MÔN TÂM LÝ HỌC QUẢN LÝ
Câu 1: Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của TLHLĐ-QL?
Là một môn khoa học thuộc tâm lý xã hội chuyên ngành nghiên cứu những đặc điểm
tâm lý của các cá nhân, các nhóm xã hội liên kết, hợp tác với nhau trong công việc và cuộc
sống hàng ngày. TLH LĐ-QL cung cấp những tri thức, phương pháp cơ bản về tâm lý để
ứng dụng vào công việc LĐ-QL. Đồng thời, nó là cơ sở để người LĐ-QL không ngừng
hoàn thiện nhân cách, củng cố, nâng cao uy tín của mình, củng cố và tạo lập niềm tin cho
cấp dưới, nhằm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.
Với tư cách là một bộ môn khoa học, TLH LĐ-QL cũng có đối tượng và nhiệm vụ nghiên
cứu của riêng mình:
1. Đối tượng nghiên cứu của TLH LĐ-QL
Theo PGS, TS Trần Ngọc Khuê: TLH LĐ-QL là khoa học tâm lý chuyên ngành
nghiên cứu, ứng dụng trực tiếp những tri thức về nguồn gốc, bản chất, đặc điểm và tính quy
luật của các hiện tượng tâm lý con người và các nhóm xã hội trong hoạt động LĐ-QL.
Theo GS, TS Vũ Dũng: TLH LĐ-QL là một chuyên ngành của tâm lý học, chuyên
nghiên cứu những vấn đề trong hoạt động quản lý nhằm làm cho hoạt động quản lý đạt hiểu
quả tối ưu.
Như vậy: Với các quan điểm trên, chúng ta có thể khẳng đinh, đối tượng nghiên cứu
của TLH LĐ-QL là nghiên cứu tâm lý cá nhân và tâm lý của của các nhóm xã hội, các
nhóm người liên kết với nhau trong công việc và đời sống hàng ngày.
- Thứ nhất, TLH LĐ-QL nghiên cứu những đặc điểm tâm lý của chủ thể LĐ-QL, tức là
người LĐ-QL. Đó chính là những phẩm chất nhân cách và năng lực của người LĐ-QL giúp
cho họ làm tốt vai trò chỉ huy và điều khiển của mình trong hoạt động lãnh đạo.
- Thứ hai, TLH LĐ-QL nghiên cứu là những đặc điểm tâm lý của khách thể LĐ-QL là
những đối tượng mà chủ thể hướng đến. Đó là những đặc điểm, hiện tượng, phẩm chất tâm
lý của cá nhân, nhóm, tập thể thuộc phạm vi LĐ-QL.
- Thứ ba, TLH LĐ-QL nghiên cứu là những khía cạnh tâm lý diển ra của bản thân
hoạt động LĐ-QL, phong cách LĐ-QL và những khía cạnh tâm lý diễn ra trong hoạt động
này, đồng thới hệ thống hoá những đặc điểm, những yêu cầu đặc ra cho việc giáo dục, đào
tạo, bồi dưỡng đánh giá và sử dụng cán bộ trong tình hoạt động cụ thể.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu của TLH LĐ-QL
Xuất phát từ yêu cầu, đối tượng thuộc phạm vi nghiên cứu, môn tâm lý học LĐ-QL
đặt ra những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Một là, TLH LĐ-QL nghiên cứu những đặc điểm tâm lý của người LĐ-QL chỉ ra
những yêu cầu chung về cấu trúc nhân nhân cách người LĐ-QL từ đó nêu lên con đường,
nội dung hình thành và các điều kiện phát triển hoàn thiện nhân cách người LĐ-QL.
- Hai là, TLH LĐ-QL nghiên cứu những đặc điểm tâm lý của đối tượng bị LĐ-QL,
của những người dưới quyền… để hiểu rõ và biết tác động vào những tình cảm, nhu cầu, lợi
ích, hứng thú, phong tục tập quán, trình độ, thói quen của họ để họ sống và làm việc tích
cực hơn, có hiệu quả hơn và hạnh phúc hơn.
- Bà là TLH LĐ-QL nghiên cứu những đặc điểm tâm lý của các cá nhân, nhóm tập
thể lao động, cùng cộng đồng XH với tư cách là đối tượng LĐ-QL, phát hiện và phát huy
những tìm năng của các nhân và các con đường ứng dụng chúng vào việc nâng cao hiệu quả
của hoạt động LĐ-QL. Mặt khác nghiên cứu tâm lý học LĐ-QL tìm ra những hiện tượng
tâm lý XH diễn ra trong các nhóm, dân tộc, giai cấp, tầng lớp khác trong XH, làm cơ sở
khoa học cho việc định hướng quản lý XH có hiệu quả.
- Bốn là, TLH LĐ-QL nghiên cứu những hiện tượng tâm lý diễn ra trong hoạt động
LĐ-QL, chỉ ra những khía cạnh tâm lý của hoạt động này để từ đó giúp con người tiến hành
thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ người LĐ-QL.
3. Ý nghĩa
- TLH LĐ-QL nhằm giúp cho việc định hướng điều khiển, điều chỉnh cho toàn bộ
hoạt động của con người, trong đó có hoạt động của LĐ-QL. Từ đó người LĐ-QL nắm
vững hệ thống tri thức khoa học về tâm lý và có thể vận dụng, ứng dụng vào việc chẩn đoán
tâm lý con người, đồng thời có cơ sở đáng giá sắp sếp cán bộ phù hợp.
- TLH LĐ-QL nhằm định ra mô hình nhân cách cho người LĐ-QL, giúp người lãnh
đạo hiểu được những đặc điểm phẩm chất nhân cách người LĐ-QL, từ đó đề xuất ra con
đường, biện pháp để hoàn thiện nhân cách của người LĐ-QL
- TLH LĐ-QL giúp nhà LĐ-QL nắm vững tri thức TLH LĐ-QL hiểu được đặc điểm
tâm lý của tập thể, nhóm cộng đồng thuộc đối tượng LĐ-QL, người lãnh đạo sẽ tác động
làm cho các cá nhân, tập thể, nhóm, cộng đồng ... từ đó phát huy tối đa những tiềm năng
tâm lý tập thể của cộng đồng giúp nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý.
- TLH LĐ-QL nhằm tìm ra cơ sở tâm lý của hoạt động LĐ-QL giúp cho việc nâng
cao hiệu quả của hoạt động LĐ-QL .Trong quá trình nghiên cứu môn học này, người LĐQL có dịp xem xét lại những cơ sở, đặc điểm, hiện tượng tâm lý diễn ra trong các khía cạnh
của hoạt động LĐ-QL giúp cho người LĐ-QL có phướng pháp khoa học trong việc nhình
nhận đánh giá, định hướng giáo dục đội ngũ cán bộ một cách có hiệu quả.
- Với tư cách một môn khoa học chuyên ngành TLH LĐ-QL còn mới mẻ nhưng vô
cùng phức tạp, đa dạng đòi hỏi phải được nghiên cứu, ứng dụng thực tiễn, đúc kết bổ sung
lý luận một cách nghiêm túc. Do đó nghiên cứu môn này một mặt ứng dụng tri thức tâm lý
vào trong thực tiễn công tác, mặt khác còn hệ thống đúc kết, nâng cao tri thức một cách sinh
động nhằm bổ sung lý luận khoa học TLH LĐ-QL mới có sức sống có ý nghĩa với thực tiễn
xã hội, góp phần nân cao hiệu quản hoạt động LĐ-QL xã hội.
*Ý nghĩa của bản thân
- Về mặt lý luận: Cung cấp một hệ thống lý luận, các qui luật chung nhất trong trong
việc quản lý con người tránh được những sai lầm trong quản lý con người.
- Về mặt thực tiễn:
+ Giúp bản thân hiểu được những người dưới quyền, giải thích được những hành vi
của họ, dự đoán truớc họ hành động như thế nào trong tình huống sắp tới. Điều này rất cần
thiết giúp cho việc tuyển chọn, sắp xếp sử dụng con người hợp lý.
+ Giúp bản thân nắm được cách thức nhận xét đánh giá con người một cách đúng
đắn, khách quan, giúp cho nhà LĐ-QL biết cách tác động mềm dẻo nhưng kiên quyết đến
cấp dưới, đến từng cá nhân và tâp thể phát huy tốt đa tiềm năng của họ trong công việc thực
hiện mục tiêu của tổ chức.
+ Đối với nhân viên, cấp dưới, tri thức tâm lý học quản lý giúp bản thân hiểu được
tâm lý của đồng nghiệp, cấp trên, và bản thân mình, biết cách ứng xử hợp lý, phát huy tối đa
khả năng của mình trong tổ chức.
Câu 2: Những hiện tượng tâm lý xã hội chủ yếu trong hoạt động LĐ-QL?
tượng tâm lý là những biểu hiện của nhận thức, tình cảm, ý chí… trong mỗi cá nhân
và các nhóm xã hội được hình thành và phản ánh các mối quan hệ xã hội của con người
trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Thực chất biểu hiện của những hiện tượng tâm lý xã hội chủ yếu trong hoạt động LĐQL là sự tác động qua lại của chủ thể LĐ-QL và đối tượng quản lý. Những hiện tượng tâm
lý ấy được biểu hiện ở hai bộ phận sau:
Thứ nhất, Ở bộ phận lãnh đạo, quản lý (người hoặc tập thể)
*Quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý
Các quá trình tâm lý: là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối
ngắn, có bắt đầu, diễn biến và kết thúc.
Các trạng thái tâm lý là các hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài và
đóng vai trò làm nền cho các quá trình tâm lý và các thuộc tính tâm lý biểu hiện ra một cách
nhất định. Với các trạng thái tâm lý chúng ta thường chỉ biết đến khi nó đã xuất hiện ở bạn
thân, tuy nhiên thường không biết được thời điểm bắt đầu và kết thúc của chúng.
- Nhận thức là quá trình gắn với mục đích nhất định, là sự phản ánh hiện thực khách
quan đến người lãnh đạo quản lý cần nhận thức vấn đề nhanh chóng, xử lý thông tin đúng
từ đó ra quyết định đúng và phục vụ tốt hoạt động lãnh đạo quản lý. Nếu nhận thức kém dẫn
đến ra quyết định sai.
Người lãnh đạo quản lý phải có hiểu biết, phải nhận thức đúng tầm quan trọng của
vấn đề (được đánh giá năng lực trí tuệ của người lãnh đạo quản lý).
Quá trình nhận thức:
+ Cảm giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật,
hiện tượng khách quan khi chúng đang tác động trực tiếp vào giác quan.
Là quá trình đơn giản nhất, có tính chất, cường độ và thời hạn có vai trò mở đầu cho
các hoạt động nhận thức. Là phản ánh ban đầu do tác động của thế giới khách quan vào các
cơ quan cảm giác, cảm giác phản ảnh sao chụp lại các thuộc tính của sự vật hiện tượng tồn
tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức. Như vậy cảm giác là cái có sau so với hiện thực vật
chất. Trong thực tế, mỗi sự vật, hiện tượng là một chỉnh thể, trọn vẹn, gồm nhiều thuộc tính,
cùng tác động vào con người. Do giới hạn của mình nên cảm giác chỉ phản ánh được từng
thuộc tính riêng lẻ và phản ánh một cách trức tiếp những thuộc tính của sự vật, hiện tượng.
+ Tri giác là quá trình tâm lý phản ảnh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật,
hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào giác quan. Là quá trình phản ảnh trong ý thức
con người về những sự vật hiện tượng khi chúng tác động trực tiếp vào cơ quan cảm giác.
Tri giác hình thành từ cảm giác nhưng được phát triển lên. Tri giác là sự phản ảnh cao
hơn so với cảm giác, phản ảnh một cách tổng hợp các thuộc tính của sự vật hiện tượng cho
một hình ảnh trọn vẹn trên não bộ.
+ Biểu tượng là quá trình tâm lý nhằm phục hồi các hiện tượng của sự vật hiện tượng
mà con người đã cảm giác và tri giác được, là những tài liệu cụ thể và sinh động của các
quá trình ký ức, tưởng tượng.
Các biểu tượng tạo nên cơ sở cảm giác của nhận thức về thế giới xung quanh: chúng
mang lại cho người ta những hiểu biết về các đặc điểm của các vật thể xunh quanh ta dưới
dạng mà các vật thể đó tác động lên các cơ quan thụ cảm.
+ Tư duy là nhận thức lý tính là quá trình phản ảnh những thuộc tính bản chất , những
mối quan hệ có qui luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta
chưa biết.
Tư duy của con người mang bản chất xã hội, sáng tạo và có cá tính ngôn ngữ. Những
tình huống tư duy cua con người được đặt ra do nhu cầu cuộc sống, lao động học tập và
hoạt động xã hội, được quy định bởi nguyên nhân xã hội, nhu cầu xã hội. Sự phát triển các
hình thức, thao tác tư duy của con người liên quan đến sự phát triển lịch sử - xã hội. Trong
quá trình tư duy, con nguời sử dụng phương tiện ngôn ngữ. Kết quả hoạt động tư duy của
con người là đóng góp lớn lao cho nhận thức, cải tạo và phát triển xã hội loài người.
+ Tưởng tượng là quá trình nhận thức phản ánh những sự vật và hiện tượng chưa có
kinh nghiệm, bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những hình ảnh đã có.
Biểu tượng được tạo ra trên cơ sở những biểu tượng của trí nhớ. Tưởng tuợng của
con người phụ thuộc vào những đặc điểm tâm lý của cá nhân như tri giác, tư duy, tình cảm,
hứng thú, năng khiếu…Và phụ thuộc vào thực tiễn của cuộc sống, kinh nghiệm chung của
xã hội loài người.
- Tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với sự vật, hiện
tượng có liên quan dẫn đến ảnh hưởng đến nhu cầu, động cơ của họ. Không làm chủ tình
cảm dẫn đến ra quyết định thiên lệch, không khách quan. Xúc cảm, tình cảm là thái độ của
cá nhân đối với các hiện tượng trong hiện thực khách quan, trong cơ thể, có liên quan mật
thiết tới việc thỏa mãn hoặc không thỏa mãn nhu cầu của cá nhân, là sự biểu thị thái độ đặc
thù của cá nhân đối với hiện thực khách quan có liên quan đến nhu cầu cá nhân.
- Ý chí (hành động ý chí) thể hiện năng lực thực hiện những hành động có mục đích
đòi hỏi có sự nỗ lực, khắc phục khó khăn từ đó người lãnh đạo quản lý phải quyết đoán,
dám chịu trách nhiệm đối với các quyết định của mình và ảnh hưởng đến sự thành công của
công việc.
*Thuộc tính tâm lý là những hiện tượng tâm lý đã trở nên ổn định, bền vững ở mỗi
người tạo nên nét riêng về mặt nội dung của người đó. Thuộc tính tâm lý diễn ra trong thời
gian dài và kéo dài rất lâu có khi gắn bó với cả cuộc đời một người.
- Xu hướng là một hệ thống động cơ và mục đích định hướng và thúc đẩy con người
tích cực hoạt động nhảm thoả mãn những nhu cầu hay hứng thú hoặc vươn tới mục tiêu cao
đẹp mà cá nhân lấy làm lẽ sống của mình.
- Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân bao gồm một hệ thống thái
độ đối với hiện thực, thể hiện trong hệ thống hành vi cử chỉ, cách nói năng tương ứng.
- Khí chất một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, biểu hiện cường độ, tốc độ,
nhịp độ của các hoạt động tâm lý thể hiện sắc thái hành vi, cử chỉ, cách nói năng của cá
nhân.
- Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu
của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả
*Phong cách, tác phong của một cá nhân là dạng hành vi của người đó thể hiện các
nỗ lực ảnh hưởng tới hoạt động của những người khác.
- Phong cách lãnh đạo là cách thức làm việc của nhà lãnh đạo.
- Phong cách lãnh đạo là hệ thống các đấu hiệu đặc trưng của hoạt và động quản lý
của nhà lãnh đạo, được quy định bởi các đặc điểm nhân cách của họ.
- Phong cách lãnh đạo là kết quả của mối quan hệ giữa cá nhân và sự kiện, và được
biểu hiện bằng công thức: Phong cách lãnh đạo = Cá tính x Môi trường.
- Phong cách lãnh đạo bao gồm các lọai như sau:
+ Lãnh đạo độc đoán (chuyên quyền): Được đặc trưng bởi sự áp đặt cuả nhà quản trị
đối với nhân viên. Các nhiệm vụ chỉ thuần tuý là người nhận và thi hành mệnh lệnh. Nhà
quản trị cũng thường xuyên kiểm tra, giám sát chặ cấp dưới trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ (thông tin được lãnh đạo cung cấp cho cấp dưới ở mức tối thiểu cần thiết để thực hiện
nhiệm vụ, thông tin là một chiều từ cấp trên xuống cấp dưới).
+ Lãnh đạo dân chủ: Nhà quản trị thường tham khảo, bàn bạc, lắng nghe ý kiến và đi
đến sự thống nhất với các thuộc cấp trước khi ra quyết định, sử dụng nguyên tắc đa số. Nội
dung cuả quyết định phụ thuộc vào ý kiến đa số cuả các thành viên trong tổ chức. Trong
phong cách này người lãnh đạo có sự phân giao quyền lực cho cấp dưới nhiều hơn (thông
tin 2 chiều).
+ Lãnh đạo tự do: Nhà quản trị sử dụng rất ít quyền lực, mà dành cho cấp dưới mức
độ tự do cao. Vai trò cuả nhà quản trị ở đây là giúp đỡ, tạo điều kiện cho cấp dưới thông qua
việc cung cấp thông tin và các phương tiện khác, và hành động như một mối liên hệ với môi
trường bên ngoài (thông tin ngang).
*Kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý…
=> Không tự nhiên có, phải thong qua chính hoạt động giao tiếp mà hình thành, củng
cố, phát triển.
Thứ hai, Ở bộ phận chịu sự lãnh đạo, quản lý
- Mức độ giác ngộ về chính trị, tư tưởng: trình độ nhận thức, trình độ văn hóa -> trình
độ của tập thể.
- Năng lực thực hiện nhiệm vụ: trình độ chuyên môn nghiệp vụ của từng cá nhân:
kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng trong thực hiện chức trách nhiệm vụ.
- Bầu không khí tâm lý là trạng thái tâm lý xã hội của tập thể cơ sở, nó phản ánh tính
chất, nội dung và xu hướng tâm lý thực tế của từng thành viên tập thể đó. Trạng thái tâm lý
này của các thành viên tập thể, đến lượt mình lại có ảnh hưởng nhất định đến các quqn hệ
tâm lý trong tập thể, đến năng suất lao động và hiệu suất công tác của tập thể đó.
Bộ mặt tinh thần của tập thể thông qua mối quan hệ giữa các thành viên trong tập thể
(sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ, yêu cầu cao, hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau giữa các
thành viên trong tập thể). Tuy nhiên, tùy vào tính chất tích cực hay tiêu cực của bầu không
khí tâm lý trong tập thể mà nó làm tăng hoặc hủy diệt sức khỏe, tinh thần và năng suất lao
động của mỗi cá nhân và hiệu quả lao động chung của tập thể sư phạm .
- Động cơ, nhu cầu, mục đích, hứng thú. Người lãnh đạo cần phải nắm vững và quan
tâm đến động cơ, nhu cầu, mục đích, hứng thú và phải tạo được và phải thống nhất động cơ,
nhu cầu, mục đích, hứng thú cho quân nhân và tập thể quân nhân. Nếu không có hứng thú
sẽ không nảy sinh nhu cầu, thiếu nhu cầu sẽ không hình thành động cơ, không có động cơ
con người sẽ không thể đạt được mục đích.
- Những hiện tượng tâm lý nảy sinh: có hiện tượng ổn định, bền vững; có hiện tượng
mang tính chất tự phát (bộc phát).
Những hiện tượng tâm lý ổn định, bền vững đối ổn định, bền vững (tự giác, tính ý
thức cao).
- Dư luận tâp thể là sự đánh giá, biểu thị thái độ của quần chúng đối với hiện tượng
xảy ra có liên quan tới nhu cầu, lợi ích của đa số các thành viên trong tập thể.
- Tâm trạng tâp thể là những rung động cảm xúc chung của các thành viên trong một
thời gian nhất định của đa số hay toàn thể các thành viên trong những sự kiện, hiện tượng
tác động đến tập thể.
- Uy tín trong tâp thể là sự đánh giá, thừa nhận và tin theo của xã hội, của tập thể đối
với phẩm chất năng lực của một người hay của một tổ chức.
- Truyền thống tâp thể là những thói quen, những tập quán, những chuẩn mực trong
hành vi, phong cách sống và hoạt động được mọi thành viên trong tập thể tuân theo, được
giữ gìn và truyền lại từ lớp người này sáng lớp người khác như là sản phẩm tinh thần của
tập thể đó.
Những hiện tượng tâm lý mang tính chất tự phát (bộc phát): a dua, tin đồn (tự phát,
tính ý thức thấp).
Câu 3: Yêu cầu tâm lý cơ bản trong hoạt động LĐ-QL?
Hoạt động LĐ-QL là sự tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm
mục đích biến đổi trực tiếp đối tượng theo những mục tiêu nhất định. Là một dạng đặc thù
của một cá nhân, một nhóm người đóng vai trò chỉ huy điều hành các hoạt động khác của xã
hội.
Hoạt động LĐ-QL là hoạt động mang tính định hướng, gây ảnh hưởng, tạo dựng
niềm tin, thuyết phục người khác để họ đồng thuận với người LĐ-QL để thực hiện đường
lối, chủ trương hướng tới mục tiêu nào đó. Quá trình này tạo hiệu ứng điều khiển, dẫn dắt
người khác dựa trên cơ chế nhận thức, niềm tin, tiêu chuẩn đạo đức, tư tưởng… mà không
mang tính cưỡng bức đối với người khác.
- Hoạt động LĐ-QL tạo nên sức mạnh tập thể trên cơ sở thống nhất ý chí và hành động.
- Hoạt động LĐ-QL tạo ra môi trường vừa cho phép mỗi người dân được tự do sáng
tạo, vừa định hướng hoạt động của mọi người theo mục tiêu chung
- Hoạt động LĐ-QL tạo nên sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận khác nhau của
đơn vị thành một hệ thống thống nhất.
- Hoạt động LĐ-QL góp phần tạo dựng sức mạnh bền vững của hệ thống chính trị.
Để hoạt động LĐ-QL đạt hiệu quả cao, trong quá trình LĐ-QL, cần nắm và thực hiện
tốt các yêu cầu tâm lý cơ bản sau:
*Phát huy tối đa nhân tố con người trong hoạt động LĐ-QL
- Đối tượng tác động của LĐ-QL là con người.
Con người luôn luôn là đối tượng trung tâm của LĐ-QL. Đặc biệt là trong điều kiện
hiện nay, vai trò con người ngày, càng tăng lên trong các hệ thống lẵnh đạo - quản lý xã hội
và lãnh đạo - quản lý bộ đội. Có được điều này là do:
Còn người là lực lượng sản xuất của xã hội luôn luôn giữ một vị trí có ý nghĩa quyết
định trong tiến trình phát triển của xã hội. Học thuyết Mác - Lênin về con người đã chứng
minh cho chúng ta rõ sức mạnh và khả năng vô tận của con ngươi, đồng thòi khẳng định
chính con người là chủ nhân của các giá trị sáng tạo về vật chất, tinh thần của loài ngưòi từ
xưa cho đến nay.
Thực tiễn thành công và thất bại của các phương thức LĐ-QL xã hội ở nhiều nước
trên thế giới và những bài học kinh nghiệm của LĐ-QL ở các cấp, các ngành, các địa
phương trên đất nước chúng ta trong những năm đổi mối vừa qua đã cho thấy, suy cho cùng
là việc xử lý, giải quyết vấn đề còn người, là cuộc đấu tranh tư tưỏng gay gắt nhằm thu
phục nhân tâm, thu phục con người chủ không đơn thuần chỉ là các hoạt động kinh tế, kỹ
thuật. Nơi nào, chỗ nào xử lý con hgưòi tốt, biết chăm lo đến cuộc sống của con người, nơi
đó mọi việc diễn ra yển ổn, lãnh đạò, chỉ huy trên dưới đồng lòng) quần chúng phấn khỏi
hết lòng, hết sức tập trung cho nhiệm vụ, tin yêu và ủng hộ lãnh đạo chỉ huy.
- Trong mỗi con người có ưu, nhược -> Phát huy -> Đó là đòi hỏi của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc (giải quyết mqh giữa con người và VKTB).
- Yêu cầu
+ Quan tâm đến con người, tạo điều kiện để phấn đấu.
+ Nắm chắc đối tượng tác động.
+ Cách thức tác động đến đối tượng phù hợp.
*Xây dựng bầu không khí tâm lý tích cực, lành mạnh trong tập thể
Bầu không khí tâm lý là trạng thái tâm lý xã hội của tập thể, phản ánh tính chất, nội
dung và xu hướng tâm lý thực tế của các thành viên trong tập thể đó. Trạng thái tâm lý này
lại có ảnh hưởng nhất định đến các quan hệ trong tập thể, đến điều kiện hoạt động và tổ
chức lao động.
- Sự quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau, tôn trọng nhau cùng thực hiện nhiệm vụ đặt ra.
- Tạo điều kiện hoàn thành nhiệm vụ.
*Điều chỉnh, định hướng các hiện tượng tâm lý, xã hội trong tập thể
Các hiện tượng tâm lý xã hội có cả mặt tích cực và tiêu cực luôn tác động, ảnh hưởng
đến sự phát triển của nhân cách quân nhân và tập thể quân nhân do đó người cán bộ lãnh
đạo, chỉ huy cần chủ động, tích cực định hướng, điều khiển, điều chỉnh các hiện tượng tâm
lý xã hội trong tập thể cơ sở quân nhân.
- Tập thể là tế bào cơ bản tạo nên sức mạnh của đơn vị. Do vậy, đòi hỏi người LĐ-QL
phải có kiến thức và hiểu biết sâu sắc về tập thể và tâm lý tập thể để có thể vận dụng vào
điều kiện cụ thể từng đơn vị để xây dựng tập thể vững mạnh về mọi mặt.
- Yêu cầu
+ Thống nhất mục đích hoạt động cho tập thể, nhanh chóng làm cho nó trở thành mục
đích hoạt động của mỗi người hướng vào nhiệm vụ chung.
+ Tổ chức tốt các hoạt động chung cho tập thể.
+ Quan tâm đầy đủ đến nhu cầu, nguyện vọng và sự tiến bộ của mọi thành viên,
chống mọi biểu hiện cá nhân chủ nghĩa, cục bộ, bản vị, địa phương đi ngược yêu cầu nhiệm
vụ của tập thể.
+ Phối hợp chặt chẽ, đông bộ giữa các bộ phận, đơn vị, thực hành công bằng, dân
chủ, v.v.
+ Xây dựng và củng cố mối quan hệ qua lại tích cực giữa các thành viên.
+ Phát huy vai trò của bộ phận lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ chủ trì và đội ngũ nòng cốt
tích cực trong xây dựng tập thể.
*Xác lập được uy tín của người LĐ-QL trong tập thể
Uy tín là quyền uy và sự tín nhiệm trên cơ sở phẩm chất và năng lực (được mọi người
thừa nhận). Uy tín có vai trò rất quan trọng trong đời sống và hoạt động tập thể:
- Người và tổ chức có uy tín có khả năng hướng dẫn, tổ chức hoạt động cho tập thể,
nhất là khi cần vượt qua khó khăn, phức tạp, ác liệt.
- Người và tổ chức có uy tín có tác dụng rất lớn trong giáo dục thuyết phục người
khác bằng sức mạnh ám thị và nêu gương. Hồ Chí Minh đã dạy: “Một tấm gương sống còn
giá trị hơn ba trăm bài diễn văn tuyên truyền”.
- Yêu cầu?
+ Người LĐ-QL phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện để luôn xứng đáng với
chức trách, nhiệm vụ được giao.
+Nâng cao trình độ nhận thức, giác ngộ chính trị, xây dựng tập thể đơn vị vững mạnh
về mọi mặt.
+ Chăm lo bồi dưỡng, tạo điều kiện mọi mặt của lãnh đạo, chỉ huy cấp trên.
+ Kịp thời phát hiện, xác định rõ nguyên nhân nảy sinh uy tín giả trong tập thể.
+ Việc hình thành uy tín cho người LĐ-QL là một quá trình lâu dài, phức tạp trong đó
yếu tố quyết định để có uy tín là sự nỗ lực phấn đấu rèn luyện của chính bản thân mỗi
người.
*Xác lập tốt các mối quan hệ với các tập thể, trước hết là các tập thể LĐ-QL
- Đây là môi trường, là điều kiện, cơ hội, là yêu cầu để người lãnh đạo hình thành uy
tín và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của mình.
- Nếu không có sự ủng hộ, đồng thuận của anh em tập thể thì người lãnh đạo không
thể thực hiện nhiệm vụ
- Yêu cầu?
+ Về mặt nhận thức, lập trường tư tưởng, tác phong, chuẩn mực đạo đức, lối sống của
người lãnh đạo…
+ Các biện pháp, các hoạt động…
Câu 4: Cơ sở tâm lý ra quyết định?
Trong hoạt động LĐ-QL người LĐ-QL luôn đối mặt với vấn đề thực tiễn nảy sinh,
đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, chính xác, kịp thời đạt hiệu quả. Điều đó phụ thuộc
vào năng lực ra quyết định của người LĐ-QL. Để quyết định của người LĐ-QL bảo đảm
tính khách quan, khoa học, thiết thực, pháp lý và quần chúng, đòi hỏi người LĐ-QL cần
phải có phương pháp, cách thức tác động tâm lý tới đối tượng thực hiện quyết định một
cách phù hợp.
4.1. Cơ sở tâm lý ra quyết định
Quyết định trong hoạt động LĐ-QL chính là phương án tối ưu của nhà LĐ-QL nhằm
xử lý mâu thuẫn giữa diễn biến của tình huống và hoàn cảnh, các đòi hỏi nhiệm vụ đơn vị
phải hoàn thành cùng các khả năng thực hiện chúng.
- Là những chủ trương, kế hoạch, biện pháp tổ chức điều hành, quản lý, định hướng
có mục đích rõ rang, tối ưu.
- Thực chất là sự điều khiển, tổ chức, hướng dẫn hoạt động của các thành viên và tập
thể nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.
- Ra quyết định là khâu cơ bản, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong quá trình LĐQL.
Quy trình ra quyết định gồm 4 bước: B1. Hiểu vấn đề. B2. Dự kiến các phương án
giải quyết. B3. Đưa ra các lý lẽ tán thành và phản đối. B4. Quyết định phương án tối ưu và
làm theo giải pháp đó.
Quá trình ra quyết định của người LĐ-QL luôn bị tác động ảnh hưởng của các yếu tố
khách quan và chủ quan. Các yếu tố này chi phối trực tiếp đến tính chất của các quyết định.
Các yếu tố đó là:
a. Diễn biến của tình huống và hoàn cảnh
- Trong điều kiện hoàn cảnh bình thường thì việc ra quyết định của người LĐ-QL ít phải
căn nhắc, tính toán.
- Trong điều kiện, tình huống cấp bách, hoàn cảnh tác động có nhiều khó khăn phức
tạp thì LĐ-QL phải có tính quyết đoán, ra quyết định khẩn trương, kịp thời, phải cân nhắc
kỹ lưỡng mọi tình huống có thể xảy ra. Hoàn cảnh càng phức tạp khó khăn, quyết định càng
phải thận trọng. Đặc biệt trong các tình huống chiến đấu, một quyết định sai lầm có thể dẫn
tới những hậu quả nghiêm trọng, tổn hại đến sinh mạng của bộ đội.
b. Khả năng nhận thức tình huống của người LĐ-QL
- Người LĐ-QL có khả năng nhận thức tình huống sâu sắc, nhạy cảm, sẽ làm cho việc
ra quyết định được kịp thòi, chính xác.
- Người LĐ-QL nhận thức tình huống nông cạn, hòi hợt, không đầy đủ, thiếu những
cơ sở khoa học, việc ra quyết định thưòng phạm sai lầm, nhất là trong điều kiện khẩn
trương, phức tạp (chiến đấu).
Vì vậy, để ra được quyết định đúng đắn, kịp thời, đòi hỏi người LĐ-QL phải thường
xuyên tu dưỡng, không ngừng rèn luyện nâng cao năng lực trình độ tư duy, khả năng nhận
thức tình huông đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của hoạt động LĐ-QL
c. Sự tác động qua lại của những người cùng tham gia quyết định
- Ban lãnh đạo luôn có sự thông nhất cao mọi người đều quán triệt, nhận thức đúng
nhiệm vụ, thuận lợi, khó khăn cũng như khả năng thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, dân chủ
bàn bạc cùng nhau quyết định thì quyết định sẽ mang tính tích cực, đúng đắn và có sức
mạnh.
- Chỉ huy, lãnh đạo thiếu sự nhất trí, nhận thức tư tưỏng thiếu nhất quán thì quyết
định sẽ không có sức mạnh.
d. Đặc điểm tâm lý cá nhân, năng lực ra quyết định của người LĐ-QL
- Các đặc điểm tâm lý cá nhân của người LĐ-QL được thể hiện ở những phẩm chất
chính trị, tư tưởng, đạo đức, những đặc điểm về cảm xúc, tình cảm, ý chí, ở trình độ tri
thức, kỹ xảo, kỹ năng… đặc biệt được thể hiện thông qua các thuộc tính tâm lý của nhân
cách như: xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực. Các đặc điểm này, trong đó tính cách và
khi chất là những yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ đến tính chất của các quyết định (bình
tĩnh, thận trọng hạy hấp tấp, vội vàng). Do đó nếu người LĐ-QL có bản lĩnh chính trị vững
vàng, có năng lực trình độ chuyên môn giỏi, nhạy cảm quyết đoán, linh hoạt sáng tạo, có trạng
thái tâm lý cân bằng, tính cách ổn định thì những quyết định đưa ra thường đúng đắn và sáng
suốt.
- Năng lực ra quyết định trong LĐ-QL là một trong những yếu tố tâm lý chủ quan
quy định trực tiếp chất lượng, hiệu quả của các quyết định LĐ-QL. Thông qua đó nó chi
phối tới hiệu quả hoạt động của đơn vị. Trong những điều kiện khách quan như nhau nếu
ngưòi LĐ-QL nào có năng lực ra quyết định giỏi sẽ đưa ra được những quyết định đúng
đắn.
+ Năng lực thu thập, sắp xếp, xử lý thông tin.
+ Năng lực dự báo, dự đoán các biện pháp giải quyết nhiệm vụ.
+ Năng lực phân tích các dữ liệu, lựa chọn phương án tối ưu.
+ vận dụng khéo léo các kinh nghiệm và tình càm trong ra quyết định.
+ Tích cực sử dụng các chuyên gia trong quá trình ra quyết định.
+ Dự báo chính xác hiệu quả quyết định đưa ra.
*Các khía cạnh tâm lý cần chú ý trong quá trình ra quyết định
Để ra được những quyết định chủ động, bình tĩnh, thận trọng luôn đúng đắn và chính
xác người LĐ-QL cần phải đặc biệt chú ý tối các khía cậnh tâm lý sau đây:
- Trong mọi trường hợp người LĐ-QL cần phải căn nhắc kỹ lưỡng các điều kiện, tình
huống, hoàn cảnh để ra quyết định cho phù hợp.
Vì: Quá trình ra quyết định luôn chịu sự tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách
quan, chủ quan, thuận lợi, khó khăn.
Yêu cầu: Người LĐ-QL cần không ngừng bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn
để tích lũy kinh nghiệm trong thực tiễn hoạt động của mình.
- Căn cứ vào kế hoạch và đặc điểm công tác của người dưới quyền củng như khả
năng thực hiện nhiệm vụ của họ.
Vì: Chính cấp dưới sẽ là những người trực tiếp thực hiện các quyết định, các mệnh
lệnh, chỉ thị của người LĐ-QL. Tính đến điều này các quyết định sẽ mang tính khả thi,
không mâu thuẫn hay cản trở những kế hoạch, dự án đã có, đồng thời phát huy được sức
mạnh, khả năng, sở trường của cấp dưới.
Yêu cầu: Người LĐ-QL phải sâu sát với cấp dưới, đánh giá đúng phẩm chất, năng lực
chuyên môn của cấp dưới. Giao việc cho họ đúng tầm, đúng sở trường, đúng lúc và biết tạo
điều kiện giúp đỡ họ hoàn thành nhiệm vụ. Phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa cấp trên và
cấp dưới, giữa lãnh đạo và phục tùng, có như vậy mới tạo ra được sự nhất trí cao, sự ủng hộ
của cấp dưới làm cho các quyết định có sức mạnh thực sự.
- Căn cứ vào đặc điểm tâm lý cá nhân của người trực tiếp thừa hành công việc để ra
quyết định chính xác.
Vì: Mỗi cá nhân là một nhân cách có đặc điểm tâm lý khác nhau, biểu hiện ở những
đặc điểm của quá trình nhận thức; quá trình cảm xúc, tình cảm; quá trình ý chí... đặc biệt ở
xu hướng, tính cách, khí chất, năng lực. Có người có xu hướng chính trị đạo đức, xu hướng
nghề nghiệp tốt nhưng năng lực chuyên môn có thể yếu. Có người trung thực, thẳng thắn
nhưng tính tình lại nóng nảy, hấp tấp vội vàng. Có người có khả năng hoàn thành nhiệm vụ
rất nhanh chóng nhưng lại thiếu tỉ mỉ, cẩn thận...
Yêu cầu: Việc ra quyết định, giao nhiệm vụ cho cấp dưới cần phải tính đến đặc điểm
tâm lý cá nhân của người trực tiếp thừa hành công việc sao cho có thể phát huy được sức
mạnh của từng người phù hợp với phẩm chất năng lực thực sự của họ bảo đảm cho công
việc được tiến hành trôi chảy thuận lợi, tránh được những rủi ro không đáng có,
- Khi ra quyết định phải tính đến hiệu quả giáo dục của các quyết định
Mỗi một quyết định của người LĐ-QL nhất thiết phải phản ánh được ý chí chung của
cả tập thể, phản ánh được nguyện vọng của từng thành viên, những quyết định như vậy sẽ
được quần chúng tin tưởng, ủng hộ, tạo nên động lực mạnh mẽ thúc đẩy các thành viên
hăng hái, tích cực khắc phục khó khăn trở ngại hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Tính giáo dục
của các quyết định được đặc biệt chú ý khi nó liên quân đến vấn đề khen thưởng, kỷ luật,
cắt nhắc, đề bạt.
Yêu cầu: Người LĐ-QL cần đặc biệt quan tâm khi ra quyết định. Chỉ khi các quyết
định đưa ra có tính giáo dục cao mới thực sự có sức mạnh trong thực tiễn và mang lại hiệu
quả.
Tóm lại: Ra quyết định là một khâu rất quan trọng của quá trình LĐ-QL. Đây là khâu
có ý nghĩa cốt lõi trong công tác LĐ-QL của bất kỳ người LĐ-QL nào. Ra quyết định vừa là
một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Để ra được quyết định đúng, người LĐ-QL cần phải
nắm vững các yếu tố ảnh hưỏng đến tính chất của các quyết định cũng như các khía cạnh
tâm lý cần chú ý trong quá trình ra quyết định, đồng thời phải không ngừng học tập nâng
cao phẩm chất, hăng lực của bản thân, đặc biệt là năng lực ra quyết định đáp ứng với đòi
hỏi của nhiệm vụ trên các cương vị công tác khác nhau.
4.2. Khía cạnh tâm lý của tổ chức thực hiện quyết định
Giá trị cơ bản của các quyết định là nó sẽ được thực hiện như thế nào trong thực tiễn.
Chất lượng của hoạt động LĐ-QL không thể chỉ hiểu là chủ thể LĐ-QL đã đề ra được bao
nhiêu quyết định, mà chủ yếu là họ đã lãnh đạo việc thực hiện nó một cách có hiệu quả ra
sao?
Việc tổ chức thực hiện quyết định được diễn ra rất đa dạng và phức tạp theo tính chất
của hoàn cảnh và tình huống lãnh đạo cụ thể. Song có thể chỉ ra một sô công việc chính, cơ
bản sau đây:
a. Lựa chọn người thực hiện quyết định
Việc lựa chọn những con người mà nhân cách của họ có sự phù hợp nhất định với
việc thực hiện quyết định là một yêu cầu rất quan trọng. Vì vậy, người LĐ-QL cần phải suy
nghĩ, cân nhắc cẩn thận để có thể “đặt người vào đúng việc” cho tất cả các quá trình thực
hiện quyết định. Để có thể đặt được người vào đúng việc, đúng lúc, đúng chỗ, người LĐ-
QL cầnphải chẩn đoán chính xác được tính chất của các phẩm chất, năng lực của những
người thừa hành công vụ.
Người LĐ-QL cần phải chú ý đến sự tương hợp về tâm lý giữa những người cùng thực
hiện nhiệm vụ, để tránh tình trạng “trông đánh xuôi, kèn thổi ngược” trong quá trình làm việc,
gây ra sự không hiểu nhau, nguyên nhân dẫn đến xung đột, mất đoàn kết, ảnh hưởng xấu đến
chất lượng, hiệu quả thực hiện quyết định.
Sau khi đã cân nhắc để lựa chọn được những người có phẩm chất, năng lực phù hợp
với việc thực hiện một quyết định cụ thể nào đó người LĐ-QL cần phải tiến hành giao
nhiêm vụ cho ho một cách rõ ràng, minh bạch và chi tiết. Đồng thời phải trao cho họ những
quyền hạn tương ứng, ở một mức độ nhất định. Khi tiến hành giao nhiệm vụ cần tỏ ra tin
tưỏng và lạc quan vào việc thực hiện nhiệm vụ của cấp dưới, cũng như cần hết sức tôn trộng
tính tích cực, độc lập, sáng tạo và tự giác của họ.
b. Các vấn đề tâm lý của việc truyền đạt quyết định
Việc truyền đạt quyết định được hiểu là sự tác động qua lại về mặt tâm lý giữa chủ
thể LĐ-QL với các khách thể của LĐ-QL. Nhưng trong đó, sự tác động qua lại về ý chí của
người LĐ-QL tới cấp dưới sẽ luôn luôn được coi là một trong những nhân tố tâm lý có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng. Cũng cần chú ý đến một vấn đề tâm lý là: vì phải phục tùng ý chí
của người thủ trưởng do đó dễ xuất hiện ở những người thừa hành trạng thái tâm lý tiêu cực
như cảm xúc bị coi nhẹ, mặc cảm của người dưới quyền, sự ngượng nghịu, khó chịu, sự tự
ái, sự phát khùng vô cớ..., ngay cả khi người lãnh đạo đã tiến hành truyền đạt quyết định đó
một cách nhẹ nhàng, thân thiện. Vì vậy, người LĐ-QL cần phải cố gắng suy nghĩ thận trọng,
hết sức khôn khéo, tế nhị và có nghệ thuật cao khi truyền đạt quyết định.
Việc truyền đạt quyết định sẽ phụ thuộc vào yếu tố chủ quan và khách quan. Nhưng
đặc biệt, phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của tập thể, vào phẩm chất, năng lực của
người thực hiện và các điều kiện vật chất - tinh thần khác. Nội dung của quyết định càng
quan trọng, càng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chất lượng hoạt động của tập thế.
Để đảm bảo cho những người thừa hành có thể nhận thức được một cách đầy đủ,
đúng đắn và chính xác nội dung của các quyết định, khi truyền đạt quyết định người LĐ-QL
cần chú ý tới một sô khía cạnh tâm lý như sau:
- Người lãnh đạo không chỉ tiến hành thông báo cho người thực hiện quyết định biết
rõ vê nội dung cơ bản của quyết định, mà còn phải thuyết phục họ tin vào sự đúng đắn,
chính xác, hdp lý, cần thiết của quyết định. Muốn vậy người lãnh đạo phải có niềm tin vào
sự thắng lợi của quyết định mà mình đang truyền đạt và làm cho nội dung của niềm tin đó
được truyền sang tất cả mọi ngưòi để họ cũng có được niềm tin sắt đá như mình. Niềm tin
này được coi là cơ sỏ tâm lý cho việc tạo lập ý chí, có tác dụng đảm bảo cho quyết định
được trở thành hiện thực trong các hoạt động cùng nhau của cả tập thể.
- Nghệ thuật truyền đạt quyết định của trở cho cấp dướỉ cũng là một tố ảnh hưởng
đến việc tổ chức thực hiện quyết định. Quyết định có được tiếp thu tốt hay không phần lớn
là do nghệ thuật truyền đạt của trở tạo nên sự truyền cảm, hưng phấn của những người thừa
hành đến mức độ nào.
Trong nghệ thuật truyền đạt quyết định (giao nhiệm vụ) cần lưu ý:
+ Truyền đạt nhiệm vụ phải rõ, nêu bật được những yêu cầu chủ yếu cần phải thực
hiện.
+ Nhiệm vụ phân công phải tương xứng với khả năng thừa hành của cấp dưới. Có
nghĩa là sự phân công nhiệm vụ có tính đến trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ xảo, kỹ
năng, sức khoẻ, cũng như những đặc điểm về tâm lý như tính cách, khí chất…
+ Nhiệm vụ phân công phải kích thích được những tình cảm tốt đẹp của từng cá nhân
và cả tập thể hướng vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ.
+ Phải duy trì được sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trên tình đồng chí, đồng cam cộng
khổ, chia ngọt sẻ bùi cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, khắc phục tâm lý cục bộ trong hoạt
động của từng cá nhân, từng bộ phận.
- Về phương thức truyền đạt quyết định
Người lãnh đạo cần có sự lựa chọn các hình thức truyền đạt quyết định sao cho có sự
phù hợp nhất định với những đặc điểm tâm lý của những người thực hiện. Đối với người
này có thể chỉ cần thông báo những nét cơ bản nhất trong nội dung của quyết định. Còn đối
với người khác, có thể phải hướng dẫn một cách cụ thể, chi tiết, toàn bộ ý đồ, hướng đi và
cách thực hiện các nôị dung cơ bản của quyết định, về phương thức truyền đạt quyết định,
cũng có sự khác biệt mà người lãnh đạo cần phải quan tâm. Ví dụ như đối với người này thì
có thể nói ngắn gọn, khái quát, khêu gợi cách thực hiện sáng tạo nhiệm vụ. Còn đối với
người kia có thể phải nói cụ thể từng điểm một cùng các yêu cầu cần đạt tới.
Dù phương thức truyền đạt có khác nhau, song về cơ bản phải đảm bảo cho những
người thừa hành hiểu rằng: Họ sẽ làm gì? Làm nhự thế nào? Việc đó được thực hiện bằng
những phương tiện gì? Trong điểu kiện nào? Quy trình hành động ra sao? Do ai thực hiện?
Việc thực hiện đó sẽ dẫn tới kết quả nào? Đặc biệt đối với các nhiệm vụ quan trọng cần phải
tiến hành trang trọng và thưc sự nghiêm túc. Một vấn đề tâm lý nữa ở đây là người LĐ-QL
phải lưu ý cho cấp dưới cả những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm na
vụ, đồng thòi phải chuẩn bị tốt về tâm lý cho cấp dưới tạo nên tâm thế sẵn sàng thực hiện
tốt nhất các nhiệm vụ được giao.
Lưu ý: Trong quá trình truyền đạt nhiệm vụ người LĐ-QL cần hết sức tránh sự biểu
hiện cảm xúc không phù hợp, không đúng chỗ. Thái độ quá vui mừng hoặc quá lo lắng của
người LĐ-QL có thể gây nên sự lạc quan tếu, hay sự do dự nghi ngờ về việc thực hiện
quyết định của những người dưới quyền.
- Người LĐ-QL khi truyền đạt nhiệm vụ phải biết tác động mạnh vào hệ động cơ của
người dưới quyền hướng vào việc thực hiện nhiệm vụ một cách hứng thú và có trách nhiệm,
Các động cơ cần tác động bao gồm:
+ Động cơ chính trị - tư tưởng nói chung liên quan đến trách nhiệm chính trị của cấp
dưới, đến niềm tự hào cần phải thực hiện tốt nhiệm vụ vì sự nghiệp báo vệ Tổ quốc.
+ Động cơ hoạt động nghề nghiệp: Thực tiễn cho thấy mỗi một con người đều có nhu
cầu “tự khẳng định” nhu cầu được hoạt động trên một lĩnh vực nào đó. Những nhu cầu đó
chỉ có thể được thỏa mãn khi họ ý thức được lợi ích của hoạt động, sản phẩm mà họ sẽ tạo
ra, cũng như những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo sẽ được hình thành ở mỗi cá nhân trong quá
trình hoạt động nghề nghiệp. Do đó để tạo ra động cơ này người lãnh đạo phải biết tổ chức
hoạt động hợp lý, đưa cấp dưới vào hoạt động phù hợp với khả năng chuyên môn của mỗi
người, tạo điều kiện cho họ được học tập, rèn luyện trưỏng thành về mọi mặt.
+ Động cơ hoạt động vì tập thể (vì thành tích, uy tín của tập thể): Người lãnh đạo có
thể tác động vào những động cơ này bằng nhiều hình thức, chẳng hạn như: tổ chức thảo
luận trong tập thể để tìm cách thực hiện tốt nhất nhiệm vụ được giao, phát động thi đua vì
thành tích chung của cả đơn vị, giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống, tổ chức
các hoạt động lôi cuốn đông đảo mọi người tham gia..
+ Động cơ vì lợi ích cá nhân cũng cần được khuyến khích phát triển nhất là cảc động
cơ liên quan đến nhu cầu chính đầng của cá nhân. Chẳng hạn như sự mong muôn lập thành
tích, lập công để chứng tỏ năng lực của cá nhân trước tập thể, trước lãnh đạo đơn vị. Muôn
có cống hiến, sáng tạo để khắng định uy tín của mình đối vói bạn bè, đồng nghiệp...
Người LĐ-QL không nên có định kiến với những động cơ loại này mà cần quan tâm,
tạo điều kiện phát triển theo hướng tích cực nhằm động viên, khuyến khích phát huy mọi
khả năng tiềm tàng của mỗi cá nhân cống hiến cho sự nghiệp chung.
Lưu ý: Trong quá trình triển khai thực hiện quyết định có thể gặp phải một số yếu tố
cản trở về tâm lý như sau:
+ Thứ nhất: Đó là sức ỳ về thói quen: Một quyết định mới ban hành va đưa vào thực
hiện, dù ít hay nhiều cũng chứa đựng những nhân tố mới, nhất là những quy định về sự thay
đổi quy chế, thay đổi quy trình làm việc của tập thể. Việc đưa những quyết định này vào
thực hiện, có thể sẽ làm đảo lộn nếp suy nghĩ của những người quen làm việc theo quy chế
cũ. Vì vậy việc thực hiện nó, thường gặp phải những sự chống đối về tâm lý của bản thân
những người thừa hành, tâm lý muốn duy trì theo thói quen đã được định hình sẵn.
+ Thứ hai: Đó là sự chậm trễ nắm bắt tư tưởng mới. Có nghĩa là một khi quyết định
đựợc ban hành và được đưa vào thực hiện, những người thừa hành lần đầu tiếp nhân nên
còn bỡ ngỡ. Để hiểu được tư tưỏng chủ đạo của quyết định, nắm bắt được nhiệm vụ qủạ bản
thân, hay của tập thể, cần phải có quá trình nghiên cứu, tìm tòi, suy xét, tiếp cận và: làm
quen.
c. Động viên cổ vũ cấp dưới thực hiện quyết định
Động viên, cổ vũ, khuyến khích cấp dưới thực hiện quyết định được tiến hành đồng
thời với quá trình truyền đạt nhiệm vụ. Thực chất của quá trình này là bằng cách áp dụng hệ
thống các biện pháp giáo dục va tổ chức, có mục đích rõ ràng, nhằm xây dựng bầu không
khí tâm lý tích cực trong tập thể hướng vào việc thực hiện thắng lợi quyết định đề ra.
Các biện pháp động viên, cổ vũ việc thực hiện quyết định chính là nhằm tiếp tục tác
động vào hệ thống động cơ, nhu cầu, tình cảm của mỗi cá nhân và tập thể. Để làm tốt vấn
đề này người LĐ-QL cần phải chú ý tối một số khía cạnh tâm lý sau đây:
- Thứ nhất: Người LĐ-QL cần phải làm tốt các công tác động viên về tư tưởng, giải
thích cho cấp dưới hiểu rõ mối quan hệ giữạ nhiệm vụ được giao với ý nghĩa chính trị - xã
hội của nó, làm cho mọi người nhận thức đầy đủ về vai trò vị trí của nhiệm vụ mà mình
thực hiện. Trên cơ sở đó mà xây dựng động cơ hoạt động đung đắn, thúc đẩy cấp dưới say
mê với công việc, hết lòng vì nhiệm vụ chung.
- Thứ hai: Có nhiều hình thức để góp phần động viên, kích thích cấp dưới như: thi
đua, khen thưởng và xử phạt kịp thời. Cần quan tâm đúng mức đến sự động viên, kích thích
bằng phần thưỏng vật chất (bảo đảm công bằng, dân chủ), về mặt tinh thần, cần tạo lập
được bầu không khí tâm lý lành mạnh vui tươi, thoải mái, xây dựng mối quan hệ qua lại tốt
đẹp trong tập thể trên cơ sở tin cậy và tôn trọng lẫn nhau. Theo định kỳ cần có sự tổng kết
việc thực hiện quyết định nhằm biểu dương, khen thưỏng kịp thời gương người tốt, việc tốt,
kích thích phong trào thi đua chung trong đơn vị.
- Thứ ba: Việc kích thích quá trình thực hiện quyệt định sẽ luôn được xem xét trong
mối quan hệ hữu cơ với việc kiểm tra, đánh giá chết lượng, hiệu quả của việc tổ chức thực
hiện cũng như khâu lựa chọn người thừa hành và khâu truyền đạt quyết định. Các giai đoạn
của việc tổ chức thực hiện quyết định này đều có mối liên hệ lôgíc vói nhau và đều cần thiết
như nhau, không thể thiếu được một khâu nào cả. Thanh tra - kiểm tra được coi là một
phương thức cần thiết, bảo đảm cho việc thực thi một cách hợp lý các quyết định của người
LĐ-QL. Năng lực đề ra quyết định cũng như khả năng chỉ đạo việc thực hiện quyết định
được hình thành, phát triển trong quá trình hoạt động - giao tiếp của người LĐ-QL. Vì vậy,
sự rèn luyện thường xuyên các phẩm chất nhân cách của người lãnh đạo là một điều kiện,
phương tiện tâm lý quan trọng quy định một cách trực tiếp chất lượng, hiệu quả của việc ra
quyết định cũng như việc tể chức thực hiện nó.
4.3. Những vấn đề tâm lý trong kiểm tra, đánh giá, bổ sung, điều chỉnh quyết định
a. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quyết định
- Kiểm tra giữ vai trò đặc biệt trong số những biện pháp thực hiện quyết định. Nó là
một trong những yêu cầu đối vối hoạt động của người LĐ-QL đồng thời cũng là một biện
pháp động viên, khuyến khích người thừa hành thực hiện quyết định.
Công tác kiểm tra giúp cho người LĐ-QL kịp thời phát hiện và uôn nắn những
biểu hiện lệch lạc của người thừa hành, để hoạt động đi đúng hướng, kịp thời phát hiện
những khó khăn và những vấn để nảy sinh cản trỏ quá trình thực hiện nhiệm vụ.
- Cơ sở cho kiểm tra là những đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ phát triển cũng như
hoạt động nhận thức của người LĐ-QL đối với diễn biến của quá trình thực hiện nhiệm vụ
của người thừa hành. Đặc điểm tâm lý của quá trình nhận thức đó, một mặt phụ thuộc vào
tâm trạng của bản thân người tiến hành kiểm tra, mặt khác phụ thuộc vào tâm lý của đối
tượng kiểm tra, vào đặc điểm riêng của mỗi công việc cụ thể.
Hoạt động kiểm tra có ba chức năng:
Thứ nhất: Chức năng liên hệ ngược: Giúp cho người LĐ-QL nắm được những thông
tin chính xác về quá trình thực hiện quyết định của người thừa hành cả về số lượng và chất
lượng.
Thứ hai: Chức năng định hướng hoạt động: Là chức năng hưống dẫn hoạt động của
người thừa hành nhằm vào các lĩnh vực chủ yếu của nhiệm vụ chung. (Tuy nhiên, công tác
kiểm tra phải được tiến hành trên tất cả các mặt hoạt động, theo một kế hoạch thống nhất
đối với tất cả các đối tượng không bỏ qua một vấn đề nào).
Thứ ba: Chức năng động viên, khuyến khích: Quá trình kiểm tra giúp người LĐ-QL
đánh giá đúng mức độ ưu điểm, khuyết điểm của những người thừa hành, có thái độ khen
ngợi hay phê phán, khiển trách. Thái độ đồng tình của người LĐ-QL có tác dụng khích lệ
rất đáng kể đối với cấp dưới. Ngay cả khi người LĐ-QL phê bình, khiển trách cấp dưới vì
những hành động, hay kết quả hoạt động không tốt nếu sự phê bình đó là chân tình, xác
đáng, có chỉ dẫn phương hướng khắc phục và bày tỏ sự tin tưởng vào khả năng sủa chữa
của người mắc khuyết điểm cũng có tác dụng động viên, khích lệ sự đồng tình ủng hộ của
chính ngay những người mắc sai lầm khuyết điểm.
b. Bổ sung, điều chỉnh việc thực hiện quyết định
Một mục đích nữa của kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quyết định là nhằm đi đến
quyết định bổ sung, điều chỉnh việc thực hiện quyết định đã đề ra. Cần lưu ý là bổ sung,
điều chỉnh các quyềt định đã có không chỉ đơn thuần là do các quyết định được đề ra có
khiếm khuyết nào đó mà còn có thể do cần nâng cao, cụ thể hơn nữa các quyết định đã ban
hành, nâng cao hơn nữa hiệu lực của LĐ-QL. Quá trình này đòi hỏi người LĐ-QL phải biết
tập trung ý thức vào việc phân tích các thông tin ngược, những ý kiến, dư luận, tâm trạng
của tập thể trước tất cả những vấn đề của quyết định và của việc thực hiện, nó cũng như
những kinh nghiệm - bài học sẽ được rút ra từ đó, làm cơ sở cho việc bổ sung, điều chỉnh và
xa hơn triển khai thực hiện tiếp các quyết định sau này. Thực hiện công tác LĐ-QL ở đơn vị
cơ sở luôn yêu cầu người LĐ-QL phải thực hiện nhiều quyết định một cách đồng thời, mà
mỗi quyết định lại có những yêu cầu riêng về nội dung và thời hạn thực hiện. Do vậy đòi
hỏi người LĐ-QL phải có sự phát triển cao về tư duy LĐ-QL, nhằm đảm bảo đựợc tính trí
tuệ trong quá trình chỉ đạo.
Nguyên nhân dẫn đến sự điều chỉnh này có thể do tình hình nhiệm vụ đã có sự thay
đổi, hoặc do việc thực hiện quyết định còn có những yếụ kém - những hạn chế nào đó, nhân
lực - vật lực - tài lực được dùng trong việc thực hiện quyết định đã có sự thay đổi, hoặc do
nội dung chính của quyết định cũng có những hạn chế, thiếu đầy đủ và đúng đắn.
Do vậy một khi quyết định đã không còn có tác dụng tích cực đối với tiến trình LĐQL nữa, người lãnh đạo chỉ huy đơn vị có thể và cần phải thay đổi hoặc bãi bỏ nó. Để thực
hiện vấn để này yêu cầu người LĐ-QL phải có ý thức trách nhiệm cao, lương tâm đạo đức
nghề nghiệp trong sáng, không thể vì sợ mất thể diện với cấp dưới mà không dám bãi bỏ
một quyết định nào đó của chính mình một khi nội dung của nó đã không còn phù hợp nữa.
Mặt khác, mỗi quyết định cần được điều chỉnh, bổ sung, yêu cầu người LĐ-QL phải hết sức
thận trọng, huy động tối đa các phẩm chất tâm lý của cá nhân để suy nghĩ, cân nhắc đảm
bảo tính chính xác của những thay đổi cần bổ sung điều chỉnh. Để làm được việc này, người
LĐ-QL có thế tiến hành một cuộc họp trong tập thể LĐ-QL hoặc với những người có trách
nhiệm thực hiện quyết định, trao đổi toàn diện và dân chủ về những vấn đề có liên quan đến
việc điều chỉnh, bổ sung quyết định. Quá trình này là cần thiết tiến tới thống nhất ý kiến
đánh giá về kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế thiếu sót cùng các nguyên nhân
của hiện trạng này.
Dựa trên cơ sở đó người lãnh đạo sẽ tiến hành đôn đốc tiếp việc thực hiện quyết định,
đảm bảo cho tiến trình thực hiện quyết định được hiện thực hoá.
Cần đặc biệt lưu ý rằng việc ra quyết định đã khó thì việc đề xuất ý kiến bổ sung điều
chỉnh việc thực hiện quyết định (vì thực chất là một quyết định mới, chất lượng cao hơn) lại
càng có khó khăn phức tạp hơn nhiều đòi hỏi những nỗ lực lớn cùng tinh thần trách nhiệm
rất cao của người LĐ-QL mới thực hiện có hiệu quả.
Câu 5: Phẩm chất nhân cách cần thiết của người LĐ-QL? Con đường hình thành,
phát triển nhân cách của người LĐ-QL?
Nhân cách là tổng hoà các phẩm chất xã hội của con người, được cá nhân lĩnh hội và
biểu hiện trong hoạt động và giao tiếp, thông qua đó phản ánh giá trị xã hội và tư cách của
cá nhân trong cộng đồng. Nhân cách tồn tại ở từng con người cụ thể, nó vừa phản ánh
những đặc điểm chung của dân tộc, giai cấp, nghề nghiệp, địa phương mà con người đó là
thành viên, vừa chứa đựng những đặc điểm riêng, nảy sinh từ sự khác nhau về đặc điểm tâm
sinh lý, về điều kiện tiếp thu sự giáo dục, về môi trường xã hội và sự tích luỹ kinh nghiệm
hoạt động thực tiễn… của mỗi cá nhân. Dưới góc độ TLH LĐ-QL, nhân cách người LĐ-QL
là một kiểu nhân cách xã hội đặc thù, là tổ hợp những đặc điểm, những phẩm chất tâm lý ổn
định tạo nên 2 mặt Đức - Tài nhằm bảo đảm cho người LĐ-QL đạt được hiệu quả trong hoạt
động khi thực hiện vai trò xã hội của mình.
Cấu trúc nhân cách gồm: Nhóm phẩm chất chính trị, tư tưởng; Nhóm phẩm chất đạo
đức, tư cách, lối sống (thái độ, hành vi); Nhóm phẩm chất công tác: trình độ, năng lực (hiệu
quả thực hiện nhiệm vụ).
5.1. Phẩm chất nhân cách cần thiết của người LĐ-QL
a. Phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức
Đây là phẩm chất cần có trước tiên đối vối những người LĐ-QL. Là cán ở cương vị
LĐ-QL phải biểu hiện mình là người có tính Đảng cao, có lập trường tư tưỏng vững vàng,
luôn biểu hiện sự nhất trí, tin tưởng và kiên định với mọi đường lối chủ trương chính sách
cửa Đảng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh.
Người LĐ-QL phải là người thể hiện trách nhiệm chính trị cao trước Đảng và nhân
dân, tính nguyên tấc cộng sản trong hành vi và hoạt động của bản thân, tấm gương đạo đức
mẫu mực trong sáng để cấp dưới bắt chước, noi theo.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cũng nhấn mạnh: “cán bộ của thời kỳ
mới phải là những người có phẩm chất chính trị vững vàng, trung thành với lý tưởng cách
mạng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có trình độ chuyên môn và
năng lực thực tiễn, có ý thức tổ chức kỷ luật, gương mẫu trong đạo đức và lối sông; tóm lại
là phải có đủ đức và tài, trong đó đức là gốc”.
b. Trình độ chuyên môn nghiệp nghiệp vụ
Người LĐ-QL phải là người thông thạo chuyên môn nghiệp vụ mà mình phụ trách.
Có tính khoa học trong lãnh đạo, tác phong cụ thể, tỉ mỉ, thận trọng khi ra quyết định. Công
việc LĐ-QL đơn vị tất yếu đòi hỏi ở người LĐ-QL phẩm chất này.
Tính khoa học trong lãnh đạo đòi hỏi phải có luận cứ trong việc xác định mục tiêu,
nội dung LĐ-QL phù hợp với nhiệm vụ được giao và tình hình thực tiễn cụ thể của đơn vị
mình; khoa học trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, các chỉ thị nghị quyết của cấp trên; khoa
học trong sử dụng các hình thức, phương pháp, phương tiện lãnh đạo. Người có tính khoa
học trong LĐ-QL hiện nay còn là người am hiếu rộng rãi về nhiều kiến thức khoa học hiện
đại khác nhau, đặc biệt là các khoa học liên ngành, đồng thòi lại phải có hiểu biết sâu sắc về
chuyền môn mình phụ trách.
Trong điều kiện hiện nay, vì mục đích nâng cao hiệu lực của người LĐ-QL thì các
cán bộ chủ trì các đơn vị cần nắm vững các kiến thức xã hội học, tâm lý học nói chung cũng
như tâm lý học LĐ-QL nói riêng. Người LĐ-QL lại cần phải am hiểu cả các kiến thức về
khoa học toán học, tin học... Tác phong cụ thể, tỉ mỉ, thận trọng khi ra quyết định là tác
phong không thể thiếu được của người LĐ-QL. Nó sẽ giúp cho người LĐ-QL khắc phục
được bệnh quan liêu, giấy tờ, chủ nghĩa hình thức trong lãnh đạo, chỉ huy. Thận trọng cân
nhắc, tính toán kỹ các tình huống, điều kiện đặc điểm tâm lý và khả năng thực hiện mệnh
lệnh của cấp dưới sẽ giúp cho người LĐ-QL đề ra được các quyết định chính xác.
c. Tính đòi hỏi cao, nhất quán, quyết đoán
Đây là một phẩm chất quan trọng của các cán bộ làm nhiệm vụ LĐ-QL. Trong mọi
trường hợp người LĐ-QL cần đòi hỏi cao ở cấp dưới để tăng tinh thần trách nhiệm trước công
việc cho cấp dưới, buộc cấp dưới phải cố gắng hết sức mình trong việc thực hiện nhiệm vụ.
Tính nhất quán trong lãnh đạo sẽ làm cho toàn bộ hệ thống thuộc quyền lãnh đạo, chỉ
huy của người LĐ-QL vận hành thống nhất, tạo nên sức mạnh và lòng tin của cấp dưới,
đồng thời kích thích tính sáng tạo ở họ. Nhiều nghiên cứu thực tiễn cũng đã xác nhận là cấp
dưới bao giờ cũng rất sợ cấp trên của mình không nhất quán trong các chủ trương biện pháp
LĐ-QL, vì điều này làm mất đi khả năng sáng tạo của cấp dưới, cản trở cho việc chủ động
thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Người LĐ-QL rất cần phải có thái độ dám nghĩ, dám làm. Tự gò bó trong khuôn khô
của một số quy định hạn hẹp nào đó, không có thái độ chủ động tìm tòi, dám nghĩ, dám
hành động nhằm đem lại kết quả nhiều hơn, tốt hơn trong công việc do mình phụ trách đặc
biệt là trong điều kiện hiện nay là điều không thể chấp nhận được. Người LĐ-QL lại còn
phải là người quyết đoán dám chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp dưới về các quyết định
của mình trong điều hành các công việc của hoạt động LĐ-QL. (đặc biệt là trong hoạt động
chiến đấu).
d. Tính tập thể và phong cách lãnh đạo dân chủ
Có được phẩm chất này, người LĐ-QL dễ tránh được sai lầm trong khi ra quyết định,
đồng thời giúp cho việc củng cố uy tín của chính họ một cách thuận lợi. Ở đây, rất cần
chống cả hai thái độ:
- Một là, dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể để dễ dàng trốn tránh trách nhiệm cá nhân.
- Hai là, việc đưa ra bàn bạc trong tập thể lãnh đạo chỉ là hình thức, thiếu chuẩn bị
chu đáo và trên thực tế, không huy động được năng lực của các chuyên gia giỏi, sáng kiến
kinh nghiệm của cấp dưới. Trong trường hợp này hiệu lực của quản lý, chỉ huy lãnh đạo sẽ
vô cùng thấp và không có sức mạnh.
Trong điều kiện hiện nay, người LĐ-QL phải rèn cho mình có được phong cách dân
chủ, luôn luôn biết quan tâm đến cuộc sống vật chất và tinh thần của cấp dưới, biết tính đến
nhu cầu, lợi ích chính đáng của cấp dưới, biết lắng nghe các ý kiến khác nhau của cấp dưới
và mạnh dạn có những điều chỉnh phù hợp trong các chủ trương, chính sách, quy định, chế
độ cụ thể... nhằm làm cho hoạt động LĐ-QL ngày càng có hiệu quả.
e. LĐ-QL là một nghệ thuật, vì vậy tất yếu đòi hỏi ở người LĐ-QL phải có nghệ thuật
LĐ-QL giỏi
Nghệ thuật LĐ-QL là một lĩnh vực hết sức phức tạp, cho đến nay có khá nhiều sách,
báo, tạp chí đề cập đến nó. Nghệ thuật LĐ-QL có liên quan trực tiếp đến các loại hình hoạt
động khác nhau. Với mỗi một lĩnh vực cụ thể đòi hỏi những yêu cầu về nghệ thuật LĐ-QL
khác nhau.
- Nghệ thuật thu hút người khác. Người LĐ-QL giỏi phải là người biết thu hút cấp
dưới hăng hái tham gia vào guồng máy hoạt động chung do mình điều khiển, thu hút người
khác bằng chính uy tín và năng lực của người chỉ huy, quản lý, lãnh đạo, cũng như bằng
tính đòi hỏi cao với công việc, làm cho cấp dưới tăng trách nhiệm cá nhân, dồn hết sức lực
và tâm trí vào việc thực hiện tốt nhất và có sáng tạo nhiệm vụ được giao.
- Nghệ thuật ra quyết định cũng là một đòi hỏi quan trọng đối với người LĐ-QL. Nhà
LĐ-QL cần hết sức tránh việc ra quá nhiều các quyết định lẻ tẻ, vụn vặt vì việc làm này sẽ
gây rối bận, làm ức chế tâm lý của cán bô, chiến sĩ dưới quyền, lậm mất khả năng hành
đọng sáng tạo của cấp dưới.
- Nghệ thuật giao nhiệm vụ. Giao nhiệm vụ cho cấp dưới phải làm sao cho cấp dưới
phấn khỏi, sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ và thực hiện sáng tạo nhiệm vụ đó. Thực hiện được
tốt vấn đề này là cả một nghệ thuật.Ở đây đòi hỏi người LĐ-QL phải cân nhắc, tỉnh đến đặc
điểm tâm lý của người thừa hành và không được chủ quan, đơn gỉản. Tuỳ từng yêu cầu,
điều kiện, hoàn cảnh khác nhau mà việc giao nhiệm vụ khác nhau.
- Nghệ thuật cụ thể hoá nhiệm vụ trong nhiểu trường hợp lại giữ vai trò quan trọng
trong cả tiến trình thực hiện các quyết định đã nêu ra. Cụ thể hóa nhiệm vụ không tốt sẽ
sinh ra rối bận cho dưới. Nhiều khi quyết định để ra rất đúng dắn, kịp thời, nhưng không ai
bắt tay vào thực thi cũng chỉ vì quyết định đó thiếu được cụ thể hoá một cách kỹ lưỡng, sinh
ra tâm lý trông chờ nhau, ỷ lại vào nhau. Hoá ra quyết định nêu ra rất hay, nhưng chỉ có ý
nghĩa trên giấy tờ. Đây là điều LĐ-QL các cấp nên hết sức tránh.
- Nghệ thuật động viên cấp dưới là một đòi hỏi không thể thiếu được đôi với bất kỳ
một người LĐ-QL nào. Do đó, người LĐ-QL phải biết tiến hành giỏi việc động viên cấp
dưới: khích lệ các tấm gương sẵn sàng nhận nhiệm vụ nơi khó khăn, các công việc phức
tạp, có sáng kiến, sáng tạo trong thừa hành nhiệm vụ, các tấm gương hăng hái miệt mài
trong học tập huấn luyện, trong lao động xây dựng đơn vị. Trong công việc này, người LĐQL phải biết linh hoạt sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, chẳng hạn như biểu dương,
cổ vũ của người thủ trưởng qua điện thoại; nhắc tên và chiến công đã đạt được trưóc toàn
đdn vị, hoặc trong hội nghị cán bộ, quà khen thưỏng đặc biệt...
- Là người LĐ-QL lại còn phải giỏi trong việc kiểm tra, phát hiện, uốn nắn và tiến
hành điều chỉnh kịp thời hành vi và hoạt động của cấp dưới. Đặc biệt là trong tình hình hiện
nay, trong điều kiện của nền kinh tế thị trưòng, năng lực lao động sáng tạo của cấp dưới có
điều kiện được phát huy đến mức tối đa thì việc kiểm tra, phát hiện để có những tác động
uốn nắn, điều chỉnh kịp thời từ phía chỉ huy lãnh dạo là điều vỗ cùng cần thiết.
f. Tác phong và quan điểm quần chúng, hết lòng đoàn kết mọi người vì tập thể, vì sự
nghiệp chung
Trước hết, người LĐ-QL phải là ngưòi khiêm tốn, giản dị, lịch thiệp, tế nhị trong
hành vi giao tiếp. Nhờ thái độ khiêm tốn, giản dị mà quần chúng dễ gần với lãnh đạo, chỉ
huy, Thái độ lịch thiệp, tế nhị trong xử sự làm cho quần chúng mến phục, tin tưởng.
Ngưòi LĐ-QL phải có thái độ tôn trọng, biết học hỏi cấp dưới. Quần chúng vốn có
những tiềm năng sáng tạo to lớn. Một thái độ như thế của người chỉ huy sẽ dễ dàng giúp cấp
dưới hành động sáng tạo đem lại những đóng gốp to lớn cho tập thể.
Người LĐ-QL phải hết sức lưu ý, không được xem thường các ý kiến mà thoáng qua
cảm thây dường như có cái gì vô lý hoặc không đúng. Hãy lắng nghe đẩy đủ các ý kiến của
cấp dưới và đừng bao giờ ngắt lời họ. Đừng quên rằng, có những điều “hôm nay” xem ra có
vẻ không đúng nhưng “ngày mai” rất có thể trở thành hiện thực, chân lý.
Ngưòi LĐ-QL phải biết khích lệ, khuyến khích và biết lắng nghe các ý kiến thuộc
loại này chứ không phải là các ý kiến cổ vũ, ủng hộ chung chung cho phải đạo, chỉ nói lại
những điều đã biết. Cán bộ chỉ huy lãnh đạo cần phải tăng cường đối thoại với cấp dưới để
hiểu biết đầy đủ hơn vể nhu cầu, nguyện vọng và thái độ của cấp dưới trong việc thực hiện
các quyết định mà mình nêu ra, để có tác động điểu chỉnh phù hợp nhất.
Người LĐ-QL còn phải thể hiện mình là người luôn luôn sâu sát cấp dưới, có thái độ
thực sự quan tâm bồi dưỡng cấp dưới. Người LĐ-QL nào làm tốt điều này sẽ dễ dàng thu
phục quần chúng về phía lãnh đạo, chỉ huy.
Thái độ hết lòng đoàn kết mọi người vì tập thể, vi sự nghiệp chung của người LĐ-QL
có ý nghĩa rất quan trọng như một định hướng diều hoà cách xử sự, các mối quan hệ hàng
ngày diễn ra trong tập thể. Thái độ biết chăm lo cho đoàn kết mọi người trong tập thể sẽ xua
tan không khí nghi kỵ lẫn nhau, ảnh hưỏng xấu đến việc thực hiện nhiêm vụ chung.
5.2. Con đường hình thành, phát triển nhân cách của người LĐ-QL
Nhân cách người LĐ-QL được hình thành và phát triển trong quá trình sống, hoạt
động, đặc biệt là hoạt động LĐ-QL. Quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân
cách của người LĐ-QL chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như giáo dục, hoạt động, giao lưu
và tập thể, trong đó, giáo dục đóng vai trò chủ đạo đối với sự phát triển nhân cách.
Một là, Giáo dục và sự hình thành, phát triển nhân cách của người LĐ-QL
Thông qua giáo dục, người LĐ-QL phát triển nhân cách đúng hướng, đúng chuẩn
mực của người lãnh đạo quản lý trước nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân và tổ chức
giao cho trọng trách lãnh đạo, quản lý. Bỡi lẽ, giáo dục có thể chuẩn bị cho con người vươn
tới tương lai. Mọi danh nhân, thiên tài, các nhà lãnh đạo giỏi đều phải trải qua nhà trường…
Người LĐ-QL phải coi trọng giáo dục lý luận, chính trị, đường lối, quan điểm của Đảng,
coi trọng giáo dục đạo đức, lý tưởng cách mạng và coi trọng tự học, tự bồi dưỡng thường
xuyên cho bản thân.
Về hình thức giáo dục cần kết hợp đào tạo chính quy với các hình thức khác cho từng
loại cán bộ. Mở rộng đào tạo trong nước, đồng thời chú trọng đào tạo ở nước ngoài. Nhà
nước dành ngân sách thích đáng để cử cán bộ giỏi đi nghiên cứu và học tập ở các nước phát
triển; Khuyên khích, tạo thuận lợi cho các tổ chức, tập thể và cá nhân trong và ngoài nước
tài trợ, đưa người đi học ở nước ngoài; Kết hợp việc đào tạo tại các lớp với việc rèn luyện
qua thực tế công tác, trong lao động sản xuất, trong phong trào quần chúng. Đặc biệt chú ý
đến yếu tố tự giáo dục tự học tập, tự rèn luyện.
Hai là, Hoạt động và sự hình thành, phát triển nhân cách của người LĐ-QL
Thông qua hoạt động, nhờ hoạt động mà người LĐ-QL nhận thức thế giới nhanh chóng
hơn, nhạy bén và sâu sắc hơn, tình cảm được biểu hiện mãnh liệt hơn, ý chí kiên cường hơn...
Hoạt động hình thành ở con người tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. Giúp con người thay đổi và hoàn
thiện nhận thức và tư tưởng. Giúp con người tham gia vào việc cải tạo thế giới tự nhiên và xã
hội, tạo nên giá trị vật chất và tinh thần cho con người và xã hội và để hoàn thiện nhân cách,
người cán bộ lãnh đạo phải tham gia nhiều hoạt động.
Do vậy, không đánh giá, sử dụng cán bộ một cách cảm tính, chủ quan: Mọi phẩm giá
và bằng cấp, danh hiệu và chức vụ tài năng và công hiến đều phải được kiểm nghiệm qua
thực tiễn. Phong trào cách mạng của quần chúng là trường học lớn của cán bộ. Phải dựa vào
dân để phát hiện, kiểm tra và giám sát cán bộ.
Ba là, Giao lưu và sự hình thành, phát triển nhân cách của người LĐ-QL
Đối với người LĐ-QL, giao lưu là phương thức tồn tại và phát triển, đồng thời còn là
điều kiện của sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức và nhân cách, là phương tiện chủ
yếu gắn kết mối quan hệ với tổ chức, người dưới quyền. Nhờ có giao lưu, người lãnh đạo
nắm được tình hình ở quần chúng, biết được tâm tư, nguyện vọng, sự đánh giá của quần
chúng để có thể tự điều chỉnh mình, chỉ đạo tốt việc ra quyết định và tổ chức thực hiện tốt
việc thực hiện quyết định quản lý.
Bốn là, Tập thể và sự hình thành, phát triển nhân cách của người LĐ-QL
Họat động tập thể, tập thể là nơi tạo điều kiện cho mỗi thành viên phát triển tối đa các
đặc điểm nhân cách và phát triển năng lực của họ. Với tư cách là chủ thể quản lý, người
lãnh đạo tiến hành hoạt động quản lý thông qua con người trong tập thể và nhờ đó mà phát
triển nhân cách. Ngược lại, trong quá trình lãnh đạo - quản lý chính bản thân người lãnh đạo
lại được tập thể nhận xét, thừa nhận hay không thừa nhận. Tập thể lao động ở cơ quan, đơn
vị mình, tập thể các đoàn thể xã hội là môi trường quan trọng để các nhà lãnh đạo rèn luyện
nhân cách. Do đó người lãnh đạo cần phải đặt mình trong tổ chức, phải sinh hoạt và công tác
trong các tổ chức này với tinh thần vì Đảng, vì dân. Rèn luyện nhân cách có nghĩa là phát huy
ưu điểm và sửa chữa khuyết điểm của bản thân, trong đó tự phê bình và phê bình là con
đường rèn luyện tốt nhất.
Bên cạnh đó, để hoàn thiện và trở thành người LĐ-QL giỏi thì bài học quan trọng
nhất là trước hết phải chú ý đến yếu tố nhân tố con người. Đó là vì lợi ích nhân dân trước
nhất, đặt lợi ích và quyền lợi của tập thể lên trên cá nhân. Và phải là con người: Chính trực
- Năng lực - Tổ chức - thành thật - Tầm nhìn - chia sẽ - Nhân ái - Hổ trợ - Thời gian và có
niềm tin vao cấp dưới.
Tóm lại: Nhân cách người LĐ-QL bao gồm hai yếu tố đức và tài, đó là nhân tố quyết
định sự thành bại của Đảng ta trong chiến lược xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
Để xây dựng một đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ, thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược là xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng văn minh. Mỗi cán bộ đảng viên chúng ta phải rèn luyện nhân cách mới,
nhân cách người cán bộ quản lý đức, có tài đáp ứng đòi hỏi bức xúc của Đảng ta trên con
đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá, để xây dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa ở
nước ta theo hướng hiện đại.
Câu 6: Lý luận tâm lý học về uy tín của người LĐ-QL?
Uy tín là một vấn đề trung tâm, một phạm trù cơ bản của TLH LĐ-QL. Việc nghiên
cứu, lãm rõ những vần đề lý luận tâm lý học về uy tín của người LĐ-QL là một yêu cầu cấp
bách trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ LĐ-QL nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội.
6.1. Quan niệm về uy tín
Uy tín của người LĐ-QL là một hiện tượng tâm lý - xã hội hình thành trên cơ sở
những phẩm chất, năng lực và các giá trị xã hội của cá nhân (hay tổ chức xã hội) có sức
cảm hoá lớn, thu hút, lôi kéo người khác, được mọi người thừa nhận, tin tưởng, tuân theo.
Từ khái niệm, nội hàm của phạm trù uy tín là phải phản ánh được vấn đề cơ bản,
nhân lõi của nó, đó là “sức cảm hóa” và “lòng tin” - sự tín nhiệm. Trong đó “sức cảm hoá”
chính là nội dung của uy tín, nó chỉ ra cơ sở tiền đề của uy tín - yếu tố quyết định để tạo nên
uy tín và một khi khách thể đã bị thu hút, bị lôi kéo, thừa nhận, tin tưởng và tuân theo chủ
thể mang uy tín tức là ở khách thể đã có “lòng tin” - sự tín nhiệm đối với chủ thể. “Lòng
tin” - sự tín nhiệm là sự phản ánh khách quan sức mạnh của “sức cảm hoá”, là hình thức
biểu hiện của uy tín, từ sự thừa nhận, tin tưởng và tuân theo, làm theo...
Chúng ta cũng có thể nhìn nhận điều này theo các trình độ khác nhau. Trình độ thấp
là sự so sánh, đánh giá những khía cạnh phẩm chất, năng lực, lời nói, việc làm... của chủ thể
đi đến chỗ thừa nhận tin tưởng của khách thể đối với chủ thể. Trình độ biểu hiện cao của uy
tín đó là sự luân theo làm theo của khách thể đối với chủ thể một cách tự giác tự nguyện mà
không hề băn khoăn, thắc mắc. Sự tuân theo là kết quả của sự tác động biện chứng giữa
nhận thức, quan điểm, niềm tin và tình cảm, ý chí được củng cố thường xuyên, vững chắc.
Uy tín có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau theo nhiều cách khác nhau.
Căn cứ vào chủ thể mang uy tín là ai mà có thể chia uy tín thành các loại khác nhau:
uy tín cá nhân và uy tín nhóm (tập thể). Uy tín nhóm (tập thể), là uy tín của một nhóm (tập
thể) nào đó. Đó là sức cảm hoá của nhóm (tập thể) tạo nên sự tín nhiệm của những người,
nhóm (tập thể) người hoặc toàn xã hội. Uy tín cá nhân, là uy tín của một cá nhân cụ thể có
ảnh hướng tới người khác, tới nhóm (tập thể) người hoặc toàn xã hội.
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động và quan hệ xã hội: uy tín chính trị, uy tín đạo đức, uy
tín nghề nghiệp...
Căn cứ vào tính chất đích thực của uy tín, người ta thường phân chia uy tín ra làm hai
loại: Uy tín thực và uy tín giả.
Uy tín thực là loại uy tín được hình thành dựa trên những phẩm chất, năng lực và các
giá trị xã hội đích thực của cá nhân (hay tổ chức xã hội) gây nên sức cảm hóa thực, thu hút,
lôi cuốn người khác vào vòng ảnh hưỏng của mình.
Người có uy tín thực, tự bản thân người đó toát lên những khía cạnh phẩm chất tốt đẹp
được quần chúng thừa nhận mà không cần phải có sự “vận động” nào cả. Người có uy tín
thực, uy tín đó mới thực sự vững, bền.
Uy tín giả là loại uy tín được xây dựng không dựa trên những phẩm chất, năng lực và
các giá trị xã hội đích thực của cá nhân (hay tổ chức xã hội) mà lại được chủ thể tạo nên
bằng các thủ thuật khác nhau để lừa dốỉ, mê hoặc quần chúng, nhằm chiếm được sự ủng hộ
của quần chúng và người khác, tạo thế có lợi cho bản thân mình mà thực ra mình không
đáng có ở mức độ như vậy. Hiện tượng uy tín này nếu xuất hiện sẽ gây khá nhiều khó khăn
cho LĐ-QL, bởi tự nó đã tung ra các “hỏa mù”, làm cho quần chúng khó phân biệt đúng,
sai, phải, trái, tích cực, tiêu cực... ảnh hưỏng đến việc hình thành bầu không khí tâm lý tích
cực, lành mạnh trong tập thể.
6.2. Các nhân tố tạo thành uy tín của người LĐ-QL
Đây là một nội dung được bàn khá nhiều trong các chuyên khảo về tâm lý học LĐQL. Trên cơ sỏ cua các công trình nghiên cứu đã có, có thể chỉ ra 3 nhóm nhân tố tạo thành
uy tín của người LĐ-QL.
a. Nhóm các nhân tố thụộc về chủ thể
Người LĐ-QL muốn có uy tín, trước tiên phải có những phẩm chất tối thiểu nào đó
để quần chúng chấp nhận. Giữ vai trò hàng đầu, là:
- Phẩm chất chính trị - tư tưởng, đạo đức
Người LĐ-QL có được phẩm chất này sẽ gây được lòng tin cho ấp dưới. Bởi một lẽ
đơn giản là cuộc sống vật chất và tinh thần, sự phấn đấu tiến bộ trưởng thành, sự nghiệp
cuộc đời của quần chúng đang theo đuổi hoàn toàn thật sự yên tâm vì đã được gửi gắm vào
bàn tay (hay trách nhiệm của người LĐ-QL). Một người chỉ huy có bản lĩnh chính trị - tư
tưởng vững vàng thì người dưới quyền hoàn toàn tự tin về những điều họ đang dốc hết sức
mình cho sự nghiệp thẹo đuổi. Thực tiễn hoạt động ở đơn vị cơ sở cũng cho thấy không thể
có một người chỉ huy được quần chúng đánh giá là có uy tín khi mà người chỉ huy này lại
có những yếu kém về tư cách đạo đức.
Phẩm chất chính trị - tư tưởng, đạo đức của người chỉ huy được thể hiện rõ trong hoạt
động LĐ-QL, trong các mối quan hệ tiếp xúc chính thức và không chính thức, trong lối
sống, cách sống hàng ngày của người chỉ huy.
- Năng lực chuyên môn nghiệp vụ LĐ-QL
Năng lực chuyên môn nghiệp vụ là một tố không thể thiếu tham gia vào tạo thành uy
tín của người chỉ huy. Đó là hệ thống năng lực nghiệp vụ chung với tư cách là người chỉ
huy (khả năng dự báo, thiết kế kế hoạch, rạ quyết định thực hiện, điều hành...) đồng thời
còn là năng lực chuyện môn theo từng ngành nghề cụ thể. (Chẳng hạn, người chỉ huy đơn vị
pháo binh phải giỏi về kỹ thuật vũ khí pháo binh cũng như thành thạo về chỉ huy tác chiến,
chiến thuật pháo binh trong các điều kiện, tình huống của chiến đấu. Nếu là cán bộ chính
trị, lại còn phải có thêm năng lực thực hành công tác đảng, công tác chính trị…).
- Kỹ năng giao tiếp, quan hệ với đồng đội, cấp dưới
- Những nét tính cách đặc trưng của người LĐ-QL
Nhờ vào những nét tính cách đặc trưng của người LĐ-QL chẳng hạn: tính mẫn cảm;
quan tâm lo lắng đến cấp dưới; quảng giao; khả năng thu phục người khác; khả năng tổ
chức điều hành công việc nhanh, chính xác, hiệu quả... mà các phẩm chất chính trị - tư
tưởng đạo đức cũng như năng lực chuyên môn nghiệp vụ quân sự được biểu hiện rõ, phát
huy tác dụng, tham gia tích cực vào việc tạo thành uy tín của người LĐ-QL đối với thuộc
quyền. Trong nhiều trường hợp, nhờ có những phẩm chất này mà các khiếm khuyết về năng
lực điều hành của người LĐ-QL được quần chúng thông cảm tha thứ, bỏ qua.
- Uy tín của nhà lãnh đạo - quản lý có liên quan đến uy tín của cả đơn vị. Kết quả
hoạt động của cả đơn vị là hiệu quả trực tiếp của hoạt động lãnh đạo - quản lý của ngưòi chỉ
huy. Không thể có một người chỉ huy có uy tín khi mà hiệu quả hoạt động của đơn vị do
người chỉ huy phụ trách lạỉ đạt ở mức độ thấp.
Ngoài các nhân tố trên, uy tín của người LĐ-QL còn chịu sự quy địn bởi: Vị thế xã hội
của chủ thể và Kinh nghiệm, vốn sống, tuổi tác, sức khỏe của chủ thể.
b. Nhóm các nhân tố thụộc về khách thể
Tham gia vào việc tạo thành uy tín của người LĐ-QL còn có nhóm các nhân tố thuộc
về khách thể, tức là các nhân tố thuộc đối tượng của LĐ-QL. Thuộc vào nhóm này có:
- Trình độ nhận thức chính trị - tư tưởng của cả tập thể. Một tập thê có trình độ nhận
thức chính trị - tư tưởng phát triển tốt là điều kiện thuận lợi giúp cho tập thể đó dễ dàng
nhìn nhận phán xét đúng đắn các vấn đề xảy ra trong đơn vị, dễ dàng có thái độ tích cực
trong xây dựng uy tín cho người chỉ huy đơn vị.
- Bầu không khí tâm lý tích cực lành mạnh trong tập thể của đơn vị giúp cho việc dễ
dàng hướng các nỗ lực chung của cả tập thể vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được
giao, mệnh lệnh chỉ thị của người chỉ huy, tạo điểu kiện thuận lợi hỗ trợ cho việc khẳng
định uy tín của người chỉ huy.
- Truyền thống của đơn vị có ý nghĩa như nguồn lực động viên, khích lệ cho người
chỉ huy và cả đơn vị biết chủ động vượt qua khó khăn hăng say nỗ lực phấn đấu cho sự
nghiệp đang thực hiện và do vậy ảnh hưởng không nhỏ tới tạo thành uy tín của người chỉ
huy. Sẽ là khó khăn cho những người LĐ-QL nào phải đảm nhiệm LĐ-QL một đơn vị với
truyền thống nghèo nàn hoặc mắc phải nhiều khuyết điểm, hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ
thấp.
- Uy tín của tập thể cũng là một nhân tố liên quan ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của
người chỉ huy đơn vị. Thực tế cũng cho thấy không thể có một người chỉ huy có uy tín trong
một tập thể chỉ huy kém, hiệu quả LĐ-QL thấp, mất uy tín. Điều này cũng cho ta thấy việc
xây dựng uy tín cho người chỉ huy phải gắn với việc xây dựng uy tín của cả tập thể chỉ huy
đơn vị.
- Sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của cấp trên. Việc tạo điều kiện thuận
lợi cả về tinh thần và vật chất của cấp trên đối với cấp dưới có một ý nghĩa không nhỏ trong
việc tạo dựng uy tín của người LĐ-QL cấp dưới. Trong nhiều trường hợp, sự quan tâm này
có một vị trí đặc biệt khi mà cần phải thay thế, điều chỉnh thuyên chuyển, sắp xếp lại những
người LĐ-QL dưới quyền nhằm thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ đã được giao.
- Tác động tích cực của môi trường xã hội. Đây là các nhân tố có ý nghĩa không kém
phần quan trọng, đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi mà mối quan hệ đoàn kết quân dân,
gắn bó khăng khít giữa các đơn vị quân đội với chính quyền địa phương cùng hướng nỗ lực
chung vào các nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có một ý nghĩa mang tính chiến lược.
Thuộc vào nhóm các nhân tố này, có:
+ Trình độ nhận thức chính trị - tư tưởng của nhân dân khu vực
+ Định hướng giá trị xã hội chung của toàn xã hội và của riêng khu vực đơn vị
+ Sự quan tâm giúp đỡ ủng hộ của chính quyền, đoàn thể, quần chúng nhân dân trong
địa bàn.
6.3. Con đường hình thành, củng cố uy tín của người LĐ-QL
- Phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện xứng đáng với chức trách, nhiệm vụ được
giao.
- Nâng cao trình độ nhận thức, giác ngộ chính trị, xây dựng tập thể vững mạnh.
- Chăm lo, bồi dưỡng, tạo điều kiện LĐ-QL cho cấp dưới là nhân tố thuận lợi củng cố
úy tín cho cán bộ LĐ-QL.
- Đấu tranh loại bỏ uy tín giả, khắc phục sự giảm sút uy tín.
Câu 7: Nghệ thuật lãnh đạo của người LĐ-QL?
Hoạt động lãnh đạo – quản lý là một hoạt động vốn phức tạp đòi hỏi chủ thể của nó
(người lãnh đạo-quản lý, người chỉ huy) muốn lãnh đạo-quản lý đơn vị thành công phải có
uy tín và rộng hơn là phải có đầy đủ những phẩm chất nhân cách cần thiết của nhà lãnh đạoquản lý.
Nhân cách là tổng hòa các phẩm chất xã hội, được cá nhân lĩnh hội trong hoạt động
và giao tiếp, phản ánh giá trị xã hội của cá nhân trong cộng đồng.
Nhân cách của người lãnh đạo - quản lý có ý nghĩa vô cùng to lớn trước đòi hỏi tất
yếu người lãnh đạo - quản lý phải có uy tín trước cấp dưới; phải đáp ứng nhất định về mức
độ phát triển nhân cách của người chủ trì, chỉ huy đơn vị về phẩm chất và năng lực theo đòi
hỏi của Đảng Cộng sản Việt Nam, về đức và tài theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Những đòi hỏi chung về đức (phẩm chất) và tài (năng lực) của người lãnh đạo - quản
lý đã được nhiều công trình nghiên cứu tâm lý học nói chung, tâm lý học quân sự nói riêng
xác định:
Về đức (phẩm chất): nổi lên hàng đầu là bản lĩnh chính trị, lòng trung thành, sẵn sàng
bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; có tư duy chính trị nhạy bén, nắm vững tâm
trạng chính trị của quần chúng để có biện pháp giáo dục kịp thời...
Về tài (năng lực) thể hiện ở sự thành thạo về chuyên môn theo chức trách, nhiệm vụ;
có năng tổ chức điều hành của nhà lãnh đạo - quản lý thể hiện trong việc ra quyết định, tổ
chức thực hiện quyết định, khả năng điều hành nhịp nhàng các hoạt động của tập thể; có
khả năng xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá việc thực hiện
kế hoạch, có óc suy xét sâu sắc, tính sáng tạo, kiên trì, tự chủ...
Ngày nay, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì những đòi hỏi về phẩm chất nhân cách
của người lãnh đạo - quản lý phải ở mức độ cao hơn, đa dạng, phong phú và cụ thể hơn, thể
hiện ở các khía cạnh sau:
Một là, người lãnh đạo - quản lý phải có phẩm chất chính trị - tư tưởng - đạo đức cao
đáp ứng cho sự nghiệp đổi mới của Đảng trong phạm vi công việc và chức trách được giao
phó
Hai là, người lãnh đạo - quản lý phải là người thông thạo chuyên môn nghiệp vụ quân
sự mà mình phụ trách, có tính khoa học trong lãnh đạo, tác phong cụ thể, tỉ mỉ, thận trọng
khi ra quyết định
Ba là, tính đòi hỏi cao, tính nhất quán, dám nghĩ, dám làm, quyết đoán trong lãnh đạo
- quản lý.
Bốn là, người lãnh đạo - quản lý phải có tính tập thể và phong cách dân chủ trong
lãnh đạo - quản lý.
Năm là, lãnh đạo - quản lý là một nghệ thuật, vì vậy tất yếu đòi hỏi nhà lãnh đạo quản lý phải có nghệ thuật lãnh đạo - quản lý giỏi.
Sáu là, người lãnh đạo - quản lý phải có tác phong và quan điểm quần chúng, hết lòng
đoàn kết mọi người vì tập thể, vì sự nghiệp chung.
Phân tích phẩm chất “nghệ thuật lãnh đạo-quản lý” của người lãnh đạo-quản lý
Nghệ thuật của người lãnh đạo - quản lý trong tập thể thể hiện trên một số nội dung:
- NT thu hút người khác. Người lãnh đạo – quản lý giỏi phải là người biết thu hút
những người thuộc quyền hăng hái tham gia vào guồng máy hđ chung do mình điều khiển,
thu hút người khác bằng chính uy tín và năng lực của người chỉ huy, quản lý, lãnh đạo, cúng
như bằng tính đòi hỏi cao với công việc, làm cho cấp dưới tăng trách nhiệm cá nhân, dồn
hết sức lực và tâm trí vào việc thực hiện tốt nhất và có sáng tạo nv được giao.
- NT ra quyết định. Nhà lãnh đạo – quản lý cần hết sức tránh việc ra nhiều các QĐ lẻ
tẻ, vụn vặt vì việc làm này sẽ gây nhiều rối bận, làm ức chế tâm lý của cấp dưới, làm mất
khả năng sáng tạo của cấp dưới.
- Nghệ thuật giao nhiệm vụ. Giao NV cho cấp dưới phải làm sao cho cấp dưới phấn
khởi, SS đón nhận và thực hiện sáng tạo NV đó. Khi giao NV người lãnh đạo – quản lý cần:
cân nhắc, tính đến đặc điểm TL của người thừa hành, không được chủ quan, đơn giản. Tùy
từng yêu cầu, đk, hcanh khác nhau mà việc giao NV, đặc biệt là các NV qtrong, có thể được
tổ chức công khai để mọi người biết. Song cúng do tính chất và mức độ bảo mật của các
NV, cũng có thể tiến hành giao NV riêng cho từng người lãnh đạo – quản lý cấp dưới.
- Nghệ thuật cụ thể hoá nhiệm vụ. Cụ thể hóa NV không tốt sẽ sinh ra rối bận cho cấp
dưới. Nhiều khia QĐ đề ra rất đúng đắn, kịp thời, nhưng không ai bắt tay vào thực thi cũng
chỉ vì QĐ dó thiếu được cụ thể hóa một cách kỹ lưỡng, sinh ra TL trông chờ nhau, ỷ lại vào
nhau. Hóa ra QĐ nêu ra rất hay, nhưng chỉ có ý nghĩa trên giấy tờ.
- Nghệ thuật động viên cấp dưới. Đã là con người thì ai cũng muốn được động viên,
khích lệ. Cấp dưới thì muốn được cấp trên động viên, còn cấp trên thì lại muốn được cấp
trên nữa động viên, qtaam đến sự tiến bộ trưởng thành của mình. Bởi vậy người lãnh đạo –
quản lý phải biết giỏi việc động viên cấp dưới của mình. Trước hết, hướng vào khích lệ các
tấm gương sẵn sàng nhận NV nơi khó khăn, các công việc phức tạp, cũng nhữ cấp dưới có
sáng kiến, sáng tạo trong thừa hành NV, các tấm gương hăng hái, miệt mài trong học tập,
HL, trong lao động, xây dựng cơ quan đơn vị..
- Nghệ thuật trong kiểm tra, uốn nắn, điều chỉnh hành vi và hoạt động của cấp dưới.
Lãnh đạo cần phải có kiểm tra, KT để phát hiện, uốn nắn các thiếu sót, sai sót trong thực
hiện NV của cấp dưới, đồng thời điều chỉnh kịp thời từ phía chỉ huy lãnh đạo là điều vô
cùng cần thiết.
Câu 8: Kỹ năng giao tiếp cơ bản của người LĐ-QL?
Giao tiếp là một quá trình trong đó các bên tham gia tạo ra hoặc chia sẻ thông tin,
cảm xúc với nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp, nó là một trong những điều kiện hình
thành và phát triển nhân cách con người và phát triển xã hội. Do đó, kỹ năng giao tiếp là
một trong những phẩm chất cơ bản, có vai trò rất quan trọng đối với con người và xã hội
chung, là một kỹ năng mềm không thể thiếu đối với người cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện
nay nói riêng.
Giao tiếp là quá trình tác động tâm lý giữa con người với con người bằng ngôn ngữ
hoặc phi ngôn ngữ nhằm trao đổi thông tin, tác động qua lại về tri thức và cảm xúc tình cảm
cũng như hành vi và hoạt động giữa họ
Kỹ năng giao tiếp là khả năng vận dụng những tri thức, kinh nghiệm giao tiếp đã có
để thực hiện những tình huống giao tiếp cụ thể nhằm đạt được mục đích giao tiếp mà chủ
thể đặt ra.
Kỹ năng giao tiếp của người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy là khả năng người cán bộ lãnh
đạo chỉ huy nhận thức được đầy đủ những đặc điểm tâm lý của đối tượng giao tiếp và của
bản thân, đồng thời vận dụng các cách thức, phương pháp, thủ thuật để giải quyết những
nhiệm vụ giao tiếp nhằm đạt tới mục đích giao tiếp đặt ra trong quá trình hoạt động thực
tiễn.
Kỹ năng giao tiếp của người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong quá trình thực hiện chức
trách, nhiệm vụ cũng như trong các hoạt động giao tiếp được biểu hiện thông qua một số kỹ
năng cơ bản sau:
- Kỹ năng định hướng trong giao tiếp.
Biểu hiện: + Khả năng dựa vào sự biểu lộ bên ngoài để phán đoán chính xác những
trạng thái bên trong của đối tượng giao tiếp. Dựa trên nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói thông
qua khả năng tri giác tinh tế và nhạy bén mà người cán bộ phát hiện chính xác, đầy đủ thái
độ của đối tượng giao tiếp thường là cấp dưới mình như: Chủ động hay thụ động, chân
thành hay giả dối, tin tưởng hay hoài nghi.
+ Khả năng chuyển hóa từ sự tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất nhân cách bên
trong của đối tượng giao tiếp. Trên thực tế, sự biểu hiện các trạng thái tâm lý của con người
qua ngôn ngữ và điệu bộ thường rất phức tạp, bởi vì trong cùng một trạng thái cảm xúc
nhưng có thể được biểu lộ ra bên ngoài bằng ngôn ngữ và được biểu lộ khác nhau.
Ngôn ngữ giao tiếp của người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy với cấp dưới và tập thể cơ
quan, đơn vị không chỉ mang thông tin, mà nó còn phải bao hàm cả sự tác động, do đó,
trong giao tiếp, người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy nhất thiết phải có kỹ năng định hướng.
Muốn vậy, bản thân người cán bộ phải có nghệ thuật trong sử dụng ngôn ngữ
- Kỹ năng nhận biết những dấu hiệu bên ngoài trong giao tiếp.
Thông thường, những dấu hiệu bên ngoài của con người trong giao tiếp có thể chia
thành hai là nhóm đó là:
+ Nhóm nhận biết bằng nhận thức cảm tính như chiều cao, dáng vẻ, đầu tóc, trang
phục, lứa tuổi, giới tính...
+ Nhóm dấu hiệu bên ngoài mang tính tổng quát như tính cách, cảm xúc, hành vi đạo
đức...
Việc nhận biết, dự đoán chính xác các trạng thái tâm lý của cán bộ, cấp dưới thông
qua các dấu hiệu bên ngoài còn gắn liền với trực giác trong đánh giá đối tượng của người
cán bộ lãnh đạo, quản lý. Điều đó cũng quan hệ tỉ lệ thuận với trình độ, kinh nghiệm, vốn
sống của bản thân người cán bộ lãnh đạo, quản lý đã tích luỹ được trong hoạt động thực
tiễn. Việc nắm bắt các dấu hiệu bên ngoài trong giao tiếp có vị trí, vai trò rất quan trọng để
tạo ra hướng tiếp xúc đối tượng đạt hiệu quả.
- Kỹ năng định vị trong giao tiếp
Kỹ năng định vị trong giao tiếp của người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy được biểu hiện ở
khả năng biết xác định vị trí, không gian, thời gian trong giao tiếp, đặt mình vào vị trí đối
tượng để cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, tạo điều kiện để đối tượng chủ động giao tiếp.
Việc lựa chọn không gian, thời gian phù hợp sẽ góp phần quan trọng đạt hiệu quả
trong giao tiếp. Muốn vậy đòi hỏi người cán bộ phải tích cực rèn luyện trong hoạt động
nghề nghiệp, chủ động trong tiếp xúc, không ngừng trau dồi kinh nghiệm, vốn sống, tri thức
để có thể đồng cảm với đối tượng giao tiếp.
- Kỹ năng điều chỉnh, điều khiển trong giao tiếp.
Đây là một kỹ năng rất phức tạp và sinh động, trong hoạt động giao tiếp của người
cán bộ lãnh đạo, chỉ huy. Kỹ năng điều chỉnh, điều khiển trong giao tiếp bao gồm nhiều
thành phần tâm lý tham gia. Đó là các cử chỉ, điệu bộ hành vi phù hợp với đối tượng, hoàn
cảnh, mục đích, nội dung, nhiệm vụ giao tiếp; biết phát hiện, biết lắng nghe, tự chủ, tự kiềm
chế, hiểu được tâm lý cấp dưới, linh hoạt trong ứng xử.
Vấn đề có tính chất quyết định đến quá trình hình thành và phát triển của kỹ năng này
là rèn luyện cách “công tâm”, nghĩa là đi vào lòng người chủ yếu bằng sự chân thành. Đồng
thời, người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cũng phải biết cách gây ấn tượng tốt đẹp với cấp dưới
cũng như các đối tượng giao tiếp và luôn bao dung để kiềm chế, làm chủ cảm xúc của mình
trong mọi tình huống giao tiếp.
- Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp.