Tải bản đầy đủ (.doc) (3 trang)

Bai 5 phan I.1-Su menh lich su cua gccn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (93.02 KB, 3 trang )

1. Phân tích quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về GCCN và GCCN ở các nước TBCN hiện nay
a. Quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về GCCN
Trong những nghiên cứu của C.Mác và Ph.Ăngghen, GCCN được phản ánh từ nhiều góc độ, bằng các
khái niệm như: GCCN hiện đại, GCCN đại công nghiệp, GCCN thành thị, giai cấp vô sản, giai cấp vô sản hiện
đại, giai cấp làm thuê hiện đại... Các khái niệm này này phản ánh địa vị, đặc điểm kinh tế, chính trị - xã hội của
GCCN. Dù khái niệm GCCN có nhiều tên gọi khác nhau như thế nào đi nữa thì theo C.Mác và Ph.Ăngghen giai
cấp cơng nhân vẫn chỉ mang hai thuộc tính (tiêu chí) cơ bản. Đó là:
Thứ nhất, về phương thức lao động, phương thức sản xuất (nghề nghiệp), đó là những người lao động
trong lĩnh vực công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã
hội. Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt người cơng nhân hiện đại với người thợ thủ công thời Trung cổ hay
người thợ trong công trường thủ công. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Trong công trường thủ công và trong nghề
thủ công, người cơng nhân sử dụng cơng cụ của mình, cịn trong cơng xưởng thì người cơng nhân phải phục
tùng máy móc”. GCCN hiện đại là sản phẩm và là chủ thể của “đại cơng nghiệp” tức là cơng nghiệp hóa theo
cách gọi đương thời. “Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra”. “Công nhân cũng là một
phát minh của thời đại mới, giống như máy móc vậy... Cơng nhân Anh là đứa con đầu lịng của nền công
nghiệp hiện đại”. Do làm việc và sống trong xã hội cơng nghiệp, có quy trình cơng nghiệp, GCCN được rèn
luyện tác phong công nghiệp, lối sống và nhiều phẩm chất như hợp tác, đoàn kết, kỷ luật, vị tha,… Những
phẩm chất đó lại là tiền đề cho một giai cấp cách mạng và lãnh đạo cách mạng.
Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất TBCN, GCCN là những người lao động khơng có hoặc có rất ít
tư liệu sảnxuất, muốn sống họ chỉ có một tài sản duy nhất là sức lao động, muốn sống được họ phải bán sức lao
động cho nhà tư bản, làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư. Đây là đặc trưng cơ bản nhất
của GCCN dưới chế độ TBCN. Sự phát triển của CNTB, giai cấp tư sản và phương thưc bóc lột giá trị thặng dư
cũng là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của GCCN. “Điều kiện tồn tại của tư bản là lao động làm thuê”. GCCN là
chủ thể của hàng hóa sức lao động, cái mà nhờ nó, q trình sản xuất TBCN mới có được giá trị thặng dư.
Chính vì vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đều gọi GCCN dưới chế độ TBCN là giai cấp vô sản. “Giai cấp vô sản là
giai cấp những người công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán
sức lao động của mình để sống”. Mặt khác, vì mục tiêu tăng thêm lợi nhuận, giai cấp tư sản có nhu cầu ngày
càng tăng về sức lao động của GCCN. “Tư bản, túc là cái sở hữu bóc lột lao động làm thuê, cái sở hữu chỉ có
thể tăng thêm với điều kiện là phải sản xuất ra lao động làm thuê mới để lại bóc lột lao động làm thuê đó…”.
b. GCCN ở các nước TBCN hiện nay
Cơng nghiệp hóa vẫn là cơ sở khách quan để GCCN phát triển mạnh mẽ cả về chất lượng và số lượng. Do


số lượng công ty, xí nghiệp cơng nghiệp tư bản ngày càng nhiều nên thu hút một lượng lớn lao động vào làm
trong các cơng ty, xí nghiệp cơng nghiệp ngày càng nhiều; quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ tỷ trọng công
nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp, nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao sang cơ cấu kinh tế công nghiệp, dịch vụ
chiếm tỷ trọng cao, nông nghiệp chiếm tỷ trọng giảm đi đã làm cho GCCN phát triển mạnh về số lượng. Bên
cạnh đó, trong nền cơng nghiệp ngày càng hiện đại, quá trình cạnh tranh của CNTB ngày càng tăng nên các nhà
tư bản luôn cách mạng nền cơng nghiệp, cách mạng máy móc, cơng cụ lao động để sản xuất ra nhiều hàng hóa
và cạnh tranh với nhau. Do đó, để sản xuất trong mơi trường cơng cụ lao động hiện đại địi hỏi GCCN phải có
trình độ ứng dụng những công cụ lao động hiện đại đó cho nên nó cũng làm GCCN phát triển mạnh về chất
lượng.
GCCN hiện nay là chủ thể của quá trình sản xuất cơng nghiệp hiện đại mang tính xã hội hóa ngày càng
cao và gắn với kinh tế tri thức. Sản xuất và dịch vụ hiện đại đòi hỏi người lao động phải có hiểu biết sâu rộng cả
về tri thức và kỹ năng nghề nghiệp. Một bộ phận công nhân được đào tạo trình độ văn hóa và tay nghề cao làm
việc trong hệ thống tự động hóa, lao động của họ ngày càng mang tính kỹ thuật, trí tuệ và tạo ra năng suất lao
động cao. Họ đucợ gọi là công nhân – tri thức.
Công nhân hiện đại vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư là một thực tế của thế giới đương đại. Công nhân ngày
nay có trình độ rất cao và vận hành trong nền đại công nghiệp hiện đại nên làm ra một lượng sản phẩm rất lớn,
tạo ra một lượng kinh tế rất cao, đem lai lợi nhuận rất lớn, tuy nhiên tần suất và tỷ lệ bóc lột giá trị thặng dư của
nhà tư bản đối với GCCN cũng rất cao. Nếu như ở thế kỷ trước, tần suất bóc lột giá trị thặng dư là 1/4 hoặc 1/5
nghĩa là giá trị thặng dư làm ra nhà tư bản chiếm 4 hoặc 5 cong người cơng nhân hưởng 1, thì trong điều kiện
ngày nay, người công nhân chỉ hưởng 1 phần nhỏ cong nhà tư bản chiếm phần rất lớn với tần suất có thể là
1/300 hay 1/400 hoặc 1/1000, thậm chí là 1/3000. Do đó, GCCN càng tri thức hóa bao nhiêu thì lượng tạo ra
giá trị thặng dư càng cao, đem lại lợi nhuận khổng lồ nhưng mức hưởng thụ rất thấp cho nên vẫn bị bóc lột giá
trị thặng dư.


Mối quan hệ lợi ích của GCCN và lọi ích quốc gia dân tộc cũng đang xuất hiện những tình huống mới.
Tồn cầu hóa vừa liên kết về mặt lực lượng sản xuất lại vừa chia rẽ người lao động trong quan hệ sản xuất, do
họ gắn bó về lợi ích với các doanh nghiệp tư bản, các tập đoàn xun quốc gia. Lợi ích của cơng nhân vừa gắn
bó với lợi ích của quốc gia - dân tộc vừa phụ thuộc vào thành phần kinh tế, tác động của thị trường sức lao động
và biến động của kinh tế tồn cầu. Doanh nghiệp xun quốc gia có thể đặt chi nhánh, thuê lao động ở bất kỳ

nơi nào rẻ nhất; vì thê, người lao động khơng chỉ cạnh tranh với đồng bào, mà cong phải cạnh tranh với nhiều
người lao động của nhiều nước khác,… Thực tế đó tạo ra những quan hệ phức tạp, đan xen các dạng lợi ích và
khách quan đặt ra “nhu cầu về những hình thức tập hợp lực lượng mới”.
Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, bộ mặt của chủ
nghĩa tư bản đã có những thay đổi to lớn và đi cùng với nó là sự thay đổi nhất định của giai cấp công nhân so
với trước kia. Cơ cấu ngành nghề của giai cấp cơng nhân đã có những thay đổi to lớn: bên cạnh cơng nhân của
nền cơng nghiệp cơ khí, đã xuất hiện công nhân của nền công nghiệp tự động hố. Giai cấp cơng nhân hiện nay
khơng chỉ bao gồm những người lao động trong công nghiệp, trực tiếp tạo ra các giá trị vật chất cho xã hội mà
còn bao gồm những người lao động trong các bộ phận dịch vụ công nghiệp, gián tiếp tham gia vào quá trình sản
xuất vật chất. Song, dù cho trình độ kỹ thuật có thay đổi như thế nào đi nữa thì xét theo tiêu chí kinh tế - xã hội,
giai cấp công nhân vẫn tồn tại như một giai cấp đặc thù với cả hai tiêu chí cơ bản nêu trên.
Tóm lại, từ lý luận kinh điển và thực tiễn hiện nay, có thể quan niệm: GCCN là sản phẩm và là chủ thể
của q trình cơng nghiệp hóa. Họ gắn liền với quá trình sản xuất vật chất hiện đại, là đại biểu cho phương sản
xuất mang tính xã hội hoá ngày càng cao và là lực lượng đi đầu trong cơng cuộc đấu tranh vì tiến bộ trong xã
hội hiện đại. GCCN là giai cấp có sứ mệnh lịch sử xóa bỏ chế độ TBCN, xây dựng thành cơng CNXH và
CNCS trên tồn thế giới.
2. Về sứ mệnh lịch sử của giai cấp cơng nhân
a. GCCN có sứ mệnh lịch sử xác lập một hình thái kinh tế - xã hội mới trên phạm vi toàn thế giới
Trong lịch sử, sự nghiệp xác lập một hình thái kinh tế - xã hội mới trên phạm vi toàn thế giới được trao
cho một giai cấp tiến bộ đương thời, đại diện cho một phương thức sản xuất mới của nhân loại. Chẳng hạn giai
cấp chủ nô với việc xác lập hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ; giai cấp phong kiến với việc xác lập hình
thái kinh tế - xã hội phong kiến; giai cấp tư sản với việc xác lập hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa và
hiện nay là GCCN với việc xác lập hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Sứ mệnh lịch sử thường xuất
hiện ở điểm giao thời - quá độ giữa một hình thái cũ đang suy tàn và một hình thái mới đang xuất hiện.
Điều kiện cơ bản để một giai cấp đảm nhận sứ mệnh lịch sử trước tiên giai cấp đó phải là giai cấp đại diện
cho tiến bộ xã hội mà cụ thể là đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ với năng suất lao động cao hơn, cách
tổ chức lao đọng xã hội phù hợp và tiến bộ hơn. Bản thân giai cấp đó cũng có một hệ tư tưởng riêng phản ánh
nhận thức về quy luật lịch sử và có được hạt nhân chính trị của giai cấp mình (chính đảng).
b. Phân tích các đặc điểm sứ mệnh lịch sử của GCCN
Một là, sứ mệnh lịch sử của GCCN là thực hiện sự nghiệp cách mạng của quần chúng và mang lại lợi ích

cho đa số. Lần đầu tiwwn trong lịch sử có “một cuộc cách mạng của đại đa số mưu lợi ích cho tuyệt đại đa số”,
nhờ việc hướng tới xây dựng một xã hội trên cơ sở công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu. Sự thống nhất cơ
bản về lợi ích của GCCN và lợi ích của nhân dân lao động cũng tạo điều kiện để hiện thực hóa đặc điểm này.
Lực lượng sản xuất phát triển cao và chế độ công hữu sẽ tạo ra cơ sở kinh tế để chấm dứt vĩnh viễn chế độ
người bóc lột người. GCCN cũng chỉ có thể tự giải phóng mình thơng qua việc đồng thời giải phóng các giai
cấp bị áp bức và bóc lột khác. “GCCN là giai cấp thống trị về chính trị, giai cấp lãnh đạo toàn xã hội trong cuộc
đấu tranh lật đổ ách tư bản, trong sự nghiệp sáng tạo ra xã hội mới, trong toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu
hoàn toàn các giai cấp”.
Hai là, sứ mệnh lịch sử này không phải là thay thế chế độ sở hữu tư nhân này bằng chế độ sở hữu tư nhân
khác như những lần trước đây, mà là xóa bỏ triệt để tư hữu về tư liệu sản xuất. Với mục tiêu giải phóng người
lao động, xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là xóa bỏ cơ sở của chế độ người bóc lột người cuối
cùng trong lịch sử. Đối tượng xóa bỏ ở đây là sở hữu sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa với tư cách là nguồn gốc
sinh ra áp bức, bóc lột hiện đại. Với tư cách là điều kiện để cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi, xóa bỏ chế
độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa sẽ tạo ra cơ sở kinh tế xã họi cho sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản
xuất, từ đó tạo ra điều kiện vật chất để tiến tới xóa bỏ giai cấp và áp bức giai cấp. Xóa bỏ sở hữu cần được hiểu
là một quá trình “lịch sử - tự nhiên” chứ khơng thể duy ý chí. Xét đến cùng, sự nghiệp này cũng chịu sự quy
định của trình độ lực lượng sản xuất.
Ba là, việc GCCN giành lấy quyền lực thống trị xã hội là tiền đề để cải tạo toàn diện xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới nhằm mục tiêu cao nhất là giải phóng triệt để con người. Các cuộc cách mạng trước đây chỉ giải


phóng cho một nhóm trong xã hội và coi việc giành được chính quyền là mục tiêu duy nhất để thực hiện quyền
tư hữu. Thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của GCCN, con người được giải phóng khỏi những hạn chế của tự
nhiên và áp bức của xã hội, có điều kiện để phát triển tự do và tịn diện. Theo đó, lần đầu tiên con người “bước
từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do”.
c. Phân tích nội dung và điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN
* Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là những nhiệm vụ cần phải thực hiện trong quá trình
xây dựng hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Xét theo lĩnh vực thể hiện, sứ mệnh lịch sử có ba nội
dung cơ bản.
Một là, nội dung về kinh tế. GCCN dù ở chế độ chính trị nào, cũng là chủ thể của quá trình sản xuất vật

chất bằng phương thức sản xuất cơng nghiệp mang tính chất xã hội hóa cao, sản xuất ngày càng nhiều của cải,
đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng của con người.Qua đó, họ tạo ra tiền đề vật chất - kỹ thuật cho sự ra đời
của xã hội mới. Ở các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay, từ vị thế của mình, GCCN đang thực hiện nội cung kinh
tế này thông qua cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội hóa mạnh mẽ. Ở
các nước XHCN, thơng qua q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, GCCN thực hiện “một kiểu tổ chức xã hội
mới về lao động” để tăng năng suất lao động và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.



×