Tải bản đầy đủ (.docx) (80 trang)

Luận văn Hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp trong điều kiện xây dựng NN pháp quyền

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (427.31 KB, 80 trang )

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG

KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị chung mang tính phổ biến, sản
phẩm chung của nhân loại đạt được trong quá trình lịch sử đấu tranh lâu dài để hướng
đến một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, nơi mà người dân có được cuộc sống ấm
no, hạnh phúc và tự do. Xây dựng nhà nước pháp quyền là xu hướng chung hiện nay


của các quốc gia văn minh trên thế giới, Việt Nam cũng không nằm ngoài sự phát triển
đó. Mặc dù nhận thức về một nhà nước quản lý và được quản lý bằng pháp luật ra đời
từ thời kỳ đổi mới nhưng đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, tư
tưởng “nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân” mới được
khẳng định. Sau đó, lần sửa đổi Hiến pháp năm 2001, nhà nước ta chính thức ghi nhận:
“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân và vì dân”. Hiến pháp năm 2013 một lần nữa nêu rõ quyết tâm
này. Đây là cơ sở hiến định cho định hướng phát triển nhà nước đồng thời cũng thể
hiện mục tiêu của Đảng, nhà nước và toàn thể nhân dân nhằm đưa nước ta phát triển,
ổn định và vững chắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của nhà nước, giữ vị trí quan trọng trong
chính trị và hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia. Đảm bảo vị trí tối cao của Hiến pháp
trong hệ thống pháp luật và đời sống xã hội được đánh giá như một yêu cầu, một phần
không tách rời trong nhà nước pháp quyền. Do đó, nhu cầu thiết lập một cơ chế đảm
bảo cho tính hợp hiến của quyền lực nhà nước và của các hành vi xã hội để bảo vệ tính


tối cao của Hiến pháp, bảo vệ các quyền tự do hiến định của công dân trở thành một
nhiệm vụ khi xây dựng nhà nước pháp quyền. Ở Việt Nam, mặc dù đã hình thành cơ
chế giám sát Hiến pháp nhưng những quy định còn rời rạc, chồng chéo, các chủ thể
chưa thực hiện hiệu quả nhiệm vụ giám sát của mình theo Hiến pháp quy định. Định
hướng xây dựng một thiết chế giám sát Hiến pháp chuyên trách được xem như một
nhiệm vụ được đặt ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt
Nam (năm 2006). Tiếp đó, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI (năm 2011)
một lần nữa khẳng định quyết tâm chính trị trong quan điểm chỉ đạo đổi mới cơ chế
giám sát Hiến pháp ở Việt Nam: “Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm
tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của cơ quan
công quyền”1. Dự thảo Hiến pháp năm 2013 cũng từng đề ra mô hình Hội đồng Hiến
pháp, như một cơ quan chuyên trách giám sát Hiến pháp. Tuy nhiên, mô hình này
không được Quốc hội khóa XIII thông qua.
Xây dựng cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách ở Việt Nam hiện nay vẫn
còn là mục tiêu và quan điểm khoa học. Trong bối cảnh đó, tác giả chọn đề tài “Hoàn
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng, 2011, tr.89.


thiện cơ chế giám sát Hiến pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt
Nam” để nghiên cứu và làm khóa luận tốt nghiệp góp phần hiện thực hóa quyết tâm
chính trị của Đảng trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.

Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp không phải là đề tài mới.
Ngay từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề
này nhận được sự quan tâm của nhiều chủ thể với nhiều công trình đa dạng về cấp độ
nghiên cứu. Trong đó có thể kể đến Hội nghị Khoa học bàn về “cơ chế bảo hiến” vào
tháng 5.2005 do Ban Công tác lập pháp của Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức. Ban
Công tác lập pháp cho ra đời cuốn “cơ chế bảo hiến” năm 2006 với những ý kiến của

các chuyện gia Luật hàng đầu trong cả nước. Năm 2009 diễn ra Hội nghị khoa học
quốc tế do Văn phòng Quốc hội phối hợp Văn phòng phối hợp hỗ trợ cải cách tư pháp
và pháp luật tổ chức… Nhiều sách chuyên khảo cũng ra đời trong giai đoạn này như:
Tài phán Hiến pháp của PSG.TS Nguyễn Như Phát; Cơ chế giám sát Hiến pháp với
việc bảo đảm quyền con người của TS. Vũ Văn Nhiêm – ThS. Nguyễn Mạnh Hùng –
Lưu Đức Quang; Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp
ở Việt Nam của GS.TS Đào Trí Úc, PSG.TS Nguyễn Như Phát… Và rất nhiều bài viết
trên các tạp chí khác nhau như: Cơ chế giám sát Hiến pháp theo các Hiến pháp Việt
Nam và vấn đề xây dựng tài phán Hiến pháp ở nước ta của PGS.TS Trương Đắc Linh,
tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1 năm 2007; Bàn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của cơ quan tài phán Hiến pháp ở Việt Nam của Trần Ngọc Đường, tạp chí Nghiên cứu
lập pháp số 10 năm 2007; Tài phán Hiến pháp và viễn cảnh chủ nghĩa hợp hiến ở Việt
Nam của Bùi Ngọc Sơn, tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4 năm 2009; Cơ chế giám sát
Hiến pháp – góc nhìn tham khảo của Nguyễn Đức Lam, tạp chí Nghiên cứu lập pháp
số 10 năm 2003…Đề tài này được chọn làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn
Hoàng Vũ (năm 2004), Trương Thị Thu Trang (năm 2009), Phan Thị Ngân (năm 2013)
và luận văn Thạc sĩ của Vũ Đình Lê (năm 2007). Trong các công trình này, tác giả đã
nghiên cứu, phân tính những vấn đề mang tính lý luận cũng như đánh giá thực trạng để
tìm ra một mô hình giám sát Hiến pháp phù hợp với Việt Nam.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài


Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra
nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến trong hoạt động
và quyết định của các cơ quan công quyền và cơ chế phán quyết các hành vi vi phạm
Hiến phán trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. Điều này tiếp tục được ghi
nhận là một trong những nhiệm vụ để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 không quy
định một mô hình giám sát Hiến pháp chuyên biệt. Với đề tài này, tác giả tập trung
nghiên cứu vai trò của giám sát Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền, thực trạng cơ

chế giám sát Hiến pháp hiện nay, mục đích đổi mới cơ chế giám sát Hiến pháp và lộ
trình xây dựng một cơ quan giám sát Hiến pháp độc lập trong điều kiện xây dựng nhà
nước pháp quyền với tư cách là một nhiệm vụ quan trọng trong mục tiêu xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
4. Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp trong điều kiện xây
dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” Tác giả tập trung vào những vấn đề:
-

-

Sơ lược về nhà nước pháp quyền, qua đó làm sáng tỏ vai trò của giám sát
Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền. Đồng thời phân tích ưu, nhược điểm
của các mô hình giám sát Hiến pháp điển hình trên thế giới.
Trình bày lịch sử hình thành và phát triển cơ chế giám sát qua trong lịch sử
lập hiến Việt Nam.
Định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền và nhiệm vụ thành lập cơ quan
tài phán Hiến pháp theo lãnh đạo của Đảng. Đánh giá thực trạng cơ chế giám
sát Hiến pháp để xây dựng lộ trình để thành lập Tòa án Hiến pháp trên cơ sở
tiếp thu kinh nghiệm thế giới.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Tác giả thực hiện đề tài này trên cơ sở phép duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin để xem xét đánh giá các mặt của vấn đề
trong mối liên hệ với nhau và xuyên suốt từ lịch sử đến hiện tại. Ngoài ra, tác giả còn
dựa trên nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước ta.



Phương pháp nghiên cứu: Các biện pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá,
khái quát giá…được sử dụng xuyên suốt khóa luận, tùy thuộc vào từng nội dung mà
mức độ sử dụng khác nhau.
6. Bố cục nội dung

Khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảogồm:
Phần mở đầu, 3 chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về giám sát Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền.
Chương 2. Sự hình thành và phát triển cơ chế giám sát Hiến pháp Việt Nam
Chương 3. Xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, hoàn thiện cơ chế giám sát
Hiến pháp.


CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP
TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.1. Khái niệm về nhà nước pháp quyền
1.1.1. Sự hình thành và phát triển tư tưởng nhà nước pháp quyền
Thuật ngữ nhà nước pháp quyền được các học giả dịch từ thuật ngữ The Rule of
Law. Hiện nay các học giả trong nước và trên thế giới cũng chưa thống nhất khi đưa ra
khái niệm nhà nước pháp quyền.
Từ điển Luật học định nghĩa nhà nước pháp quyền: “Nhà nước pháp quyền, nhà
nước lấy pháp luật là cơ sở pháp lý thống nhất cho việc điều hành mọi mặt hoạt động
của nhà nước, của xã hội, của mọi công dân, dùng pháp luật làm chuẩn mực để phân
biệt tính hợp pháp và không hợp pháp; việc được làm và không được làm trong thi
hành pháp luật của các cơ quan và cán bộ nhân viên nhà nước, trong việc tuân thủ
pháp luật của mọi công dân, tóm lại một nhà nước phục tùng một trật tự pháp lí loại
trừ tình trạng vô chính phủ và tư nhân phục thù, các quyền dân chủ công dân được
đảm bảo”2.
PSG. TS Nguyễn Đăng Dung cho rằng: “The Rule of Law” dùng để chỉ một xã
hội được tổ chức và vận hành trên cơ sở các quyền của tự nhiên, mọi chủ thể trong đó

có cả nhà nước phải đặt mình dưới pháp luật, các chủ thể được sử dụng tự do pháp
luật để làm lợi cho mình, nhưng không được vi phạm sang các quyền và lợi ích của
chủ thể khác”3.
GS. TS Đào Trí Úc nhấn mạnh: “Ngày nay, nói đến nhà nước pháp quyền,
trước hết người ta nói đến sự ngự trị của pháp luật trong đời sống xã hội và chính trị
với tư cách là ý chí của nhân dân, có giá trị phổ biến”4.
Dù các định nghĩa không hoàn toàn thống nhất với nhau nhưng có thể hiểu tinh
thần thuật ngữ nhà nước pháp quyền là phương thức tổ chức nền dân chủ theo cách
2 Từ điển Luật học (1999), NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. 350.
3 Nguyễn Đăng Dung (2007), Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền, NXB Đại học quốc gia Hà Nội,
Hà Nội, tr. 26.
4 Đào Trí Úc (1995), Nhà nước pháp quyền: một số vấn đề cơ bản. Những vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp
luật, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.110.

Trang 6


quyền lực nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật, lấy pháp luật đó làm trung tâm,
nền tảng cho tổ chức, điều hành bộ máy nhà nước, là thướt đo chuẩn mực của hành vi
trong xã hội, hướng đến mục tiêu bảo vệ quyền, lợi ích của mọi công dân.
Theo chủ nghĩa Mác – Lênin, lịch sử con người sẽ tuần tự xuất hiện năm hình
thái kinh tế - xã hội: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ
nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Không có sự xuất hiện và tồn tại một hình thái nhà nước
mang tên nhà nước pháp quyền. Điều này có ý nghĩa nhà nước pháp quyền không phải
một kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình thái kinh tế - xã hội mà là sự
phản ánh một trình độ tất yếu đạt tới của quyền lực nhân dân trong xã hội được tổ chức
thành nhà nước, nó có thể tồn tại ở hình thái kinh tế - xã hội này đồng thời cũng có thể
tồn tại ở hình thái kinh tế - xã hội khác.
Học thuyết nhà nước pháp quyền được biết đến gắn liền với cách mạng tư sản
thế kỉ XVII – XVIII, ra đời trong cuộc đấu tranh chống lại sự chuyên quyền, độc đoán

của giai cấp thống trị. Bản thân học thuyết hình thành là kết quả của quá trình chống lại
mâu thuẫn trong xã hội nên hoàn toàn lý giải được vì sao nhà nước pháp quyền chỉ có
thể có được trong sự xác lập và phát triển nền dân chủ.
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền ra đời cùng với những tư tưởng phát triển
dân chủ. Ngay từ thời kỳ cổ đại, các nhà tư tưởng đã nêu ra những quan điểm, tư tưởng
đề cao pháp luật, tổ chức nhà nước để thượng tôn pháp luật.
Đầu tiên, có thể nói đến nhà tư tưởng Arokhont Salon, nhiếp chính quan người
Hy Lạp ở La Mã (thế kỷ XI Tr. CN). Ông đã xác định một số khía cạnh của dân chủ
(giải phóng con người) và quy định một số quyền của các công dân tự do trong mối
quan hệ với các quan lại nhà nước đồng thời cho rằng cần có sự kết hợp sức mạnh với
pháp luật trong tổ chức Nhà nước Ai Cập cổ đại. Tư tưởng của ông về vai trò của pháp
luật được diễn đạt như sau: “Ta giải phóng tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp
luật, bằng sự kết hợp giữa sức mạnh và pháp luật” 5. Đây chính là tiền đề để các nhà tư
tưởng, các học giả giai đoạn tiếp theo xây dựng và phát triển học thuyết nhà nước pháp
quyền.

5 Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, NXB Quân
đội nhân dân, Hà Nội, tr. 294.

Trang 7


Tiếp sau, nhà triết học Hy Lạp Platon (427-437 Tr. CN) cũng có nhận định:
“Tôi đã nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của nhà nước ở nơi nào mà pháp luật không
có hiệu lực và nằm dưới quyền của một ai đó. Còn ở nơi nào pháp luật đứng trên các
nhà cầm quyền chỉ là những nô lệ của pháp luật thì đó tôi thấy được sự cứu thoát của
nhà nước”6. Quan điểm về tính tối cao của pháp luật trong xã hội ở Platon đã có sự rõ
nét và cụ thể hơn Salon. Nếu như Salon chỉ nêu ra vai trò của pháp luật trong tổ chức
nhà nước thì Platon đã nhận thấy khả năng lạm quyền của nhà cầm quyền trong quản lý
và đòi hỏi thượng tôn pháp luật để duy trì sự tồn tại của nhà nước.

Bên cạnh hai nhà tư tưởng trên, nhiều nhà tư tưởng cổ đại khác như: Aristote
(384 – 322 Tr. CN), Xixeron (104 - 44 Tr. CN)…cũng đã chú trọng tới tính tối cao của
luật, pháp luật đồng thời quan tâm đến tổ chức nhà nước, sự phân công quyền lực nhà
nước. Những nhận định đó dù chỉ mới là những tư tưởng, quan điểm sơ khai về dân
chủ, vai trò của pháp luật nhưng giữ vai trò nền tảng để các nhà chính trị tư sản thế kỉ
XVII – XVIII như John Locke (1632 - 1704), Montesquieu (1698 - 1755), J.J.
Rousseau (1712 - 1778), I. Kant (1724 - 1804), Thomas Jefferson (1743 – 1826) ,
Thomas Paine (1737 - 1809), John Adams (1735 - 1826), Hegel (1770 - 1831)…phát
triển và ngày càng hoàn thiện tư tưởng về nhà nước pháp quyền với tư cách như một
thế giới quan pháp lý mới. Thế giới quan này khẳng định, nêu cao những tư tưởng nhân
đạo, các nguyên tắc tự do và bình đẳng của cá nhân, quyền con người là một quyền bất
biến, bất khả xâm phạm, chống lại chế độ độc tài, đả kích chuyên chế độc quyền. Qua
đó tìm kiếm không ngừng mô hình tổ chức chính quyền, bộ máy nhà nước để tạo nên
một trật tự, thiết chế chống lại sự lạm quyền của nhà nước, sự bất công của xã hội
đương thời.
Trong giai đoạn này, nhà tư tưởng đầu tiên cần nói đến: Montesquieu, luật gia
Pháp (1698 – 1755). Trên tiền đề của John Locke (1632 – 1704), ông đã phát triển,
hoàn thiện để tạo thành thuyết phân quyền. Theo ông, quyền lực được chia làm ba bộ
phận, nên giao cho ba cơ quan khác nhau, độc lập và có vị thế ngang nhau, đó là mối
quan hệ Lập pháp (Nghị Viện) – Hành pháp (Tổng thống) – Tư pháp (Tòa án). Phân
quyền là cơ sở để các bộ phận quyền lực có thể kiểm soát, đối trọng nhau là điều kiện
tiên quyết để tránh xu hướng lạm dụng quyền lực để đảm bảo tôn trọng quyền con
6 Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, NXB Quân
đội nhân dân, Hà Nội, tr. 294.

Trang 8


người, tự do cá nhân7. Đây là nội dung học thuyết phân quyền đồng thời cũng là cốt lõi
trong tư tưởng nhà nước pháp quyền của Montesquieu. Tư tưởng này đã có ảnh hưởng

rất lớn đến cơ sở lý luận tổ chức bộ máy nhà nước ở các nước tư sản.
Ngoài ra, không thể không nhắc đến I. Kant (1724-1804), ông là người lập luận
về mặt triết học cho lý luận về nhà nước pháp quyền tư sản. Vậy nên cũng không có gì
bất hợp lý khi người ta gắn học thuyết này trước hết cho tên tuổi của ông. Quan niệm
của Kant về nhà nước là tập hợp những con người cùng chịu sự lãnh đạo của các đạo
luật về pháp quyền. Mục đích của nhà nước là phải đảm bảo sự thắng lợi của pháp luật
và bản thân của nhà nước cũng phải phục tùng những yêu cầu của pháp luật đó. Ông
tán thành mô hình nhà nước phân quyền, ông cho rằng ở đâu áp dụng nguyên tắc phân
quyền thì ở đó có nhà nước pháp quyền không thì chỉ có tập quyền 8. Tuy nhiên nhà
nước ông hướng đến phải là nhà nước cộng hòa thuần túy, chân chính, nơi luật ngự trị
không phụ thuộc bất kì cá nhân nào.
Cuối cùng, nhà tư tưởng Heghen (1770 -1831), ông cũng có những tư tưởng về
nhà nước pháp quyền. Nhưng khác với các nhà tư tưởng trước, cấu trúc nhà nước pháp
quyền của Heghen là thần thánh hóa nhà nước. Chủ nghĩa nhà nước của ông là duy
tâm: “Nhà nước là sự du ngoạn của trời trên đất”9.
Hệ thống những tư tưởng, quan điểm của các học giả trên đã góp phần định hình
và hoàn thiện học thuyết nhà nước pháp quyền. Học thuyết này là tiền đề về mặt lý
luận cho việc xác định vai trò của pháp luật cũng như mối quan hệ của nó với phương
thức tổ chức, xây dựng và cách thức vận hành nhà nước của các nhà nước xã hội hiện
đại được người ta hướng đến, gọi là nhà nước pháp quyền. Cần nhấn mạnh rằng tư
tưởng về nhà nước pháp quyền là một giá trị chung mà nhân loại đạt được trong xã hội
tư sản, chứ không phải sản phẩm riêng của xã hội tư sản.

7 Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, NXB Quân
đội nhân dân, Hà Nội, tr. 296.
8 Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, NXB Quân
đội nhân dân, Hà Nội, tr. 296.
9 Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, NXB Quân
đội nhân dân, Hà Nội, tr.296.


Trang 9


1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền được hình thành trong xã hội dân chủ. Xây dựng và hiện
thực hóa nền dân chủ, xây dựng một nhà nước mà nhân dân là chủ thể nắm quyền lực
chính trị, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền.
Quan điểm của các nhà tư tưởng, nhà lý luận chính trị - pháp lý trong lịch sử
phát triển tư tưởng về hình thức tổ chức nhà nước này cũng không giống nhau về cách
trình bày. Tuy nhiên, phổ quát lại đây là những đặc trưng sau được đề cập nhiều, cũng
như nhận được sự đồng tình đa số của các học giả:
Thứ nhất, giá trị khuôn mẫu của pháp luật trong đời sống xã hội. Pháp luật trong
nhà nước pháp quyền là chuẩn mực, thước đo để hướng dẫn, điều chỉnh và đánh giá
hành vi của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Trong đó, Hiến pháp ở vị trí cao nhất.
Nhà nước, pháp luật phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp.
“Chắn chắn bất cứ ai thiết kế các Hiến pháp thành văn đều đặt vấn đề là đạo luật cơ
bản và tối cao của quốc gia, thì tất yếu lý thuyết hình thành chính quyền trên nền tảng
đó phải là một đạo luật thường trái với Hiến pháp sẽ bị coi là vô hiệu” 10. Đây cũng là
Điều khác biệt rõ nét nhất giữa pháp quyền và pháp trị. Trong nhà nước pháp trị, pháp
luật cũng đóng một vai trò rất lớn trong Điều chỉnh các mối quan hệ xã hội trong nhà
nước, tuy nhiên, pháp luật khi đó là một công cụ để giai cấp thống trị cai trị đất nước,
nghĩa là giai cấp thống trị đứng trên pháp luật. Trong nhà nước pháp quyền lý tưởng,
Hiến pháp có vị trí tối cao, dù là cơ quan nhà nước nào cũng không đặt phép tùy tiện có
những hành vi, văn bản trái với nội dung, tinh thần Hiến pháp. Nghĩa là phạm vi điều
chỉnh của Hiến pháp và các luật là rộng khắp, không loại trừ một chủ thể nào trong xã
hội.
Thứ hai, quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền được tổ chức theo
nguyên tắc dân chủ, phân định rõ ràng, kiểm soát quyền lực được thực hiện triệt để,
hiệu quả theo ba chức năng cơ bản của nhà nước là làm luật, thực thi pháp luật và xử lý
những vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi. Các nhà tư tưởng ở nhà nước tư sản

cho rằng “bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực, lập
pháp, hành pháp, tư pháp. Mỗi quyền lực thực hiện một chức năng riêng, có vị trí
10 Dẫn lại từ Vũ Văn Nhiêm-Nguyễn Mạnh Hùng-Lưu Đức Quang (2012), Cơ chế giám sát Hiến pháp – với việc
bảo đảm quyền con người, NXB Giáo dục Việt Nam, TP. HCM, tr.13.

Trang 10


ngang nhau để có nhiều khả năng hạn chế, kiềm chế hành vi lộng quyền và lạm quyền
của nhau”11. Yêu cầu Tư pháp độc lập cũng là một phần đặc trưng của nhà nước pháp
quyền.
Thứ ba, xác định vị trí trung tâm của con người trong nhà nước pháp quyền. Lúc
này, con người là mục tiêu và giá trị cao nhất. Một trong những tiêu chí để đánh giá
tính pháp quyền của một chế độ nhà nước là khả năng công dân được thực hiện quyền
của mình trên thực tế. Bởi lẽ, dân chủ là điều kiện, cơ sở cũng như là mục đích hướng
đến của nhà nước pháp quyền. Do đó, hoạt động của nhà nước phải bắt nguồn từ sự tôn
trọng quyền con người, tạo hành lang pháp lý an toàn để họ thực hiện các quyền của
mình theo nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm.
Thứ tư, ở phương diện đối ngoại, nhà nước pháp quyền cần thực hiện đầy đủ
nguyên tắc Pacta sunt servanda (tạm dịch: tận tâm thực hiện cam kết quốc tế). Cam kết
quốc tế cũng được xem là luật chung của các bên tham gia, thực hiện nguyên tắc này
nghĩa là quốc gia ký kết, công nhận hoặc thừa nhận điều ước quốc tế, bằng khả năng
kinh tế, chính trị của mình hiện thực hóa các cam kết đối với các quốc gia tham gia
khác. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với công dân của các quốc gia liên quan, mà
còn có ý nghĩa với chính uy tín của quốc gia trên trường quốc tế.
Thứ năm, nhà nước pháp quyền gắn với một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và
pháp luật phù hợp. Bất kì quốc gia nào theo chủ nghĩa Hiến pháp, xây dựng nhà
nước pháp quyền, thì đều có cơ chế giám sát Hiến pháp. Dù là mô hình giám sát tập
trung, chuyên trách hay giao cho cơ quan lập hiến thực hiện, thì các nước cũng đều
hướng đến một mục đích chung đó là đảm bảo bảo tính tối cao của Hiến pháp. Tuy

nhiên, việc lựa chọn mô hình giám sát nào phụ thuộc rất nhiều vào khả năng thích
hợp của một mô hình với điều kiện chính trị, xã hội, thể chế của từng quốc gia cụ
thể. Dù vậy, có thể nói, xây dựng và phát triển cơ quan bảo hiến không những trở
thành nhu cầu của mỗi quốc gia, mà còn là xu thế chung toàn cầu.
1.2. Giám sát Hiến pháp và vai trò của giám sát Hiến pháp trong xây
dựng nhà nước pháp quyền.
1.2.1. Khái niệm giám sát Hiến pháp
11 Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Dân, do Dân, vì Dân, NXB
Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 300.

Trang 11


Thuật ngữ giám sát Hiến pháp lần đầu tiên được đưa ra trong Hội nghị lập hiến
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1787. Theo mô hình của Hoa Kỳ, giám sát Hiến pháp được
hiểu là giám sát tư pháp (Judicial review) - thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét
tính hợp hiến của các đạo luật được ban hành bởi các cơ quan hoặc các cấp chính
quyền khác. Ở châu Âu, thuật ngữ này xuất hiện cùng với mô hình Tòa án Hiến pháp
của H. Kensel.
Theo từ điển Tiếng Việt: “giám sát là hoạt động theo dõi và kiểm tra xem có
thực hiện đúng những điều quy định hay không” 12. Như vậy giám sát Hiến pháp có thể
được hiểu là hoạt động theo dõi, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với
các cơ quan khác về việc thực hiện các quy định của Hiến pháp. Ở nước ta hiện nay
vẫn chưa thống nhất khái niệm giám sát Hiến pháp.
Có học giả cho rằng giám sát Hiến pháp “là tổng hợp các biện pháp giữ gìn,
chống lại sự vi phạm các nguyên tắc và quy phạm của Hiến pháp” 13. Theo quan điểm
này, giám sát Hiến pháp được hiểu theo nghĩa rộng đồng thời tương đồng về nghĩa với
thuật ngữ đảm bảo thi hành Hiến pháp. Lúc này, giám sát Hiến pháp có nội hàm gồm
tổng hợp các cơ chế nhằm bảo đảm tôn trọng Hiến pháp như cơ chế chính trị, cơ chế
pháp lý, cơ chế xã hội. Tuy nhiên, có thể thấy nội hàm được hiểu như vậy quá rộng trên

thực tế áp dụng thuật ngữ giám sát Hiến pháp trên thế giới hiện nay - Giám sát Hiến
pháp được tiến hành chỉ khi có sự vi phạm Hiến pháp của công quyền. Như vậy, giám
sát Hiến pháp được vận hành khi đáp ứng có hai điều kiện: thứ nhất, có hành vi vi
phạm Hiến pháp xảy ra trên thực tế; thứ hai, hành vi vi phạm này của công quyền, đối
tượng giám sát Hiến pháp chính là công quyền.
Nhóm quan điểm còn lại cho rằng giám sát Hiến pháp “là hoạt động của chủ
thể có thẩm quyền ra phán quyết về tính hợp hiến hoặc bất hợp hiến của văn bản luật,
qua đó làm phát sinh hệ quả pháp lý vô hiệu hóa văn bản pháp luật vi hiến”14. Ý nghĩa
giám sát Hiến pháp theo quan điểm này khá chật hẹp: chỉ kiểm soát tính hợp hiến của
các đạo luật. Thực tiễn giám sát Hiến pháp cũng đã chứng minh các định chế giám sát
12 Hoàng Phê (chủ biên)(2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội, tr 391.
13 Đặng Văn Chiến (chủ biên)(2005), Cơ chế bảo hiến, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.17.
14 Hồ Đức Anh(2006), “Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam”, Dân chủ và pháp luật,
(06), tr.32.

Trang 12


Hiến pháp ra đời không chỉ để thực hiện xem xét tính hợp hiến hay bất hợp hiến của
đạo luật mà còn thực hiện nhiều chức năng khác như giải quyết tranh chấp giữa các cơ
quan quyền lực nhà nước ở trung ương, giữa cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương
và địa phương; xem xét tính hợp hiến của cuộc bầu cử nguyên thủ quốc gia…(chẳng
hạn Tòa án Hiến pháp của các quốc gia châu Âu).
Ngày nay, dựa vào thẩm quyền của giám sát Hiến pháp, có thể thấy giám sát
Hiến pháp ngày nay không được sử dụng theo nghĩa rộng. Tuy nhiên, cũng ra thoát
khỏi sự chật hẹp trong nội hàm nghĩa hẹp. Giám sát Hiến pháp thực hiện nhiều chức
năng khác để bảo vệ nội dung và tinh thần Hiến pháp mà không chỉ dừng lại ở xem xét
tính hợp hiến của đạo luật. Nhưng, “ý nghĩa cốt lõi của giám sát Hiến pháp vẫn là
kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi lập pháp”15.
Cần phân biệt giám sát Hiến pháp và đảm bảo thi hành Hiến pháp. Đảm bảo thi

hành Hiến pháp ra đời từ tư duy của pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm triển khai, thực tế
hóa các quy định của Hiến pháp qua tuyên truyền, giáo dục…Còn giám sát Hiến pháp
lại là sản phẩm của pháp quyền, với mục tiêu xử lý các vi phạm của công quyền khi
thực thi Hiến pháp, hướng tới giám sát quyền lực nhà nước để bảo vệ các quyền và tự
do của con người.
1.2.2. Vai trò của giám sát Hiến pháp trong xây dựng nhà nước pháp
quyền.
Một bản Hiến pháp dù cổ điển hay hiện đại đều xác nhận chủ quyền chính trị tối
cao của nhân dân. Còn bản thân nhà nước pháp quyền hoạt động trong khuôn khổ pháp
luật mà vị trí tối cao trong hệ thống pháp luật - Hiến pháp. Nghĩa là một bản Hiến pháp
phù hợp được xem như cơ chế vận hành, hoạt động của bộ máy nhà nước và duy trì trật
tự xã hội trong nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, “theo Kant nhà nước là tập hợp
những con người cùng phục tùng các đạo luật pháp quyền” 16. Mà con người không
phải lúc nào cũng làm đúng. Điều này xảy ra những tình huống:

15 Xem thêm Vũ Văn Nhiêm-Nguyễn Mạnh Hùng-Lưu Đức Quang (2012), Cơ chế giám sát Hiến pháp – với
việc bảo đảm quyền con người, NXB Giáo dục Việt Nam, TP. HCM, tr.26.
16 Phạm Gia Đức (2003), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, NXB Quân
đội, Hà Nội, tr.296.

Trang 13


Một là, các thiết chế quyền lực có thể không xác định đúng phạm vi thẩm quyền
của mình dẫn đến tình trạng tranh chấp trong thực hiện quyền lực, dễ dẫn đến lạm
quyền.
Hai là, các cơ quan ban hành khi thực thi quyền lực qua áp dụng pháp luật đã
vượt quá thẩm quyền với các biểu hiện như ban hành các văn bản, quyết định trái với
Hiến pháp, pháp luật.
Ba là, những đạo luật, hành vi ra đời gây tổn hại cho đời sống xã hội, xâm phạm

các quyền con người hiến định.
Trước tiên, giám sát Hiến pháp được trao cho thẩm quyền đầu tiên để giải quyết
các tình huống trên: giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của chính quyền
trung ương – địa phương, đặc biệt liên quan đến việc thực thi pháp luật của trung ương
hay liên quan đến hoạt động giám sát chính quyền địa phương; tranh chấp khác theo
luật công giữa chính quyền trung ương và địa phương hoặc giữa chính quyền địa
phương với nhau cũng như trong nội bộ chính quyền địa phương.
Thứ hai, giám sát Hiến pháp có vai trò trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của
công dân. Khởi nguồn từ quyền khiếu nại Hiến pháp mà giám sát Hiến pháp trở thành
công cụ cho công dân thực hiện quyền của mình. Có thể xem quy định tại Hiến pháp
Liên bang Đức là một ví dụ cho việc này. “Mọi người đều có thể khiếu nại tại Tòa án
Hiến pháp Liên bang khi họ cho rằng quyền cơ bản của họ hay các quyền tương tự như
quyền cơ bản bị vi phạm bởi một văn bản hay quyết định của chính quyền nhà nước”.
Ở góc độ này, quyền cơ bản hay tương tự cơ bản của công dân dưới hoạt động của tài
phán Hiến pháp mới đảm bảo được thực thi thực thi, trên cơ sở hợp hiến của pháp luật
hiện hành chứ không là những tuyên ngôn, lý thuyết mà nhà nước mong muốn hướng
tới, tuy nhiên vì nhiều lý do mà chưa thực hiện được.
Thứ ba, chức năng được nói tới là chức năng giáo dục. Giáo dục với cả công
dân – người khiếu nại, với cả cơ quan nhà nước đưa ra văn bản hoặc có hành vi vi hiến.
Bản thân công dân, khiếu nại Hiến pháp giúp họ tự chủ được việc bảo vệ quyền của
mình trước sự xâm phạm của cơ quan nhà nước. Với cơ quan đã đưa ra văn bản, có
hành vi vi hiến, giám sát Hiến pháp tác động đến toàn bộ xử sự của hệ thống công
quyền, không áp dụng văn bản, hành vi vi hiến cho trường hợp tương tự, cũng như tạo
ra cơ hội mới cho cái nhìn về quy định của Hiến pháp. Khi không có chức năng giám
Trang 14


sát Hiến pháp, cơ quan công quyền mặc nhiên xem họ đúng, do đó, cái nhìn chưa đúng
về Hiến pháp được duy trì, tiếp tục trong hiện tại và tương lai.
Ngoài ra, giám sát Hiến pháp còn thêm chức năng giải thích Hiến pháp, giải

quyết các tranh chấp về bầu cử và trưng cầu dân ý. Hiến pháp ra đời trên ý chí của
nhân dân, hoặc đại diện của nhân dân. Tuy nhiên, không phải lúc nào nội dung của
Hiến pháp cũng có thể được áp dụng trực tiếp, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội thay
đổi không ngừng, còn Hiến pháp tĩnh tương đối, ổn định lâu dài, nên thường có tính
trừu tượng. Cơ quan nhà nước bằng việc ban hành luật, văn bản dưới luật để cụ thể
hóa, thực thi các quy định của Hiến pháp khó tránh khỏi hiện tượng xung đột thẩm
quyền hay vượt quá tinh thần, nội dung Hiến pháp quy định. Nên nhu cầu giải thích
Hiến pháp được đặt ra. Lời giải thích của cơ quan giám sát Hiến pháp được xem như
trọng tài trong trường hợp mâu thuẫn xảy ra giữa các cơ quan nhà nước, các văn bản
pháp luật trong quá trình đời sống hóa Hiến pháp.
Những chức năng này có được bởi sự đặc biệt của cơ quan giám sát như: cách
thức thành lập, tổ chức, tố tụng, sự tác động đến các cơ quan khác. Giám sát Hiến pháp
theo xu hướng hiện đại được giao cho cơ quan tư pháp. Lịch sử hình thành cơ quan tư
pháp đã khẳng định sự độc lập của nhánh quyền lực này, không mang tính chính trị như
lập pháp và hành pháp, phán quyết của tư pháp chỉ dựa trên pháp luật, công lý, lẽ phải.
Ngoài ra, dù quá trình để một công dân trở thành thẩm phán ở các quốc gia là khác
nhau, nhưng điểm chung đều rất phức tạp và khó khăn. Vậy nên, khi trở thành thẩm
phán, họ có đủ trình độ chuyên môn, kinh nghiệm cũng như bản lĩnh để đưa ra phán
quyết đúng đắn nhất.
Đây là chức năng phổ biến của các mô hình giám sát trên thế giới, bao gồm các
quyền:
-

Tuyên bố về sự không hợp hiến của các đạo luật và các văn bản quy phạm
pháp luật khi chúng có nội dung không đúng với quy định của Hiến pháp.
(Từ năm 1787 đến năm 1973, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã tuyên bố 122 đạo
luật của Nghị viện Hoa Kỳ là vi hiến (trong tổng số hơn 35.000 đạo luật ban

Trang 15



-

-

-

hành), cũng trong thời gian đó, gần 950 đạo luật của Quốc hội các bang bị
Tòa án tối cao tuyên bố vi phạm Hiến pháp Liên bang17).
Giải quyết các tranh chấp liên quan đến hiệu lực, việc áp dụng và giải thích
Hiến pháp.
Quyết định về tính hợp hiến của cuộc bầu cử Tổng thống.
Xem xét và quyết định về tính hợp hiến của các cuộc bầu cử vào cơ quan lập
pháp, tính hợp hiến của việc tiến hành và kết quả cuộc trưng cầu dân ý.
(21.8.2012, Tòa án Hiến pháp Rumani đã ra quyết định không công nhận kết
quả cuộc trưng cầu ý dân về luận tội Tổng thống Traian Baxexcu (Traian
Basescu) do tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu không vượt mức quá bán (50%+1) để có
giá trị theo luật định)18.
Quyết định về vấn đề cách chức quan chức nhà nước đặc biệt. (Với phán
quyết khẳng định việc thuyên chuyển cán bộ năm 2011 của Thủ tướng
Yingluck Shinawatra là vi hiến, Tòa án Hiến pháp Thái Lan ngày 7-5-2014
phế truất cương vị của nữ thủ tướng nước này)19.
Quyết định sửa đổi, bổ sung Hiến pháp.

Chung quy lại, chúng ta cần một cơ quan giám sát Hiến pháp để bảo vệ tính tối
cao của Hiến pháp tránh khỏi sự tùy tiện, nguyên thủy hóa thẩm quyền của các thiết
chế, bảo hộ quyền tự do của công dân – nội dung cốt lõi của một bản Hiến pháp. Vậy
nên với vai trò là công cụ duy trì, bảo vệ chế độ nhà nước pháp quyền và nền dân chủ,
giám sát Hiến pháp trước hết có nhiệm vụ thực hiện việc kiểm tra, đánh giá các văn
bản, hành vi của thiết chế quyền lực về tính hợp hiến của nó trên cơ sở làm sáng tỏ tinh

thần Hiến pháp, phân tích nội dung, ý chí và mục đích của luật để từ đó đưa ra phán
quyết. Giám sát Hiến pháp ra đời để “đảm bảo tính hợp hiến của mọi quyền lực nhà
nước và của các hành vi xã hội”20.
17 Tham khảo Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Hiến pháp và các văn bản pháp luật. NXB Tiến bộ, Maxcova, 1973, tr
15. (Dẫn lại từ Nguyễn Như Phát (2011), Tài phán Hiến pháp - một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc
tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 413).
18 (ngày truy cập
24.5.2014)
19 (ngày truy cập 17.6.2014)
20 Nguyễn Như Phát (2011) Tài phán Hiến pháp - một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và khả
năng áp dụng cho Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 144.

Trang 16


1.3. Cơ chế giám sát Hiến pháp
1.3.1. Khái niệm cơ chế giám sát Hiến pháp
Cơ chế giám sát Hiến pháp là hệ thống những thành tố, hình thức, thiết chế, thủ
tục mà qua đó Hiến pháp được bảo vệ. Cơ chế giám sát Hiến pháp thực chất là công cụ,
phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước nhằm đảm bảo quyền lực đó
thuộc về nhân dân.
Cơ chế giám sát Hiến pháp hình thành nên từ cơ sở một Hiến pháp cương tính.
Một Hiến pháp không bị thay đổi bởi chủ thể thông thường, thủ tục thông thường, bởi
đạo luật thường người ta mới đặt ra vấn đề giám sát Hiến pháp. Ở các quốc gia không
có sự phân biệt giữa Hiến pháp và đạo luật thường thì không có sự mâu thuẫn với
nhau. Khi mà đạo luật thường có thể sửa đổi được nội dung Hiến pháp, vị trí của Hiến
pháp không được đề cao, không chiếm ưu thế trước luật thường, đồng nghĩa việc
không thể dùng Hiến pháp để hạn chế quyền lực nhà nước thì giám sát Hiến pháp trở
nên vô nghĩa trong chế độ Hiến pháp nhu tính.
1.3.2. Những yếu tố cơ bản trong giám sát Hiến pháp

Giám sát Hiến pháp gồm nhiều nội dung. Trong đó hai yếu tố chủ thể thực hiện
giám sát Hiến pháp và đối tượng của giám sát Hiến pháp giữa vai trò vô cùng quan
trọng. Xác định đúng đắn chủ thể thực hiện và đối tượng của giám sát Hiến pháp là cơ
sở để định hướng phát triển mô hình giám sát Hiến pháp phù hợp. Bởi lẽ khi nắm rõ
hai yếu tố này nhà cầm quyền có thể hoạch định để xây dựng nền tảng chính trị, pháp
lý, tâm lý xã hội, cũng như các yếu tố về mặt kỹ thuật để mô hình giám sát Hiến pháp
ra đời mang lại hiệu quả cao nhất.
Chủ thể thực hiện giám sát Hiến pháp
Chủ thể giám sát Hiến pháp có sự thay đổi từ thời kì đầu của nền lập hiến đến
nay. Buổi đầu lập hiến, người ta quan niệm cơ quan dân cử là chủ thể hợp lý cũng như
thuận lợi nhất để thực hiện chức năng này. Bởi lẽ, Hiến pháp ra đời là kết quả của quá
trình đấu tranh dân chủ. Cơ quan dân cử đại diện cho ý chí nhân dân nên về mặt thẩm
quyền nó cũng là cơ quan có nhiều quyền lực nhất, có thể kiểm soát được sự vi phạm
của nhánh hành pháp. Là cơ quan thành lập ra Hiến pháp, nên có điều kiện để giải
thích Hiến pháp, nhận thấy được khi nào là vi hiến, khi nào là hợp hiến của các đạo
Trang 17


luật, các hành vi. Ngoài ra, một nhận thức cổ điển nữa, bản thân cơ quan dân cử hình
thành nên Hiến pháp nên sẽ tạo ra một quyết tâm cao để bảo vệ tính tối cao của đạo
luật đặc biệt này. Mới nhìn, có thể thấy lập luận này rất ổn, hợp lý. Tuy nhiên, quan
niệm này đã trở nên không phù hợp.
Lý luận Hiến pháp học phân tích rằng cơ quan chính trị có khuynh hướng xem
xét vấn đề trên khía cạnh chính trị hơn là pháp lý. Mà kiểm soát tính hợp hiến là một
hành vi mang tính pháp lý chứ không là hành vi chính trị. “Một cơ quan chính trị, kiểm
soát dễ sai lạc vì cơ quan này nghĩ đến nhiều đến lợi ích của đạo luật, tính cách hợp
thời của nó, cũng như giá trị thực tiễn của nó” 21. Trao chức năng giám sát cho tư pháp
hợp lý hơn bởi tính chất đặc biệt của nó hơn hai nhánh quyền lực còn lại, độc lập và có
chuyên môn pháp lý cao.
Mặt khác, lập pháp và hành pháp một nhánh giữ quyền quy định xử sự xã hội,

một bên triển khai pháp luật vào đời sống. Vì điều này nên có thể khẳng định khả năng
lạm quyền của hai nhánh quyền lực trên. Trong khi đó, Tòa án qua mô tả của Hamilton:
“Ngành tư pháp, trái lại không có quyền sử dụng vũ lực hoặc kiểm soát tài chính,
không có quyền chi phối tài sản lẫn sức mạnh của xã hội, và cũng không có một quyền
quyết định tích cực nào cả. Có thể nói được rằng ngành tư pháp vừa không có lực
lượng lại vừa không có ý chí, chỉ có trí phán đoán mà thôi, và cần phải dựa trên sự trợ
tá của ngành hành pháp mới có thể thi hành được phán quyết của trí phán đoán
mình”. Nhánh tư pháp không thể đủ điều kiện để lạm quyền. Ngoài ra, thiết kế của Tòa
án độc lập tương đối với hai nhánh quyền lực, chức năng là phán xét các hành vi để
duy trì sự thống lĩnh của pháp luật trong đời sống.
Chính vì vậy mà khi thành lập cơ quan giám sát Hiến pháp, các quốc gia có xu
hướng trao quyền này cho nhánh tư pháp hoặc ít nhất là phương thức tổ chức, thực
hiện của cơ quan giám sát độc lập với nhánh lập pháp và hành pháp.
Đối tượng xem xét
Đối tượng được xem xét trong giám sát Hiến pháp bao gồm:

21 Xem thêm Vũ Văn Nhiêm-Nguyễn Mạnh Hùng-Lưu Đức Quang (2012), Cơ chế giám sát Hiến pháp – với
việc bảo đảm quyền con người,Nxb Giáo dục Việt Nam, TP. HCM, tr.26.

Trang 18


-

Các văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn Hiến pháp: luật, văn bản dưới luật,
các bản án, quyết định của nhánh tư pháp.
Văn bản hành chính của các tổ chức chính trị được nhà nước trao quyền
quản lý.
Điều ước quốc tế theo quy định của pháp luật quốc gia.
Hành vi vi phạm Hiến pháp của các cá nhân có thẩm quyền.


Tùy thuộc vào mô hình giám sát Hiến pháp, phương pháp tổ chức quyền lực,
mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực với nhau, mà đối tượng xem xét có thể là một,
một số hoặc tất cả các đối tượng trên.
Khi thực hiện hoạt động giám sát Hiến pháp, đối tượng được xem xét trước tiên
là các đạo luật, các văn bản ban hành. Bởi lẽ đạo luật là cơ sở khuôn mẫu cho xử sự xã
hội, trong nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật mà tối cao là Hiến pháp nên đối
tượng chủ yếu, quan trọng nhất khi giám sát Hiến pháp là các đạo luật.
1.3.3. Hình thức giám sát Hiến pháp và việc xử lý các trường hợp vi phạm
Hiến pháp
1.3.3.1. Hình thức giám sát Hiến pháp
Có hai hình thức giám sát Hiến pháp: Giám sát trừu tượng và giám sát cụ thể.
Giám sát trừu tượng là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản luật mà không
gắn liền với một vụ việc cụ thể. Giám sát trừu tượng là phương thức gắn liền với giám
sát trước (nghĩa là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của luật trước khi thông qua, có
hiệu lực). Giám sát trước xảy ra khi có một trong các chủ thể có thẩm quyền đề nghị
xem xét. Thông thường các nước giới hạn chủ thể này là tổng thống, chủ tịch hai viện,
hoặc một số lượng nghị sĩ nhất định mới có quyền đề nghị Tòa án Hiến pháp xem xét.
Tuy nhiên, cũng có một số nước không giới hạn chủ thể có quyền này. (Ví dụ công dân
Hungary theo Điều 32A Hiến pháp Hungary). Phán quyết của phương pháp trừu tượng
hướng đến chính phủ vì không gắn liền một vụ việc nên pháp quyết không tác động
đến người yêu cầu.
Hình thức giám sát cụ thể gắn liền với một vụ việc cụ thể, đòi hỏi của hình thức
giám sát này đó là việc đưa ra pháp quyết về tính hợp hiến mới có thể giải quyết được
vụ việc. Do đó có thể thấy, giám sát cụ thể đa số gặp ở giám sát sau, khi đạo luật đã có
hiệu lực trong đời sống và đã tác động đến quyền lợi của công dân. Chủ thể thực hiện
Trang 19


quyền này thường là pháp nhân và thể nhân – những chủ thể đã trực tiếp chịu tác động

của đạo luật đó.
1.3.3.2. Kết quả xử lý
Kết quả pháp lý của quá trình giám sát Hiến pháp là kết quả nhận được của một
quá trình giải quyết. Đạo luật, hành vi bị xem xét có thể chịu một trong những hậu quả:
-

-

-

Nghị viện (Quốc hội) hoặc cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản để đình
chỉ, bãi bỏ, hủy bỏ văn bản được coi là vi hiến (Mô hình cơ quan dân cử thực
hiện chức năng giám sát)
Cơ quan giám sát tuyên bố đạo luật không có giá trị pháp lý, nghĩa là không
được áp dụng trên thực tế, còn việc sửa đổi, hay bãi bỏ đạo luật do Nghị viện
quyết định. (Mô hình giám sát của Hoa Kỳ)
Cơ quan giám sát Hiến pháp tuyên bố đạo luật, hành vi là vi hiến (Mô hình
tài phán của Anh, Đức)

1.3.4. Các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới. Ưu và nhược điểm
1.3.4.1. Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung
Lịch sử hình thành
Với lý thuyết Hiến pháp tối cao, tại hội nghị lập hiến Philadenphia 1787, những
đại biểu thông thái như Jame Madison, George Mason, James Wilson, Gouverneur
Moris, Hugh Williamson, Luther Martin và Rufus King đã nhận thấy được vai trò của
nhánh tư pháp trong việc giới hạn quyền lực của nhánh hành pháp, nêu ý kiến về việc
hình thành chế độ tài phán Hiến pháp của Hoa Kỳ. Tuy nhiên các đại biểu trên đã
không thuyết phục được hội đồng. Do vậy, quyền giám sát của Tòa án đối không được
ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ và các tu chính sau đó.
Trong hệ thống Common Law, án lệ đóng vai trò trong việc tạo ra luật, bổ khuyết

cho những quy định của luật thành văn. Điều này lại được khẳng định một lần nữa vào
năm 1803. Khi ấy, Chánh án Tòa án tối cao Liên bang là John Marshall tạo ra án lệ về
việc Tòa án tối cao Liên bang tuyên bố một đạo luật của Nghị viện là vi hiến cũng như
xác lập nên học thuyết về tài phán Hiến pháp Hoa kỳ. Nội dung phán quyết có thể tóm
tắt như sau: Hiến pháp là tối cao, bởi vậy nên đạo luật thường trái với Hiến pháp thì bị
coi là vô hiệu. Hình thành nguyên tắc là tất cả các luật và hoạt động của chính quyền
phải phù hợp với Hiến pháp, bất cứ cá nhân nào tin là các quyền hiến định của mình
Trang 20


đang bị vi phạm bởi bất cứ cấp chính quyền nào – Liên bang, bang hay địa phương đều có thể được phân xử theo trình tự tố tụng thích hợp. Chính phán quyết của ông đã
tạo nên một cơ chế giám sát Hiến pháp đặc biệt. Mô hình giám sát phi tập trung –
Thẩm quyền thuộc về hệ thống Tòa án thường.
Theo gương Hoa Kỳ, các nước Brazil (1891), Uruguay (1917) lần lượt xác lập
quyền bảo hiến của toà án.
Ở châu Âu, trước chiến tranh thế giới thứ hai, theo mô hình của Hoa Kỳ, các
nước như Na Uy, Hy Lạp và một số bang của Thuỵ Sĩ cũng thiết lập quyền giám sát
Hiến pháp của toà án.
Chủ thể giám sát
Chủ thể giám sát của mô hình này có hai dạng. Một số nước như Hoa Kỳ, Nhật
Bản, Philippin và các nước Bắc Âu bất kì Tòa án nào cũng có thẩm quyền giám sát.
Dạng khác thì chỉ các tòa cấp cao nhất như tòa tối cao, hoặc tòa tối cao của bang mới
có thẩm quyền giám sát Hiến pháp. Tuy nhiên, vì phương thức tổ chức nên phán quyết
của Tòa án tối cao có giá trị pháp lý cao nhất, mang tính chất chung thẩm.
Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung là mô hình giao việc giám sát Hiến
pháp cho Tòa án trên cơ sở kiềm chế đối trọng trong mối quan hệ giữa tư pháp – hành
pháp và lập pháp. Vì vậy, mô hình này chỉ áp dụng hiệu quả ở những nước phân quyền
mạnh mẽ, thực hiện triệt để quan điểm đảm bảo sự độc lập của ngành tư pháp đối với
lập pháp, hành pháp. Charles De Secondat Mongtesquieu, từng viết: “Sẽ không có tự
do nếu quyền tư pháp không tách biệt khỏi ngành lập pháp và hành pháp” 22. Mặt khác,

án lệ cũng là một lợi thế nếu áp dụng mô hình này. Bởi phán quyết của Tòa án có giá
trị chung theo chiều ngang, và chiều dọc đối với Tòa án tối cao, nên việc tuyên đạo luật
không có giá trị pháp lý sẽ dẫn đến kết quả, đạo luật đó mất giá trị pháp lý trên phạm vi
cả nước và sau này.

22 Mongtesquieu Charles De Secondat(1996) Tinh thần pháp luật (De L.Esprit de lois), NXB Giáo dục, Trường
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Khoa luật, Hà Nội, tr.101.

Trang 21


Phương pháp giám sát
Phương pháp của mô hình bảo hiến phi tập trung là giám sát cụ thể. Việc kiểm
tra tính hợp hiến của đạo luật bắt đầu khi Tòa án giải quyết vụ việc nhận thấy cần phải
xem xét tính hợp hiến của đạo luật trước khi giải quyết đúng đắn vụ án.
Đặc điểm mô hình
Mô hình bảo hiến phi tập trung có thể được mô tả bởi những đặc điểm:
-

-

-

-

Các Tòa án có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật. Đây là đặc
điểm rõ ràng nhất để phân biệt mô hình bảo hiến tập trung hay phi tập trung.
Nếu như ở mô hình tập trung, xem xét tính hợp hiến của hành vi, văn bản
được giao cho một cơ quan duy nhất, cơ quan này cũng chỉ thực hiện chức
năng giám sát Hiến pháp thì ở mô hình phi tập trung lại không có cơ quan

nào chuyên thực hiện vấn đề này. Có thể phân tích mô hình của Hoa Kỳ, việc
giám sát Hiến pháp thuộc về thẩm quyền của toàn hệ thống Tòa án.
Quyền bảo hiến gắn với một vụ việc cụ thể.
Tòa án chỉ tuyên bố một đạo luật là vi hiến khi nó trái ngược một cách hoàn
toàn với Hiến pháp, và việc xem xét tình hợp hiến là điều kiện để giải quyết,
nghĩa là nếu thẩm pháp không xem xét tính hợp hiến của đạo luật mà vẫn có
thể giải quyết vụ việc làm hài lòng các đương sự thì thẩm phán không được
tuyên đạo luật vi hiến. Điều này như một sự tôn trọng đối với sản phẩm của
cơ quan lập pháp.
Khi một đạo luật bị tuyên là vi hiến thì không còn giá trị áp dụng. Phán
quyết của tòa không dùng để bãi bỏ hay sửa đổi đạo luật nhưng vì tính chất
vi hiến đồng nghĩa vô hiệu nêu phán quyết tuyên vi hiến sẽ làm đạo luật mất
giá trị áp dụng trên thực tế dù cho không bị nghị viện hủy bỏ hay sửa đổi.
Phán quyết về tính hợp hiến của đạo luật thông thường chỉ có giá trị với các
bên tham gia, nếu nó là tiền lệ được xem là ngoại lệ, có giá trị chung. Xuất
phát từ phương pháp giám sát là giám sát cụ thể, nên phán quyết đưa ra
nhằm mục đích giải quyết vụ việc nên trước tiên có giá trị với đương sự. Nếu
nó không phải là tiền lệ thì sẽ không có giá trị bắt buộc các tòa khác tuân
theo mà chỉ nằm ở chừng mực tham khảo cho các thẩm phán khi xảy ra vụ
việc tương tự về mặt tình tiết.

Trang 22


-

Phán quyết của Tòa án về tính hợp hiến của đạo luật không có hiệu lực
chung thẩm mà có thể bị xem xét lại bởi Tòa án cấp trên. Vì hệ thống Tòa án
gồm nhiều thứ bậc, đứng đầu là Tòa án tối cao. Chỉ có phán quyết của Tòa
án tối cao mới có giá trị chung thẩm, bắt buộc thi hành chung trên toàn lãnh

thổ.

Ưu điểm
Giám sát sau, phương pháp giám sát cụ thể, đồng thời hậu quả pháp lý là tuyên
đạo luật không có giá trị pháp lý, không tuyên bãi bỏ, sửa đổi hay đình chỉ đạo luật, thể
hiện sự độc lập, không can thiệp vào lĩnh vực lập pháp của Tòa án. Không phải mất
nhiều thời gian để kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật
Nhược điểm
Nhược điểm của mô hình cũng là nhược điểm của biện pháp giám sát, vì là giám
sát cụ thể nên đạo luật có nguy cơ vi hiến vẫn được thông qua và có giá trị thi hành trên
thực tế, nó có thể đã tạo ra hậu quả cho xã hội trong thời gian có hiệu lực. Ngoài ra,
trên cơ sở văn bản vi hiến, trong giờ gian còn hiệu lực pháp luật, có thể cơ quan nhà
nước đã ban hành các văn bản hướng dẫn, điều này dẫn đến việc bác bỏ đạo luật là bác
bỏ toàn bộ hệ thống văn bản đi kèm, gây ra lãng phí, tốn kém không cần thiết.
1.3.4.2. Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung
Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung (Concentrated system) được chia thành
hai loại: Tòa án Hiến pháp (Constitutional Court) và Hội đồng bảo hiến (Constitutional
Council) - Mô hình châu Âu lục địa.
Lịch sử hình thành
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các nước châu Âu đã xây dựng mô hình giám
sát Hiến pháp riêng của mình. Người khởi xướng ra mô hình giám sát tư pháp Hiến
pháp đó là luật sư người Áo - Hans Kelsen.
Quan điểm của H. Kelsen đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng Hiến pháp
nước Cộng hoà Áo 1920. Các học giả Áo đã gắn tên tuổi của H. Kelsen với sự xuất
hiện trong Hiến pháp Áo năm 1920 thiết chế giám sát tư pháp tính hợp hiến của các

Trang 23


đạo luật - Toà án Hiến pháp. Tuy nhiên mô hình lại phát triển như một thiết chế tiêu

biểu tại cộng hòa Liên bang Đức.
Mô hình Tòa án Hiến pháp độc lập vừa phù hợp với lịch sử thói quen coi trọng
Nghị viện, khi Tòa án không đủ độc lập và mạnh mẽ để có thể áp dụng mô hình giám
sát như của Hoa Kỳ. Cùng với những ưu điểm của nó nên tỷ lệ các nước sử dụng mô
hình này để giám sát Hiến pháp khá cao (khoảng 37,7% 23. Tính trên tỉ lệ các mô hình
Tòa án Hiến pháp, Hội đồng bảo hiến, Mô hình hỗn hợp, Tòa án tư pháp đồng thời là
cơ quan giám sát).
Cùng là chế độ Cộng hòa nhưng Pháp lại không thể áp dụng được mô hình bảo
hiến của Đức bởi đặc trưng đa đảng không có đảng chiếm ưu thế. Năm 1958, Hội đồng
bảo hiến được ra đời như sự kết hợp của hai mô hình giám sát cổ điển trên. Tuy nhiên,
đây không phải là Tòa án mà được thành lập như một thiết chế quyền lực ngang hàng
với cơ quan hành pháp, được thành lập để thực hiện chức năng chính trị nhiều hơn
chức năng tư pháp.
Hội đồng bảo hiến là mô hình đặc biệt kết hợp mô hình Tòa án Hiến pháp của
Đức và giám sát phi tập trung của Hoa Kỳ. Sản phẩm được tạo ra bởi Tổng thống De
Gaulle, được ghi nhận trong Hiến pháp 1958. Thiết chế này tạo ra để phù hợp nền cộng
hòa lưỡng tính, chế độ nghị viện hợp lý và đề cao tổng thống.
Nếu mô hình của Hoa Kỳ dựa trên học thuyết phân quyền của Montesquieu, thì
giám sát tập trung được xây dựng trên nền tảng ý chí tối cao của nhân dân – Rousseau.
Đây là mô hình phù hợp với các nước cộng hòa, đề cao Nghị viện. Bởi lẽ, khi đề cao
Nghị viện, nghĩa là thừa nhận vị trí tối cao của Nghị viện trong bộ máy nhà nước, hệ
thống tòa án thường ở một vị thế không đủ sức để kiểm soát, đối trọng, càng không đủ
thẩm quyền để tuyên vi hiến đạo luật của cơ quan đại diện cho ý chí nhân dân – cơ
quan lập pháp. Nên việc xây dựng một thiết chế độc lập với các cơ quan nhà nước,
đứng ngoài ba nhánh quyền lực truyền thống là cần thiết để đảm bảo hiệu lực của phán
quyết.
Hơn nữa, ở các nước theo truyền thống dân luật, tôn trọng án lệ là điều không
được đề cao. Các nước áp dụng nguyên tắc án lệ, một phán quyết mang tính tiền lệ
được đưa ra sẽ ràng buộc các Tòa án khác tuân theo. Tuy nhiên, điều này không xảy ra
với các nước dân luật. Mỗi thẩm phán sẽ có một nhận xét khác nhau về tính vi hoặc

23 Tính toán dựa vào nguồn: Đặng Văn Chiến (2005), Cơ chế bảo hiến, Nxb Tư pháp, Hà Nội.

Trang 24


hợp hiến của đạo luật. Hoàn toàn có thể xảy ra trường hợp một đạo luật được thẩm
phán này xem hợp hiến nhưng thẩm phán khác xem là vi hiến. Một thiết chế độc lập ra
đời còn đảm bảo tính thống nhất pháp luật.
Chủ thể giám sát
Tòa án Hiến pháp thông thường có 9 đến 15 thẩm phán. Những Tòa án Hiến
pháp có 9 thẩm phán như Pháp, Italia, Campuchia, 11 thẩm phán như Ba Lan, Thái
Lan, 18 thẩm phán như Ukraina và đông nhất là 19 thẩm phán của Liên bang Nga.
Nhiệm kỳ thường gặp là 9 năm.
Thẩm phán của Tòa án Hiến pháp thường được lựa chọn từ những giáo sư, thẩm
phán, luật sư, chính khách có uy tín. Thông thường 1/3 số lượng thẩm phán Tòa án
Hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm, 1/3 khác do thượng viện bầu, 1/3 còn lại do hạ
viện bầu. Và quy định các thẩm phán này không phải là thành viên của Chính phủ,
Nghị viện hoặc thẩm phán Tòa án tư pháp, Tòa án hành chính…nghĩa là đây là chức vụ
không cho phép kiêm nhiệm chức vụ khác.
Hội đồng bảo hiến (Pháp, Mozambic, Marocco, Kazakhstan), ban Hiến pháp
thuộc Tòa án tối cao (Costa Rica, Burkina Faso), Hội đồng Điều tra giám sát Hiến pháp
(Etiopia), trong các công trình nghiên cứu, hầu hết các học giả không tách biệt các mô
hình này với Tòa án Hiến pháp.
Phương pháp giám sát
-

Giám sát văn bản luật trước khi công bố (preventive review)

Một số chủ thể đặc biệt có quyền yêu cầu Tòa án Hiến pháp xem xét tính hợp
hiến của dự luật thông qua nhưng chưa công bố. Thông thường chủ thể này là Tổng

thống (hoặc vua ở các nước quân chủ lập hiến), Thủ tướng, Chủ tịch thượng viện, Chủ
tịch hạ viện, một tỷ lệ nghị sĩ của Nghị viện, Tòa án Tối cao. Thời hạn cho quá trình
xem xét được ấn định, trường hợp khẩn cấp sẽ ngắn hơn (ở Pháp là 8 ngày). Nếu Tòa
án Hiến pháp tuyên đạo luật vi hiến, việc thông qua sẽ dừng lại, nghĩa là đạo luật
không được công bố, không có hiệu lực pháp luật. Và ngược lại, Tòa án tuyên bố
không vi hiến thủ tục công bố sẽ được tiếp tục.
-

Giám sát các văn bản luật đã có hiệu lực pháp luật (repressive review).
Trang 25


×