên thực tế, nền tảng đầu tiên của NNL là thể trạng và sức khoẻ, đây là kết
quả tổng hợp của nhiều nhân tố: môi trường vệ sinh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu,
chế độ dinh dưỡng, khám chữa bệnh, điều kiện thể dục, thể thao, hưởng thụ văn
hoá, học tập... Đáng buồn là, người dân nông thôn còn khó khăn khi tiếp cận những
yếu tố trên và có sự cách biệt đáng kể so với đô thị. Do thu nhập, chế độ dinh
dưỡng, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường hạn chế nên thể chất, sức vóc của cư
dân nông thôn kém hơn đô thị. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao hơn, chiều cao và
cân nặng trung bình kém hơn. Điều này chứng tỏ, chất lượng của lao động nông
thôn trong tương lai còn kém hơn so với thành thị.
Nhìn vào chất lượng của mạng lưới y tế cơ sở sẽ thấy được thực trạng này.
Hiện, cả nước có 10.339/10.732 xã có trạm y tế, trong đó 7.976 trạm y tế cần được
nâng cấp, đặc biệt 1.183 trạm đã xuống cấp nghiêm trọng, không đủ khả năng đảm
nhận nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; 393 xã, phường chưa có
trạm y tế, 790 trạm là nhà tạm. Số trạm có cơ sở vật chất đạt tiêu chuẩn của Bộ Y
tế chỉ chiếm 9,8%. Do thiếu kinh phí nên chỉ có 2/3 số trạm y tế có trang thiết bị
còn sử dụng được. Mặt khác, chế độ đãi ngộ cho cán bộ y tế, nhất là ở vùng sâu,
vùng xa chưa thoả đáng nên không khuyến khích họ bám trụ với nghề. Số lượng
bác sỹ, dược sỹ ở tuyến huyện còn ít, chất lượng hạn chế và cơ cấu chưa hợp lý.
Điều tra về mức sống dân cư Việt Nam cho thấy, chỉ có khoảng 15% người dân
đến khám chữa bệnh tại trạm y tế xã khi ốm đau.
Nội tại vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở nước ta vẫn còn chứa
đựng nhiều mảng yếu. Trong quá trình tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, những mảng yếu đó càng
bộc lộ rõ hơn. Một trong những mảng yếu đó là chất lượng nguồn nhân lực chưa
đáp ứng được yêu cầu phát triển.
Những cơ hội đem lại cho người lao động trong lộ trình thực hiện các cam
kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là việc làm tăng do sự xuất hiện
nhiều nghề mới ở các lĩnh vực mới, khu vực mới; thị trường lao động phát triển, sự
di chuyển lao động giữa các vùng và lãnh thổ, giữa các doanh nghiệp... tăng cao.
Người lao động Việt Nam vừa có thể tham gia sâu vào quá trình phân công lao
động quốc tế vừa có cơ hội để tiếp nhận khoa học và công nghệ tiên tiến. Chúng ta
đang có một lực lượng lao động xã hội rất lớn. Nguồn lao động của Việt Nam hằng
năm được bổ sung nhiều nhưng cơ hội để họ có được việc làm bảo đảm thu nhập
ổn định đời sống lại không dễ dàng. Số lao động đã được đào tạo không chỉ chiếm
tỷ lệ thấp mà còn bất cập do chất lượng đào tạo kém; cơ cấu đào tạo bất hợp lý,
mất cân đối giữa đào tạo nghề và đào tạo ở cấp bậc đại học, cao đẳng. Thêm nữa,
số đã qua đào tạo đối với thanh niên ở khu vực nông thôn lại chiếm tỷ lệ rất thấp so
với khu vực đô thị. Quá trình đô thị hóa nông thôn đã làm gia tăng áp lực về thiếu
việc làm cho khu vực này thêm trầm trọng; đồng nghĩa với việc gia tăng tỷ lệ chất
lượng NNL thấp.
Mâu thuẫn nội tại về chất lượng NNL nông thôn nước ta càng phát sinh
thêm do chúng ta chưa tìm ra được lối thoát về đào tạo để nâng cao chất lượng
nhân lực cho khu vực này. Hiện nay, trình độ học vấn của lao động nông thôn còn
thấp so với mặt bằng chung của cả nước. Số liệu điều tra năm 2005 của Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội cho thấy ở khu vực nông thôn, lao động có trình độ
THPT chỉ chiếm 13,7%, tốt nghiệp trung học cơ sở 34,6%, tiểu học 20%. Tình
trạng mù chữ đối với người lớn vẫn là thực tế đối với vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số. Tỷ lệ trẻ em bỏ học ở vùng nghèo, nhất là trẻ em nữ là
thách thức lớn. Hạn chế này hiện đang ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đào tạo
nghề cho lao động nông thôn.
Một mặt, lao động nông thôn bất lợi hơn so với lao động thành thị về thể
trạng, sức khoẻ, mặt khác trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của đối
tượng này cũng là điều đáng bàn. Theo thống kê, 83% lực lượng lao động nông
thôn chưa qua đào tạo, chỉ có hơn 2% có bằng cao đẳng hoặc đại học (khoảng 0,7
triệu người), 3% tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp, 3% có chứng chỉ sơ cấp hoặc
tập huấn nghề ngắn hạn, có tới 8,7% (gần 2,9 triệu người) gọi là công nhân kỹ
thuật nhưng chưa được cấp bất kỳ loại văn bằng hoặc chứng chỉ nghề nghiệp nào.
Trong khi đó, số liệu của Tổng cục Dạy nghề cho thấy, hiện cả nước có
2.052 cơ sở dạy nghề, chủ yếu là của Nhà nước, chỉ có 38% cơ sở ngoài công lập.
Hàng năm, với năng lực của hệ thống cơ sở đào tạo nghề trên, chỉ có khoảng 1,7
triệu người được đào tạo. Hiện, bình quân mỗi doanh nghiệp nhỏ cần 6-7 lao động
đã qua đào tạo. Như vậy, 240.000 doanh nghiệp trong cả nước cần 1,4 – 1,7 triệu
lao động. Nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu học nghề của hệ thống dạy nghề hiện
tại là rất nhỏ. Đây là trở ngại và cũng là thách thức trước mục tiêu nâng cao tỷ lệ
lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50% vào năm 2020.
Không những vậy đặc điểm dễ nhận thấy ở người lao động của một nền sản
xuất nông nghiệp có trình độ thấp ở Việt Nam như hiện nay là vẫn mang nặng tính
chất của người sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, năng lực ứng dụng khoa học - công nghệ
và các tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễn rất hạn chế, nên đa số họ là những người thụ
động, tư duy cạnh tranh kém, tính tự do và manh mún cao. Từ đó thu nhập của họ
thấp, khả năng chuyển đổi nghề khi bị mất đất hoặc cơ hội tham gia vào môi
trường lao động công nghiệp đòi hỏi các kỹ năng và tính kỷ luật lao động cao là
không dễ dàng.
Hiện nay nước ta có 10 triệu hộ nông dân với hơn 30 triệu lao động trong độ
tuổi, nhưng mới có 17% trong số đó được đào tạo chủ yếu thông qua các lớp tập
huấn khuyến nông sơ sài. Trong số 16,5 triệu thanh niên nông thôn đang cần có
việc làm ổn định thì chỉ có 12% tốt nghiệp phổ thông trung học; 3,11% có trình độ
chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp trở lên (thấp hơn 4 lần so với thanh niên đô thị).
Với trình độ như vậy họ khó có thể áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nông
nghiệp có ứng dụng công nghệ cao, đủ sức cạnh tranh với sản phẩm hàng hóa nông
sản trong khu vực và cũng khó có thể tìm được việc làm ở các doanh nghiệp đòi
hỏi lao động phải qua đào tạo và đạt trình độ tay nghề cao. Do đó, nhiều nơi sau
khi chuyển ruộng đất cho sản xuất công nghiệp, nếu doanh nghiệp có ưu tiên tuyển
lao động trẻ cho các hộ mất đất thì họ cũng khó có thể đảm nhận công việc kỹ
thuật để đạt được mức thu nhập cao, nên dù có những cơ hội chuyển đổi nghề,
người lao động nông thôn (bao gồm cả thanh niên đến tuổi lao động và người chủ
gia đình bị mất đất) đều khó tiếp nhận những nghề mới.
Tình trạng nguồn lao động trình độ thấp, chưa được đào tạo nghề (cả nghề
nông và phi nông) cùng với sự thiếu kiến thức, tác phong sống và tính kỷ luật, kỹ
năng lao động trong lao động công nghiệp kém nên rất khó đáp ứng được yêu cầu
ngày càng tăng cao trước tốc độ của công nghiệp hóa và hội nhập. Từ đó có thể
thấy rằng, thu nhập của người lao động ở khu vực nông thôn thấp và ngày càng
cách xa ở khu vực đô thị. Những điểm vừa nêu trên đây là một rào cản và thách
thức lớn nhất trong giai đoạn hiện nay đối với nguồn nhân lực ở khu vực nông
thôn.
Cũng cần phải nói đến một thực trạng có ảnh hưởng quan trọng đến chất
lượng nguồn nhân lực nông thôn là đội ngũ cán bộ cơ sở. Theo số liệu điều tra
thống kê năm 2006, cả nước có 81.300 công chức xã.
Về trình độ học vấn: có 0,1% chưa biết chữ; 2,4% có trình độ tiểu học;
21,5% trung học cơ sở và 75% trung học phổ thông. Về trình độ chuyên môn: 9%
cao đẳng, đại học; 39,4% trung cấp; 9,8% sơ cấp; 48,7% chưa đào tạo.
Về trình độ quản lý nhà nước: có tới 55% chưa qua bất kỳ lớp học quản lý
nhà nước nào; 85% không hiểu biết gì về vi tính. Ở vùng nào cũng có cán bộ chưa
qua đào tạo. Tại các tỉnh vùng núi Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ tỷ lệ còn
cao hơn. Đó là lý do chủ yếu dẫn đến tình trạng trì trệ, yếu kém, thiếu khả năng
vận động tổ chức, chỉ đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa
phương, cơ sở. Tình trạng lúng túng trong giải quyết các công việc phát sinh từ
thực tế, thậm chí còn làm sai lệch chính sách, pháp luật không phải là hiện tượng
cá biệt. Lực lượng khoa học kỹ thuật nông nghiệp ở nông thôn hiện chỉ chiếm
0,5% - 0,6% lao động trực tiếp ở khu vực này...
Bất cập nữa là về chính sách sử dụng và thu hút cán bộ, người lao động có
trình độ cao cũng đang bộc lộ sự bảo thủ, lạc hậu, chậm đổi mới, không thỏa mãn
được các yêu cầu cơ bản, tối thiểu hiện nay, ít nhất là về lợi ích, vì vậy không thu
hút được lực lượng lao động có trình độ cao về làm việc ở địa phương, thậm chí
còn khó ”giữ chân” được những cán bộ khoa học - kỹ thuật đang công tác tại các
cơ sở ở nông thôn. Tình trạng này càng làm cho chất lượng nguồn nhân lực nông
thôn trở nên thấp kém hơn.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn thấp,
ảnh hưởng lớn đến tiến trình phát triển chính là do môi trường kinh tế, văn hóa - xã
hội nông thôn chưa thực sự thay đổi lớn theo hướng phát triển bền vững trên lộ
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quá trình đô thị hóa nông thôn diễn ra với tốc
độ cao nhưng mang nặng tính tự phát nên công nghiệp - dịch vụ nông thôn khó
phát triển; môi trường tự nhiên bị phá vỡ, sinh thái bị mất cân bằng; thu nhập của
nông dân tuy được cải thiện nhưng còn thấp; sự chênh lệch giữa các vùng, giữa
nông thôn và đô thị ngày càng cách xa. Tác động của quá trình mất đất và sự thiếu
chuẩn bị việc chuyển đổi nghề cho nông dân đã thúc đẩy tình trạng di dân tự do tìm
việc làm ở đô thị hoặc các khu công nghiệp các tỉnh phía Nam. Nhiều nơi, lực
lượng lao động trên đồng ruộng đa số là phụ nữ, người già và trẻ em. Từ đó, dẫn
đến tình trạng sản xuất nông nghiệp bấp bênh; thu nhập từ lao động nông nghiệp
không có lãi nên người lao động dễ dàng coi nhẹ sản xuất trên đồng ruộng.
Như vậy có thể thấy khá rõ các yếu tố: môi trường xã hội và tự nhiên nông
thôn suy giảm; trình độ kiến thức, kỹ năng lao động của người lao động nông thôn
thấp; lực hút cán bộ khoa học - kỹ thuật khu vực nông nghiệp mỏng manh và trình