Tải bản đầy đủ (.doc) (63 trang)

Giải pháp phát triển kinh tế nông hộ theo hướng đa dạng hoá thu nhập tại xã Cư Ewi, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (344.49 KB, 63 trang )

1. MỞ ĐẦU..................................................................................................................................3
1.1 Đặt vấn đề..........................................................................................................................3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu...........................................................................................................4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................................4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu.................................................................................................4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu.....................................................................................................4
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU..............................................................................5
2.1 Cơ sở lý luận......................................................................................................................5
2.1.1 Cơ sở lý luận về kinh tế nông hộ................................................................................5
2.1.1.1 Khái niệm hộ nông dân........................................................................................5
2.1.1.2 Khái niệm kinh tế nông hộ...................................................................................6
2.1.1.3 Khái niệm phát triển kinh tế nông hộ...................................................................6
2.1.2 Cơ sở lý luận về đa dạng hoá thu nhập.......................................................................7
2.1.2.1 Khái niệm về thu nhập.........................................................................................7
2.1.2.2 Định nghĩa về đa dạng hoá...................................................................................7
2.1.2.4 Yếu tố quyết định đa dạng hoá...........................................................................11
2.1.2.5 Tác động của đa dạng hoá thu nhập...................................................................13
2.2 Cơ sở thực tiễn.................................................................................................................14
2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế nông hộ trên thế giới....................................................14
2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam.....................................................15
2.2.3 Tình hình phát triển kinh tế nông hộ theo hướng đa dạng hoá thu nhập trên thế giới
và trong nước.....................................................................................................................18
2.2.3.1 Tình hình phát triển kinh tế nông hộ theo hướng đa dạng hoá thu nhập trên thế
giới.................................................................................................................................18
2.2.3.2 Tình hình phát triển kinh tế nông hộ theo hướng đa dạng hoá thu nhập ở Việt
Nam................................................................................................................................19
3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............................................20
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu...........................................................................................21
3.1.1 Điều kiện tự nhiên.....................................................................................................21
3.1.1.1 Vị trí địa lý.........................................................................................................21
3.1.1.2 Khí hậu - thuỷ văn..............................................................................................21


3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội..........................................................................................22
3.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế................................................................................22
3.1.2.2 Tình hình sử dụng đất........................................................................................24
3.1.2.3 Dân số và lao động.............................................................................................25
3.1.2.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng.......................................................................................27
3.1.2.5 Trang bị máy móc phục vụ cho nông nghiệp.....................................................27
3.1.2.6. Giáo dục và y tế................................................................................................27
3.2 Phương pháp nghiên cứu..................................................................................................29
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu.........................................................................29
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu.........................................................................................30
3.2.4 Phương pháp phân tích..............................................................................................30
3.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu.............................................................................31
3.2.5.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh nguồn lực sản xuất của các nông hộ..........................31
3.2.5.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả, hiệu quả sản xuất của hộ nông dân...............31
3.2.5.3 Nhóm chỉ tiêu đo lường đa dạng hoá thu nhập..................................................32
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.....................................................................32
4.1 Đặc điểm của hộ điều tra..................................................................................................32
4.1.1 Đặc điểm chung của hộ điều tra................................................................................32
4.1.2 Dân số và lao động của nông hộ điều tra..................................................................33

1


4.1.3 Tình hình sử dụng đất...............................................................................................34
4.1.4 Tình hình trang bị công cụ sản xuất của nhóm hộ điều tra.......................................36
4.1.5 Tình hình vốn sản xuất của nhóm hộ điều tra...........................................................37
4.2 Thực trạng phát triển kinh tế nông hộ..............................................................................38
4.2.1 Tổng thu từ các nguồn...............................................................................................38
4.2.1.1 Thu và cơ cấu nguồn thu của hộ từ ngành trồng trọt.........................................38
4.2.1.2 Thu và cơ cấu nguồn thu của hộ từ chăn nuôi...................................................39

4.2.1.3 Thu và cơ cấu nguồn thu của hộ từ dịch vụ.......................................................40
4.2.1.4 Tổng hợp các khoản thu của hộ.........................................................................40
4.2.2 Chi phí cho sản xuất của nông hộ.............................................................................42
4.2.2.1 Chi cho trồng trọt...............................................................................................42
4.2.2.2 Chi cho chăn nuôi..............................................................................................43
4.2.2.3 Chi cho các hoạt động dịch vụ...........................................................................44
4.2.2.4 Tổng hợp các nguồn chi cho sản xuất................................................................45
4.2.3 Thu nhập của nông hộ...............................................................................................46
4.2.3.1 Thu nhập từ trồng trọt........................................................................................46
4.2.3.2 Thu nhập từ chăn nuôi........................................................................................47
4.2.3.3 Thu nhập từ dịch vụ...........................................................................................48
4.2.3.4 Thu nhập ngoài hoạt động sản xuất...................................................................49
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế nông hộ theo hướng đa dạng hoá
thu nhập từ sản xuất nông nghiệp tại xã Cư Ewi...................................................................51
4.3.1 Ảnh hưởng của đất đai và đa dạng hoá thu nhập đến thu nhập của hộ.....................51
4.3.2 Ảnh hưởng của lao động và đa dạng hoá thu nhập đến thu nhập của hộ..................52
4.3.3 Ảnh hưởng của vốn và đa dạng hoá thu nhập đến thu nhập của hộ..........................53
4.3.4 Ảnh hưởng của trình độ và đa dạng hoá thu nhập đến thu nhập của hộ...................54
4.4.2 Giải pháp...................................................................................................................56
5.KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................................58
5.1 Kết luận............................................................................................................................58
5.2 Kiến nghị..........................................................................................................................60
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................................61

2


1. MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Cùng với xu thế phát triển kinh tế của thế giới, tình hình kinh tế Việt Nam
những năm qua đã có những bước tiến đáng kể. Nhìn lại chặng đường 20 năm đổi mới
do Đảng ta khởi xướng, có thể thấy nền kinh tế Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu
rất to lớn. Sản lượng lương thực tăng đều ở mức 5 đến 6% năm. Đặc biệt từ chỗ thiếu
lương thực, nước ta đã vươn lên đứng thứ 2 về xuất khẩu gạo. Nông nghiệp phát triển
mạnh làm chỗ dựa cho công nghiệp chế biến, chăn nuôi và thuỷ sản phát triển theo, thu
nhập của người dân cũng dần được tăng lên.
Đại hội toàn quốc lần thứ X đã mở ra cho đất nước một thời đại mới, thời đại
của nền kinh tế tri thức với nội dung “Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá nông nghiệp
và nông thôn”. Bên cạnh đó quá trình mở cửa và hội nhập vào khu vực thế giới như gia
nhập AFTA năm 1995, APEC năm 1998… và WTO vào ngày 7/11/2006…mở ra cho
nền kinh tế nước ta những cơ hội và thách thức mới, đặc biệt là trong ngành nông
nghiệp.
Việt Nam là một nước thuần nông, có nhiều tiềm lực để phát triển một nền
nông nghiệp vững mạnh, với gần 70 triệu người sống ở nông thôn trong đó lao động
nông nghiệp là 28 triệu người chiếm 78% về dân số và 70 % về lao động so với cả
nước. Kinh tế hộ là một trong nhưng thành phần kinh tế quan trọng, nó được xem như
là tế bào của nền kinh tế nước ta. Muốn thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì phải đổi mới được bộ mặt nông thôn. Do vậy
nâng cao thu nhập của người dân là một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng
và nhà nước ta. Thu nhập rất quan trọng vì nó quyết định đến đời sống vật chất của con
người, nâng cao đời sống của nông hộ, góp phần ổn định kinh tế - chính trị - xã hội,
vượt qua những thử thách, đón nhận những cơ hội trong xu thế hội nhập kinh tế thế
giới.
Đăk Lăk là một tỉnh thuộc Tây Nguyên Nam Trung Bộ, có vị trí kinh tế xã hội
chiến lược đồng thời được thiên nhiên ưu đãi với vùng đất đỏ bazan trù phú và màu
mỡ. Điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi, là điều kiện lý tưởng để phát triển cây công

3



nghiệp, cây lương thực, cây hoa màu…góp phần thực hiện mục tiêu nâng cao đời sống
của người dân.
Cư Ewi là một xã vùng II, thuộc huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk. Đời sống
của người dân chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện
tự nhiên, trình độ của người dân còn nhiều yếu kém. Do đó đời sống của người dân nơi
đây còn gặp rất nhiều khó khăn, thu nhập còn bấp bênh và chưa ổn định, còn nhiều bất
cập đáng được quan tâm.
Xác định tầm quan trọng của việc nâng cao thu nhập cho người dân nên Tôi
quyết định chọn đề tài: “Giải pháp phát triển kinh tế nông hộ theo hướng đa dạng
hoá thu nhập tại xã Cư Ewi, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk” là phù hợp với yêu
cầu đòi hỏi cấp thiết hiện nay của địa phương.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế nông hộ theo hướng đa dạng hoá thu
nhập tại xã Cư Ewi, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông hộ theo hướng
đa dạng hoá thu nhập tại xã Cư Ewi, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.
- Đề xuất một số giải pháp để phát triển kinh tế nông hộ theo hướng đa dạng hoá
thu nhập tại xã Cư Ewi, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu thu nhập của hộ điều tra từ các hoạt động sản xuất nông
nghiệp và phi nông nghiệp tại xã Cư Ewi.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
 Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm nông hộ xã Cư Ewi.
- Thực trạng thu nhập của nông hộ xã Cư Ewi.
- Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế hộ theo hướng đa

dạng hoá thu nhập.
- Định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế hộ theo hướng đa
dạng hoá thu nhập.
 Thời gian nghiên cứu
- Số liệu sơ cấp: Thu thập qua phiếu điều tra trong năm 2006.
- Số liệu thư cấp: Thu thập các báo cáo của UBND xã Cư Ewi qua 3 năm 2004,
2005, 2006.
- Thời gian thực tập: Bắt đầu từ 2/4/2007 đến 8/6/2007.
4


 Địa điểm nghiên cứu: Địa bàn xã Cư Ewi, huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Cơ sở lý luận về kinh tế nông hộ
2.1.1.1 Khái niệm hộ nông dân
* Hộ: Có rất nhiều khái niệm về hộ được đưa ra:
Theo Martin (1988) thì hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất,
đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác.
Theo Harris, ở viện nghiên cứu phát triển trường Đại học tổng hợp Susex (Lon
Don- Anh) cho rằng: “ Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động”.
Theo Raul Iturna, giáo sư trường đại học tổng hợp Liôbon khi nghiên cứu cộng
đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nước châu Á đã chứng minh “Hộ là một
tập hợp những người cùng chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình
sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng”.
Qua các quan điểm khác nhau về khái niệm hộ trên, có thể rút ra một số đặc
trưng về hộ:
- Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng huyết tộc.

- Hộ cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà.
- Có chung một nguồn thu nhập và ăn chung.
- Cùng tiến hành sản xuất chung[9].
* Hộ nông dân
Theo Ellis nông dân là các nông hộ có phương tiện kiếm sống dựa trên ruộng
đất, sử dụng chủ yếu là lao đông gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong một hệ thống
kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia từng phần vào
thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao[4].

5


2.1.1.2 Khái niệm kinh tế nông hộ
GS. Frank Ellis (1988) cho rằng kinh tế nông hộ khác những người làm kinh tế
khác trong nền kinh tế thị trường ở 3 yếu tố: đất đai, lao động, vốn “Kinh tế nông hộ là
một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền kinh tế xã hội. Các nguồn lực đất đai, tư
liệu sản xuất, vốn, lao động được góp chung, chung một ngân sách, ngủ chung một mái
nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống đều do chủ hộ
phát ra”[4].
Từ khái niệm trên đã thống nhất những vấn đề cơ bản của kinh tế nông hộ đó là:

- Kinh tế hộ nông dân là đơn vị hoạt động của xã hội, làm cơ sở cho phân tích
kinh tế.
- Các nguồn lực cùng được góp vào thành nguồn vốn chung của mọi thành viên
trong gia đình và cùng chung một ngân sách.
- Cùng sống chung dưới một mái nhà.
2.1.1.3 Khái niệm phát triển kinh tế nông hộ
* Phát triển kinh tế
Theo Raanan Weitz (1995) “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm
tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng

trưởng trong xã hội”[5].
Như vậy, sự phát triển bao hàm nhiều vấn đề rộng lớn và phức tạp nhưng mục
tiêu chung của sự phát triển đó là nâng cao các nguồn lợi kinh tế, chính trị, văn hoá, xã
hội và quyền tự do của mỗi người dân. Phát triển là việc nâng cao hạnh phúc của nhân
dân, nâng cao tiêu chuẩn sống, cải tiến giáo dục, sức khoẻ và bình đẳng về cơ hội…tất
cả những điều đó là thành phần cốt yếu của sự phát triển. Quan điểm về sự tiến bộ có
thể còn nhiều tranh luận khác nhau, nhưng sự tiến bộ của một quốc gia nếu xét về mặt
kinh tế và về mặt xã hội thì đó là sự gia tăng về kinh tế và sự tiến triển về xã hội.
* Phát triển kinh tế nông hộ
Quan điểm để phát triển kinh tế nông hộ mang tính bền vững là khái niệm động,
gắn liền với phạm vi thời gian và không gian nhất định. “Phát triển kinh tế nông hộ
không tách rời phát triển bền vững nông thôn, cần đảm bảo nhu cầu hiện tại không làm
giảm khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ sau”[7]. Đứng trên quan điểm tiếp cận hệ

6


thống trong phát triển nông thôn có những chiến lược phát triển nông nghiệp, nông
thôn bền vững, hợp lý.

2.1.2 Cơ sở lý luận về đa dạng hoá thu nhập
2.1.2.1 Khái niệm về thu nhập
Thu nhập của hộ là tổng các khoản thu trong năm, thu nhập bao gồm: Thu từ
trồng trọt, thu từ chăn nuôi, thu từ dịch vụ, thu khác.
Tổng thu = thu từ trồng trọt + thu từ chăn nuôi + thu từ dịch vụ + thu khác.
Thu nhập thuần = Tổng thu - tổng chi cho sản xuất
Tích luỹ = Thu nhập thuần - tổng chi cho tiêu dùng

2.1.2.2 Định nghĩa về đa dạng hoá
Nghĩa đen của đa dạng hoá là “sự mở rộng doanh nghiệp hoặc các sản phẩm bằng

cách tăng số mặt hàng sản xuất hoặc các hoạt động sản xuất. Trong nông nghiệp, đa dạng
hoá theo nghĩa hẹp có nghĩa là tăng chủng loại sản phẩm nông nghiệp hoặc dịch vụ do
nông dân làm ra”[3]. Trong nhiều năm đa dạng hoá đã là một chiến lược truyền thống của
các nông hộ để đối phó với các rủi ro và duy trì an toàn lương thực. Nó thuần tuý chỉ là sự
phản ứng của các nông dân sản xuất tự cung tự cấp để giảm các rủi ro do các yếu tố mùa
vụ, thời tiết, sinh học và khí hậu gây ra. Trong một nền nông nghiệp hiện đại, đa dạng hoá
là sự đáp ứng của nông dân đối với các cơ hôi mới của thị trường[3].
Đa dạng hoá bao gồm việc sản xuất nhiều chủng loại hàng hoá khác nhau để thoả
mãn nhu cầu tiêu dùng gia đình và thị trường và để giảm bớt các rủi ro khi thị trường mất
giá.
Đa dạng hoá ở cấp nông hộ thường để tăng cường và mở rộng các nguồn thu nhập
nông nghiệp và phi nông nghiệp. Khái niệm đa dạng hoá ở cấp này có nghĩa là chuyển từ
sản xuất các hàng hoá dư thừa sang những hàng hoá khác có lãi. Nó có thể bao gồm cả đa
dạng hoá theo trục ngang sang chủng loại hàng hoá mới hoặc theo trục dọc sang các hoạt
động phi nông nghiệp như tiếp thị, bảo quản và chế biến. Ở giai đoạn đầu, đa dạng hoá xảy
ra đối với các loại cây trồng mới, với sự chuyển đổi ra khỏi sản xuất độc canh. Ở giai đoạn
sau, nông hộ có thể có nhiều dạng kinh doanh sản xuất và buôn bán các sản phẩm ở nhiều

7


thời điểm khác nhau trong năm. Ở giai đoạn cao nhất, nông hộ thậm chí có thể vượt ra
khỏi ngành nông nghiệp để vươn sang các hoạt động phi nông nghiệp.
Thật ra đa dạng hoá mang ý nghĩa sâu rộng hơn là việc đơn thuần chuyển đổi sử
dụng các tài nguyên dùng sản xuất các hàng hoá giá trị thấp sang sản xuất các hàng hoá giá
trị cao mà sẽ dẫn đến các hoạt động chuyên môn hoá sản xuất các hàng hoá giá trị cao.
Tuy nhiên, ở cấp nông hộ, trong nhiều trường hợp chuyên môn hoá lại là lựa chọn hợp lý.
Chuyên môn hoá có khả năng đem lại hiệu quả hoàn vốn cao cho một vụ trồng cây nào đó
cho một số vùng, tuy nhiên nó không giúp giảm bớt rủi ro thị trường và bình ổn thu nhập
cho nông hộ.

Trong phân tích thu nhập hộ gia đình, thuật ngữ “Đa dạng hoá thu nhập” được sử
dụng để miêu tả rất nhiều khái niệm có liên quan nhưng vẫn có sự khác biệt. Một định
nghĩa về đa dạng hoá có lẽ là gần với ý nghĩa ban đầu của từ này nhất đó là “sự gia tăng về
số lượng nguồn thu nhập về sự cân đối giữa các nguồn thu khác nhau”[2]. Vì thế, một hộ
với hai nguồn thu nhập được coi là đa dạng hoá so với hộ chỉ có một nguồn thu nhập, và
một hộ với hai nguồn thu nhập, mỗi nguồn chiếm 50% sẽ đa dạng hoá hơn so với một hộ
mà một nguồn chiếm tới 90% tổng thu nhập.
Định nghĩa thứ hai về đa dạng hoá cho rằng “Đó là sự chuyển đổi từ việc sản xuất
lương thực tự cấp tự túc sang nền nông nghiệp có tính thương mại hoá”[2]. Ví dụ, delgado
và Xiamwalla cho rằng “đa dạng hoá nông nghiệp” như là một mục đích của các hộ nông
nghiệp. Châu phi sẽ chủ yếu đề cập đến phần đầu ra của hộ để bán thu tiền mặt, hình thức
đa dạng hoá này cũng có thể coi như thương mại hoá nông nghiệp. Nó không nhất thiết
bao hàm sự tăng về số hay cân đối nguồn thu nhập. Ví dụ, như một người nông dân có thể
chuyển từ sản xuất nhiều loại ngũ cốc, cây có củ và rau để tiêu dùng cho gia đình sang
chuyên trồng một hoặc vài cây thương phẩm.
Định nghĩa thứ ba tập trung vào chuyển dịch từ trồng cây có giá trị thấp
sang cây có giá trị cao hơn, sang chăn nuôi, và ngành nghề phi nông nghiệp. Mặc dù “cây
có giá trị thấp” đôi khi được xác định bằng giá của một đơn vị trọng lượng, tuy nhiên hợp
lý hơn cả có thể xác định đó là những cây trồng mang lại lợi ích kinh tế trên một đơn vị
ruộng đất hay lao động cao. Định nghĩa này xem đa dạng hoá như một nguồn tăng thu
nhập và phương tiện tiềm tàng để giảm nghèo.
Một cách khác để phân loại các định nghĩa về sự đa dạng hoá là việc xác định các
hoạt động mang lại nguồn thu nhập chính cho hộ. Đa dạng hoá sang các hoạt động phi

8


nông nghiệp xét ở cấp hộ, cấp vùng hay cấp quốc gia thường làm tăng thu nhập. Ở cấp
quốc gia, điều này chính là sự chuyển dịch cơ cấu, được định nghĩa như là sự giảm tỷ lệ
nông nghiệp trong tổng GDP và trong tổng lực lượng lao động dài hạn. Ví dụ, tỷ trọng

nông nghiệp trong tổng GDP của Việt Nam giảm từ 35,3% năm 1991 xuống 24,1% năm
1995 và 19,9% năm 2000 (GSO, 1997; bộ nông nghiệp và PTNT 2002), ngoài ra đa dạng
hoá nông nghiệp có thể được xem như là quá trình chuyển dịch từ trồng trọt sang chăn
nuôi, thuỷ sản và lâm nghiệp. Tương tự, đa dạng hoá cây trồng có thể hiểu ở phía cạnh hẹp
hơn và sự chuyển dịch giữa các cây trồng, ngược với đa dạng hoá hoạt động phi nông
nghiệp, mức độ đa dạng hoá cây trồng (xác định theo số cây trồng của hộ) thường mạnh
nhất với các hộ nông dân tự cung tự cấp, canh tác dựa vào nước mưa.

2.1.2.3 Mục đích của đa dạng hoá thu nhập
* Sự gia tăng thu nhập và giảm nhu cầu lương thực truyền thống
Sự thành công trong kỹ thuật sản xuất lúa gạo hiện đại đã tạo ra sự tăng vọt về năng
xuất và sản lượng lúa gạo trên toàn thế giới trong các thập kỷ qua đặc biệt là ở các nước
châu Á nơi sản xuất và cung cấp khoảng 90% lúa gạo cho toàn thế giới. Tương tự ở Việt
nam trong giai đoạn 1991-2001, diện tích sản lượng lúa gạo đã tăng từ 6.3 triệu ha lên 7.3
triệu ha (1.7%/năm), sản lượng tăng từ 19.6 triệu tấn lên 7.3 triệu tấn (6.2%/năm) và năng
xuất tăng từ 3.1 tấn/ha lên 4.3 tấn/ha (3.9%/năm) [3].
Ngược lại với sự tăng sản lượng lúa gạo trên toàn thế giới, nhu cầu lương thực
truyền thống trong đó có lúa gạo đã bắt đầu giảm trong thập niên qua. Nguyên nhân là do
sự thay đổi trong thu nhập của người dân đã tạo ra sự thay đổi trong nhu cầu tiêu thụ trong
đó nhu cầu hàng hoá có giá trị cao và phi lương thực tăng nhanh. Những yếu tố này kết
hợp lại đã làm giảm lúa gạo trên thị trường thế giới, làm giảm thu nhập của các nông dân
trồng lúa và làm giảm sự ham muốn sản xuất lúa gạo. Trong bối cảnh này nhiều nông dân
Việt Nam trong các năm qua đã tự phát tìm kiếm cơ hội tăng thu nhập và đa dạng hoá sản
xuất của họ sang các hàng hoá khác có nhu cầu cao hơn trên thị trường. Tuy nhiên, về lâu
dài việc đa dạng hoá sản xuất của nông dân sẽ bền vững và hiệu quả hơn nếu được hỗ trợ
thông qua các quy hoạch và chiến lược thích hợp của chính phủ.
*An toàn thu nhập và giảm rủi ro
Hiện nay theo quy luật cung cầu, xu hướng biến động lớn về giá cả nông sản
thường rõ ràng hơn so với trước đây. Điều này cho thấy nông dân hoặc một vùng nào đó sẽ
đối mặt với các rủi ro cao về thị trường nếu họ phụ thuộc nhiều vào một sản phẩm hàng


9


hoá nào đó. Đa dạng hoá các loại cây trồng hoặc các hệ thống sản xuất khác nhau vào các
thời điểm khác nhau trong năm sẽ giúp nông dân giảm bớt các rủi ro này thông qua cách
phân tán các rủi ro để ổn định thu nhập.
Một cách truyền thống, nông dân Việt Nam từ lâu đã biết kết hợp trồng trọt với
chăn nuôi, lâm nghiệp với nuôi trồng thuỷ sản ở mức nông hộ. Việc kết hợp như thế không
chỉ giúp giảm rủi ro mà còn cải thiện hiệu quả kinh tế vì những hoạt động đó tương hỗ với
nhau. Khi thị trường thay đổi, nông dân Việt Nam không gặp khó khăn lớn về mặt kỹ thuật
trong việc thay đổi các hệ thống canh tác của họ một cách tương ứng hoặc tiếp thu các kỹ
thuật canh tác mới nếu họ nhận được sự trợ giúp của chính phủ. Lý do là nông dân sẽ đa
dạng hoá các lĩnh vực sản xuất mà họ có sẵn kiến thức, kỹ năng và lợi thế chứ không phải
lĩnh vực không liên quan với nhiều yếu tố chưa biết về sản xuất và rủi ro thị trường.
*Sử dụng hiệu quả các tài nguyên
Với hiệu quả kinh tế thấp của nghề trồng lúa trong các thập kỉ qua, nhiều nông dân
đang tìm kiếm những cơ hội mới để sử dụng các tài nguyên sẵn có trên nông trại của họ
một cách tốt hơn thông qua đan dạng hoá vào các loại cây trồng hoặc mô hình sản xuất có
hiệu quả hoàn vốn cao hơn và dễ tiêu thụ hơn trên thị trường. Xu hướng này đang tăng
nhanh do sự phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn mới và các hỗ trợ về nghiên cứu và khuyến
nông từ khu vực công. Đa dạng hoá sản xuất có hiệu quả về nguyên tắc sẽ cải thiện hiệu quả
phân phối và sử dụng tài nguyên cho sản xuất nông nghiệp.
*Quản lý môi trường bền vững
Ngoài các khía cạnh kinh tế đã được nêu trên, đa dạng hoá nông nghiệp có hiệu quả
sẽ đóng góp tích cực vào việc cải thiện môi trường tự nhiên và môi trường sản xuất. Nông
dân Việt Nam từ lâu đời đã có truyền thôn đa dạng hoá sản xuất thông qua việc kết hợp với
chăn nuôi và thuỷ sản. Trong các hệ thống này, chất thải và phân hữu cơ có được từ hoạt
động chăn nuôi được sử dụng cho vườn và ao cá, qua đó cải thiện hiệu quả sản xuất toàn
hệ thống (như giảm chi phí sản xuất), cải thiện độ phì nhiêu của đất, và giảm ô nhiễm môi

trường. ở các vùng miền núi, luân canh lúa với các cây họ đậu là một ví dụ về đa dạng hoá
và bảo vệ môi trường. Tóm lại đa dạng hoá nông nghiệp có hiệu quả sẽ tạo cho nông dân
một phương thức canh tác bền vững để tránh các vấn đề lâu dài về môi trường gây ra do
sản xuất độc canh, diều này rất quan trọng với ngành nông nghiệp Việt Nam.

10


2.1.2.4 Yếu tố quyết định đa dạng hoá
.
Trong khi ý thức được những lợi ích gắn liền với chuyên môn hoá, vậy tại sao các
nông hộ ở những nước đang phát triển lại áp dụng phương pháp đa dạng hoạt động đem lại
thu nhập, có ít nhất 6 nhân tố có thể giải thích cho vấn đề này đó là:
Thứ nhất, nguồn thu nhập đa dạng có thể là một chiến lược nhằm giảm rủi ro nếu
mỗi nguồn thu nhập biến động bất thường từ năm này sang năm khác do thời tiết hay
những yếu tố khác, và mức độ biến động thu nhập không tỷ lệ thuận với các hộ thu nhập
thì hộ có nguồn thu nhập sẽ ít bị biến động trong thu nhập hơn hộ chuyên môn hoá. Kiểm
soát rủi ro có thể giúp lý giải cho việc đa dạng hoá cây trồng vì một số cây (ví dụ như sắn)
có thể chống chịu hạn tốt hơn một số cây khác thêm vào đó, kiểm soát rủi ro giúp giải
thích cho việc đa dạng từ trồng trọt sang ngành nghề phi nông nghiệp. Do vậy chúng ta hy
vọng đa dạng hóa xuất hiện, các vùng thu nhập biến động mạnh và các hộ đặc biệt không
thích rủi ro.
Thứ hai là có thể có những yếu tố tích cực bên ngoài giữa các hoạt động khác nhau
do vậy tổng thu nhập từ việc kết hợp hai hoạt động sẽ lớn hơn là nếu hộ chỉ chuyên môn
hoá vào một hoạt động. Ví dụ, chăn nuôi cung cấp sức kéo và phân bón do vậy làm tăng
năng suất cây trồng. Mặt khác trồng trọt và chế biến nông sản có thể có hiệu quả hơn khi
được thực hiện bởi chính hộ nếu hộ giảm được chi phí vận chuyển.
Thứ ba, nhiều nguồn thu nhập có thể có ích như một sự thích ứng với việc mất thị
phần hay thị trường hoạt động kém hiệu quả. Tuy nhiên nếu thị trường đất đai không tồn
tại thì hộ có thể buộc phải sử dụng lao động “Dư thừa” của mình vào các hoạt động phi

nông nghiệp hay lao động làm thuê ngay cả khi lợi nhuận/tiền công thấp. Mặt khác nếu thị
trường tiền tệ không hoạt động hiệu quả và hộ lại thiếu tiền mặt thì hộ có thể sử dụng hoạt
động phi nông nghiệp để kiếm tiền mặt, trả cho đầu vào trong nông nghiệp.
Thứ tư, năng suất lao động trong một động có thể có tính thời vụ cao, do vậy dẫn đến
thúc đẩy phải có các hoạt động thay thế khi năng suất của hoạt động đó thấp. Điều này
giúp lý giải sự tồn tại của các hoạt động phi nông nghiệp trong lúc nông nhàn ở những
vùng sản xuất nông nghiệp nhờ nước trời và nơi canh tác một vụ trong năm. Điều này
cũng lý giải sự tham gia có tính thời vụ vào lao động làm thuê trong nông nghiệp trong
thời gian thu hoạch của một cây hàng hóa chính.

11


Thứ năm, tính không đồng nhất về kỹ năng hay cơ hội việc làm của các thành viên
trong gia đình có thể hộ đa dạng hóa thậm chí ngay cả khi từng thành viên được chuyên
môn hóa, hộ vẫn có thể đa dạng hoá.
Cuối cùng, nguồn thu nhập có thể được thúc đẩy bởi sự kết hợp nhu cầu của tiêu
dùng đa dạng và chi phí giao dịch cao cho việc mua hàng tiêu dùng. Về mặt kinh tế chi phí
giao dịch cao có nghĩa là quyết định sản xuất và tiêu dùng không tách biệt, do vậy nhu cầu
tiêu dùng ảnh hưởng đến quyết định sản xuất. Nếu trong gia đình sống xa đường cái và
chợ thì chi phí để mua và bán hàng hoá sẽ cao buộc gia đình đó phải đa dạng hoá sản xuất
để đáp ứng nhu cầu bản thân về các loại hàng hoá lương thực và phi lương thực.
Nếu chúng ta định nghĩa đa dạng hoá là quá trình chuyển dịch từ cây trồng có giá trị
thấp sang cây trồng có giá trị cao hơn và hoạt động phi trồng trọt thì câu hỏi đặt ra là tại
sao người nông dân lại lựa chọn những cây trồng có giá trị thấp. Câu trả lời là có nhiều trở
ngại hạn chế một số hộ gia đình đa dạng hoá theo hướng chuyển sang cây trồng và các
hoạt động có giá trị cao. Thực tế, những trở ngại này chắc chắn góp phần vào lợi nhuận
cao hơn từ những hoạt động này. Đa dạng hoá theo hướng cây trồng và ngành nghề có giá
trị cao có thể bị hạn chế bởi:
Thiếu khả năng thanh toán bằng tiền mặt và thiếu khả năng tiếp cận nguồn tín dụng.

Hạn chế này đặc biệt thích ứng trong trường hợp cây trồng là cây ăn quả và cây dài ngày
khác, điều này cũng hạn chế phát triển hoạt động phi nông nghiệp, hoạt động cần nhiều
trang thiết bị như xay xát.
Thiếu thông tin về phương thức sản xuất và thị trường tiêu thụ, cản trở này thường
gắn với việc trồng các loại cây mới và cây đặc sản, nuôi trồng thuỷ sản và sản phẩm dễ
hỏng khác.
Thiếu trình độ văn hóa hay kỹ năng ngôn ngữ cần thiết để tiếp thu những thông tin
cần thiết vấn đề này ảnh hưởng đến người dân tộc thiểu số ở nhiều nước trên thế giới và có
thể là một khó khăn đối với các hộ có chủ là nữ ở một số địa phương.
Hạ tầng cơ sở nghèo nàn làm giảm giá tại nông hộ của cây trồng và làm tăng giá mua
đầu vào của nông hộ, trở ngại này thường xảy ra với những hộ ở vùng xa xôi hẻo lánh và
những cây trồng dễ bị thối, hoặc có tỷ lệ giá trị trên độ cồng kềnh giá trị thấp.
Thiếu đất hay lao động để đa dạng hoá cây trồng phi lương thực hay hoạt động khác,
dễ hiểu vì sao nông dân nghèo ngần ngại dựa vào thị trường cho nhu cầu lương thực của
họ, do vậy họ thường thích bổ xung thêm vào sản xuất lương thực những giá trị có cây

12


trồng cao và các hoạt động khác hơn là chuyển hẳn sang trồng cây có giá trị hay hoạt động
khác.
Thiếu vốn xã hội, vốn xã hội đề cập đến mạng lưới bạn bè và đối tác kinh doanh mà
một cá nhân có mức độ tin tưởng nhau nhất định. Trong nông nghiệp vốn xã hội đối với
các nhà buôn bán quan trọng hơn các nhà thu gom, những người kinh doanh các mặt hàng
dễ hỏng, hay buôn bán đường dài.
Những cản trở này hàm ý Chính phủ cần can thiệp để loại bỏ những rào cản này và
thúc đẩy sự tham gia của các hộ nghèo vào những hoạt động có giá trị cao. Tất nhiên nếu
những nỗ lực này thành công, họ có thể mở rộng sản xuất và có thể kéo giá xuống.

2.1.2.5 Tác động của đa dạng hoá thu nhập

Hiện nay có rất nhiều quan tâm đến đa dạng hóa thu nhập và thương mại hóa trong
nông thôn của các nước đang phát triển. Trước tiên các ý kiến phê bình phổ biến cho rằng
chuyển đổi từ sản xuất lương thực sang cây trồng có giá trị kinh tế có thể tác động bất lợi
đến an toàn lương thực và dinh dưỡng. Quan điểm này được Von Braun (1995), người đã
tập hợp hàng loạt nghiên cứu dựa vào các cuộc điều tra hộ để so sánh thu thập, khẩu phần
lương thực và tình trạng dinh dưỡng của nông hộ đưa ra tranh luận. Kết luận của ông là
nông dân tham gia trồng các loại cây có giá trị nhìn chung khá giả hơn về nhiều phương
diện so với những hộ tương tự nhưng định hướng nhiều hơn vào sản xuất tự cấp tự túc.
Mặt khác, thương mại hóa kết hợp với các chính sách không phù hợp hay thất bại về thể
chế có thể gây ra những bất lợi cho hộ nghèo.
Một số khác lưu ý rằng đa dạng hóa theo hướng chuyển sang sản xuất hàng hóa có
giá trị cao có thể làm tăng bất bình đẳng trong thu nhập và gây ra phân hóa xã hội. Henin
(2002) thể hiện mối quan tâm tương tự đối với trường hợp Việt Nam. Rất nhiều nghiên
cứu đã chỉ ra rằng thu nhập phi nông nghiệp ở nông thôn có tương quan tích cực đến tổng
thu nhập của hộ gia đình, ngụ ý hoạt động phi nông nghiệp làm trầm trọng thêm mức độ
bất bình đẳng thu nhập trong nông thôn.
Vấn đề quan tâm thứ ba là tác động môi trường của sản xuất nông nghiệp theo hướng
hàng hóa. Trong một số trường hợp việc tăng nhanh diện tích cây hàng hóa (thường do giá
thế giới cao) dẫn đến nạn phá rừng và các phương thức sản xuất không bền vững. Việc sử
dụng phân hóa học có thể có tác động bất lợi đến sức khỏe và năng suất của nông dân hoặc
làm ô nhiễm nguồn nước ngầm của địa phương.

13


2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế nông hộ trên thế giới
Hiện nay trên thế giới, nhất là các nước châu Âu và một số nước ở châu Á, tình
trạng sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình phát triển một cách vượt bậc[8]. Nền kinh
tế của các hộ gia đình ở các nước này rất phát triển, đời sống của nông dân rất cao. Hộ tuy

là nông dân nhưng trình độ sản xuất và thâm canh rất có khoa học, họ tính toán chi tiêu và
thu nhập rất rõ ràng. Điển hình là nông dân ở nước Nhật, họ có sổ nghi chép từng quá trình
chi tiêu rất rõ ràng và hệ thống.
- Một số nước châu Á [8]:
Thái Lan: là một nước nằm trong khu vực Đông Nam châu Á, chính phủ Thái Lan
đã thực hiện nhiều chính sách để đưa từ một nước lạc hâu trở thành nước có nền khoa học
kỹ thuật tiên tiến. Nhà nước đã thực hiện chính sách trợ giúp tài chính cho nông dân như:
Cho nông dân vay tiền với lãi xuất thấp, ứng trước tiền cho nông dân và cam kết mua sản
phẩm với giá định trước…cùng với nhiều chính sách khác đã thúc đẩy vùng núi Thái Lan
phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá. Hàng năm có 95 % sản lượng cao su, hơn 4 triệu
tấn dầu cọ do nông dân sản xuất ra.
Trung Quốc: Trong những năm qua phát triển rất mạnh trong lĩnh vực đầu tư cho
nông nghiệp nông thôn. Một trong những thành tựu của trung quốc trong cải cách mở cửa
là phát triển nông nghiệp Hương Trấn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thành
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó tăng trưởng với tốc độ cao.
Đài Loan: Ý thức dược xuất phát điểm của mình là một nước nông nghiệp ở trình
độ thấp, nên ngay từ đầu Đài Loan đã coi trọng nông nghiệp. Trong những năm 1950-1960
mở sách lược “Lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấy công nghiệp phát triển nông
nghiệp”. Tại Đài Loan hiện có 30 vạn người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng cao nhưng
đã có hệ thống cơ sở hạ tầng tương đói hoàn thiện. Từ 1974 họ thành lập nông trường,
nông hộ, trồng những sản phẩm quý hiếm như “Cao sơn trà”, bán các mặt hàng của rừng
như cao các loại, thịt Hươu, Nai khô…
- Một số nước châu Âu[8]:
Ở Pháp: Chính sách ruộng đất của cách mạng tư sản thuận lợi cho việc phát triển
nông hộ. Năm 1982, nông dân chiếm 27% dân số nông thôn, các nông trại nhỏ đều có thu
nhập phi nông nghiệp cao hơn thu nhập nông nghiệp, năm 1980 co 29% số nông trại có
hoạt động phi nông nghiệp, 2/3 số nông trại có nguồn thu nhập ngoài nông nghiệp.

14



Ở Hà Lan: Quy mô đất canh tác bình quân một nông trại là 10 ha, họ sử dụng lao
động gia đình là chủ yếu, nếu thuê lao động là những lúc mùa vụ căng thẳng. nông trại có
đủ máy móc cần thiết, có 17% số nông trại nuôi từ 50 đến 200 con lợn và chiếm 43,7%
đàn lợn của cả nước, một lao động nông nghiệp nuôi được 112 người.
Ở Đan Mạch: Quy mô bình quân đất canh tác của một nông trại là 31,7 ha, 87% số
trang tại sử dụng lao động gia đình là chủ yếu, khoảng 13% số trang trại có thuê từ 1 đến 2
lao dộng, một lao dộng nông nghiệp nuôi được 160 người.

2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế nông hộ ở Việt Nam
Từ những năm 1980, đơn vị sản xuất nông nghiệp đã chuyển từ kinh tế hợp tác xã
sang kinh tế hộ gia đình. Sự thay đổi căn bản này trong cuộc sống của người dân chịu sự
tác động của qua trình chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, được
khởi đầu từ năm 1986. Động lực giao trả đất nông nghiệp lại cho người nông dân ở việt
nam xuất phát từ chính sách xoá đói giảm nghèo và tăng cường sản xuất nông nghiệp. Kết
quả của sự thay đổi này là sản xuất nông nghiệp đã tăng đáng kể. Trong suốt thập kỉ 90,
tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp đạt khá cao (Bình quân khoảng 4% năm) và
đóng góp của nông nghiệp trong tổng giá trị xuất khẩu đạt ở mức 26%.
Trong 20 năm đổi mới, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đã tăng lên
liên tục. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1980), GDP chỉ tăng trưởng 3,9%
năm, thì trong 5 năm tiếp theo (1991-1995) đã nâng lên đạt mức 8.2% năm. Trong giai
đoạn 1996-2000 tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam là 7.5% năm thấp hơn nửa dầu
thập niên 1990 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Từ năm 2001 đến
nay, tốc độ tăng GDP của nước ta đã phục hồi, hàng năm đều tăng ở mức năm sau cao hơn
năm trước[6].
Cùng với tốc độ tăng GDP, cơ cấu kinh tế trong nước có sự thay đổi đáng kể. Từ
1980-2005, tỷ trọng của khu vực nông nghiệp đã giảm từ 38,7% xuống 20.89% nhường
chỗ cho sự tăng lên về tỷ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng từ 22,7% lên
41.03%, còn khu vực dịch vụ được duy trì ở mức gần như không thay đổi: 38.6% năm
1990 và 38.10% năm 2005. Từ đó thu nhập của nông hộ cũng tăng lên. Bên cạnh những

thành tựu đạt được đó còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại cần phải khắc phục để tiếp tục
thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước mà đảng và nhà nước ta đã đề ra[6].

15


Hiện nay kinh tế hộ có quy mô sản xuất nhỏ. Cả nước có trên 13.2 triệu hộ ở nông
thôn. Trong đó có 11 triệu hộ làm nông nghiệp, quy mô sản xuất của hộ nông dân còn nhỏ,
phân tán và manh mún. Sản xuất gần như là tự phát dẫn đến mất cân đối cung cầu, được
mùa thì mất giá…kết quả điều tra của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn có khoảng
25% nông dân tiếp thu được thông tin thị trường thông qua báo chí và các phiên chợ, còn
lại 75% nông dân không biết gì về các thông tin. Đây cũng là vấn đề đáng được quan tâm
và cần phải có biện pháp khắc phục, nhất là sự nỗ lực từ bản thân các nông hộ.
Các hộ nông dân với sức lao động, kinh nghiệm, vốn sản xuất của minh và ruộng
đất được chia đã tạo ra bước ngoặc trong sự phát triển nông nghiệp và vấn đề lương thực ở
nước ta.
* Tình hình phát triển kinh tế nông hộ ở Tây Nguyên
Tổng diện tích đất tự nhiên của vùng này là 5.4 triệu ha trong đó đất nông nghiệp
chiếm khoảng 1.3 triệu ha. Vùng Tây Nguyên có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ
rệt là mùa mưa và mùa khô. Tây Nguyên là vùng thích hợp nhất đối với các cây lâm
nghiệp và cây lâu năm. Tăng trưởng nông nghiệp của vùng trong giai đoạn 1996-2002 đạt
18.3%/năm. Tăng trưởng cây trồng đạt 21.4% chủ yếu là tăng trưởng cây cà phê, cao su,
các cây lâu năm khác (79%), rau quả, cây họ đậu (16.6%). Trong khi đó cây ăn quả, ngũ
cốc và cây ngắn ngày giảm trong cùng kì. Gần đây đã có sự gia tăng đáng kể về số trang
trại lớn. Hiện nay có khoảng 666.141 ha cây lâu năm. Trong đó có 494.142 ha cà
phê,97.200 ha cao su, 22.300 ha chè, 23.500 ha điều, còn lại là diện tích cây ăn quả[3].
Trong những năm qua, sản xuất chăn nuôi ở Tây Nguyên tăng đáng kể trừ trâu và
bò. Trong giai đoạn 1999-2003, số gia súc giảm với mức 2.4%/năm trong khi đó số vịt
tăng 26,2%/năm, gà 3,6%/năm, lợn 3,4%/năm và dê 16.4%/năm. Chăn nuôi dê phổ biến ở

các dân tộc thiểu số vùng cao, mặc dù quy mô nhỏ nhưng đem lại lợi nhuận và đang trở
lên được ưa chuộng. Nuôi lợn phổ biến trên toàn vùng. Chăn nuôi gia cầm tăng nhanh nhất
và là nguồn tạo thu nhập lý tưởng cho phụ nữ thôn bản. Nhưng gần đây chăn nuôi gia cầm
đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi đại dịch cúm gia cầm từ đầu năm 2004. Ở Tây
Nguyên nuôi trồng thuỷ sản có tiềm năng hạn chế và kém phát triển nhất. Hiện nay nuôi
trồng thuỷ sản ở vùng này chiếm diện tích 112.000 ha, tương đương khoảng 1% diện tích
nuôi trồng thuỷ sản của cả nước. Nguyên nhân chính là do thiếu ao nuôi và các diện tích
mặt nước. Ngoài ra, phần lớn nông dân tiết kiệm nước ngọt và sức lao động dành cho

16


trồng cây cà phê và các cây trồng tạo thu nhập khác mà họ cho rằng sẽ tạo lợi nhuận hơn
nuôi trồng thuỷ sản.
Trong giai đoạn 1995-2000, ở vùng Tây Nguyên, mức đóng góp của toàn ngành
nông nghiệp trong GDP của vùng giảm từ 62,1% xuống 58,9%, nhưng ngành công nghiệp
và xây dựng vẫn không hay đổi[3]. Trong thập kỷ qua, dân số vùng tây nguyên tăng nhanh
do các chương trình tái định cư của nhà nước di chuyển dân từ bắc vào nam. Do vậy, xảy
ra hiện tượng phá rừng để phát triển cây tròng mới với tỷ lệ 3000-5000 ha/năm. Kết quả là
tài nguyên thiên nhiên đang bị suy thoái nghiêm trọng.
* Tình hình phát triển kinh tế nông hộ ở Đăk Lăk
Đăk Lăk là một tỉnh miền núi thuộc khu vực Tây Nguyên nằm về hướng Tây Nam
dãy Trường Sơn, địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình so với mặt nước biển
từ 500-800m, diện tích 19.800 Km2, dân số là 1.7 triệu người, lao động là 793.100 người
(năm 2001), 41 dân tộc anh em sinh sống[3].
Đất nông nghiệp bình quân 1 nhân khẩu trong nhóm hộ giàu ở Đăk Lăk (1992) cao
gấp 2.1 lần so với đất nông nghiệp bình quân nhân khẩu nhóm hộ giàu ở thanh Hoá; gấp
1.36 lần so với tỉnh Hà Nam; 3.6 lần so với ở Bình Định.
Tỉnh Đăk Lăk rất chú trọng đến phát triển nông nghệp vì phần lớn dân cư sống ở
nông thôn, nguồn thu chính là trồng trọt và chủ yếu là từ cây cà phê. Trước năm 1990 năng

suất cà phê của tỉnh là 8-9 tạ/ ha, năm 1990 là 10.4 tạ/ ha; năm 1992 là 11.62 tạ/ ha; năm
1994 là 18.4 tạ/ ha; năm 1997 là 20.2 tạ/ ha. Đến nay nhiều vùng cà phê đạt năng suất 3540 tạ/ ha, cá biệt có vườn gia đình đạt 50-60 tạ/ ha. Cà phê ở Đăk Lăk được chế biến dựa
trên công nghệ hệ thống máy xát khô và máy xát cà phê tươi. Ngoài cây cà phê ra thì cây
cao su ở Đăk Lăk cũng rất phát triển, đã giải quyết được một phần lớn việc làm cho người
dân nơi đây. Cao su Đăk Lăk là sản phẩm xuất khẩu đứng thứ 2 sau cà phê năm 2000 toàn
tỉnh có 25.703 ha cao su tăng 54.3% so với năm 1990( 13.957 ha). Sản lượng cao su mủ
khô đạt 1818 tấn năm 1990, lên 4574 tấn năm 1995 và 9000 tấn năm 2000. sản lượng xuất
khẩu là 33.5 tấn (1995) lên 6.16 tấn (1999) và 4930 tấn (2000)[3]. Nguồn thu của các
thành phần kinh tế rất đa dạng phong phú nhưng thu nhập của hộ trong nông thôn lại phụ
thuộc vào kết quả sản xuất và phương thức phân phối. Mức thu nhập phản ánh trình độ sản
xuất và nó quy định mức sống , khả năng tiêu dùng, khả năng tích luỹ, khả năng tái sản
xuất của hộ.

17


2.2.3 Tình hình phát triển kinh tế nông hộ theo hướng đa dạng hoá thu nhập trên
thế giới và trong nước
2.2.3.1 Tình hình phát triển kinh tế nông hộ theo hướng đa dạng hoá thu nhập
trên thế giới
Joshi và các cộng sự (2002) xem xét xu hướng đa dạng hoá ở Nam Á với việc sử
dụng số liệu thống kê về diện tích và sản lượng và chỉ số đa dạng của Simpson (SID). SID
là thước đo số nguồn thu nhập và sự cân bằng giữa các nguồn thu nhập. Các tác giả dã chỉ
ra rằng đa dạng hoá cây trồng đã tăng lên trong vòng hai thập kỷ qua ở hầu hết các nước
Nam Á. Tại Ấn Độ, vùng phía Tây và Nam đa dạng hoá theo hướng chuyển từ trồng ngũ
cốc sang đậu đỗ, hạt có dầu và cây ăn quả và rau. Ở miền bắc nông dân đang chuyển từ sản
xuất hạt thô sang sản xuất lúa, lúa mì và cây không hạt thương phẩm. Vùng phía đông
nghèo hơn và kém phát triển hơn. Nông nghiệp độc canh cây lúa nhưng diện tích phi lúa
gạo cũng hết sức đa dạng. Khi phân tích kinh tế lượng cấp quốc gia số liệu thống kê nhiều
năm thấy rằng mức độ đa dạng hoá gắn liền với mật độ đường xá, đô thị hoá, qui mô nông

trại và thu thập trên đầu người. Lượng mưa cũng là yếu tố rất quan trọng; vùng có lượng
mưa thấp có có cơ cấu cây trồng đa dạng hớn so với vùng có lượng mưa lớn hơn. Điều này
có thể cho thấy đa dạng hoá từ sản xuất hạt thô sang lúa và lúa mì cao sản có tác động tích
cực tới an toàn lương thực trong khi đa dạng sang hướng sản xuất cây có giá trị tạo ra
nhiều việc làm trên một hecta và nhiều sản phẩm cho sản xuất.
Delgado và Siamwalla (1997) nghiên cứu cơ cấu đa dạng hoá thu nhập ở châu Á và
châu Phi. Họ lưu ý rằng nông dân châu Phi thường áp dụng mức độ đa dạng hỗn hợp cây
trồng cao như một chiến lược giảm rủi ro liên quan đến thời tiết bất lợi. Ở nhiều nước châu
Á đa dạng hoá cây trồng gắn liền với giảm tầm quan trọng của cây lúa và chuyển sang cây
ăn quả, rau và chăn nuôi. Loại hình đa dạng hoá này tăng thu nhập nhưng làm công dân
phải đối mặt với rủi ro của thị trường, đặc biệt khi hàng hoá là loại mau hỏng. Họ cho rằng
chính phủ có thể xây dựng những thể chế hỗ trợ ví dụ như HTX và sản xuất nông nghiệp
theo hợp đồng nhằm hỗ trợ đa dạng hoá theo hướng sản xuất hàng hoá có giá trị cao, do đó
tăng thu nhập nông thôn.
Trở ngại về vốn thường là một nhân tố quan trọng đối với khả năng của hộ gia đình
đa dạng hoá các hoạt động sản xuất phải trả công cao hơn. Ở Cotedvoire việc phá giá tiền
tệ năm 1994 đã khuyến khích trồng ca cao, bông và các cây xuất khẩu khác nhưng hộ giàu
có nhiều khả năng tận dụng được cơ hội này hơn chủ yếu là do có nhiều vốn hơn. Ở Kenya
chương trình việc làm lấy lưong thực đã làm tăng khả năng thanh toán bằng tiền mặt của
18


người nông dân nghèo, cho phép họ đa dạng các hoạt động phi trồng trọt và tránh phải bán
gia súc trong những năm hạn hán (Barrett và những người khác, 2001).
Một số nghiên cứu khác so sánh đa dạng hoá ở Rwanda, Kenya, và bờ biển Ngà.
Đa dạng hoá từ trồng trọt sang các hoạt động khác diễn ra mạnh nhất ở những nơi có
lượng mưa thấp và đất xấu. Mặc dù thu nhập của lao động không có tay nghề thường gắn
liền với những hộ nghèo nhưng hầu hết các dạng thu nhập phi nông nghiệp khác có tương
quan dương với thu nhập. Thực tế đa dạng hoá là một chiến lược nhằm quản lý rủi ro (vì
chúng ta thường cho rằng người nghèo sợ rủi ro nhiều hơn). Mặt khác điều đó gợi ý rằng

hoạt động phi nông nghiệp bao gồm cả một số rào cản cho những ai muốn tham gia, ví dụ
như trình độ học vấn hay vốn làm cho hộ nghèo khó có thể tham gia (Barrett và những
người khác, 2001).

2.2.3.2 Tình hình phát triển kinh tế nông hộ theo hướng đa dạng hoá thu nhập ở
Việt Nam
Có hai công trình nghiên cứu về đa dạng hoá ở Việt Nam. Pederson và Annou
(1999) đã sử dụng số liệu điều tra mức sống dân cư 1992-1993 để nghiên cứu các hình
thức đa dạng hoá. Họ thấy rằng đa dạng hoá nông nghiệp gắn liền với những trang trại
nhỏ, diện tích tưới tiêu ít và trình độ học vấn cao hơn. Ngoài ra họ còn thấy rằng những hộ
tương đối chuyên canh lúa có xu hướng đa dạng hoá thu nhập phi nông nghiệp nhiều hơn.
Điều này có thể ám chỉ rằng các hộ gia đình thích một vài dạng đa dạng hoá hoặc trong các
hoạt động phi lúa gạo, hoặc phi nông nghiệp.
Henin(2002) mô tả mô hình đa dạng hoá ở vùng núi và Trung Du Bắc Bộ, tập trung
vào tỉnh Lạng Sơn. Ông cho rằng chính sách đổi mới đã được tăng thu nhập và kích thích
đa dạng hoá thu nhập. Nông thôn ở vùng được nghiên cứu đã áp dụng các giống lúa hiện
đại và phân bón (mặc dù hộ vẫn thiếp tục sử dụng các giống địa phương) và đã mở rộng
sản xuất các cây hàng hoá như mía, đậu, lạc, thuốc lá, quế, chè và hồi. Các hoạt động phi
nông nghiệp bị hạn chế bởi thiếu công nghiệp nông thôn, nhưng một số hộ có thu nhập từ
dịch vụ khuân vác, sửa chữa xe đạp, xe máy…Nông dân đã nêu ra nhiều yếu tố cản trở đa
dạng hoá và giảm nghèo đó là: thiếu vốn, thiếu đất sản xuất lúa (ruộng), có khả năng tiếp
cận thị trường kém, hạ tầng thuỷ lợi yếu kém, chất lượng giáo dục thấp. Vay vốn từ các tổ
chức tín dụng chính thức, thậm chí vốn ưu đãi từ quỹ xóa đói giảm nghèo cũng không phải
là phổ biến do lãi xuất cao, thời hạn cho vay ngắn và thủ tục rườm rà. Rất nhiều nông dân

19


vay của anh em họ hàng, mặc dù cải cách đã mang lại thu nhập cao hơn nó cũng làm tăng
bất bình đẳng, phân hóa xã hội và nó cũng làm hỏng một số dịch vụ xã hội.

Một quyển sách gần đây có một số nghiên cứu về sự thay đổi sử dụng đất và thu
nhập ở Bắc Cạn (Castella và Đặng Đình Quang, 2002). Một nghiên cứu về huyện Chợ Mới
cho rằng sự phân bổ đất rất có hiệu qủa trong việc tăng thâm canh trong sản xuất lúa ở
vùng đất bằng (lowlands), đa dạng hoá ở vùng núi và trung du và tái tạo rừng. Thâm canh
lúa ở vùng đồng bằng không phải là sự lựa chọn của đa dạng hoá ở vùng núi và trung du,
thực tế, thâm canh sẽ đảm bảo an toàn lương thực cho phép hộ có thể đa dạng hoá trên
những mảnh đất đồi núi (upland). Một nghiên cứu ở huyện Chợ Đồn cho thấy, người dân
tộc thiểu số sẽ có lợi ích ít hơn từ chiến lược phát triển. Trước đây, người Tày chủ yếu là
sống định cư trồng lúa ở vùng đất bằng, còn người Dao thì nay đây mai đó và luân canh ở
những vùng cao. Do quá trình phân bổ lại đất đai, mua bán đất đai và do các yếu tố khác,
sự khác nhau giữa người Tày và người Dao còn rất ít. Cả người Tày và người Dao đều đã
định cư và trồng lúa với hệ thống thuỷ lợi tưới tiêu, trong khi đó một số khác vẫn phải luân
canh ở vùng cao.

3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

20


3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Cư Ewi nằm về phía Đông Bắc huyện Krông Ana và phía Đông Nam thành phố
Buôn Ma Thuột. Cách trung tâm huyện Krông Ana 15 km về hướng Đông Bắc. Là một xã
mới được thành lập từ năm 1993, vị trí tiếp giáp như sau:
- Phía Đông giáp xã Hoà Tiến, xã Tân Tiến (huyện Krông Pắc), xã Dang Kang, Hoà
Thành (huyện Krông Bông).
- Phía Tây giáp xã Ea Ktur, Ea Bhôk
- Phía Nam giáp xã Ea Hu, xã Ea Bhôk, xã Hoà Thành huyện Krông Bông
-


Phía Bắc giáp xã Hoà Đông, xã Ea Knuêc, xã Ea Kênh.

3.1.1.2 Khí hậu - thuỷ văn
* Khí hậu:
Xã Cư Ewi chịu ảnh hưởng của hai loại khí hậu: Nhiệt đới gió mùa và khí hậu Cao
Nguyên. Nhiệt độ cao đều trong năm, mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến
tháng 10, chiếm 90% lượng mưa và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa
không đáng kể.
* Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ bình quân năm: 23.70C
Nhiệt độ cao nhất trong năm: 37.50C
Nhiệt độ thấp nhất trong năm: 11.50C
Tháng có nhiệt độ bình quân cao nhất: tháng 4 và tháng 5.
Tháng có nhiệt độ bình quân thấp nhất: tháng 1 và tháng 12.
Bình quân giờ chiếu sáng trong năm: 2250 – 2700 giờ.
* Chế độ ẩm:
Lượng mưa bình quân hàng năm: 1400 – 1600 mm
Lượng mưa cao nhất: 3000mm
Độ ẩm bình quân hàng năm: 80.2%
Độ bốc hơi mùa mưa: 1.04 – 2.98 mm/ngày
Độ bốc hơi mùa khô: 1.53 – 3.31 mm/ngày
* Chế độ gió:

21


Mùa khô có gió mùa đông bắc thổi mạnh, vận tốc có thể đạt 15–16 m/s, mùa mưa
chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam. Tốc độ gió 3.5- 4.5 m/s.
* Thổ nhưỡng:

Đất đai tương đối đa dạng và thành phần cơ giới phù hợp cho nhiều loại cây trồng,
tuy nhiêu một số vùng còn nghèo dinh dưỡng, nên cần tăng cường đầu tư phân bón và các
biện pháp cải tạo đất hợp lý.
* Nguồn nước:
Xã Cư Ewi có nguồn nước mặt khá phong phú, hiện nay trên địa bàn xã có 16 hồ
đập, phục vụ cho công tác tưới tiêu.
Nguồn nước ngầm sâu từ 10-20m, lưu lượng từ 1-3 lít/s, nước ngầm trong hệ trầm
tích Juara, nguồn nước ít phong phú, chất lượng kém.
Tuy khí hậu khắc nghiệt về mùa khô, nhưng nhìn chung điều kiện tự nhiên của xã
khá phù hợp cho việc phát triển nông nghiệp đặc biệt là cây lâu năm.

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
*Trồng trọt
Trồng trọt là một trong hai ngành sản xuất chính của nông nghiệp, chiếm tỷ trọng
cao trong cơ cấu kinh tế của xã. Trong đó cây công nghiệp dài ngày chiếm ưu thế đặc biệt
là cây cà phê, cây hàng năm chủ yếu là lúa nước và ngô. Những năm qua do vốn đầu tư
còn hạn hẹp và sản xuất nông nghiệp chịu tác động mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên, giá cả
thị trường nên thu nhập của nguời dân còn thấp và đời sống gặp nhiều khó khăn.
Qua bảng 3.1 ta thấy năng suất một số loại cây trồng cũng khá cao nhất là đối với
các cây hàng năm. So với năm 2004, năm 2005 năng suất của các loại cây hàng năm đều
tăng lên trông thấy nhất là cây sắn tăng 0,7 tấn/ha, lúa tăng 0,1 tấn/ha, ngô tăng 0,2 tấn/ ha.
Năm 2006, năng suất của các loại cây hàng hàng năm vẫn tiếp tục tăng cao, nhất là đối với
cây lúa tăng 0,4 tấn/ ha so với năm 2005 tương đương với sản lượng tăng 875 tấn trong
tổng diện tích gieo trồng lúa của toàn xã.

Bảng 3.1: Năng suất và sản lượng một số loại cây trồng

22



2004
Chỉ tiêu

NS
(tấn/ha)

2005

SL
(tấn)

NS
(tấn/ha)

2006

SL
(tấn)

NS
(tấn/ha)

2005/2004

SL
(tấn)

NS
(tấn/ha)


SL
(tấn)

2006/2005
NS
(tấn/ha)

SL
(tấn

1. Cây HN

4,9
5,8
0,8
9,3

2.410
3.210
210
2.460

5
6
0,8
10

3.295
3.210

215,8
2840

5,4 4.170
6 3.354
0,9
207
10,5 3.165

0,10 885,00
0,20
0,00
0,00
5,80
0,70 380,00

Tiêu

2,1
1,1

2,2
1,1

4.489
154

2,18 4.680
1,2
161


0,10
0,00

0,00
0,00

Điều

1,2

4.489
154
1.85.
2

1,5

212

0,30

26,80

Lúa
Ngô
Đậu
Sắn

0,40 875,00

0,00 144,00
0,10
-8,80
0,50 325,00

2. Cây LN
Cà phê

1,6

258

-0,02 191,00
0,10
7,00
0,10

46,00

Nguồn: Văn phòng UB xã
Các loại cây lâu năm những năm qua cho năng suất không cao. Năng suất cà phê
năm 2006 so với năm 2005 giảm 0,02 tấn/ha. Một phần là do hạn hán kéo dài nên một số
diện tích cà phê của bà con không được tưới tiêu kịp thời, một lý do nữa là do giá cả các
mặt hàng nông sản lên xuống thất thường, một số hộ trồng cà phê đã bỏ hoang vườn cà
phê, do đó mà số diện tích trồng cà phê này không đem lại hiệu quả kinh tế cao.
*Chăn nuôi
Tình hình chăn nuôi của xã phát triển không đồng đều giữa các thôn, buôn. Những
phong tục tập quán của nguời dân nơi đây vẫn còn lạc hậu, nhất là đối với những hộ đồng
bào dân tộc thiểu số, việc chăn thả gia súc, gia cầm chủ yếu là thả rông, chuồng trại còn
thô sơ, thức ăn chủ yếu là các sản phẩm từ ngành trồng trọt. Điểm mạnh của địa phương là

rất thuận lợi cho việc phát triển chăn nuôi heo và gia cầm, bởi tỷ trọng giá trị cây lương
thực chiếm một phần rất lớn trong ngành trồng trọt. Vì vậy người nông dân tự cung tự cấp
thực phẩm cho gia súc và gia cầm, và thu được một lượng phân chuồng cho trồng trọt. Tuy
nhiên những năm qua dịch cúm gà xảy ra trên toàn thế giới đã làm cho sản lượng gia cầm
giảm sút từ năm 2004 là 10.000 con đến năm 2006 còn 5.874 con. Bên cạnh đó dịch lở
mồm long móng ở gia súc lại xuất hiện làm cho đàn trâu và heo của xã cũng giảm sút đáng
kể.

Bảng 3.2: Tình hình chăn nuôi của xã qua 3 năm
Loại vật nuôi

ĐVT

Năm
23

So sánh


Trâu


Heo
Gà,Vịt

Con
Con
Con
Con
Con


2004
350
1650
4000
3600
10000

2005
450
3550
3107
9547
4087

2006 2005/2004
2006/2005
400
128,57
88,89
3592
215,15
101,18
2126
77,68
68,43
7100
265,19
74,37
5874

40,87
143,72
Nguồn: Văn phòng UB xã

*Công nghiệp và dịch vụ
- Công nghiệp: Kém phát triển vì trên địa bàn xã chỉ có một nhà máy chế biến hạt
điều và một số cơ sở khác nhưng chủ yếu là sơ chế nông sản như say sát, phơi sấy cà phê...
- Dịch vụ thương mại: Do thu nhập của người dân còn thấp nên ngành dịch vụ và
thương mại chưa có điều kiện phát triển mạnh. Hiện nay mới hình thành một số cơ sở nhỏ
lẻ và đáp ứng một phần nhu cầu sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã.

3.1.2.2 Tình hình sử dụng đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã năm 2005 và năm 2006 là 6.011 ha tăng so
với năm 2004 là 25 ha. Điều này có nghĩa là diện tích đất của xã đã được mở rộng thêm do
năm 2005 xã xác nhập thêm một nửa diện tích của thôn 25. Trong đó đất nông nghiệp
chiếm nhiều nhất 69,09% tương đương với 4.135,4 ha năm 2004. Đất nông nghiệp của xã
tăng qua các năm, đến năm 2005 là 4.281,87 ha chiếm 71,23 %, năm 2006 diện tích đất
nông nghiệp được giữ nguyên. Chứng tỏ quỹ đất của xã đã được sử dụng tối đa cho phát
triển nông nghiệp. Trong diện tích đất dành cho nông nghiệp đất trồng cây công nghiệp
chiếm một tỷ trọng khá cao, năm 2004 là 2.371 chiếm 57,33 %, năm 2005 là 3.600,4 ha
chiếm 84,08%, năm 2006 là 3.619,66 ha chiếm 84,53 % tăng hơn so với năm 2005 là
51,85 %. Điều này cho thấy hầu hết các hộ nông dân của xã rất chú trọng đến cây lâu
năm, cây trồng chủ yếu ở đây là cà phê, tiêu, điều...phụ thuộc rất nhiều vào giá cả thị
trường.
Diện tích đất lâm nghiệp giảm cụ thể là năm 2004 có 89 ha chiếm 1,49 % diện tích đất tự
nhiên. Đến năm 2005 chỉ còn 37,27 ha chiếm 0,62 %. Diện tích này được giữ đến năm
2006. Đó là do trong năm 2004 thời tiết hạn hán kéo dài và hiện tượng cháy rừng do phát
nương làm rẫy của người đồng bào đã làm diện tích rừng giảm đi 51,93 ha. Ý thức được
tầm quan trọng của rừng, hiện nay chính quyền địa phương đang triển khai kế hoạch trồng
mới và mở rộng thêm diện tích rừng.


24


Đất chưa sử dụng tiếp tục giảm qua các năm do nhu càu về đất ở, đất sản xuất, đất
sinh hoạt và công trình xây dựng ngày càng tăng lên.
Vì diện tích đất đai thì có hạn, không thể tăng diện tích gieo trồng mãi, do vậy
những năm tới các cấp chính quyền cần có sự quy hoạch bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp
với điều kiện của xã nhằm từng bước nâng cao thu nhập cho người dân.
Bảng 3.3: Tình hình đất đai của xã Cư Ewi
2004

Chỉ tiêu
DT đất tự nhiên
1.Đất sản xuất
nông nghiệp
-Đất trồng cây
hàng năm
-Đất trồng cây lâu
năm
-Đất nuôi trồng
thuỷ sản
2. Đất lâm nghiệp
3. Đất thổ cư
4. Đất chuyên
dùng
5. Đất khác
6. Đất chưa sử
dụng


2005
DT
%

DT

2006
%

100

6011

100

100,42

4.281,87

71,23

4.281,87

71,23

103,54

100

42,65


679,58

15,87

660,32

15,42

38,53

97,17

2.371

57,33

3.600,4

84,08

3.619,66

84,53

151,85

100,53

0,7


0,02

1,89

0,05

1,89

0,05

270,00

100

89
173,2

1,49
2,89

37,27
192

0,62
3,19

37,27
196


0,62
3,26

41,88
110,85

100
102,08

328,49

5,49

335,46

5,58

335,46

5,58

102,12

100

344,11

5,75

379,71


6,32

383,21

3,38

110,35

100,92

914,8

15,29

784,69

13,05

777,19

12,93

85,78

99,04

DT

%


5.986

100

6.011

4.135,4

69,09

1.763,7

So sánh
05/04 06/05
100

Nguồn: Văn phòng UB xã

3.1.2.3 Dân số và lao động
Xã Cư Ewi có 26 thôn, buôn. Trong đó có 2 buôn đồng bào dân tộc tại chỗ và 4
thôn là đồng bào dân tộc phía bắc đến sinh sống. Toàn xã có 4.069 hộ với 20.629 nhân
khẩu, gồm 11 dân tộc anh em cùng chung sống. Chiếm tối đa là dân tộc kinh có 3.130 hộ
với 15.517 khẩu, dân tộc tại chỗ có 275 hộ với 1.600 nhân khẩu, còn lại là dân tộc thiểu số
ở phía bắc di cư vào lập nghiệp.
Bảng 3.4: Tình hình dân số và lao động của xã Cư Ewi
Chỉ tiêu

Đơn vị


Tổng số hộ

Hộ

Tổng số NK

Người

2004

2005

2006

SL

(%)

SL

(%)

SL

(%)

3.990

100,00


4.023

100,00

4.069

100,00

20.620

100,00

20.768

100,00

20.629

100,00

25


×