DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Ban chấp hành
“diễn biến hòa bình”
Học viên
Học viện Toà án
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán
Trường Cán bộ Tòa án
Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân tối cao
Xã hội chủ nghĩa
Chữ viết tắt
BCH
“DBHB”
HV
HVTA
HTND
TP
TCBTA
TAND
TANDTC
XHCN
MỤC LỤC
Trang
3
MỞ ĐẦU
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC
TIỄN BỒI DƯỠNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT CHO
HỌC VIÊN HỌC VIỆN TÒA ÁN
1.1.
Văn hóa pháp luật và những vấn đề cơ bản bồi dưỡng
văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án
1.2.
10
Thực trạng và một số kinh nghiệm bồi dưỡng văn hóa
pháp luật cho học viên Học viện Tòa án
Chương 2
10
31
YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
BỒI DƯỠNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT CHO HỌC
VIÊN HỌC VIỆN TÒA ÁN HIỆN NAY
2.1.
56
Những yếu tố tác động và yêu cầu tăng cường bồi
dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án
2.2.
hiện nay
Những giải pháp tăng cường bồi dưỡng văn hóa pháp
56
luật cho học viên Học viện Tòa án hiện nay
64
88
90
95
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một trong những thành tựu nổi bật về tư duy lý luận của Đảng ta trong
thời kỳ đất nước đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa đó là Đảng ta đã
phát triển lý luận về văn hóa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, được thông qua Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII đã xác định: Nền văn hóa Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân
tộc là một trong những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây
dựng. Đến Hội nghị lần thứ Năm Ban Chấp hành trung ương khóa VIII, Đảng
ta đã ra nghị quyết chuyên đề về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc. Về vị trí, vai trò của văn hóa trong sự nghiệp đổi mới
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta xác định văn hóa là nền
tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã
hội. Đảng đã xác định phương hướng chiến lược làm cho nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội,
vào từng người, từng gia đình, từng tập thể, cộng đồng, từng địa bàn dân cư,
vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ của con người.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa thực hiện
quản lý Nhà nước bằng pháp luật đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tư pháp
trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ con người. Để
thực hiện được vấn đề này, phải xây dựng đội ngũ cán bộ Tòa án có Văn hóa
pháp luật; có kiến thức toàn diện về chính trị, kinh tế, pháp luật; giỏi về
chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng nghề nghiệp, có kinh nghiệm thực tiễn
phong phú, có phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh, dũng cảm đấu
tranh bảo vệ công lý, tận tâm với công việc.
Trường Cán bộ Tòa án (nay là Học viện Toà án) thuộc Tòa án nhân dân
tối cao, có chức năng, nhiệm vụ bồi dưỡng nâng cao kiến thức nghiệp vụ Tòa
án cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký của các Tòa
án, trước hết là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án
nhân dân tố cao. Tham gia công tác nghiên cứu khoa học xét xử, hoặc các
công tác khác khi được chánh Tòa án nhân dân tối cao phân công. Quản lý sở
vật chất của Học viện, quản lý học viên trong thời gian mở lớp và bảo đảm
phục vụ các yêu cầu về ăn, ở cho các học viên nội trú tại Học viện. Những
năm qua quán triệt các quan điểm của Đảng về văn hóa, Học viện Tòa án đã
đặc biệt coi trọng bồi dưỡng Văn hóa pháp luật cho các học viên. Nhờ đó, đã
trực tiếp góp phần nâng cao nhận thức, lòng yêu nghề, lương tâm trách nhiệm
của mỗi người trong thực thi chức trách, nhiệm vụ. Tuy nhiên, so với yêu cầu
thực tiễn phát triển của xã hội, theo tinh thần cải cách tư pháp mà Đảng, Nhà
nước đề ra thì việc nâng cao Văn hóa pháp luật, lương tâm, trí tuệ, đạo đức
nghề nghiệp cần được nghiên cứu sâu sắc cả về mặt lý luận lẫn đặc thù chức
năng nghề nghiệp của các chức danh tư pháp.
Xuất phát từ những lý do trên, học viên lựa chọn vấn đề Bồi dưỡng văn
hóa pháp luật cho học viên Trường Cán bộ Tòa án (nay là Học viện Toà án)
hiện nay làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính
quyền Nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xuất phát từ vai trò của pháp luật đối với sự phát triển xã hội, Đảng và
Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến giáo dục, bồi dưỡng ý thức pháp luật cho
cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Giáo dục Văn hóa pháp luật được
coi là một trong những việc làm quan trọng có ý nghĩa đặc biệt trong việc
nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, xây dựng Nhà
nước pháp quyền. Thông qua giáo dục bồi dưỡng làm cho cán bộ, đảng viên
và nhân dân nắm được các quy phạm, các chuẩn mực pháp luật, hình thành
củng cố niềm tin và hành vi pháp luật ở mỗi cá nhân con người. Quán triệt
thực hiện Nghị quyết của Đảng, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính
phủ, theo từng giai đoạn phát triển của đất nước, có nhiều cơ quan, tổ chức và
các nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề giáo dục bồi dưỡng văn
hóa pháp luật, dưới đây là một số công trình tiêu biểu.
Nguyễn Đình Lộc: “Ý thức pháp luật và giáo dục pháp luật ở Việt
Nam”, Luận án Phó tiến sĩ Luật học, (bảo vệ năm 1977 tại Liên Xô) đã
nghiên cứu làm rõ các vấn đề liên quan đến ý thức pháp luật và giáo dục pháp
luật ở Việt Nam.
Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai: “Bàn về giáo dục pháp
luật”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995;
Đào Trí Úc: "Xây dựng ý thức và lối sống tuân theo pháp luật”, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995;
Lê Đình Khiên: “Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản
lý hành chính”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995;
Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp: “Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn về phổ biến, giáo dục ý thức pháp luật trong công cuộc đổi
mới”, Đề tài khoa học cấp Bộ
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “Đổi mới giáo dục pháp
luật trong hệ thống các trường chính trị ở nước ta hiện nay”, Đề tài khoa học
cấp Bộ, Hà Nội, 2000.
Bộ Tư pháp: “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chương
trình quốc gia về phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn tới”, Đề tài
khoa học cấp Bộ, Hà Nội, 2004.
Lê Đình Khiên: “Nâng cao ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ quản
lý hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay”, Luận án Phó Tiến sĩ Luật học,
Hà Nội, 1996;
Đinh Xuân Thảo: “Giáo dục pháp luật trong các trường đại học, trung
học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay”,
Luận án Phó Tiến sĩ Luật học, Hà Nội, 1996;
Vũ Bích Ngọc: “Giáo dục pháp luật trong Quân đội nhân dân Việt
Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội, 2011.
Phạm Thị Ngọc Minh: “Giáo dục pháp luật cho phụ nữ ở nước ta hiện
nay”, Luận văn Thạc sĩ, Hà Nội, 2012...
Tổng cục Chính trị : "Đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
trong QĐND Việt Nam hiện nay", Hà Nội, 2000.
Vũ Văn Thường: "Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho học viên
đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội ở Học viện Chính trị quân sự hiện nay"
Luận án Tiến sĩ, 2005.
Phùng Đức Hùng: "Biện pháp quản lí quá trình giáo dục kỷ luật cho
học viên Trường Quân sự Quân khu 2" Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành quản
lí giáo dục đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lí quá trình giáo dục kỷ
luật; trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lí quá trình giáo dục kỷ luật cho
học viên Trường Quân sự Quân khu 2.
Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới, Nhà xuất bản Văn hoá Thông
tin, Hà Nội, 1994, trang 20.
Văn hoá giữ nước của dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân
dân, Hà Nội, 2002.
Trương Tấn Sang: Bài phát biểu tại lễ khai giảng lớp đào tạo kiến thức
lãnh đạo, quản lý cho Chánh án Toà án cấp tỉnh và quân khu tại Trường Cán
bộ Toà án, ngày 12 tháng 4 năm 2013.
Tòa án Nhân dân Tối cao: Trường Cán bộ Tòa án 20 năm xây dựng và
trưởng thành.
Nguyễn Phú Trọng (2001): Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Vũ Văn Hiền (2005), Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm
đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nguyễn Duy Hùng (2007), Luận cứ khoa học và một số giải pháp
nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ phường hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
Nguyễn Quốc Tuấn, Nâng cao năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết
của Đảng đối với cán bộ chủ chốt cấp huyện ở đồng bằng sông Cửu Long
hiện nay, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2004.
Thang Văn Phúc (1998), Đạo đức, phong cách làm việc của cán bộ,
công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
Trần Danh Bích (1996), Xây dựng cơ cấu hợp lý đội ngũ cán bộ Quân
đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới, Luận án PTS Khoa
học quân sự, Hà Nội.
Tô Xuân Sinh, Dự báo chất lượng đội ngũ cán bộ ở các đơn vị cơ sở
binh đoàn chủ lực trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2000-2010,
đề tài cấp cơ sở.
Phạm Ngọc Thuỵ (2004), Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì ở Trường sỹ
quan Lục quân 1 giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sỹ chuyên ngành xây
dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị quân sự.
Nguyễn Thanh Dung (2010) Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với vệc
xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
Ngô Kim Ngân, Lâm Quốc Tuấn (Đồng chủ biên), Phong cách làm
việc của người bí thư huyện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
2010.
Nguyễn Văn Giang (2008), Đổi mới phong cách làm việc, Tạp Chí Xây
dựng Đảng, số 9- 2006, PGS, TS Nguyễn Văn Thắng, Bồi dưỡng phong cách
chính uỷ, chính trị viên đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội hiện nay, Tạp chí
quốc phòng toàn dân, số 7- 2008. PGS, TS Tô Xuân Sinh, Một số vấn đề về
bồi dưỡng phong cách lãnh đạo của cán bộ, đảng viên trong quân đội hiện
nay, Thông tin khoa học xã hội nhân văn quân sự, số 88 – 2003.
Lê Thanh Sơn: "Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy môn
học pháp luật trong các nhà trường Quân đội",Tạp chí Quốc phòng toàn dân,
tháng 6/2004.
Nguyễn Thành Cung: "Toàn quân đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật trong tình hình mới" Tạp chí Quốc phòng toàn dân,
tháng 5/2012...
Các công trình, đề tài, luận văn, bài viết nêu trên chủ yếu tiếp cận,
nghiên cứu vấn đề dưới góc độ giáo dục pháp luật. Vấn đề giáo dục bồi dưỡng
ý thức pháp luật được các đề tài xác định như là một giải pháp của công tác
giáo dục pháp luật. Một số công trình nghiên cứu về giáo dục bồi dưỡng ý
thức pháp luật, song mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu quản lý giáo dục pháp luật
cho các đối tượng nói chung hoặc từng cơ quan, đơn vị, địa phương nói riêng.
Một số công trình đã nghiên cứu về văn hóa và bồi dưỡng nhân cách văn hóa;
chỉ ra giải pháp bồi dưỡng phẩm chất, năng lực của cán bộ, công chức nói
chung và cán bộ ngành Tòa án nói riêng. Tuy nhiên, do đối tượng, phạm vi
nghiên cứu khác nhau, chưa có công trình nào đề cập bồi dưỡng văn hóa pháp
luật cho học viên Học viện Tòa án hiện nay. Tác giả luận văn trân trọng kế
thừa kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên để luận giải làm rõ những
vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học
viên Học viện Tòa án hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn; xác định yêu cầu và
đề xuất giải pháp tăng cường bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học
viện Tòa án hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải làm rõ quan niệm Văn hóa pháp luật và những vấn đề cơ
bản bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án.
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh
nghiệm bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án.
- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp tăng cường bồi dưỡng
văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu
Bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án.
* Phạm vi nghiên cứu
Quá trình bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án.
Các số liệu, tư liệu điều tra, khảo sát phục vụ cho thực hiện nghiên cứu đề tài
giới hạn chủ yếu từ 2010 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài
* Cơ sở lý luận
Những quan điểm của nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, về pháp luật và xây dựng đội ngũ cán
bộ và bồi dưỡng cán bộ.
* Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn hoạt động bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học
viện Tòa án thông qua nghiên cứu các báo cáo tổng kết của cơ quan chức
năng, của Học viện, điều tra, khảo sát thực tế tại Học viện Tòa án của tác giả
luận văn.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử
dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và
liên ngành. Trong đó, chú trọng các phương pháp: logic - lịch sử; phân tích,
tổng hợp; tổng kết thực tiễn; điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thêm cơ sở khoa học đề xuất
giải pháp tăng cường bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa
án. Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng
dạy và học tập ở các Học viện, nhà trường của ngành Tư pháp.
7. Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: Phần mở đầu; 2 chương (4 tiết); phần kết luận; danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BỒI DƯỠNG
VĂN HÓA PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN HỌC VIỆN TÒA ÁN
1.1. Văn hóa pháp luật và những vấn đề cơ bản bồi dưỡng văn hóa
pháp luật cho học viên Học viện Tòa án
1.1.1. Học viên Học viện Tòa án và văn hóa pháp luật cho học viên
Học viện Tòa án
* Khái quát về Học viện Tòa án
Trường cán bộ Tòa án (tên gọi cũ) được tái thành lập vào ngày 23 tháng
8 năm 1994 theo quyết định số 100/TCCB ngày 23/8/1994 của Chánh án Tòa
án Nhân dân Tối cao.
Chức năng, nhiệm vụ: Bồi dưỡng nâng cao kiến thức nghiệp vụ Tòa án
cho Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên, Thư ký của các Tòa án, trước hết là
Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án nhân dân tối cao. Tham
gia công tác nghiên cứu khoa học xét xử, hoặc các công tác khác khi được
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phân công. Quản lý sở vật chất của trường,
quản lý học viên trong thời gian mở lớp và bảo đảm phục vụ các yêu cầu về
ăn, ở cho các học viên nội trú tại trường.
Năm 2012, Trường Cán bộ Tòa án được giao nhiệm vụ đào tạo nghề
Thẩm phán. Theo lộ trình của Đề án “Nâng cao năng lực và mở rộng quy mô
Trường Cán bộ Tòa án”, sau 2020, Trường Cán bộ Tòa án nâng lên thành Học
viện Tòa án. Tuy nhiên, với yêu cầu của công cuộc cải cách nền tư pháp theo
Hiến pháp mới năm 2013, theo đó, Toà án nhân dân là cơ quan xét xử của
Nước cộng hoà XHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; được sự quan tâm
của lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng với quyết tâm cao của lãnh đạo Toà án
nhân dân tối cao, của lãnh đạo và cán bộ công chức, người lao động Trường
Cán bộ Toà án (cũ), ngày 30 tháng 7 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban
hành Quyết định số 1191/QĐ-TTg Thành lập Học viện Toà án trực thuộc
TANDTC, trên cơ sở Trường Cán bộ Toà án, có chức năng đào tạo đại học
chuyên ngành Tòa án, đào tạo nghề cho các chức danh Tòa án, bồi dưỡng
nghiệp vụ cho các chức danh Tòa án, đào tạo sau đại học và nghiên cứu khoa
học xét xử.
Do hiện nay Học viện Toà án đang xây dựng Đề án “Thành lập Học
viện Toà án” trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt nên trước mắt Học
viện Toà án vẫn vận hành theo cơ cấu tổ chức bộ máy cũ, cũng như thực
hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng như trước đây.
Cơ cấu tổ chức của Trường Cán bộ Tòa án (nay là Học viện Toà án):
Hội đồng trường, Trường Cán bộ Tòa án do Chánh tòa án Nhân dân Tối cao
làm Chủ tịch Hội đồng; Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng (nay là Giám
đốc và các Phó Giám đốc); Phòng Giáo vụ; Phòng Tổ chức – hành chính;
Phòng Quản trị - Tài vụ; Phòng Hợp tác đào tạo; Khoa Thẩm phán; Khoa
Công chức Tòa án.
* Học viên Trường Cán bộ Tòa án (nay là Học viện Toà án):
Học viên Học viện Tòa án là những người nắm giữ chức vụ quản lý
như: Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện; Chánh án Toà án quân
sự cấp quân khu và khu vực hay các chức danh tư pháp như: Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Toà án hoặc các công chức danh Toà
án khác được đào tạo thông qua các khoá học theo chương trình phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ của từng chức danh Toà án khác nhau hoặc được bồi
dưỡng thông qua các lớp học chuyên đề theo từng lĩnh vực và nhu cầu của
thực tiễn, nhằm bổ sung, cập nhật những kiến thức mới, rèn luyện kỹ năng,
trau dồi kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu chức năng, nhiệm vụ của ngành Tòa án
trong thời kỳ đất nước đổi mới theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Học viên
Học viện Tòa án có những đặc điểm sau đây:
Một là, Học viên Học viện Tòa án đa dạng về chức trách, nhiệm vụ,
cương vị công tác.
Học viên Học viện Tòa án là những người nắm giữ chức vụ quản lý
như: Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện; Chánh án Toà án quân
sự cấp quân khu và khu vực hay các chức danh tư pháp như: Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Toà án hoặc các công chức danh Toà
án khác. Chính điều này đặt ra tính cấp thiết cũng như sự phức tạp của công
tác bồi dưỡng Văn hóa pháp luật. Bởi lẽ, hoạt động ở mỗi ngành, mỗi cấp,
mỗi cương vị công tác có những yêu cầu cụ thể về nội dung, phạm vi, quyền
hạn, chức trách, nhiệm vụ cũng như yêu cầu về đối tượng và phạm vi ứng xử
mang tính đa dạng đối với học viên Học viện Tòa án. Với những Thẩm phán,
Hội thẩm nhân dân thường là đã được đào tạo cơ bản về trình độ chuyên môn
nghiệp vụ và lý luận chính trị. Vì vậy, ở họ có những kiến thức về pháp luật
nhất định. Tuy nhiên, với các Hội thẩm nhân dân là những người được Hội
đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, theo nhiệm kỳ 05 năm, đa số là với những
công chức ở họ có trình độ chuyên môn nhất định, nhưng lại chưa được trang
bị kiến thức về pháp luật một cách có hệ thống và không thường xuyên, thậm
chí chưa từng được cọ sát về chuyên ngành Luật, đặc biệt về pháp luật tố
tụng. Ở cơ quan những Thẩm phán, công chức Tòa án, Hội thẩm nhân dân
thường giữ các cương vị lãnh đạo, quản lý, họ là người tổ chức bồi dưỡng
kiến thức pháp luật, Văn hóa pháp luật. Trong thời gian học tại trường họ lại
là đối tượng của bồi dưỡng Văn hóa pháp luật. Vì vậy khi bồi dưỡng văn hóa
pháp luật cho học viên Học viện Tòa án các chủ thể phải nắm vững chức
trách, nhiệm vụ và ý thức pháp luật của mỗi người để xác định đúng nội dung,
hình thức, phương pháp bồi dưỡng cho phù hợp.
Hai là, học viên Học viện Tòa án có sự khác biệt nhất định về bản lĩnh
chính trị, về kinh nghiệm và vốn sống.
Học viên Học viện Tòa án là những Thẩm phán, công chức Tòa án, Hội
thẩm nhân dân là những cán bộ, viên chức đã có thâm niên công tác, có sự trải
nhiệm trong thực tiễn chính trị, xã hội. Ở họ đã có sự hiểu biết, nhất là những
kinh nghiệm trong chấp hành pháp luật, xử lý các tình huống pháp luật, pháp
lý. Một số học viên Học viện Tòa án là những Thẩm phán, công chức Tòa án,
Hội thẩm nhân dân thuộc lớp người trẻ tuổi. Ở họ có sức khoẻ, có khả năng
tiếp thu kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cũng như kiến thức pháp luật nhanh.
Nhưng ở họ lại thiếu sự trải nghiệm về thực tiễn chính trị, xã hội, ý thức pháp
luật chưa vững vàng, khả năng làm chủ bản thân, ý thức tự phê bình và phê
bình, kỹ năng đánh giá hành vi, mặt mạnh, mặt yếu của bản thân còn nhiều
mặt hạn chế. Nắm vững đặc điểm này, khi bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho
học viên Học viện Tòa án các chủ thể phải nắm vững những điểm mạnh,
những thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của từng người để có sự
cá biệt hoá về nội dung, hình thức, phương pháp khi bồi dưỡng cho phù hợp.
Ba là, Học viên Học viện Tòa án đa dạng về thành phần xuất thân, nơi
cư trú, môi trường, điều kiện hoạt động.
Sau này, khi bước vào thực hiện chức năng đào tạo Cử nhân chuyên
ngành Toà án và đào tạo sau đại học theo Quyết định số 1191/QĐ-TTg ngày
30/7/2015 về việc Thành lập Học viện Toà án của Thủ tướng Chính phủ thì
học viên Học viện Toà án sẽ còn đa dạng hơn về độ tuổi, nhận thức...
Nhìn chung học viên Học viện Tòa án hiện nay là những Thẩm phán,
công chức Tòa án, Hội thẩm nhân dân có kiến thức, năng lực, chuyên môn
nghiệp vụ; có phương pháp tác phong làm việc cẩn trọng, tỉ mỉ, chính xác.
Tuyệt đại đa số yên tâm với nhiệm vụ được giao. Điều này tạo điều kiện thuận
lợi cho việc nhận xét, đánh giá, học tập lẫn nhau. Tuy nhiên, do tính phức tạp
về điều kiện công tác, môi trường hoạt động, quy định việc bồi dưỡng văn
hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án phải hết sức cụ thể; phải đặc biệt
chú ý đến hoàn cảnh, điều kiện, công việc của mỗi Thẩm phán, công chức
Tòa án, Hội thẩm nhân dân, coi đây là một căn cứ, cơ sở để xác định nội
dung, hình thức, phương pháp bồi dưỡng Văn hóa pháp luật, không thể dập
khuôn chung chung.
* Văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án
Rodentan định nghĩa văn hoá với nghĩa là toàn bộ những giá trị vật chất
và tinh thần mà con người đã sáng tạo ra, gắn liền với quá trình lao động sản
xuất của mình [ 52,tr.656]. Tylor đưa ra định nghĩa: “Văn hoá, hay văn minh,
theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng,
nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán và một số năng lực và thói quen khác
được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội”
[53,tr17]. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ
viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật. Những công
cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp
của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã
sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn” [ 22,tr.431 ].
Phan Ngọc cho rằng: văn hóa là “dấu ấn của một thể cộng đồng lên mọi
hiện tượng tinh thần, vật chất, mọi sản phẩm của thể cộng đồng này từ tín
ngưỡng, phong tục cho đến cả sản phẩm công nghiệp bán ra thị trường"
[55,tr.20].
Văn hoá Việt Nam được Đảng ta xác định: “Văn hoá Việt Nam là thành
quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và
giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu
tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình.
Văn hoá Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam,
làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc” [15,tr.30]. Đây là quan niệm khái
quát về bản chất và giá trị cơ bản của văn hoá Việt Nam.
Tuỳ theo góc độ nghiên cứu và phương pháp tiếp cận mà có những
định nghĩa khác nhau về văn hoá. Song, các quan niệm đó đều có cái chung
thống nhất là văn hoá gắn chặt với con người, một mặt thể hiện sự phát triển
trình độ người ngay trong con người và cộng đồng, mặt khác thể hiện dấu ấn
chân, thiện, mỹ trong tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người và
cộng đồng sáng tạo ra. Đặc trưng cơ bản nhất của văn hoá là sáng tạo và nhân
văn. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc trưng đó được thể hiện
thành giá trị, hệ giá trị chuẩn mực, hướng con người tới chân, thiện, mỹ
[53,tr.17 ].
Giá trị chân nghĩa là tính khoa học và chính đáng, được xã hội thừa
nhận; Giá trị thiện nghĩa là vì con người, do con người và cho con người; do
con người sáng tạo ra và phục vụ cho mục đích của con người. Giá trị mỹ là
nói tới cái đẹp, cái hài hoà, đồng thuận, cái cân đối, cái thiện cảm và tôn vinh
con người. Do đặc điểm, hình thức tổ chức cộng đồng và nhu cầu của từng
lĩnh vực hoạt động mà sẽ có những loại hình văn hoá khác nhau như: văn hoá
chung, văn hoá vùng miền, văn hoá cơ sở; văn hoá chính trị, văn hoá pháp lý,
văn hoá đạo đức, văn hoá kinh tế, văn hoá doanh nghiệp…và văn hoá pháp
luật. Ngay với ý nghĩa này đã toát lên sự đa dạng của văn hoá nói chung và
văn hoá pháp luật nói riêng. Chẳng hạn văn hoá kinh tế chứa đựng cái chân,
thiện, mỹ của sản xuất, văn hoá sư phạm chứa đựng cái chân, thiện, mỹ của
quá trình dạy và học…
Pháp lý là một thuật ngữ quen thuộc trong đời sống xã hội. Nhưng pháp
lý là gì, bản chất của nó ra sao, điều này đòi hỏi phải lý giải một cách cụ thể,
chính xác. Theo từ điển tiếng Việt, pháp lý là lý luận, nguyên lý về pháp luật.
[55,tr.741]. Theo đó pháp lý chính là hệ thống những nguyên lý lý luận,
nguyên tắc, quan điểm làm cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật của nhà
nước. Pháp luật là hệ thống các quy phạm có tính bắt buộc chung, do nhà
nước ban hành, thể hiện ý chí, quyền lực của Nhà nước và nhân dân điều
chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ, một trong những nhân tố bảo
đảm và bảo vệ sự ổn định của xã hội. Việc bảo đảm và thực hiện pháp luật
thông qua các biện pháp tổ chức, giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế bằng bộ
máy nhà nước. Pháp luật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thể
hiện ý chí của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Pháp
luật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chức năng điều chỉnh,
chức năng bảo vệ và chức năng giáo dục làm cho con người có ý thức và hành
động phù hợp với quy phạm pháp luật. Để làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ
quyền lợi của công dân trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm
cho pháp luật được chấp hành chấp hành nghiêm chỉnh và mọi người bình
đẳng trước pháp luật, mỗi người dân Việt Nam phải có ý thức pháp luật, ý
thức pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Ở Việt Nam hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa được xây dựng dựa
trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ chí Minh, quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam, những truyền thống văn hóa của dân tộc, tinh
hoa văn hóa nhân loại; sự đồng thuận của nhân dân về mục tiêu, lý tưởng độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Văn hóa pháp luật là sự hiểu biết, tình cảm, niềm tin, thái độ của con
người, cộng đồng về nguồn gốc của pháp luật, bản chất của pháp luật, thuộc
tính của pháp luật, chức năng của pháp luật, vai trò của pháp luật ở nước ta
hiện nay làm cơ sở để xây dựng pháp luật, ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật cũng như cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của mọi cơ quan
nhà nước, điều chỉnh các quan hệ xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội và
công dân.
Quan niệm này đã xác định rõ về bản chất và giá trị cơ bản của văn hoá
pháp lý được hình thành, củng cố và phát triển trên nền tảng lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội
chủ nghĩa mà đặc trưng cơ bản của nó là nhận thức sâu sắc vai trò, tính cách
mạng, khoa học, tính nhân văn của những quan điểm, tư tưởng, hệ thống
nguyên tắc đối với xây dựng, ban hành và chấp hành pháp luật trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội.
Từ những phân tích trên có thể quan niệm văn hóa pháp luật cho học
viên Học viện Tòa án là một bộ phận của văn hóa nhân cách của người cán
bộ, công chức Ngành Tòa án, biểu hiện ở trình độ cao của việc nắm kiến
thức, kĩ năng, kinh nghiệm; tình yêu nghề nghiệp, niềm tin tưởng vào các giá
trị chân, thiện mỹ, bản chất tốt đẹp của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa
và khát vọng tự hoàn thiện vươn tới các giá trị của Văn hóa pháp luật để thực
hiện chuyên môn, nghiệp vụ có hiệu quả đáp ứng sự đòi hỏi xây dựng Ngành
Tòa án trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ con
người.
* Cấu trúc văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án.
Một là, sự nhận thức, hiểu biết về những quan điểm, nguyên tắc, kiến
thức để xây dựng, ban hành và chấp hành Hiến pháp, pháp luật của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt là pháp luật của Nhà nước
trong ngành Tòa án.
Đây là yếu tố cơ bản trong cấu trúc văn hóa pháp luật cho học viên Học
viện Tòa án. Sự nhận thức đầy đủ, sâu sắc những quan điểm, nguyên tắc của
xây dựng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, về pháp luật của Nhà nước trong ngành Tòa án là cơ sở để
xây dựng tình cảm, niềm tin đối với pháp luật và năng lực lãnh đạo, tổ chức
thực hiện pháp luật Nhà nước trong ngành Tòa án.
Hệ thống những quan điểm, nguyên tắc trong việc xây dựng, ban hành
và chấp hành Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam bao gồm sự hiểu biết sâu sắc về hệ thống quan điểm của chủ nghĩa
Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về Hiến pháp và
pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; về vị trí, vai trò,
mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của pháp luật; nhận thức, trách nhiệm của hệ
thống chính trị và toàn dân đối với việc xây dựng, thực hiện, bảo vệ pháp luật
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực
hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ý chí
quyết tâm thực hiện và bảo vệ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hai là, tình cảm, niềm tin, thói quen sống và làm việc làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật trong thực thi chức trách, nhiệm vụ và trong đời sống
cá nhân.
Tình cảm, niềm tin đối với lý tưởng, tính tiến bộ, khoa học, cách mạng
của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về
Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cơ
sở để những Thẩm phán, công chức Tòa án, Hội thẩm nhân dân tận tâm với
công việc, thực thi chức trách, nhiệm vụ một cách công tâm, khách quan.
Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng: cán bộ, công chức cách mạng không phải là
người “làm quan cách mạng”, không phải như dưới thời thực dân - phong
kiến “một người làm quan cả họ được nhờ”, không phải làm cán bộ để “đè
đầu cưỡi cổ dân chúng”, v.v. Người cán bộ, công chức phải tận tụy với sự
nghiệp cách mạng, phải trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với Hiến pháp và
pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trung thành ở đây
trước hết đòi hỏi những Thẩm phán cán bộ, viên chức Tòa án, Hội thẩm nhân
dân vừa phải hoàn thành tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao vừa
phải làm tròn trách nhiệm của một người công dân tốt, kiểu mẫu ở khu dân cư
và ngoài xã hội, sống cuộc sống chan hoà, gần gũi với mọi người chung
quanh…
Ba là, sự mẫu mực, mô phạm về đạo đức, phong cách công tác.
Đây là cái gốc của nhân cách học viên Học viện Tòa án. Những Thẩm
phán, công chức Tòa án, Hội thẩm nhân dân phải thực hiện cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ. Trong giao tiếp ở công sở,
thẩm phán, công chức Tòa án, hội thẩm nhân dân phải có tác phong, thái độ
lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng,
mạch lạc. Thẩm phán, công chức Tòa án, hội thẩm nhân dân phải lắng nghe ý
kiến của đồng nghiệp; công bằng, vô tư, khách quan khi nhận xét, đánh giá;
thực hiện dân chủ và đoàn kết nội bộ. Khi thi hành công vụ, Thẩm phán, công
chức Tòa án, Hội thẩm nhân dân phải mang phù hiệu hoặc thẻ công chức; có
tác phong lịch sự; giữ gìn uy tín, danh dự cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và
đồng nghiệp. Không được hách dịch, cửa quyền, gây khó khăn, phiền hà, sách
nhiễu khi thi hành công vụ. Không được làm những việc trái với đạo đức
công vụ như: Trốn tránh trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao, gây bè
phái, mất đoàn kết, tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công. Không được lợi
dụng chức quyền để làm trái pháp luật; lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền
hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi. Không được phân biệt
đối xử dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi
hình thức. Không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước dưới
mọi hình thức... Đây là yêu cầu đối với Thẩm phán, công chức Tòa án, Hội
thẩm nhân dân ở tất cả các thời kỳ cách mạng, nhưng trong thời kỳ Đảng cầm
quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân, vì dân lại càng đặc biệt quan trọng. Thẩm phán, công chức Tòa án,
Hội thẩm nhân dân phải biết sử dụng pháp luật để bảo vệ mình, bảo vệ xã hội,
bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa, phải làm cho dân tin, dân yêu, dân kính, dân
phục; không mang danh Thẩm phán, công chức Tòa án, Hội thẩm nhân dân để
đè đầu cưỡi cổ nhân dân; phải yêu dân, kính dân; việc gì có lợi cho dân dù
nhỏ cũng cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố tránh; phải vừa
là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Kiên
quyết đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái thù địch và các hành vi vi
phạm Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
* Con đường cơ bản hình thành, phát triển hoàn thiện văn hóa pháp
luật cho học viên Học viện Tòa án.
Thông qua quá trình học tập, rèn luyện tại Học viện. Thông qua hoạt
động giảng dạy của khoa, bộ môn trong Học viện Tòa án. Thông qua thực
hiện chức trách, nhiệm vụ chuyên môn trong thực tiễn công tác thực thi công
vụ. Thông qua mỗi cá nhân tự học tập, tu dưỡng rèn luyện Văn hóa pháp luật
của mỗi người. Hệ thống kiến thức ở các nhà trường trang bị có vai trò đặc
biệt quan trọng, là cơ sở cho học viên phát triển hoàn thiện Văn hóa pháp luật
của mình trong quá trình học tập và công tác. Kết quả đào tạo ở trường là rất
quan trọng nhưng không thể thay thế bồi dưỡng trong hoạt động thực tiễn.
Việc bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho cán bộ, công chức ngành Tòa án tại cơ
quan, đơn vị là công việc tiếp theo của quá trình đào tạo, là yêu cầu của thực
tiễn. Bồi dưỡng tại chức, bồi dưỡng thông qua hoạt đông thực tiễn phải thực
hiện tốt phương châm: bồi dưỡng thường xuyên, liên tục, yếu khâu nào bồi
dưỡng khâu đó, cấp trên bồi dưỡng cấp dưới, người giỏi bồi dưỡng người yếu,
bồi dưỡng theo chức trách, nhiệm vụ, bồi dưỡng theo từng nhiệm vụ; tận
dụng mọi hình thức, mọi biện pháp, mọi cơ hội để bồi dưỡng phát triển hoàn
thiện Văn hóa pháp luật.
* Vai trò của văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án
Một là, văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án góp phần đặc
biệt quan trọng trong giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành nhân cách người
cán bộ, công chức Tòa án nhân dân.
Văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án có vai trò rất quan
trọng trong giáo dục đạo đức, lối sống, hoàn thiện nhân cách của người cán
bộ, công chức Toà án, Hội thẩm nhân dân. Những tri thức pháp lý, tình cảm,
niềm tin pháp luật, thói quen hành vi pháp luật, phong cách ứng xử, giao tiếp,
tiếp xúc phù hợp với chuẩn mực đạo đức, với kỷ cương của xã hội. Những giá
trị cao đẹp, chuẩn mực đúng đắn của pháp luật trong ngành Tòa án giúp cho
họ nhận thức đúng những giá trị cao đẹp của Hiến pháp và pháp luật xã hội
chủ nghĩa, góp phần rèn dũa và mài sáng cái tâm, cái đức trong mỗi người.
Văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án giúp người Thẩm phán, công
chức tòa án, Hội thẩm nhân dân rèn luyện cách ứng xử, giao tiếp với công
dân, với cộng đồng, với đồng nghiệp và với Nhà nước. Xét trên mọi phương
diện, văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án góp phần đặc biệt quan
trọng trong giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành nhân cách người cán bộ,
công chức Tòa án nhân dân.
Hai là, văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án giúp học viên
biết cách đánh giá các quy phạm pháp luật, biết cách xác định, đánh giá các
tiêu chuẩn về tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật trong thực thi chức
trách, nhiệm vụ và tự đánh giá hành vi của mình.
Văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án giúp họ nhận thức
được rằng mọi việc làm, mọi hành vi của mình cũng như các tổ chức, cá nhân
khác đều phải dựa trên cơ sở pháp luật và trong khuôn khổ pháp luật. Văn hóa
pháp luật cho học viên Học viện Tòa án bồi giúp họ có ý thức đấu tranh
không khoan nhượng đối với quan điểm, tư tưởng thù địch, sai trái, những
biểu hiện vi phạm pháp luật, chống đối pháp luật, đấu tranh với những hành vi
vi phạm pháp luật và tội phạm trong xã hội. Theo đó văn hóa pháp luật cho
học viên Học viện Tòa án là tiền đề để hình thành động cơ, rèn luyện thói
quen hành động đúng pháp luật cho họ.
Ba là, văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án trực tiếp góp
phần xây dựng môi trường Văn hóa pháp luật, xây dựng ngành Tòa án vững
mạnh toàn diện, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ.
Xây dựng môi trường Văn hóa pháp luật trong sạch, lành mạnh, xây
dựng ngành Tòa án vững mạnh toàn diện là yêu cầu quan trọng hàng đầu
trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
của dân, do dân, vì dân, thực hiện quản lý xã hội, quản lý đất nước bằng pháp
luật hiện nay. Đương nhiên, để xây dựng môi trường Văn hóa pháp luật trong
sạch, lành mạnh, xây dựng ngành Tòa án vững mạnh toàn diện thì trước hết
cán bộ, công ngành Tòa án phải có Văn hóa pháp luật. Cán bộ, công chức
ngành Tòa án là những người trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ xây dựng môi
trường Văn hóa pháp luật trong sạch, lành mạnh, xây dựng Ngành Tòa án
vững mạnh toàn diện. Do đó, Văn hóa pháp luật của cán bộ, công chức ngành
Tòa án là một nhân tố quyết định xây dựng môi trường Văn hóa pháp luật
trong sạch, lành mạnh, xây dựng Ngành Tòa án vững mạnh toàn diện. Với ý
nghĩa đó bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Trường cán bộ Tòa án sẽ
góp phần quan trọng xây dựng môi trường Văn hóa pháp luật trong sạch, lành
mạnh, xây dựng Ngành Tòa án vững mạnh toàn diện.
1.1.2. Những vấn đề cơ bản bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học
viên Học viện Tòa án
* Quan niệm bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa
án.
Quá trình hình thành, phát triển văn hóa pháp luật cho học viên Học
viện Tòa án chịu sự tác động của những điều kiện khách quan và nhân tố chủ
quan. Điều kiện khách quan như: chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hoá
xã hội, môi trường sống, giáo dục đào tạo... là yếu tố giữ vai trò ảnh hưởng,
tác động đến bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án theo
chiều hướng tích cực hoặc ngược lại. Nhân tố chủ quan là sự ý thức tự giác
trong tiếp thu nội dung bồi dưỡng và quá trình tự bồi dưỡng văn hóa pháp luật
cho học viên Học viện Tòa án. Bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học
viện Tòa án là sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường
xuyên của chủ thể đến đối tượng, nhằm trang bị cho đối tượng một trình độ tri
thức pháp lý nhất định, bồi dưỡng tình cảm pháp lý và rèn luyện thói quen
hành vi chấp hành pháp luật, pháp chế.
Bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án là một quá
trình có mục đích, có tổ chức nhằm bồi đắp kiến thức; xây dựng củng cố tình
cảm, niềm tin về pháp luật, bồi bổ kinh nghiệm và rèn luyện thói quen hành vi
pháp luật cho đối tượng.
Bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án có những
điểm chung của quá trình giáo dục pháp lý, nhưng khác với bồi dưỡng tại cơ
quan về nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức. Dưới góc
độ nhận thức, mục tiêu cần đạt được đó là sự tiếp thu, tích lũy những thông
tin, tri thức về pháp lý, pháp luật. Dưới góc độ thái độ, tình cảm, mục tiêu cần
đạt được là làm hình thành ở đối tượng được giáo dục sự tôn trọng pháp luật;
sự phê phán, lên án các hành vi phạm pháp, phạm tội; sự công phẫn trước tội
ác dã man; niềm tin vào tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật. Dưới
góc độ hành vi, mục tiêu cần đạt được là kỹ năng vận dụng tri thức, hiểu biết
pháp luật để giải quyết công việc chuyên môn, các tình huống cụ thể trong
giao tiếp; hành vi pháp luật tích cực, lối sống theo pháp luật... của đối tượng
giáo dục. Đối tượng bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa
án là những Thẩm phán, viên chức Tòa án, Hội thẩm nhân dân đang công tác
ở Tòa án các cấp và sau này là học sinh, sinh viên.
Từ những phân tích trên có thể quan niệm bồi dưỡng văn hóa pháp luật
cho học viên Học viện Tòa án là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ
thể, đối tượng và lực lượng tham gia, sử dụng tổng hợp những giải pháp tác
động, nhằm nâng cao nhận thức về pháp lý, pháp luật; xây dựng niềm tin
vào tính cách mạng, khoa học, vào những quan điểm, nguyên tắc, tính nhân
văn, nhân đạo của pháp luật và rèn luyện thói quen hành vi pháp luật cho
học viên trong thực thi chức trách, nhiệm vụ và trong cuộc sống.
Mục đích của bồi dưỡng Văn hóa pháp luật là nhằm nâng cao nhận
thức, củng cố tình cảm, niềm tin cho học viên Học viện Tòa án về pháp lý,
pháp luật và rèn luyện thói quen hành vi pháp luật.
Chủ thể bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên bao gồm đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lí, các Thẩm phán giàu kinh nghiệm và các chủ thể
khác được Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm là giảng viên của Học
viện Tòa án.
Lực lượng tham gia bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện
Tòa án là các cá nhân thuộc tổ chức quần chúng, các báo cáo viên, tuyên
truyền viên pháp luật của ngành Tòa án.
Đối tượng bồi dưỡng là những Thẩm phán, công chức tòa án, Hội thẩm
nhân dân đang công tác ở Tòa án nhân dân các cấp.
Nội dung bồi dưỡng văn hóa pháp luật cho học viên Học viện Tòa án
bao gồm bồi dưỡng lý luận Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam về Hiến pháp, pháp luật của nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam. Thông qua đó mà họ được mở rộng tri thức, lý luận
cơ bản về Nhà nước và pháp luật. Trên cơ sở kiến thức pháp lý được cung cấp
giúp học viên từng bước làm sâu sắc và mở rộng tri thức pháp luật, giúp học
viên am hiểu hơn về pháp luật và biết cách đánh giá một cách đúng đắn các
hành vi pháp luật. Tri thức pháp lý góp phần định hướng cho tình cảm, niềm
tin đúng đắn vào các giá trị của pháp luật, tạo cơ sở hình thành hành vi hợp
pháp của học viên Học viện Tòa án.
Cùng với bồi dưỡng kiến thức pháp lý, cần bồi dưỡng, phát triển niềm
tin pháp luật cho học viên Học viện Tòa án. Niềm tin vào pháp lý đóng vai trò
quan trọng trong việc định hướng hành vi và củng cố thêm nhận thức về pháp
luật. Niềm tin đúng đắn, vững chắc vào pháp lý là cơ sở để hình thành động
cơ của hành vi hợp pháp. Trong cuộc sống, có những trường hợp người có
kiến thức pháp luật nhưng không có niềm tin vào pháp luật, sẵn sàng chà đạp