Sáng kiến kinh nghiệm
1
Năm học 2011- 2012
“ ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN 9”
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ ĐƯỢC NGHIÊN CỨU:
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình
thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ
đề hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình
ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Đặc biệt đây là một sơ
đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm
hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh,
các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể
hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy
được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người.
BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các
nhánh). Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến
thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học
kì... và giúp cán bộ quản lí giáo dục lập kế hoạch công tác.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để
mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Kỹ thuật tạo ra loại bản đồ này được phát triển
bởi Tony Buzan vào những năm 1960. Bản đồ tư duy có cấu tạo như một cái cây
có nhiều nhánh lớn, nhỏ mọc xung quanh. “Cái cây” ở giữa bản đồ là một ý
tưởng chính hay hình ảnh trung tâm. Nối với nó là các nhánh lớn thể hiện các
vấn đề liên quan với ý tưởng chính. Các nhánh lớn sẽ được phân thành nhiều
nhánh nhỏ, rồi nhánh nhỏ hơn, nhánh nhỏ hơn nữa nhằm thể hiện chủ đề ở mức
độ sâu hơn. Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục và các kiến thức, hình ảnh luôn được
nối kết với nhau. Sự liên kết này tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả ý tưởng
trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng.
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2011- 2012
2
Qua nghiên cứu và thực nghiệm giảng dạy cho thấy một số GV còn gặp
khó khăn trong việc tổ chức hoạt động dạy học trên lớp với việc thiết kế và sử
dụng BĐTD. Bài viết này sẽ đưa ra một số gợi ý giúp GV giải quyết khó khăn
trên.
GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU:
- Thời gian: Từ tháng 8/2011 đến tháng 4/2012.
- Địa điểm: Trường THCS Yên Đức
- Đối tượng: Học sinh lớp 9.
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Môn Ngữ văn THCS gồm 3 phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn.
Có chung mục đích là giáo dục thẩm mĩ và rèn luyện cho HS các KN nghe, nói,
đọc viết, nhưng có vị trí độc lập tương đối và PPDH đặc thù.
Văn học có mục đích: giúp HS biết cách đọc để hiểu cho được giá trị của mỗi
văn bản thể hiện qua cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của
văn bản đó. Cái hay, cái đẹp trong nội dung và hình thức thể hiện của văn bản là
cái duy nhất không lặp lại, biểu hiện tối đa nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
Tiếng Việt: Hình thành ở HS năng lực sử dụng thành thạo tiếng Việt với bốn kĩ
năng cơ bản là: nghe, nói, đọc, viết.
- Giúp cho HS có những hiểu biết về ngôn ngữ Tiếng Việt, có ý thức sử dụng và
giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt.
- Dạy Tiếng Việt thông qua:
+ Từ: nghĩa, từ loại, các phép tu từ, cấu tạo, chức năng,…
+ Câu: Các loại câu, dấu câu, các thành phần của câu, cách sử dụng và
liên kết các câu,…
+ Đoạn văn: nhận thức về cách viết một đoạn văn, liên kết câu và liên kết
đoạn văn…
Làm văn: giúp HS nhận biết các loại văn bản, đặc điểm, chức năng cách thức
tạo lập văn bản theo từng loại thể.
- Phân môn Làm văn Ở THCS:
+ Văn nghệ thuật (miêu tả, tự sự, biểu cảm)
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
3
+ Văn nghị luận (chính trị - xã hội, văn học)
Năm học 2011- 2012
- Phân môn Làm văn chủ yếu mang tính thực hành, HS phải vận dụng những
kiến thức văn học, tiếng Việt và kiến thức đời sống xã hội để tạo lập các loại văn
bản dưới hình thức nói hoặc viết.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN :
BĐTD giúp học sinh học được phương pháp học tập chủ động, tích cực.
Thực tế ở trường phổ thông cho thấy, một số học sinh có xu hướng không thích
học môn Ngữ văn hoặc ngại học môn Ngữ văn do đặc trưng môn học thường
phải ghi chép nhiều, khó nhớ. Một số em học tập chăm chỉ nhưng thành tích
họch tập chưa cao. Các em thường học bài nào biết bài nấy, học phần sau không
biết liên hệ với phần trước, không biết hệ thồng kiến thức, liên kết kiến thức với
nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước vào bài học sau. Do đó, việc
sử dụng thành thạo BĐTD trong dạy học, sẽ giúp học sinh học được phương
pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy.
BĐTD giúp học sinh học tập tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ
não. Việc HS vẽ BĐTD có ưu điểm là phát huy tối đa tính sáng tạo của học sinh,
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2011- 2012
4
các em được tự do chọn màu sắc ( xanh, đỏ, tím, vàng…), đường nét (đậm, nhạt,
thẳng, cong..), các em tự “ sáng tác” nên trên mỗi BĐTD thể hiện rõ cách hiểu,
cách trình bày kiến thức của từng học sinh và BĐTD do các em tự thiết kế nên
các em sẽ yêu quý, trân trọng “ tác phẩm” của mình.
II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
1. Tổng quan:
BĐTD giúp HS ghi chép rất hiệu quả. Do đặc điểm của BĐTD nên người
thiết kế BĐTD phải chọn lọc thông tin, từ ngữ, sắp xếp bố cục để ghi thông tin
cần thiết nhất và lôgic, vì vậy, sử dụng BĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành
cách ghi chép hiệu quả.
BĐTD có thể sử dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các
trương hiện nay. Có thể thiết kế BĐTD trên giấy, bìa, bảng phụ… hoặc cũng có
thể thiết kế trên phần mềm bản đồ tư duy. Với những trường có điều kiện công
nghệ thông tin tốt, có thể cài đặt phần mềm Mindmap cho GV, HS sử dụng,
bằng cách vào trang wed www.min-map.com.vn ta có thể tải về miễn phí
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2011- 2012
5
ConceptDraw MINMAD 5 professional, việc sử dụng phần mềm này khá đơn
giản.
2. NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
2.1. Một số hình thức ứng dụng bản đồ tư duy để hỗ trợ quá trình dạy học
* Giáo viên sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học:
- Dùng BĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức
của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các
em để các em tìm ra các tự liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện BĐTD. Qua
BĐTD đó HS sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng.
Ví dụ:
Khi học bài “ So sánh” ( Môn Ngữ văn lớp 6), đầu giờ GV cho từ khoá “
So sánh” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em
để cấp 3…), sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước
lớp để các học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự
chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng
thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.
( Sơ đồ minh hoạ)
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2011- 2012
6
- Dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau
mỗi chương, phần…: Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh
tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ
BĐTD. Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành
tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách
nhanh chóng, dễ dàng.
Ví dụ:
Khi dạy phần từ loại Tiếng Việt, cho học sinh vẽ BĐTD sau mỗi bài học
để mỗi em có 1 tập BĐTD về các từ loại Tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ, số
từ, đại từ, quan hẹ tự, trợ từ, thán từ…. Lên đến lớp 9, trong bài “ Tổng Kết ngữ
pháp”, học sinh có thể dễ dàng tổng hợp kiến thức về từ loại Tiếng Việt bằng
BĐTD dựa vào tập BĐTD đã có. Sau khi có một học sinh hoặc một nhóm học
sinh vẽ xong BĐTD sẽ cho một học sinh khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung …
Có thể cho học sinh vẽ thêm các đường, nhánh khác và ghi thêm các chú thích…
rồi thảo luận chung trước lớp để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ BĐTD cho các
em.
( Sơ đồ minh hoạ)
Bản đồ tư duy bài “Tổng kết ngữ pháp”- Ngữ văn 9
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
7
Năm học 2011- 2012
Ví dụ:
Khi học bài “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du và bài thơ “ Ánh trăng” của
Nguyễn Duy( Môn Ngữ văn lớp 9), cuối giờ GV cho từ khoá “ Truyện Kiều ” và
“ Ánh trăng” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các
em, sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các
học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh
kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích
hứng thú học tập của học sinh.
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
8
Năm học 2011- 2012
Bản đồ tư duy bài “Truyện Kiều”- Ngữ văn 9
Ví dụ: Sơ đồ minh họa cho bài “ Ánh trăng” của Nguyễn Duy
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
9
Năm học 2011- 2012
2.2. Học sinh học tập độc lập, sử dụng BĐTD để hỗ trợ học tập, phát triển
tư duy lôgic:
- Học sinh tự có thể sử dụng BĐTD để hỗ trợ việc tự học ở nhà: Tìm hiểu trước
bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ BĐTD trên giấy, bìa… hoặc để
tư duy một vấn đề mới. qua đó phát triển khả năng tư duy lôgic, củng cố khắc
sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép.
- Học sinh trực tiếp làm viêc với máy tính, sử dụng phần mềm Mindmap, phát
triển khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng máy tính trong học tập.
2.3. Một số biện pháp ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học
môn Ngữ văn ở trường THCS Yên Đức
* Nâng cao nhận thức của GV và HS về vai trò của BĐTD trong đổi mới
phương pháp dạy học
* Nhà trường đã tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn để tuyên truyền, giới
thiệu cho giáo viên về vai trò, tác dụng của BĐTD trong hỗ trợ đổi mới phương
pháp dạy học. Từ đó giáo viên nâng cao nhận thức và tuyên truyền, phổ biến tới
học sinh theo môn học của mình.
- Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức của giáo viên về đổi mới phương pháp dạy
học.
- Quán triệt quan điểm chỉ đạo về đổi mới phương pháp dạy học;
- Nắm vững cấu trúc chương trình, SGK mới;
- Nắm vững nội dung đổi mới phương pháp dạy học;
- Tích cức dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm với đòng nghiệp;
- Tham dự sinh hoạt chuyên môn cụm, tổ đầy đủ, hiệu quả.
* Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng sử dụng BĐTD cho giáo viên
Người giáo viên có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đổi mới phương
pháp dạy học. Do đó muốn ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp hiệu
quả thì người giáo viên phải có kiến thức và kĩ năng sử dụng BĐT tốt.
Vì vậy, ngay từ ban đầu nhà trường đã rất coi trọng việc tập huấn chuyên
môn cho giáo viên. Cử cán bộ cốt cán có năng lực chuyên môn vững, có kiến
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2011- 2012
10
thức về công nghệ thông tin đi dự hội thảo, học hỏi kiến thức, kĩ năng về ứng
dụng BĐTD để về hướng dẫn cho giáo viên trong trường.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Sau một thời gian ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học
nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng ở trường
THCS Yên Đức đã bước đầu có những kết quả khả quan. Giáo viên đã nhận
thức được vai trò tích cực của ứng dụng BĐTD trong hỗ trợ đổi mới phương
pháp dạy học. Nhiều giáo viên đã biết sử dụng BĐTĐ để dạy bài mới, củng cố
kiến thức bài học, tổng hợp kiến thức chương, phần. Học sinh hiểu bài nhanh
hơn, hiệu quả hơn, Đa số các em học sinh khá, giỏi đã biết sử dụng BĐTD để
ghi chép bài, tổng hợp kiến thức môn học. Một số HS trung bình đã biết dùng
BĐTD để củng cố kiến thức bài học ở mức đơn giản.
- Đối với môn Ngữ văn, học sinh rất hào hứng trong việc ứng dụng BĐTD để
ghi chép bài nhanh, hiệu quả, đặc biệt là trong học Tiếng Việt.
Qua nghiên cứu lí luận và thực nghiệm dạy học ở một số tiết học cho
thấy, sử dụng BĐTD trong dạy học kiến thức mới giúp HS học tập một cách chủ
động, tích cực và huy động được tất cả HS tham gia xây dựng bài một cách hào
hứng. Với sản phẩm độc đáo “kiến thức + hội họa” là niềm vui sáng tạo hàng
ngày của HS và cũng là niềm vui của chính thầy cô giáo và phụ huynh HS khi
chứng kiến thành quả lao động của học trò của mình. Cách học này còn phát
triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên
BĐTD), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để chọn
lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ
viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
11
IV. KẾT LUẬN
Năm học 2011- 2012
Dạy học luôn là một quá trình sáng tạo, mục tiêu và nội dung chương
trình được xây dựng trên cơ sở tích hợp, điều này tạo điều kiện cho học sinh dễ
dàng mở rộng và nâng cao kĩ năng cũng như kiến thức của mình trong từng lớp,
cấp học. Nghị quyết TW 4 khóa VII, nghị quyết TW 2 khóa VIII và được pháp
chế hóa trong điều 24.2 của Luật Giáo dục: Định hướng chung của đổi mới
phương pháp dạy học là “Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh”. Ta có
thể hiểu tích cực ở đây là tích cực hoạt động nhận thức, tích cực trong tư duy,
tích cực một cách chủ động. Điều đó có nghĩa là học sinh chủ động trong toàn
bộ quá trình phát hiện, tìm hiểu và giải quyết nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ
chức, hướng dẫn của giáo viên. Do đó dạy tập làm văn là hình thành cho học
sinh năng lực tư duy, năng lực hành động. Muốn thế, chức năng của giáo viên
không chỉ là truyền thụ giảng giải kiến thức cho học sinh mà chính là tạo điều
kiện, tổ chức và khuyến khích học sinh tự mình tìm ra kiến thức mới, phát triển
kĩ năng và hình thành thái độ. Điều tôi muốn nói nhắn nhủ với các em học sinh:
“ Muốn có một bài văn hay đòi hỏi phải có cảm xúc chân thật khi viết, cảm xúc
hồn nhiên tươi trẻ xuất phát từ suy ngẫm trải nghiệm của chính mình, phải lao
tâm khổ luyện. Tránh lối viết theo kiểu khuôn sáo. Hãy viết bằng chính tâm sức
của mình, bằng sự nung nấu từ con tim, có như thế bài văn mới là sản phẩm
sáng tạo của chính các em”.
Trước đây, các tiết ôn tập chương một số GV cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ
đồ, biểu đồ,… và cả lớp có chung cách trình bày giống như cách của GV hoặc
của tài liệu, chứ không phải do HS tự xây dựng theo cách hiểu của mình, hơn
nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét. Gần đây,
sau một số đợt tập huấn của Dự án THCS II, nhiều GV đã áp dụng thành công
dạy học với việc thiết kế BĐTD. Có thể kể đến một số trường tham gia dự án
THCS II sau khi được tập huấn về đổi mới PPDH (trong đó có nội dung thiết kế,
sử dụng BĐTD) đã triển khai và bước đầu tạo một không khí sôi nổi, hào hứng
của cả thầy và trò trong các sinh hoạt ở tổ chuyên môn cũng như hoạt động dạy
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2011- 2012
12
học của nhà trường, là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi
đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT đang
đẩy mạnh triển khai.
Bước đầu cho phép kết luận: Việc vận dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần
hình thành cho HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách
nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng BĐTD kết hợp với các
phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình… có tính
khả thi cao góp phần đổi mới PPDH, đặc biệt là đối với các lớp ở cấp THCS và
THPT
V. ĐỀ NGHỊ:
* Trong công tác quản lí của hiệu trưởng:
- Hiệu trưởng phải là người gương mẫu, đi đầu trong đổi mới phương pháp dạy
học ( PPDH). Tổ chức, hướng dẫn giáo viên tích cực đổi mới PPDH. Chuẩn bị
tốt các điều kiện về cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện phục vụ công tác đổi
mới PPDH.
- Hiệu trưởng phải biết đánh giá đúng năng lực, trình độ của từng giáo viên
trong trường để động viên, khen thưởng kịp thời đối với giáo viên biết đổi mới
PPDH tích cực, hiệu quả.
* Tổ chuyên môn:
- Bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cốt cán về đổi mới PPDH.
- Tích cực dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm, tổ chức sinh hoạt chuyên môn
đúng kế hoạch;
- Thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức sinh hoạt chuyên môn;
- Đánh giá, xếp loại giáo viên đúng năng lực, trình độ và đề xuất khen thưởng
kịp thời những giáo viên tích cực trong đổi mới PPDH.
3. Với giáo viên:
- Nhiệt tình, say mê với nghề, tận tuỵ với học sinh.
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2011- 2012
13
- Luôn tạo hứng thú trong giờ học ( đặc biệt là các tiết tập làm văn- luôn luôn bị
coi là khó và khô) bằng các hình thức như: thi giữa các nhóm, tổ, tổ chức các trò
chơi, tạo các tình huống…để học sinh có hứng thú và yêu thích môn học hơn
Trên đây là những kinh nghiệm của bản thân tôi trong quá trình giảng dạy
ở trường THCS Yên Đức - một ngôi trường còn nhiều khó khăn, điều kiện học
tập của các em học sinh còn thiếu thốn nhiều. Nhưng bằng sự nỗ lực, thầy và trò
nhà trường đang dần dần khắc phục để đưa sự nghiệp giáo dục đi lên. Rất mong
được sự góp ý chân thành của lãnh đạo cấp trên và các bạn đồng nghiệp để sáng
kiến kinh nghiệm của tôi được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Yên Đức, ngày 18 tháng 5 năm 2012
Người thực hiện
Vũ Thị Bình Ngọc
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
14
Năm học 2011- 2012
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 6,7,8,9.
2. Sách giáo viên Ngữ văn 6,7,8,9.
3. Tài liệu chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn.
4. Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Ngữ văn THCS - Dự án phát triển GD
THCS II - Bộ GD & ĐT - T.S Nguyễn Văn Nam.
5. Sử dụng bản đồ tư duy góp phần tổ chức hoạt động học tập của học sinh- Tạp
chí Khoa học giáo dục, số chuyên đề TBDH năm 2009 - Trần Đình Châu, Đặng
Thị Thu Thủy.
6. Web: www.mind-map.com ( trang web chính thức của Tony Buzan).
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức
Sáng kiến kinh nghiệm
15
Năm học 2011- 2012
VII. PHỤ LỤC
STT
1
PHẦN
I. Đặt vấn đề
TRANG
1
2
Tầm quan trọng của vấn đề được nghiên cứu
1
3
Lý do chọn đề tài.
1
4
Giới hạn nghiên cứu đề tài
2
5
1. Cơ sở lí luận
2
6
2. Cơ sở thực tiễn.
3
7
II. Nội dung nghiên cứu
4
8
1. Tổng quan
4
9
2. Nội dung vấn đề nghiên cứu
5
10
2.1. Một số hình thức ƯDBĐ để hỗ trợ quá trình dạy học
5
11
2.2. Học sinh học tập độc lập, sử dụng BĐTD để hỗ trợ học tập...
9
12
2.3. Một số biện pháp ƯD BĐTD trong đổi mới PPDH...
9
13
III. Kết quả nghiên cứu
10
14
IV. Kết luận
11
15
V. Đề nghị
12
16
VI. Tài liệu tham khảo
14
Người thực hiện: Vũ Thị Bình Ngọc - Trường THCS Yên Đức