Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

Tổng hợp kiến thức mac lênin 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (13.02 MB, 87 trang )

NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN 1
CHƯƠNG MỞ ĐẦU: NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA
MÁC - LÊNIN
I.
Khái lược về chủ nghĩa Mác-Lênin
1.1 Chủ nghĩa Mác Le6nin và ba bộ phận lý luận cấu thành:
a. Chủ nghĩa Mác - Lênin


Chủ nghĩa Mác-Lênin “là hệ thống quan điểm và học thuyết ” khoa học của C.Mác,
Ph.Ăngghen và sự phát triển của V.I.Lênin;



Sự kế thừa và phát triển những giá trị của lịch sử tư tưởng nhân loại, trên cơ sở thực tiễn
của thời đại;



Khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vơ sản, giải phóng nhân dân lao động và giải
phóng con người;



Thế giới quan và phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học.

b. Ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin bao gồm hệ thống tri thức phong phú về nhiều lĩnh vực, nhưng trong đó có
ba bộ phận lý luận quan trọng nhất là: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa
học.
Đối tượng, vị trí, vai trị và tính thống nhất của ba bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác –


Lênin
Chủ nghĩa
Mác - Lênin

Triết học

Nền tảng lý luận,
thế giới quan và
phương pháp luận

Kinh tế chính trị

Mẫu mực về
sự vận dụng lý luận

Chủ nghĩa xã hội
khoa học

Nguyên tắc hành động
của GCVS hiện thực
hóa lý tưởng

1.2. Khái lược q trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin
a. Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác-Lênin


Điều kiện kinh tế - xã hội


Cuối TK 18 đầu TK 19 phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển

Giai cấp vô sản công nhân trở thành lực lượng tiên tiến phát triển
Nhu cầu lý luận của thực tiễn cách mạng
Sù cđng cè vµ phát triển của phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa trong điều kiện cách
mạng công nghiệp
Do tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, LLSX phát triển rất mạnh mẽ, từ đó, PTSX
TBCN đợc củng cố vững chắc, đúng nh nhận định của C.Mác và Ph.Ăngghen: Giai cấp t sản,
trong quá trình thống trị giai cấp cha đầy một thế kỷ, đà tạo ra những lực lợng sản xuất nhiều
hơn và đồ sộ hơn LLSX của tất cả các thế hệ trớc kia gộp lại[1].
Giai cấp vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử với tính cách một lực lợng chính trị - xà hội
độc lập
Nhu cu lý lun ca thc tin cỏch mng
Một là, vạch trần tính chất sai lầm của sự khẳng định của các nhà t tëng t s¶n vỊ han hoan
chung cđa t b¶n và lao động.
Hai là, đề ra nhu cầu xà hội phải giải thích một cách khoa học những thực tế của cuộc đấu tranh
đang phát triển giữa GCVS và GCTS, phải thay đổi những quan niệm cũ về lịch sử bằng những
quan niệm mới, phải trả lời một cách rõ ràng vấn đề : số phận của loài ngời sẽ ra sao? lực lợng
nào đóng vai trò chủ yếu trong xà hội t bản, giai cấp vô sản có sứ mệnh lịch sử gì?
Sự xuất hiện chủ nghĩa Mác - hƯ t tëng khoa häc cđa GCVS, PTCN ®· chun sang
giai đoạn phát triển mới
Vào giữa những năm 40 của thế kỷ 19, CNTB đà phát triển ở các nớc Tây Âu tiên tiến. Thời kỳ
đó đà diễn ra những mâu thuẫn không thể điều hoà đợc giữa GCVS và GCTS. GCVS đà ý thức
đợc những lợi ích căn bản của mình và tiến hành cuộc đấu tranh chống CNTB. Đó là cơ sở kinh
tế - xà hội của sự xuất hiện chủ nghĩa Mác.

ã

Tin lý lun
Triết học cổ điển Đức

Sự kế thừa của Mác - Ăngghen đối với

hệ thống triết học Hêghen
C.Mác và Ph.Ăngghen đà phê phán, lọc bỏ những yếu tố duy tâm, thần bí, đồng thời kế thừa,
phát triển hạt nhân hợp lý là phép biện chứng của Hêghen, để xây dựng nên lý luận mới cđa
phÐp biƯn chøng- PBCDV
Sù kÕ thõa cđa M¸c - ¡ngghen đối với
hệ thống triết học Phoiơbắc


C.Mác và Ph.Ăngghen trên cơ sở phê phán quan điểm siêu hình về tự nhiên, duy tâm trong
quan niệm về xà hội của Phoiơbắc, đà xây dựng nên CNDV triệt để- CNDVBC cả về tự nhiên và
xà hội
Kinh tế chính trị cổ điển Anh
Sự kế thừa của Mác - Ăngghen đối với
kinh tế chính trị cổ điển Anh
Nhờ việc nghiên cứu t tởng kinh tế của A. Smith, Ricácđô, đặc biệt là học thuyết giá trị của các
ông, C.Mác đà nhận ra rằng, kinh tế là yếu tố quy định quy luật vận động của lịch sử, từ đó hoàn
thiện quan niệm duy vật lịch sử, đồng thời xây dựng nên các học thuyết kinh tế của mình.
Chủ nghĩa xà hội không tởng Pháp
C.Mác và Ph.Ăngghen đà tiếp thu t tởng của S.Phuriê và Xanh Ximông về một xà hội tơng lai tốt
đẹp, dựa trên chế độ công hữu và lao động tập thể để từ đó xây dựng nên hình mẫu xà hội cộng
sản. Tuy nhiên, dựa trên học thuyết duy vật lịch sử của mình, cùng với việc phát hiện ra sứ
mệnh của giai cấp vô sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đà khắc phục tính không tởng trong học
thuyết của Xanh Xi mông và Phuriê, do đó CNXH từ không tởng trở thành khoa học

ã

Tin khoa hc t nhiên

Sù ph¸t triĨn cđa triÕt häc nãi chung, triÕt häc duy vật nói riêng, không thể tách rời với sự phát
triển của các khoa học cụ thể, đặc biệt là khoa học tự nhiên. Nh Ph.Ăngghen đà chỉ rõ, mỗi khi

KHTN có nhng phát minh mang tính chất vạch thời đại thì CNDV không thể không thay đổi
hỡnh thức của nó.
Ba phát minh đầu thế kỷ XIX có ý nghĩa lớn đối với sự hỡnh thành triết học DVBC là:
* ịnh luật bảo toàn và chuyển hóa năng lợng.
* Thuyết tÕ bµo
* Thut tiÕn hãa cđa Đac-uyn.
ý nghÜa cđa những phát minh khoa học tự nhiên cuối TK XIX đầu TK XX
Với nhng phát minh đó, khoa học đà vạch ra mối liên hệ thống nhất gia nhng dạng tồn tại
khác nhau, các hỡnh thức vận động khác nhau trong tÝnh thèng nhÊt vËt chÊt cđa thÕ giíi, v¹ch
ra tÝnh biện chứng của sự vận động và phát triển của nã.


Nhng điều kiện lịch sử của sự ra đời chủ nghĩa Mác
Chứng tỏ rằng, sự ra đời chủ nghĩa Mác là một tất yếu lịch sử, là một bớc phát triển có tính cách
mạng, hợp quy luật trong lịch sử t tởng nhân loại.
b. C.Mác, Ph.Ăngghen vi quá trỡnh hỡnh thành và phát triển của Chủ nghĩa Mác
- 1842- 1845 và quá trỡnh chuyển biến t tởng của Mác, Ph.Ăngghen từ CNDT và DCCM sang
CNDV và CNCS
- 1845-1848: Giai đoạn ®Ị xt những nguyªn lý cơ bản của CN Mác
- 1848-1895: Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung và phát triÓn CN Mác




II.

Đối tượng, mục đích & yêu cầu về phương pháp học tập,
nghiên cứu mơn học
1. Đối tượng và mục đích của việc học tập, nghiên cứu


Đối tượng: Những quan điểm cơ bản, nền tảng và mang tính chân lý bền vững của CN M-L
trong phạm vi ba bộ phận lý luận cấu thành nó
Mục đích:


Nắm vững quan điểm khoa học, cách mạng và nhân văn của CN M-L.



Hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của TT HCM, đường lối CM của ĐCSVN.



Xây dựng TGQ & PPL khoa học, NSQ CM, niềm tin, lý tưởng CM.



Rèn luyện, tu dưỡng đạo đức yêu cầu của con người VN trong sự nghiệp bảo vệ TQ và
xây dựng thành công CNXH.

2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu


Hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó chống xu hướng kinh viện, giáo điều.



Sự thống nhất trong tính đa dạng, nhất quán trong mỗi tư tưởng, luận điểm nói riêng và
CN M-L nói chung.




Hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của TT HCM, đường lối CM của ĐCSVN.



Đáp ứng những yêu cầu của con người VN trong giai đoạn mới.




Tiến trình phát triển lịch sử của CN M-L là sự kế thừa và phát triển những giá trị tinh hoa
của tư tưởng nhân loại trong điều kiện lịch sử mới.

CHƯƠNG 1: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
I.

CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT BiỆN CHỨNG

1. Vấn đề cơ bản của Triết học, sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm.
a. Vấn đề cơ bản của triết học
Triết học nghiên cứu thế giới nói chung. Trong đó, tất cả các sự vật, hiện tượng đều được
khái quát trong hai phạm trù “vật chất” hoặc “ý thức”.
QUAN NIỆM CỦA PH.ĂNGGHEN
“Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư
duy và tồn tại”
Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt :
- Giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?
- Tư duy của con người có thể phản ánh trung thực thế giới khách quan không? Hay nói cách
khác, con người có khả năng nhận thức thế giới hay khoâng?


b. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm


Những nhà duy vật cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau; vật chất quyết định ý thức,
học thuyết của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy vật.
Những nhà duy tâm cho rằng ý thức có trước vật chất, ý thức quyết định vật chất, học thuyết
của họ hợp thành các môn phái khác nhau của chủ nghĩa duy tâm.
2.Các hình thức biểu hiện của chủ nghĩa duy vật:
a.Chủ nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại.
Xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là Ấn Độ, Trung Quốc, Hy Lạp.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này nói chung là đúng đắn nhưng còn chất phác,
giản đơn, chủ yếu dựa vào sự quan sát trực quan, cảm tính, chưa có căn cứ khoa học.
b. Chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình thế kỷ XVII – XVIII
Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ của cơ học khiến cho quan điểm xem xét thế giới theo kiểu
máy móc, siêu hình chiếm địa vị thống trị và phát triển mạnh mẽ đến các nhà duy vật.
Các nhà duy vật máy móc, siêu hình xem xét giới tự nhiên và con người như một hệ thống
máy móc phức tạp và chỉ thấy sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng, không phát triển.
c. Chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Quá trình khắc phục các thiếu sót máy móc, siêu hình và duy tâm khi xem xét các hiện tượng
xã hội của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – thế kỷ XVIII cũng đồng thời là quá trình ra đời hình
thái thứ ba của chủ nghĩa duy vật, đó là chủ nghĩa duy vật biện chứng.
d. Vai trò của chủ nghĩa duy vật
- Chủ nghĩa duy vật là thế giới quan khoa học, là cơ sở lý luận đúng đắn dẫn dắt, thúc đẩy
các khoa học phát triển. Là công cụ hữu hiệu giúp nhân loại tiến bộ cải tạo thế giới.
- Giải phóng con người khỏi những niềm tin sai lệch, bác bỏ mạnh mẽ đức tin mù quáng của
tôn giáo.
3.Chủ nghĩa duy tâm
Chủ nghĩa duy tâm cũng xuất hiện vào thời cổ đại, tồn tại dươùi hai dạng chủ yếu:
a. Chủ nghĩa duy tâm khách quan, bắt đầu từ PLaton( 472-347 trước công nguyên) ở Hy Lạp

và phát triển đến đỉnh cao là Hêghen ở Đức: cho rằng có một thực thể tinh thần khơng những
tồn tại trước, độc lập với ý thức con người mà còn sinh ra và quyết định tất cả các quá trình của
thế giới vật chất. Thực thể đó gọi là “ ý niệm”.

b. Chủ nghóa duy tâm chủ quan với các đại biểu nổi tiếng như G.Béccơli( 1684-1753) ở Ai
Len và Đ. Hium(1711-1766) ở Anh cho rằng: cảm giác, phức hợp những cảm giác có trước và
tồn tại sẵn trong con người, trong chủ thể nhận thức, còn các sự vật bên ngoài chỉ là phức hợp
của những cảm giác đó mà thoâi.


c. Nguồn gốc của chủ nghóa duy tâm.
- Nguồn gốc nhận thức: bắt nguồn từ cách xem xét phiến diện, tuyệt đối hóa một mặt, một
đặc tính nào đó trong quá trình nhận thức mang tính biện chứng của con người.
- Nguồn gốc xã hội: do sự tách rời lao động trí óc với lao động chân tay và sự thống trị của
lao động trí óc với lao động chân tay trong xã hội cũ đã tạo ra quan niệm sai lầm về vai trò
quyết định của nhân tố tư tưởng tinh thần đối với nhân tố vật chất.
II. QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ BIỆN
CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC.
1. Vật chất
a.Phạm trù vật chất
- Quan niệm trước Mác: Vật chất được coi là thực thể, cơ sở đầu tiên bất biến của tất cả
các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan.
Quan niệm về vật chất của các nhà duy vật cổ đại mang tính trực quan cảm tính, thể hiện
ở chỗ họ đã đồng nhất vật chất với những vật thể cụ thể, coi đó là cơ sở đầu tiên của mọi tồn
tại.
Ví dụ:
- Phái Cha-rơ-vác (Ấn độ) coi cơ sở đầu tiên là đất, nước, lửa và khơng khí.
- Triết học cổ đại TQ coi vật chất là “Ngũ hành”
- Trường phái triết học Hy-lạp cổ đại coi cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại là nước (Ta-lét), khơng
khí (A-na-xi-men); lửa (Hê-ra-clít). Đê-mơ-crit, thừa nhận có hai cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại

đó là nguyên tử và trống rỗng.



Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, vật lý học có những phát minh quan trọng. Cụ thể là:
- 1895, Rơnghen (Đức) phát hiện ra tia X
- 1896, Beccơren (Pháp) phát hiện ra hiện tượng phóng xạ
- 1897,Tơmxơn(Anh) phát hiện ra điện tử.
-1901,Kauphman phát hiện ra hiện tượng rất quan trọng là trong quá trình vận động, khối
lượng của điện tử tăng khi vận tốc của nó tăng.


Những phát minh trong vật lý học đã chứng minh sự đồng nhất vật chất với những dạng cụ thể
của vật chất, đây là căn cứ để CNDT lợi dụng chống lại CNDV.
Các nhà triết học duy tâm cho rằng: các phát minh trong vật lý học đã chứng tỏ “Vật chất tiêu
tan mất” và như thế toàn bộ nền tảng của CNDV bị sụp đổ hồn tồn
Chính trong hồn cảnh này, Lênin đã khái quát những thành tựu của KHTN và chỉ rõ vật chất
không bị tiêu tan. Cái bị tiêu tan, bị bác bỏ chính là giới hạn hiểu biết về vật chất, là quan điểm
siêu hình, máy móc trong nhận thức khoa học cho rằng giới tự nhiên là có tận cùng về cấu trúc;
Trên sự phân tích ấy, V.I.Lênin đưa ra định nghĩa về phạm trù vật chất.
Định nghĩa của V.I.Lênin về "vật chất"
“Vật chất là một phạm trự triết học dựng để chỉ thực tại khỏch quan được đem lại cho
con người trong cảm giỏc, được cảm giỏc của chỳng ta chộp lại, chụp lại, phản ỏnh và
tồn tại khụng lệ thuộc vào cảm giỏc.”
Định nghĩa vật chất của V.I Lênin bao gồm những nội dung chính sau:
* Vật chất – cái tồn tại khách quan bên ngồi ý thức và khơng phụ thuộc vào ý thức.
* Vật chất – cái gây nên cảm giác một khi tác đọâng trực tiếp hay gián tiếp lên các giác quan
con người.
* Vật chất – cái được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh tức là con người có
thể nhận thức được thế giới.

b. Ý nghĩa :


- Bác bỏ thuyết không thể biết đồng thời, khắc phục những khiếm khuyết trong các quan
điểm máy móc, siêu hình về thế giới.
- Định hướng đối với các khoa học cụ thể trong việc tìm kiếm các dạng hoặc các hình thức
mới của vật thể trong thế giới.
- Trong lĩnh vực xã hội, cho phép xác định cái gì là vật chất, giúp các nhà khoa học có cơ sở
lý luận để giải thích những nguyên nhân cuối cùng của các biến cố xã hội, tìm ra các phương
án tối ưu để thúc đẩy xã hội phát triển.
2. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất
“Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất,
là một thuộc tớnh cố hữu của vật chất, - thỡ bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quỏ trỡnh
diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trớ đơn giản cho đến tư duy.”
Theo quan điểm của Mác – Lênin, vận động là sự tự thân vận động của vật chất, được tạo nên
do sự tác động lẫn nhau của chính các thành tố nội tại trong cấu trúc của vật chất.
Quan điểm này đã được chứng minh bằng những thành tựu của khoa học tự nhiên và những
phát kiến của khoa học hiện đại.
Vật chất không do ai sáng tạo ra và không bao giờ bị tiêu diệt, cho nên vận động với tính
cách là phương thức tồn tại tất yếu của vật chất cũng không thể mất đi hoặc được sáng tạo ra.
Thừa nhận sự tồn tại vĩnh cửu của vật chất, trên thực tế cũng có nghĩa thừa nhận tính vơ sinh,
vơ diệt của vận động.
Nếu một hình thức vận động nào đó của một sự vật nhất định mất đi thì tất yếu sẽ nảy sinh
một hình thức vận động khác thay thế.
Nghĩa là các hình thức vận động chỉ chuyển hóa lẫn nhau, chứ vận động của vật chất nói
chung thì vĩnh viễn tồn tại cùng với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất





Những trình độ vận động này tương ứng với trình độ của các kết cấu vật chất. Các hình thức
vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức vận động thấp, bao hàm trong đó tất cả những
hình thức vận động thấp hơn.
Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức vận động khác
nhau. Tuy nhiên, bản thân sự tồn tại của sự vật đó bao giờ cũng được đặc trưng bằng một hình
thức vận động cơ bản.
Vận động và đứng im
Trong quá trình vận động tuyệt đối, vật chất luôn bao hàm hiện tượng đứng im tương đối.
Khả năng đứng im tương đối, khả năng cân bằng tạm thời là những điều kiện chủ yếu của
sự phân hóa của vật chất.
Hiện tượng đứng im tương đối hoặc trạng thái cân bằng tạm thời của sự vật trong quá trình
vận động của nó, trên thực tế chỉ xảy ra khi sự vật được xem xét trong một quan hệ xác định
nào đó.
Đặc điểm của hiện tượng đứng im tương đối là:
+ Hiện tượng đứng im tương đối chỉ xẩy ra trong một mối quan hệ nhất định chứ không phải
trong mọi quan hệ trong cùng một lúc
+ Đứng im chỉ xẩy ra với một hình thái vận động trong một lúc nào đó, chứ khơng phải với
mọi hình thái vận động trong cùng một lúc.


+ Đứng im chỉ biểu hiện của một trạng thái vận động, vận động trong thăng bằng, trong sự ổn định
tương đối, biểu hiện thành một sự vật, một cây, một con…trong khi nó còn là nó, chưa bị phân hóa thành
cái khác. Không có đứng im tương đối thì không có sự vật nào cả.
+ Vận động cá biệt có xu hướng hình thành sự vật, hiện tượng ổn định nào đó, còn vận động nói
chung, tức là sự tác động qua lại lẫn nhau giữa sự vật hiện tượng làm cho tất cả không ngừng biến đổi.
Khơng gian và thời gian
Không gian là phương thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính. Nó thể hiện chiều
dài, chiều rộng, chiều cao của vật thể.
Thời gian là phương thức tồn tại của vật chất xét về mặt độ dài diễn biến, thể hiện ở sự kế
tiếp nhau của q trình vận động của vật thể.

Khơng gian và thời gian có những tính chất sau đây:
+ Tính khách quan : Vật chất tồn tại khách quan, không gian, thời gian là thuộc tính gắn liền
với vật chất do đó, chúng cũng tồn tại khách quan.
+ Tính vĩnh cửu và vơ tận : Vơ tận có nghĩa là khơng có tận cùng về một phía nào cả, cả về
đằng trước lẫn đằng sau, cả về phía trên lẫn phía dưới, cả về bên phải lẫn bên trái.
+ Tính ba chiều của không gian(chiều dài, chiều rộng, chiều cao) và tính một chiều của thời
gian( từ quá khứ tới tương lai)
Tính thống nhất vật chất của thế giới
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống
nhất ở tính vật chất. Theo quan điểm đó:
- Một là, chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất; thế giới vật chất là cái có trước, tồn
tại khach quan, độc lập với ý thức của con người.
- Hai là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không được sinh ra và không bị
mất đi.

- Ba là, mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống nhất với nhau, biểu hiện ở
chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu vật chất, có nguồn gốc vật
chất, do vật chất sinh ra và cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của
thế giới vật chất.
Trong thế giới vật chất không có gì khác ngoài những quá trình vật chất đang biến đổi và
chuyển hóa lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả của nhau.
Những thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại đã chứng minh cho luận điểm trên. Có thể
khẳng định rằng, tất cả các sự vật, từ trên quả đất của chúng ta đến các hành tinh xa xôi, đều


có cấu trúc vật lý, hóa học thống nhất, đều được tạo ra từ các phân tử, nguyên tử và các hạt cơ
bản, thậm chí từ các trường vật lý nữa.
Sự thống nhất ở đây còn được bao gồm tất cả giới vô sinh, giới hữu sinh và xã hội vào một
bức tranh thế giới duy nhất, trong đó giữa chúng cịn có sự liên hệ qua lại, chuyển hóa lẫn
nhau, vận động và phát triển.


Chính q trình này cho phép chúng ta thấy được đầy đủ sự thống nhất vật chất của thế giới
với tất cả các trạng thái, các giai đoạn phát triển, từ các hạt cơ bản đến phân tử, từ các phân tử
đến các cơ thể sống và từ cơ thể sống đến con người và xã hội loài người.
Như vậy, thế giới vật chất tồn tại khách quan, vĩnh viễn và vô tận. Tuy thế giới vật chất đa
dạng và phong phú nhưng tất cả đều là vật chất, đều thống nhất ở tính vật chất của nó.
Ý nghĩa phương pháp luận của tính thống nhất vật chất của thế giới:
Làm sáng tỏ thêm nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, chỉ ra sai lầm của phương pháp siêu
hình về sự bất động, tĩnh tại của các sự vật, hiện tượng trong thế giới.

Ý thức ra đời là kết quả sự phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất. Nội dung
của nó là thơng tin về thế giới bên ngồi. Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào trong bộ
óc người.
Như vậy, bộ óc người cùng với thế giới bên ngồi tác động lên bộ óc là nguồn gốc tự nhiên
của ý thức.
- Nguồn gốc xã hôi:


Lao động, con người trao đổi kinh nghiệm, trao đổi tư tưởng cho nhau. Chính nhu cầu đó dẫn
đến sự xuất hiện ngơn ngữ. Ngơn ngữ là hệ thống tín hiệu thứ hai, hệ thống tín hiệu vật chất
mang nội dung ý thức.
Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp đồng thời là công cụ của tư duy.
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp nhất, quyết định sự ra đời, phát triển ý thức là lao động, ngôn
ngữ và quan hệ xã hội.
Bản chất của ý thức
- Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người một cách năng động,
sáng tạo; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Trên cơ sở cái đã có, ý thức có thể sáng tạo ra tri thức mới, có thể tưởng tượng ra cái
khơng có trong thực tế, có thể tiên đốn, dự báo tương lai, có thể tạo ra các huyền thoại, giả
thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và khái quát cao, thậm chí ở một số người có khả

năng đặc biệt như tiên tri, thơi miên, ngoại cảm,….
Q trình ý thức là quá trình thống nhất của ba mặt sau đây :
+ Thứ nhất: Trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh. Sự trao đổi có tính hai
chiều, có định hướng và chọn lọc.
+ Thứ hai : Mơ hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng tinh thần, mã hóa các đối tượng
thành ý tưởng, tinh thần phi vật chất.
+ Thứ ba : Chuyển mơ hình tư duy ra hiện thực, tức là quá trình hiện thực hóa tư tưởng.
Tính sáng tạo của ý thức là sáng tạo của phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của phản
ánh mà kết quả bao giờ cũng là hình ảnh tinh thần.
Tĩm lại:
Ý thức là một hiện tượng xã hội bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử – xã hội, phản ánh những quan
hệ xã hội khách quan
Kết cấu của ý thức
Tri thức là nội dung cơ bản của ý thức. Tri thức là kết quả của quá trình con người nhận
thức thế giới.
Tri thức có nhiều lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, con người,… và có nhiều cấp độ
khác nhau: Kinh nghiệm, lý luận, cảm tính, lý tính, khoa học, tiền khoa học.
Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh quan hệ giữa người với người, giữa người
với thế giới khách quan.
Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động và tạo thành một trong những
động lực quan trọng của hoạt động con người. Tri thức phải thơng qua tình cảm, biến thành
tình cảm thì mới biến thành hành động thực tế, phát huy được sức mạnh của mình.
Ý chí là khả năng huy động sức mạnh bản thân để vượt qua những cản trở trong q trình thục
hiện mục đích của con người.
Ý chí được coi là mặt năng động của ý thức, một biểu hiện


của ý thức trong thực tiễn mà ở đó con người tự giác được mục đích của hành động nên tự
đấu tranh với mình và ngoại cảnh để thực hiện đến cùng mục đích đã lựa chọn.
Tự ý thức cũng là ý thức, là một thành tố quan trọng của ý thức, song đây là ý thức về bản thân

trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài. Tự ý thức là ý thức của cá nhân về
những hành vi, tình cảm, tư tưởng, động cơ, lợi ích, địa vị của mình trong xã hội. Tự ý thức
là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình thông qua quan hệ với người khác và thế giới bên
ngoài
Tiềm thức là những hoạt động tâm lý tự động diễn ra bên ngồi sự kiểm sốt của chủ thể, song
lại có liên quan trực tiếp đến các hoạt động tâm lý đang diễn ra của chủ thể ấy. Về thực chất,
tiềm thức là những tri thức mà chủ thể đã có được từ trước nhưng đã gần như trở thành bản
năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sâu ý thức của chủ thể.
Vô thức là các hiện tượng tâm lý nằm ngồi phạm vi của lý trí mà ý thức khơng kiểm sốt được
trong một lúc nào đó.
Vơ thức biểu hiện ra qua nhiều hiện tượng như bản năng ham muốn, giấc mơ, bị thôi miên,
sự lỡ lời… Vô thức có vai trị và tác dụng nhất định, nó giúp con người tránh được tình trạng
căng thẳng, lập lại thế cân bằng trong hoạt động tinh thần.

- Ý thức là cái phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh về thế giới vật chất nên nội dung của ý
thức được quyết định bởi vật chất.
- Vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu hiện cũng như
mọi sự biến đổi của ý thức.
b) Vai trò của ý thức đối với vật chất:


Vai trò của ý thức là trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy
con người xác định mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương
pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện v.v… để thực hiện mục tiêu của mình.
-

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu
cực.

Nếu con người nhận thức đúng, thì hành động của con người phù hợp với các quy luật

khách quan, thế giới được cải tạo – đó là sự tác động tích cực của ý thức;
Nếu con người phản ánh khơng đúng hiện thực khách quan, thì hành động của con người đi
ngược lại các quy luật khách quan, nĩ có tác dụng tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn, đối với
hiện thực khách quan.
5. Ý nghĩa phương pháp luận:
Trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn
trọng khách quan đồng thời phát huy tính năng động chủ quan.
Xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan là tôn trọng quy luật, nhận thức và
hành động theo quy luật;

Lưu ý: Thực hiện nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ quan trong
nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải phòng chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí;
Đó là những hành động lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ý
muốn chủ quan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược v.v…
Đây cũng là quá trình chống chủ nghóa kinh nghiệm, xem thường tri thức khoa học, xem
thường lý luận, bảo thủ, trì trệ, thụ động v.v… trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.

CHƯƠNG 2: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
I. PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1. Phép biện chứng và phép siêu hình
a. Khái niệm biện chứng, phép biện chứng
- Khái niệm biện chứng dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động,
phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong giới tự nhiên, xã hội và tư
duy.
- Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ
thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp
luận của nhận thức và thực tiễn.

b.Sự đối lập giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình



+ Phương pháp siêu hình chỉ thấy những sự vật riêng biệt, chỉ thấy sự tồn tại của những sự
vật mà không thấy sự phát sinh và tiêu vong của chúng; chỉ thấy trạng thái tónh của sự vật mà
không thấy sự vận động của chúng.
+ Phương pháp biện chứng khơng chỉ thấy những sự vật cá biệt mà cịn thấy cả mối quan hệ
qua lại giữa chúng, không chỉ thấy sự tồn tại của sự vật mà còn thấy cả sự sinh thành và sự
tiêu vong của sự vật, không chỉ thấy trạng thái tĩnh của sự vật mà cịn thấy cả trạng thái động
của nó.

Tóm tắt
+ Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng
đọng với một tư duy cứng nhắc.
+ Phương pháp biện chứng là phương pháp xem xét sự vật trong mối quan hệ ràng buộc
lẫn nhau và trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng với một tư duy mềm dẻo, linh
hoạt.
2. Các hình thức cơ bản của phép biện chứng
a. Phép biện chứng chất phác thời Cổ đại
Phép biện chứng cịn ở trình độ thấp. Theo quan điểm biện chứng đó, thế giới là một chỉnh
thể thống nhất, giữa các bộ phận của nó có mối quan hệ qua lại, thâm nhập vào nhau, tác động
và ảnh hưởng lẫn nhau; thế giới và các bộ phận cấu thành nó ln vận động, phát triển.
Tuy nhiên, phép biện chứng cổ đại chưa làm rõ được cái gì đang liên hệ cũng như các qui
luật nội tại của sự vận động, phát triển.

b. Phép biện chứng duy tâm của Hêghen
Theo Hêghen, giới tự nhiên và xã hội loài người chỉ là sự tồn tại khác của ý niệm. Ý niệm
nằm trong quá trình vận động, phát triển không ngừng.
Song, do bị chi phối bởi thế giới quan duy tâm khách quan, Hêghen đã rút ra kết luận hoàn toàn
sai lầm là: biện chứng của ý niệm đã qui định biện chứng của thế giới.

3. Phép biện chứng duy vật

a. Khái niệm phép biện chứng duy vật:
Định nghóa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ph. Ăngghen cho rằng: “Phép
biện chứng… là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự
nhiên, của xã hội loài người và của tư duy ”.
b. Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin


Đặc trưng cơ bản:
- Một là, phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học.
- Hai là, có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan (duy vật biện chứng) và phương pháp
luận (biện chứng duy vật), do đó nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ
để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới.
Vai trị :
Là một nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của
chủ nghĩa Mác – Lênin, tạo nên tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin,
Là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh
vực nghiên cứu khoa học.
II. HAI NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
a. Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến:
Khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau
giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế
giới;
khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện
tượng của thế giới.


b. Tính chất của các mối liên hệ:
- Tính khách quan của các mối liên hệ:
Đó là sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự

vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ
thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó
trong hoạt động thực tiễn của mình.

- Tính phổ biến của các mối liên hệ:
Theo quan điểm biện chứng thì khơng có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại
tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác;
Đồng thời cũng khơng có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ
thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ
một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ
thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau.

Ví dụ:
- Bão từ diễn ra trên mặt trời sẽ tác động đến từ trường của trái đất và do đó, tác động đến
mọi sự vật trong đó có con người;
- Sự gia tăng dân số sẽ tác động trực tiếp đến kinh tế, xã hội, giáo dục, y tế v.v.không chỉ
trong một nước mà trên toàn thế giới;


×