Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

LÍ TRÍ và đức TIN NGHỊCH lý TRIẾT học TRONG PENSEES DE m PASCAL

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (472.58 KB, 17 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
  

LÍ TRÍ VÀ ĐỨC TIN
NGHỊCH LÝ TRIẾT HỌC TRONG PENSÉES DE
M.PASCAL

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN TỐNG THÙY UYÊN
MSSV: 1356070077
SĐT: 0902717895
EMAIL:

TP.HỒ CHÍ MINH - 2015


MỤC LỤC
DẪN NHẬP --------------------------------------------------------------------- 1

1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.

Lý do chọn đề tài
Mục đích nhiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Giới hạn của đề tài và phạm vi nghiên cứu
Lịch sử nghiên cứu vấn đề


Phương pháp nghiên cứu
Đóng góp của đề tài
Kết cấu của đề tài

Chương 1: “Con người, cọng sậy biết suy tư”.
1.1: Tiểu sử Pascal.
1.2: “ Con người là cọng sậy yếu đuối hơn hết trong các tạo vật”.
Chương 2: Lí trí và con tim.
2.1: Lí trí chỉ biết được những chân lý khả chứng.
2.2: Lý lẽ của con tim.

KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài:

Pensées, dự tính lớn lao này khiến Pascal thành người tán tụng tôn
giáo, nhưng tác phẩm này cũng là của một triết gia, nhằm làm cho con
người trở nên có thể hiểu được bởi một Đấng Tối cao bất khả tư nghị.
Chính vì vậy, chúng tôi muốn tìm hiểu ông lí giải như thế nào về những
mặt đối nghịch giữa lí trí và đức tin, một vấn đề vẫn thường được tranh
luận từ thời xưa cho đến ngày nay. Ông sẽ giải quyết vấn đề này như thế
nào cho ổn thỏa?
Ngoài lý do trên chúng tôi còn tìm hiểu quan niệm của ông về con
người trong thế giời này, con người chỉ là một sinh vật yếu ớt trong cái vũ
trụ bao la hay con người có những phẩm giá riêng, có những điều quý giá
hơn. Và liệu rằng giữa lí trí và đức tin ông sẽ chọn điều gì?

2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài:

Từ lý do chọn đề tài, mục đích của chúng tôi khi nghiên cứu Đề tài “
Lí trí và đức tin nghịch lý triết học trong Pense’é de M.Pascal”, đó là làm
rõ hoạt động và vai trò của lí trí và đức tin như thế nào trong quan niệm
của Pascal. Lí trí và đức tin cái nào có trước, theo Pascal thì con người có
cần đến lí trí hay đức tin? Như thế con người có thể có cả hai đức tin và lí
trí hoặc chỉ được chọn một trong hai hoặc không chọn gì cả.
Và để trả lời cho những vấn đề trên thì nhiệm vụ của bài nghiên cứu
là:
Làm rõ chức năng,hoạt động của lí trí trong Pensées.
Để có được những nguyên lý đầu tiên cho một định lý con
người bắt đầu từ đâu.
- Chúa đóng vai trò như thế nào trong quá trình hiểu biết của
con người.
- Làm rõ việc con người có thể hiểu được Chúa theo quan
niệm của Pascal.
- Phẩm giá của con người nằm ở đâu trong vũ trụ bao la khi
con người là một tạo vật nhỏ bé.
-

3. Giới hạn của đề tài và phạm vi nghiên cứu:


Nghiên cứu của chúng tôi tập trung nghiên cứu tác phẩm “Những
suy tư“ (Pensées) trong sự trái nghịch nhau giữa lí trí và đức tin của
Pascal. Bài nghiên cứu so sánh lí trí và con tim qua những lý luận và từ đó
rút ra những kết luận cụ thể. Bài nghiên cứu sử dụng văn bản “Pensées de
M.Pascal sur la religion, et sur quelques autres sujets” ( Những suy tưởng
của M.Pascal về tôn giáo, và về một số chủ đề khác) bản tiếng Pháp, văn

bản Pascal's Pensées được dịch bởi John Hagerson. Ngoài ra bài nghiên
cứu còn sử dụng những tài liệu về tác phẩm tôn giáo học cũng như tác
phẩm phê bình, lý luận, dịch thuật có liên quan để làm rõ những luận điểm
khoa học được đưa ra.

4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Pascal, đa số mọi người biết về ông qua những bài toán, vật lý và
đặc biệt ông được nhắc đến nhiều trong ngôn ngữ lập trình. Rất ít người
biết về triết lý của ông vì cũng rất ít người nghiên cứu về vấn đề này. Vì
vậy chúng tôi tìm thấy được rất ít các bài viết về ông. Ở Việt Nam, chúng
tôi tìm thấy một vài bài so sánh triết học của ông ở /> />,
, />
,

Còn đối với các bài viết ở nước ngoài thì có các trang web như sau:
,
,
/>,
,
,
,... Những bài viết chỉ dừng
lại ở việc tóm tắt nội dung, so sánh với các tư tương mới thời đại, trích dẫn một vài
đoạn hay trong cuốn sách và phân tích theo suy nghĩ của tác giả. Nhìn chung, chưa có
một công trình, đề tài hay bài nghiên cứu, bình luận, phân tích nào đi sâu vào vấn đề
như: Lí và đức tin trong Pensé́es, Chúa có vai trò như thế nào, phẩm giá con người ở
đâu?...

5. Phương pháp nghiên cứu:


Bài nghiên cứu của chúng tôi có sử dụng những phương pháp
nghiên cứu như sau:
-

Phương pháp lịch sử:


Chúng tôi nhìn tác phẩm “Pensées de M.Pascal sur la
religion, et sur quelques autres sujets” đặt trong bối cảnh thời
gian lịch đại và đồng đại. Những thông tin liên quan đến tiểu
sử của tác giả, đời sống tôn giáo, hoàn cảnh lịch sử,… trở nên
vô cùng quan trọng trong đề tài “Lí trí và đức tin nghịch lí triết
học trong Pensées M.Pascal”.
-

Phương pháp phân tích, tổng hợp:

Phương pháp phân tích, tổng hợp được vận dụng trong
việc làm rõ một luận điểm khoa học bằng các luận điểm và
luận chứng. Đề tài còn chú trọng đưa ra những bình luận, nhận
xét và kết luận có tính hợp lý. Phương pháp này giúp cho đề
tài đảm bảo được tính cụ thể, rõ ràng vừa có tầm khái quát và
có tính đúc kết.

-

Phương pháp so sánh:

Phương pháp này được sử dụng trong đề tài nhằm soi
chiếu những điểm tương đồng lẫn những điểm khác biệt của lí

trí và đức tin trong quan niệm của Pascal. Từ đó nêu được
những điểm thống nhất và cả những nét mới riêng biệt trong
tư duy của Pascal.

6. Đóng góp của đề tài:

Đóng góp của đề tài có thể xem là bước đầu đặt ra những hiểu biết
cụ thể về quan niệm của Pascal, hiểu vai trò của Chúa, của đức tin và lí trí,
về những băn khoăn của ông đối với số phận của con người. Đóng góp của
đề tài có thể xem là cái nhìn bao quát hơn chung về vấn đề lí trí và đức tin,
giúp cho người đọc có thể hiểu hơn về quan niệm triết học của Pascal một
nhà toán học, vật lý học, nhà triết học lớn của Phương Tây.

7. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần Mục lục, Dẫn nhập và Tài liệu tham khảo, đề tài được chia thành
ba chương và mỗi chương thực hiện những nhiệm vụ như:


Chương 1: “Con người, cọng sậy biết suy tư”.
1.1: Tiểu sử Pascal.
1.2: “ Con người là cọng sậy yếu đuối hơn hết trong các tạo vật”.
Chương 2: Lí trí và con tim.
2.1: Lí trí chỉ biết được những chân lý khả chứng.
2.2: Lý lẽ của con tim.

Tổng kết và đưa ra những nhận định chúng tôi thực hiện ở phần Kết
Luận của đề tài.
Chúng tôi hi vọng với kết cấu như trên sẽ đem lại được tính khoa học và
tăng tính hài hòa, hấp dẫn cho đề tài “ Lí trí và đức tin nghịch lý triết học trong
Pensées de M. Pascal”.

CHƯƠNG 1: “ CON NGƯỜI, CỌNG SẬY BIẾT SUY TƯ ”

1.1: Tiểu sử Pascal
Blaise Pascal, con trai của một quan tòa ở Clermond-Ferrand, sinh tại thành
phố này ngày 19 tháng 6, năm 1623. Bố ông dẫn bầu đoàn thê tử về định cư ở Paris
năm 1631.
Thiên tài toán học Pascal phát lộ rất sớm; ở tuổi mười một, ông soạn một
quyển Khái niệm về âm thanh và tự mày mò một mình tìm lại những yếu tố toán học
của Euclide, mà ông chưa từng học qua trước đó. Ở tuổi mười bảy, ông biên soạn và
xuất bản quyển Tiểu luận về các hình nón (Essai sur les Coniques); năm mười chín
tuổi, ông phát minh chiếc máy số học danh tiếng gọi là máy tính Pascal hoặc
Pascaline.
Nhưng phương pháp thực nghiệm cũng tìm đến với bộ óc uyên bác này; ông
lặp lại điều mà Descartes xác nhận, ông đã mời Descartes chứng kiến, đó là thí
nghiệm của Torricelli về áp suất không khí ở Rouen, năm 1646, ở Puy de Dôme năm
1648 và biên soạn quyển Khái luận về chân không (Traité du vide) năm 1651; quyển
này được xuất bản năm 1779.
Tiếp theo, bắt đầu “Thời kỳ thế tục” của Pascal, rồi đến sự kiện cải giáo, được
gợi ra bởi bài văn tưởng niệm nổi tiếng ( vào đêm ngày 23 tháng 11 năm 1654)*. Từ
năm 1655, ông có những cuộc ẩn cư ngắn ở tu viện Port-Royal gần Paris. Kể từ thời


điểm này, lần lượt xuất hiện: Những bức thư tỉnh lẻ ( Les Provinciales) và Những
khảo luận nhỏ về bãi tuyến (Petits Traités sur Cycloïde) và một số tác phẩm chỉ được
xuất bản sau khi ông mất: Về tinh thần hình học và nghệ thuật thuyết phục (De l’esprit
géométrique et de l’art de persuader) ra mắt năm 1728, và nhất là những văn bản mà
Pascal coi là sẽ tạo thành tác phẩm chủ đạo của ông, Chân lý của Kitô giáo (Vérité de
la religion chrétienne) mà những mảnh rời được tập hợp và sắp lại thành quyển Tư
tưởng (Pensées), xuất bản đầu tiên năm 1670.
Đáng tiết Pascal có một cuộc đời ngắn ngủi, chỉ có 39 năm, ông mất ở Paris

ngày 19 tháng 8 năm 1662.
Tóm lại, Blaise Pascal (1623-1662), nhà toán học, nhà vật lý, nhà văn và nhà
triết học Pháp, một thiên tài khoa học. Ông nguyện phụng sự Chúa suốt đời vì sau khi
thoát chết từ một vụ tai nạn và sau một đêm xuất thần. Ông là một nhà hiện sinh hữu
thần lớn, có ảnh hưởng đến nhiều nhà triết học phương Tây hiện đại, nhất là những
nhà hiện sinh hữu thần. Những công trình có giá trị đáng chú ý thường luận về siêu
hình học, như: “Những người tỉnh lẻ” 1665- 1657 và “Những suy tư” xuất bản 1670
sau khi ông qua đời. Triết lý của ông là sự băn khoăn về số phận con người.

___________________

(*) Đêm 23 tháng 11 năm 1654, Pascal đã trải qua một cuộc xuất thần huyền
nhiệm (une extase mystique) mà ông viết lại thành bản ghi nhớ (Mémorial) và khâu
kỹ vào mặt trong của chiếc áo khoác hầu như ông luôn mang theo bên mình.
…Từ khoảng mười rưỡi tối tới khoảng mười hai rưỡi khuya.
“FEU” Lửa.
Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac,Thiên Chúa của Jacóp,
không phải Thiên Chúa của các nhà triết học và tri thức.
Chắc chắn. Xác thực. Cảm xúc.Niềm vui. Bình an.
Thiên Chúa của Đức Giê-su Kitô…
Quên đi thế giới và mọi sự trừ THIÊN CHÚA...
Sự sống vĩnh cữu chính là họ nhận biết Cha,
Thiên Chúa chân thật duy nhất, và Đấng Cha sai đến,
Giêsu Kitô
Giêsu Kitô.


Con đã tự ý rời xa Ngài mãi mãi.
Con đã lẩn trốn Ngài,con đã chối bỏ Ngài, con đã đóng đinh Ngài.
Xin đừng để con bao giờ phải chia lìa Ngài.

Chỉ có thể nghe được Ngài nếu nghe lời Tin Mừng.
Sự từ bỏ ngọt ngào và hoàn toàn.
Hoàn toàn quy phục Đức Giêsu Kitô và người hướng dẫn linh hồn tôi.
Niềm vui bất tận dành cho nỗi cơ cực của một ngày trên trần.
Con sẽ không quên lời Ngài. Amen.
Trong bài ghi nhớ trên, ông nói đến Lửa: đây có thể là ngọn lửa nội tâm của
lòng kiên tín hay là một thị kiến siêu nhiên rực rỡ chói lòa.

1.2: “Con người là một cọng sậy yếu đuối hơn hết trong tạo vật”
Có một câu nói nổi tiếng của Pascal như sau: “Con người là một cọng sậy yếu
đuối hơn hết trong tạo vật. Nhưng, là một cọng sậy có tư tưởng, có cần gì tất cả hoàn
vũ hợp sức lại để tiêu diệt nó: một hơi khí, một giọt nước cũng đủ giết chết nó rồi.
Nhưng, nếu hoàn vũ nghiền nát nó đi, con người vẫn cao trọng hơn kẻ giết nó, bởi nó
biết nó chết, còn thế lực hoàn vũ đàn áp nó, hoàn vũ không biết gì hết… Tất cả phẩm
giá của ta, là nơi tư tưởng”.
Con người trong mắt của Pascal chỉ là “một cọng sậy” yếu ớt, run rẩy trước
những biến động của vũ trụ. Một tạo vật có thể bị giết chết một cách dễ dàng chỉ với
một hơi khí, một giọt nước thậm chí vũ trụ không cần phải tốn sức. Tại sao ông lại so
sánh con người với một cọng sậy? Chẳng phải con người là chủ nhân của thế giới này
sao? Con người làm được mọi thứ, thậm chí con người có thể nói là dời non lấp biển
với những tri thức mà họ có hiện nay, điều gì làm ông khẳng định con người chỉ là
một cọng sậy?
Đúng, con người hiện nay có thể làm được tất cả mọi thứ kể cả dời non lấp
biển, nhưng chúng ta không thể phủ nhận một điều rằng con người vẫn không thể
chống lại vũ trụ, con người có thể chết khi có bất cứ biến động nào của vũ trụ, sự sống
của con người thật mong manh và nó hầu như “nằm trong tay” của vũ trụ.
Tuy vậy, Pascal lại cho rằng con người cao quý hơn nhiều so với cái vũ trụ bao
la đó. Bởi vì con người biết tư tưởng, biết suy tư, biết tìm tòi học hỏi, con người biết



mình đang đứng ở đâu trong cái vũ trụ bao la rộng lớn. Con người biết mình yếu đuối
như thế nào so với vũ trụ và con người biết rằng nó sẽ chết khi vũ trụ muốn giết nó,
còn vũ trụ thì không biết gì cả, thậm chí vũ trụ cũng không biết mình có quyền năng
mạnh như thế nào. Đó là điều cao trọng hơn cả của con người.
Thật quả như thế. Con người khác vạn vật là nhờ nơi tư tưởng. Đừng nói chi
đến chỗ phân biệt giữa người và vật làm gì, ngay giữa người và người, kẻ văn minh
người dã man, kẻ trí thức người ngu si cũng do nơi tư tưởng mà phân cao thấp.
Như vậy tất cả phẩm giá của chúng ta là ở tư tưởng, chúng ta nâng cao phẩm
giá của mình bằng tư tưởng.
Ông cho rằng tư tưởng của con người là một điều kì diệu và khôn sánh nhưng
tư tưởng cũng có khiếm khuyết của nó. Và khiếm khuyết này chính là điều mà ông tỏ
ra khinh miệt tư tưởng của con người “Về bản chất thì tư tưởng vĩ đại biết bao! Còn
về khiếm khuyết thì nó lại hèn hạ biết mấy! ”. Tại sao ông lại nói tư tưởng con người
là hèn hạ, có phải ông đã hiểu được khiếm khuyết của tư tưởng nằm ở đâu? Vậy
khiếm khuyết đó là gì? Và con người có khắc phục được khiếm khuyết này?
Ông quan niệm mọi sự vĩ đại và tình trạng khốn khổ của con người tất cả đều
do tư tưởng mà ra. Tư tưởng – cái làm nên giá trị của một con người cũng làm cho
con người trở nên đau khổ. Tình trạng này tồn tại ngay trong cuộc sống của chúng ta.
Qua tình trạng khốn khổ đó chúng ta nhận ra rằng con người đã “rớt hạng” từ một bản
chất tốt hơn trước kia, để giờ đây bản chất của con người cũng giống như của loài vật.
Ông lại viết tiếp: “Sự cao cả và nỗi khốn khổ của con người thật hiển nhiên
đến độ tôn giáo đích thực chắc chắn phải dạy chúng rằng nơi con người vừa có
nguồn cao cả bao la, vừa có nguồn khốn khổ vô biên. Như vậy tôn giáo phải lý giải
cho chúng ta về những mâu thuẫn đáng kinh ngạc này…”.
Con người khốn khổ đến mức không nhận ra tình trạng của mình, vì vậy tôn
giáo sẽ chỉ cho chúng ta điều đó.
“… Hơn nữa ngoài đức tin ra, không ai chắc chắn mình thức hay mình ngủ, vì
lẽ, khi ngủ chúng ta tin là mình đang thức một cách chắc chắn giống như khi mình
đang thức thật sự…”
Điều đó cho chúng ta thấy rằng ông quan niệm ngoài đức tin ra chúng ta không

thể chắc chắn điều gì khác. Con người không thể chắc chắn điều gì khác ngoài việc
đặt niềm tin và ông cho rằng tôn giáo sẽ chỉ đường cho con người.
Qua những phân tích trên chúng ta có thể hiểu quan niệm của ông về con
người như sau: ông cho rằng con người một con ngáo ộp! Một vật mới lạ! Một quái
vật, một sự hỗn mang, một sự mâu thuẫn, một điều kỳ diệu! Là quan tòa xét sử muôn
loài và đồng thời là con giun đất đần độn; là kho chân lý, và là bể chứa sự hoang
mang sai lầm; là niềm kiêu hãnh và là cặn bã của vũ trụ! Và ông cho rằng để giải


quyết được tình trạng này chúng ta phải nhờ đến tôn giáo, đức tin chỉ dẫn con người
mới có thể thoát ra được cái tình trạng khốn khổ hiện tại của mình.

CHƯƠNG 2: LÍ TRÍ VÀ CON TIM

“Ai sẽ gỡ rối được tình trạng lộn lộn này? Thiên nhiên phản bác những kẻ
hoài nghi, và lí trí phản bác những kẻ giáo điều. Hỡi con người! Các người sẽ trở
thành cái gì khi các người cố dùng lí trí tự nhiên của mình mà tìm hiểu xem thân
phận đích thực của các người ra sao? Các người không thể tránh né cũng không thể
gia nhập một trong những trường phái này.”

2.1: Lí trí chỉ biết được những chân lý khả chứng
Con người luôn muốn tìm hiểu “con người là ai?”, “con người đến từ đâu?”…
Các nhà khoa học luôn cố gắng tìm mọi bằng chứng, hiện tượng để tìm hiểu câu hỏi
trên của con người. Nhưng đối với Pascal ông cho rằng con người không thể hiểu
được thân phận thật sự của con người nếu chỉ bằng lí trí tự nhiên của họ. Lí trí có
những hạn chế riêng của nó, chính vì những khiếm khuyết đó mà Pascal khẳng định lí
trí không đủ và không thể hiểu được chân lý đích thực.
Chúng ta chỉ hiểu hoặc tin một hiện tượng một sự vật nào đó khi nào nó đã
được chứng minh hoặc có những bằng chứng, những lý luận chặc chẽ. Đó là một
trong những nguyên tắc “bất di bất dịch” của lí trí. Đó cũng là một trong những điểm

yếu của nó khi đụng phải chân lý bất khả chứng. Khi lí trí đụng phải các chân lý bất
khả chứng nó sẽ kết luận những điều đó là vô lý, vì vậy lí trí sẽ không hiểu được
những điều vô lý, hay nói cách khác là những điều mà lí trí không chứng minh được
hoặc không có khả năng nhận thức được.


“Bộ nhớ là cần thiết cho tất cả các hoạt động của lí trí”. Bộ nhớ là điều căn
bản là lí trí cần phải có để có những suy tư của nó. Chính vì vậy nếu bộ nhớ của lí trí
có những thông tin không đúng hoặc có những thay đổi mà bộ nhớ chưa hoặc không
thể cập nhật được dễ dẫn đến việc suy tư sai lầm của lí trí, đây cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn đến sai lầm của lí trí.
“Lí trí hoạt động rất chậm chạp, với quá nhiều sự xem xét và trên nhiều
nguyên tắc”. Lí trí vì những nguyên tắc dẫn đến việc phải xem xét những hiện tượng,
sự kiện kỹ lưỡng. Lí trí không cho phép nó vượt qua những nguyên tắc đó. Vì lí trí có
những logic riêng của nó, nếu ra khỏi những nguyên tắc đó nó sẽ không còn là lí trí
nữa. Lí trí không thể vượt qua ngưỡng của nó, tự nó sẽ mâu thuẫn, hoài nghi chính nó
và cho rằng không có gì là chắc chắn.
Những hoài nghi của lí trí, Pascal cho những điều hoài nghi đó là dư thừa,
thậm chí nó là khiếm khuyết của trí tuệ. “Thái độ hoài nghi là hậu quả của một thứ
duy lý quá khích”. Ông cho rằng lí trí có sự cuồng ngạo của nó và nếu không kiềm
chế được ngạo khí đó nó được gọi là hoài nghi. Chính sự hoài nghi đó phá hoại chính
nó, đó là duy lý quá khích từ đó nó tự tạo cho mình những mâu thuẫn.
“Mâu thuẫn là một dấu hiệu xấu của sự thật”. Nếu mâu thuẫn giúp con người
phát triển hơn thì đối với Pascal nó là điều ngược lại. Mâu thuẫn là một dấu hiệu của
sự thật hoặc của sự giả dối, nếu sửa chửa mâu thuẫn ta có thể biết được hoặc sự thật
hoặc sự sai lầm của lí trí. Chính vì vậy ông cho rằng mâu thuẫn là một dấu hiệu xấu
và nó không nên xuất hiện.
Tóm lại, lí trí chỉ có sự chắc chắn khi được chứng minh một cách chắc chắn, và
như thế nó gặp phải những vấn đề không thể chứng minh được hoặc do bộ nhớ có
những thông tin sai lệch. Từ chỗ không chứng minh được hoặc không chắc chắn với

bằng chứng của mình điều đó dẫn đến việc chẳng có gì chắc chắn cả. Từ đó xuất hiện
thái độ nghi ngờ và mâu thuẫn.
Cho dù lí trí có những khiếm khuyết của nó nhưng nó vẫn có những chức năng
riêng nhất định “chúng ta không thể không có lí trí, con người suy mọi thứ ra từ nó”.
Pascal chỉ ra những điểm yếu của lí trí nhưng không hoàn bảo rằng chúng ta phải từ
bỏ lí trí, mà ngược lại ông khẳng định rằng con người cần có lí trí. Nhưng không có
nghĩa là con người phụ thuộc vào lí trí, không phải bất cứ điều gì con người cũng có
thể dùng lí trí để phán xét, để chứng minh.
Vậy, trên con đường tìm ra chân lý chúng ta không thể hoàn toàn dựa vào lí trí
vì nó có những khiếm khuyết. Nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của
nó, con người không thể thiếu đi lí trí. Chính vì vậy Pascal đã tìm thấy một khả năng
khác, một lý lẽ khác có thể khắc phục được những khuyết điểm cua lí trí, đó là lý lẽ
của con tim. Ngoài sự phán xét đúng đắn của lí trí chúng ta còn có thể cảm nhận, lắng
nghe những lý lẽ của con tim.


2.2 Lý lẽ của con tim
Lí trí chỉ biết được những chân lý khả chứng, không một chân lý bất khả chứng
nào thuộc về quyền hạn/ phạm vi của nó. Như vậy, có một khả năng khác, không
thuần lý, không phải trí thông minh, không cần biện luận như lí trí, nhưng có trực
quan (intuitive), thuộc về cảm thức hay bản năng, đó là “con tim”.
Phải, Pascal đề ra một khả năng, một lý lẽ khác đó là lý lẽ của con tim. Tư duy
lí trí dù có sắc bén đến mấy, cuối cùng nó cũng phải đụng đầu với những chân lý bất
khả chứng và lí trí với những nguyên tắc riêng của nó không cho phép nó vượt qua
giới hạn của bản thân. Bên kia cái giới hạn đó, có những chân lý mà lí trí không thể
chạm đến. Và muốn biết được hết sự thật bên kia tầm với, con người phải vận dụng
đến cảm giác, mà Pascal còn gọi là khả năng của con tim.
Theo Pascal, chúng ta hiểu biết chân lý không chỉ nhờ lí trí, mà còn nhờ con
tim, và chính nhờ con tim mà chúng ta hiểu được những nguyên lý cơ bản; còn lí trí
không đóng vai trò nào trong đó, lại tìm cách công kích những nguyên lý này một

cách vô ích, đó là mục tiêu của những kẻ hoài nghi. Chúng ta biết rằng mình không
mơ, tuy nhiên chúng ta không thể dùng lí trí để chứng minh; điều này chỉ nói lên
nhược điểm của lí trí, chứ không như những kẻ hoài nghi khẳng định rằng chúng ta
không thể biết được điều gì. Chúng ta biết chúng ta không mơ, bởi vì chúng ta cảm
nhận được chúng ta đang sống và chúng ta tin vào điều con tim cảm thấy.
Điều gì con tim biết được, là được nhận thức mà không cần chứng minh,
nhưng với sự chắc chắn hoàn toàn cũng vững vàng như sự chắc chắn do lí luận xây
nên, mà còn kiên cố hơn là đằng khác “con tim có lý lẽ riêng của nó mà lí trí không
biết được. Chúng ta cảm nghiệm được điều đó trong muôn vàn sự việc”. Con tim có
những lý lẽ, cảm giác, trực giác của chính nó dẫn đến nó hiểu và cảm được những
điều mà lí trí không thể làm được. Vì tri thức về các nguyên lý cơ bản như không
gian, thời gian, chuyển động, con số, thì cũng chắc chắn như tri thức về những gì
chúng ta biết nhờ lý luận. Và lí trí phải tin tưởng vào những trực giác này của con tim,
lấy chúng làm nền tảng cho mọi lý luận của lí trí. Các nguyên lý thì biết bởi trực giác,
còn mệnh đề thì được loại suy, tất cả đều mang tính chắc chắn, cho dù bằng những
cách thức khác nhau.
Lí trí hoạt động dựa trên những nguyên tắc, những sự xem xét kỹ lưỡng. Còn
con tim hoạt động dựa trên cảm giác. Lí trí hoạt động một cách chậm chạp bởi vì phải
xem xét vấn đề trên những nguyên tắc của nó; cảm giác không như vậy, nó luôn sẵn
sang để hành động “chúng ta phải đặt niềm tin vào cảm giác nếu không chúng ta sẽ bị
dao động”. Tức là khi chúng ta cảm giác được chúng ta nên đặt niềm tin vào cảm giác
của mình chứ không cần phải nhọc công chứng minh.
Và quả là luống công và ngớ ngẩn nếu như lí trí đòi hỏi con tim đưa ra những
bằng chứng về các nguyên lý cơ bản của mình, trước khi thừa nhận chúng. Và cũng


như thế khi con tim đòi hỏi lí trí một trực giác về tất cả những mệnh đề đã được
chứng minh trước khi chấp nhận chúng.
Và theo Pascal thì chính con tim, chứ không phải lí trí cảm nghiệm Thiên
Chúa. Vậy, đây là đức tin: Thiên Chúa được cảm thấy bởi con tim, không phải bởi lí

trí. Đức tin là một ân huệ của Thiên Chúa, đó không phải ân huệ về một lý luận. Vì
vậy đối với Thiên Chúa chúng ta nên cảm nhận Ngài bằng con tim, chứ không phải
tìm hiểu Ngài bằng lí trí tự nhiên của con người. Cũng như quan điểm đã đưa trên,
thật là ngớ ngẩn và bất công nếu chúng ta đòi hỏi con tim phải đưa ra những bằng
chứng của Thiên Chúa. Bởi vì lí trí không thể hiểu những lý lẽ của con tim và ngược
lại con tim không nằm trong nguyên tắc của lí trí.
Đối với Thiên Chúa Pascal cho rằng chúng ta phải tin Ngài, cảm nghiệm Ngài
bằng con tim. Ông cho rằng một số tôn giáo khác họ đưa ra những lý luận để đạt tới
đức, thế nhưng lập luận không đưa họ tới đức tin. Chúng ta không thể thông qua lý
luận để cảm nghiệm Thiên Chúa. Chúng ta phải tin Ngài bằng cả con tim, và Pascal
cũng để có được lòng tin và tình yêu là rất khó “từ chỗ biết Thiên Chúa đêán chỗ yêu
Thiên Chúa còn rất xa”.
Ông cho rằng chỉ có ba loại người: những người phụng sự Chúa, đã tìm thấy
Chúa. Những người chìm đắm trong việc tìm kiếm Chúa, đã không tìm thấy Chúa.
Những người còn lại không tìm Chúa. Nhóm đầu tiên có lí trí và hạnh phúc. Nhóm ở
giữa không hạnh phúc nhưng có lí trí. Nhóm cuối cùng là sự ngu dốt và khốn khổ.
Nhóm người đầu tiên, là những người phụng sự Chúa, đã tìm thấy Chúa. Ông
cho rằng con người khi tin Chúa, cảm nghiệm Chúa và được sự mặc khải của Ngài
những người đó. Ông quan niệm những ai được Thiên Chúa khải ngộ nhờ trực giác là
những người rất may mắn và có lý để mà xác tín. Chính những con người như thế mới
có thể chạm đến được sự thật, và họ có được sự dung hòa cả hai lí trí và trực giác, tình
yêu Thiên Chúa, đó là con đường dẫn đến hạnh phúc thật sự.
Nhóm người ở giữa, họ mê cuồng trong cuộc tìm kiếm Thiên Chúa. Họ tìm
Thiên Chúa, họ muốn chạm đến Thiên Chúa, muốn hiểu Thiên Chúa, muốn chứng
minh Thiên Chúa, nhưng họ đã không tìm thấy Ngài. Nhóm người này tìm kiếm
Thiên Chúa thông qua sự hiểu biết, thông qua lí trí tự nhiên của con người, họ không
cảm nghiệm Ngài bằng con tim và họ không phụng sự Ngài. Ông cho rằng nhóm
người không thể có được hạnh phúc cũng như chân lý thật sự, nhưng họ có lí trí của
mình. Đối với những người này, chúng ta chỉ có thể mang tín ngưỡng đến cho họ nhờ
lý luận, trong khi chờ Thiên Chúa ban cho họ sự khai sáng thiêng liêng.

Nhóm người cuối cùng, họ tìm Thiên Chúa. Họ cảm nghiệm Thiên Chúa cũng
không đi tìm Ngài chính vì vậy mà họ không có hạnh phúc lẫn lí trí của con người.
những người này sống trong sự ngu dốt và khốn khổ.
Qua những phân tích trên chúng ta có thể thấy quan niệm của Pascal, trên con
đường tìm ra chân lý thật sự con người phải sử dụng cả lí trí lẫn con tim của mình.


Dùng trực giác của con tim để biết những nguyên lý cơ bản, còn lí trí hoàn tất phần
còn lại đó là tìm ra những hệ quả, mệnh đề của nguyên lý đó bằng cách loại suy.

KẾT LUẬN
Không phải ngẫu nhiên mà Bergson - nhà triết học, nhà văn Pháp nổi tiếng giành giải
thưởng Nobel Văn học năm 1928 đã phải đưa ra một nhận xét: "Những máy đo lường của
chúng ta quá ngắn để ước lượng được chiều sâu tư duy của Pascal". Không chỉ là một nhà
toán học thiên tài, Pascal còn là một nhà vật lí học nổi tiếng, nhà văn và là nhà tư tưởng lớn
của nhân loại.

Là một nhà hiện sinh hữu thần ông hoàn toàn tin vào Chúa, ông phụng sự
Chúa. Nhưng Chúa đối với ông là một ánh sáng, là một sự chỉ dẫn trên con đường tìm
ra chân lý. Chân lý của con người khi tìm ra được luôn có một “lỗ trống” và ông cho
rằng những “lỗ trống” đó chỉ có Thiên Chúa mới có thể lấp đầy. Chính vì vậy, ông có
lý lẽ, những lập luận rất thuyết phục trong tất cả các tác phẩm của ông mà đỉnh cao là
Pensées, những suy ngẫm những tư tưởng của ông về con người.
Con người những cọng sậy mong manh nhỏ bé, yếu đuối trong thế giới này.
Chỉ cần một làn hơi nhẹ có thể giết chết chúng, nhưng con người – những cọng sậy
biết suy nghĩ sẽ không để cho bão táp giết chết mình, vì chúng biết chúng cao cả hơn
những thế lực muốn giết chúng. Con người điều vĩ đại và cao trọng nhất trong thế giới
cũng chính là điều hèn hạ, cạn bã nhất.
Điều hèn hạ mà ông khinh miệt ở con người chính là con người đã sử dụng lí
trí mà quên mất bản thân mình còn những khả năng tốt hơn để tìm đến chân lý. Con

người tìm mọi cách để lấp “lỗ trống” trong chân lý của mình, họ đi lý giải những điều
không thể lý giải.


Từ những điều suy nghĩ được Pascal lo lắng không biết con người sẽ đi về đâu
trong công cuộc tìm kiếm chân lý của họ. Vì vậy triết lý của ông thể hiện sự băn
khuâng, nó đi sâu vào con người, cố gắng tìm hiểu, để giúp họ quay trở lại phụng sự
Thiên Chúa.
Với những lý lẽ của mình ông đã cho thấy khiếm khuyết của lí trí, và đề cao
khả năng của trực giác, khả năng của con tim. Ông cho rằng con người quá lúng sâu
vào những lý luận, sự hoài nghi của lí trí mà quên mất đi điểm tựa của lí trí chính là
đức tin. Con người đánh mất đức tin của mình, đánh mất Thiên Chúa.
Tất cả những lý luận của ông về lí trí và đức tin trong Pensées là muốn con
người quay lại với đức tin của mình, tìm lại Thiên Chúa. Con người nên tin tưởng vào
khả năng của con tim, trở về phụng sự Thiên Chúa và chờ Ngài soi sáng khi đó con
người mới có khả năng tìm kiếm sự thật, chân lý thật sự.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Pensées – Pascal (bản dịch tiếng Anh)
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.

PENSÉES DE M.PASCAL (bản dịch tiếng Pháp)

Lịch sử triết học Phương Tây – Nguyễn Tiến Dũng

Lịch sử triết học Tây Phương từ thời thượng cổ đến hiện đại
Những vấn đề cơ bản của triết học Phương Tây – Phạm Minh Lăng
Thuật tư tưởng – Nguyễn Duy Cần
Tôn giáo là gì? – Trương Chí Cương
/>9. />10. />11. />12. />13. />14. />15.
16.
17.
18. />

PHỤ LỤC


Hình ảnh của Blaise Pascal


Hình ảnh bản ghi chép Lửa của Pascal



×