Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

TÀI LIỆU THAM KHẢO đề CƯƠNG ôn THI môn CHIẾN TRANH và QUÂN đội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (242.12 KB, 29 trang )

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI MÔN CHIẾN TRANH - QUÂN ĐỘI
1. Thực chất bước ngoặc cách mạng trong lý luận về chiến tranh và quân đội
do Mác, Ăng ghen thực hiện? Ý nghĩa của vấn đề trong cuộc đấu tranh tư tưởng,
lý luận hiện nay?
Chủ nghĩa Mác, triết học Mác nói chung và những tư tưởng về chiến tranh, quân
đội nói riêng không phải là một trào lưu biệt lập, tách khỏi văn minh chung của nhân
loại. Quá trình hình thành và phát triển những tư tưởng về chiến tranh và quân đội của
C.Mác và Ph.Ăngghen là quá trình kế thừa có chọn lọc những tư tưởng của nhân loại.
Đó là quá trình không ngừng đấu tranh chống lại những quan điểm duy tâm, tôn giáo,
siêu hình, cũng như những quan điểm phản khoa học của giai cấp tư sản về chiến tranh
và quân đội.
- Hai ông kiên quyết chống lại quan điểm duy tâm của Platôn thời cổ đại, vạch rõ
chiến tranh không phải là tất yếu vốn có, là định mệnh đối với con người và xã hội loài
người mà có nguồn gốc và nguyên nhân của nó.
- Tôn giáo: chiến tranh là do trời, do lực lượng siêu nhiên.
- G.Hêghen, C.Ph.Claudơvít, những người đã xuất phát từ lập trường tư sản để giải
thích hiện tượng chiến tranh và quân đội. Chiến tranh là công cụ của chính trị, nhưng là
chính trị chung chung, trừu tượng, phi giai cấp. Hêghen cho rằng: Quân đội là công cụ
bạo lực của toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của toàn dân tộc. Thực chất đây là quan điểm lừa
bịp, che giấu bản chất giai cấp của quân đội (quân đội phi chính trị, phi giai cấp).
- C.Mác và Ph.Ăngghen còn đấu tranh chống các quan điểm cho rằng nguồn gốc,
nguyên nhân của chiến tranh là đo tâm lý, sinh lý, địa lý, kỹ thuật, dân số... gây nên.
Việc đánh giá có phê phán những thành tựu của toàn bộ tư tưởng lý luận quân sự
trước đó trên lập trường có tính nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cho
phép C.Mác và Ph.Ăngghen tạo ra một cuộc cách mạng thực sự trong các quan điểm, tư
tường về chiến tranh và quân đội.
*Về bạo lực: C.Mác và Ph.Ăngghen đã đem đến cho lý luận về bạo lực một tinh
thần mới, thực sự khoa học.
- Coi đó là cơ sở lý luận để nghiên cứu, xem xét các vấn đề về chiến tranh và quân đội.
- Nguồn gốc: bạo lực là phạm trù lịch sử, nguồn gốc của nó gắn với chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp.


- Bản chất của bạo lực: là điều kiện, phương tiện để một giai cấp, một nhà nước để
thực hiện mục đích chính trị của mình. Sức mạnh của bạo lực xét đến cùng do kinh tế
quyết định và phụ thuộc vào kinh tế.
- Vai trò của bạo lực, đặc biệt là bạo lực cách mạng. “Nhưng bạo lực còn đóng vai
trò khác trong lịch sử, vai trò cách mạng; theo C.Mác, bạo lực còn là bà đỡ cho mọi xã
hội cũ đang thai nghén một xã hội mới” (Chống Đuyrinh”, t20, tr.259).
Như vậy, bất cứ một giai cấp, nhà nước thống trị nào muốn duy trì ách thống trị
của mình, bảo vệ lợi ích kinh tế của mình cũng phải dùng bạo lực.
Theo đó, bất cứ giai cấp, tầng lớp tiến bộ nào muốn lật đổ chế độ cũ lỗi thời, lạc
hậu, xây dựng một xã hội mới tiến bộ hơn góp phần thúc đẩy lịch sử xã hội loài người
tiến lên cũng phải dùng bạo lực cách mạng.
- Phê phán thuyết “bạo lực” của tư sản: tuyệt đối hoá bạo lực, coi chiến tranh là
động lực chủ yếu quyết định toàn bộ quá trình lịch sử. Bạo lực là nhân tố có trước, quy


định toàn bộ các sự kiện và hiện tượng của đời sống xã hội, quy định toàn bộ cả kinh tế.
Họ phủ nhận quy luật khách quan của xã hội và phủ định sự phát triển của xã hội loài
người là “quá trình lịch sử - tự nhiên”. Theo họ, chiến tranh là tất yếu, vĩnh viễn và có
ích cho con người.
Thực chất đây là quan điểm phản động, nhằm phục vụ cho bản chất hiếu chiến và
xâm lược của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc.
Hai ông khẳng định, bạo lực không bao giờ là mục đích mà chỉ là thủ đoan để đạt
mục đích chính trị mà thôi. Bạo lực và chiến tranh không thể quyết định sự phát triển
của xã hội. Sự vận động, phát triển của xã hội là do các quy luật khách quan chi phối.
thắng lợi của chiến tranh không chỉ là do so sánh lực lượng của các bên tham chiến mà
xét đến cùng là do kinh tế và chế độ chính trị - xã hội của nước đó quy định.
*Về chiến tranh
- Khẳng định chiến tranh là một hiện tượng chính trị - xã hội, là một phạm trù lịch sử.
- Nguồn gốc: sự ra đời, tồn tại, vận động, phát triển của chiến tranh gắn với sự ra
đời của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp. Chiến tranh không phải

là một phạm trù vĩnh viễn, cũng không phải là một tất yếu mang tính định mệnh. Con
người có thể loại bỏ được chiến tranh ra khỏi đời sống xã hội khi xóa bỏ chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp.
- Làm rõ mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị, xem chiến tranh chỉ là sự tiếp tục
của chính trị bằng thủ đoạn bạo lực. Theo đó, chiến tranh và chính trị có mối quan hệ với
nhau, chính trị bao giờ cũng là biểu hiện quyền lợi của giai cấp, còn chiến tranh bao giờ
cũng thực hiện mục đích chính trị, sự kế tục chính trị đó trước khi xảy ra chiến tranh.
Khi tổng kết cuộc chiến tranh Pháp - Phổ (1870-1871), hai ông đã rút ra kết luận, rằng
chính trị sau khi dẫn đến chiến tranh thì nó vẫn tiếp tục cả trong thời kỳ chiến tranh.
Hai ông còn luận giải rõ mối quan hệ giữa chính trị đối nội và chính trị đối ngoại,
khắc phục được những sai lầm của các quan điểm trước đó về vấn đề này.
- Tính chất xã hội của chiến tranh: làm rõ cơ sở xã hội để phân tích, làm rõ tính
chất xã hội của chiến tranh. Khẳng định tính chất xã hội của chiến tranh không phải bất
biến, nó cũng có thể chuyển hoá; tính chất xã hội của chiến tranh phụ thuộc vào chế độ
chính trị - xã hội, vào mục đích chính trị mà cuộc chiến tranh đó đang tiếp tục…
Hai ông là người đầu tiên phân tích chiến tranh có 2 loại. Coi chiến tranh tấn công
là chiến tranh phi nghĩa, chiến tranh phòng ngự là chiến tranh chính nghĩa. Ủng hộ
chiến tranh chính nghĩa, lên án chiến tranh phi nghĩa.
Mặc khác, đi vào mục đích, tính chất của cuộc chiến tranh đó như thế nào. Tuyệt nhiên
quan niệm của hai ông không dựa vào hành động quân sự đơn thuần mà đi vào nội dung
chính trị, xã hội để phân tích đâu là chiến tranh chính nghĩa, đâu là chiến tranh phi nghĩa.
*Về quân đội
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nghiên cứu quân đội trong mối quan hệ với chiến tranh,
nhà nước và giai cấp. Biểu hiện:
- Ăngghen là người đầu tiên định nghĩa quân đội là gì: Quân đội là một tập đoàn
người vũ trang, có tổ chức, do nhà nước xây dựng để dùng vào cuộc chiến tranh tiến
công hoặc chiến tranh phòng ngự.


Quân đội là một tổ chức của nhà nước, do nhà nước xây dựng nên. Bản chất giai

cấp và nội dung của nhà nước như thế nào thì quân đội là người bảo vệ lợi ích của nó
cũng như thế ấy.
- Ph.Ăngghen chỉ rõ sự ra đời của quân đội gắn liền với giai cấp, nhà nước, bóc
lột, áp bức và chiến tranh. Khẳng định nguồn gốc kinh tế sinh ra quân đội là chế độ tư
hữu về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp.
- Bản chất của quân đội là công cụ chủ yếu của nhà nước, của giai cấp để tiến hành
các cuộc chiến tranh.
- Sức mạnh chiến đấu của quân đội: Ăngghen đã phân tích một cách toàn diện các
yếu tố cấu thành sức mạnh của nó: con người, vũ khí kỹ thuật, huấn luyện… trong đó
đặc biệt nhấn mạnh yếu tố con người luôn giữ vai trò quyết định, còn vũ khí kỹ thuật là
yếu tố rất quan trọng, không thể thiếu. Vũ khí kỹ thuật chỉ gia tăng sức mạnh của con
người trong chiến tranh chứ không quyết định tiến trình và kết cục của chiến tranh.
Phê phán quan điểm tư sản: tuyệt đối hóa vũ khí kỹ thuật, hạ thấp vai trò của con
người trong chiến tranh.
*Ý nghĩa của vấn đề trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay
Những cống hiến của C.Mác và Ph.Ăngghen về lý luận chiến tranh và quân đội
thật sự là một bước ngoặt cách mạng vĩ đại.
- Đó là quá trình đấu tranh phê phán các quan điểm duy tâm, tôn giáo, là quá trình
kế thừa có chọn lọc những tư tưởng tinh hoa của nhân loại, là sự nắm bắt và khái quát
những vấn đề thực tiễn của chiến tranh và quân đội đang đặt ra.
- Đấu tranh kiên quyết với các quan điểm tư sản phản động, phản khoa học về
chiến tranh, quân đội. Khắc phục những mặt hạn chế của các quan điểm duy vật siêu
hình để sáng tạo ra những tư tưởng, quan điểm về chiến tranh, quân đội thật sự khoa học
và triệt để.
- Làm cơ sở lý luận giúp giai cấp vô sản, các đảng cộng sản xem xét và có thái độ
đúng đắn đối với mỗi cuộc chiến tranh, từ đó định ra đường lối chiến lược, sách lược
xây dựng quân đội, sẵn sàng đánh trả các cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực phản động gây ra.
- Đặt nền móng cho toàn bộ học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội,
đưa học thuyết trở thành hệ thống khoa học hoàn chỉnh, triệt để; là công cụ nhận thức và

cải tạo hiện thực quân sự của giai cấp vô sản.


2. Những cống hiến của Lênin đối với việc bảo vệ và phát triển các quan điểm
của Mác, Ăng ghen về chiến tranh quân đội? Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề?
Cuối thế kỷ XIX dầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự đo cạnh tranh
chuyển sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa).
- Sự xuất hiện chủ nghĩa đế quốc là nguyên nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâm
lược giữa các nước tư bản nhằm thôn tính lẫn nhau, mở rộng thuộc địa và thị trường
nhằm vơ vét ngày càng nhiều lợi nhuận cho bọn tư bản độc quyền. Các cuộc chiến tranh
trong thời kỳ này diễn ra với quy mô và sử dụng lực lượng ngày càng lớn, vũ khí ngày
càng hiện đại, tác chiến hợp đồng quân binh chủng và có sự liên minh thành các khối
quân sự. Sự tiêu hao về người và của cải ngày càng lớn, tính chất ngày càng ác liệt, mức
độ tồn thất về người và hậu quả chiến tranh để lại cũng ngày càng nặng nề hơn.
- Cách mạng Tháng Mười năm 1917 thành công, Nhà nước XHCN đầu tiên ra đời
trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc đã đặt ra những yêu cầu mới vủa thực tiễn xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, thực tiễn chuẩn bị lực lượng xây dựng nền QPTD, xây dựng Hồng quân
để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động xâm lược của chủ nghĩa đế quốc.
- V.I.Lênin (1870-1924), nhà lý luận thiên tài, vị lãnh tụ vĩ đại của giai cáp vô sản
và toàn thể nhân dân lao động trên thế giới, với những phẩm chất tư duy thiên bẩm và
lòng nhiệt thành cách mạng của mình, đã bảo vệ và phát triển thành công chủ nghĩa
Mác nói chung và những tư tưởng về chiến tranh và quân đội của C.Mác và PhĂngghen
nói riêng trong thòi kỳ đế quốc chủ nghĩa và cách mạng cô sản một cách toàn diện và
sâu sắc, đồng thời, vận đụng, phát triển cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới - điều
kiện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
*Vấn đề bạo lực cách mạng
- Vấn đề bạo lực và bạo lực cách mạng luôn được Lênin quan tâm và coi đó là cơ
sở lý luận để tiếp tục phát triển tư tưởng về chiến tranh và quân đội. Người luôn đấu
tranh kiên quyết chống lại những tư tưởng xuyên tạc quan điểm của C.Mác và
Ph.Ẫngghen về bạo lực.

- Vai trò của bạo lực cách mạng: rất quan trọng, là điều kiện cần thiết cho các cuộc
cách mạng xã hội, là công cụ, phương tiện để giai cấp cách mạng sử dụng lật đồ chính
quyền của giai cấp thống trị phản động.
- Thực chất của bạo lực cách mang: là bao lực của quần chúng dưới sự lãnh đao
của giai cấp tiến bộ chống lai giai cấp phản động, lạc hâu. V.I.Lênin khẳng định : “Nhà
nước tư sản bị thay thế bởi nhà nước vộ sản (chuyên chính vô sản) không thể bằng con
đường “tiêu vong” được, mà chỉ có thể theo quy luật chung bằng một cuộc cách mạng
bạo lực thôi” (t.33, tr.27). Vì vậy, sử dụng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản
cách mạng là quy luật tất yếu.
*Về chiến tranh Lênin phát triển những quan điểm cơ bản của Mác và Ăngghen
về vấn đề chiến tranh trong thời đại đế quốc chủ nghĩa.
- Nguồn gốc chiến tranh: tiếp tục khẳng định những quan điểm của Mác và
Ăngghen: chiến tranh là một hiện tượng xã hội, là một phạm trù lịch sử; chiến tranh ra
đời, tồn tại gắn với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp; có thể loại
bỏ chiến tranh ra khỏi đời sống xã hội khi mà chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và đối
kháng giai cấp không còn nữa. “Không thể xóa bỏ được chiến tranh nếu không xóa bỏ
các giai cấp và không thiết lập chủ nghĩa xã hội” (t26, tr.390).


- Khái quát những điều kiện lịch sử làm phát sinh những cuộc chiến tranh trong
thời kỳ ĐQCN, tìm ra những quy luật quyết định đến tiến trình và kết cục chiến tranh.
Chỉ ra các nguyên tắc phương pháp luận để phân tích bản chất xã hội của chiến tranh là
phải có quan điểm chính trị - giai cấp. Người luôn tự đặt câu hỏi: “làm thế nào để tìm ra
“bản chất thực sự” của chiến tranh, làm thế nào để xác định được bản chất đó? Và đã tự
trả lời “chiến tranh là tiếp tục của chính trị. Phải nghiên cứu chính trị được tiến hành
trước chiến tranh, chính trị đang dẫn đến và đã dẫn đến chiến tranh” (t.30, tr.106).
- Bản chất của chiến tranh:
Đánh giá đúng đắn công lao và sự cống hiến của Claudơvít, coi ông là một trong
những tác giả vĩ đại nhất về lịch sử chiến tranh, nhất là “công thức” của ông về bản chất
của chiến tranh.

Khẳng định rõ về sự lệ thuộc của chiến tranh vào mục đích chính trị của các giai
cấp, nhà nước đang theo đuổi chiến tranh. Người viết: “Chiến tranh chẳng qua chỉ là
chính trị từ đầu đến cuối, chỉ là sự tiếp tục thực hiện cùng những mục đích… của các
giai cấp… với những phương pháp khác mà thôi” (t.32, tr.356).
Luận điểm này của V.I.Lênin là sự đóng góp to lớn cho lý luận về bản chất chiến
tranh, là phương pháp luận quan trọng để xem xét chiến tranh như là một hiện tượng
chính trị - xã hội, kể cả các cuộc chiến tranh trong thời đại ngày nay.
Chống lại các quan điểm của các lãnh tụ Quốc tế II khi giải thích bản chất của
chiến tranh bằng phương pháp ngụy biện, họ đã xem xét tách rời giữa quan hệ kinh tế
với chính trị trong từng nước hoặc liên minh giữa các nước tiến hành chiến tranh.
- Phân chia các kiểu, loại chiến tranh: V.I.Lênin là người đầu tiên chỉ ra lý luận,
tiêu chí phân chia kiểu, loại chiến tranh.
Để phân kiểu, loại chiến tranh một cách đúng đắn, khoa học phải đứng trên lập
trường của giai cấp vô sản, phải dựa vào nội dung chính trị của mỗi cuộc chiến tranh,
gắn với điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại. V.I.Lênin cho rằng: “Không thể hiểu nổi
cuộc chiến tranh hiện nay nếu không hiểu được thời đại” (t.49, tr.388).
Là người đầu tiên chỉ ra khái niệm chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa
để phân loại tính chất xã hội của các cuộc chiến tranh, người khẳng định: “Trong lịch sử
đã từng nhiều lần có những cuộc chiến tranh tiến bộ - mặc dù những cuộc chiến tranh
này cũng như bất cứ cuộc chiến tranh nào khác, không tránh khỏi đem lại những nỗi
khủng khiếp tai hoạ, đau khổ - nghĩa là những cuộc chiến tranh có ích cho sự phát triển
của nhân loại” (t.49, tr.159). Từ đó Người đi đến kết luận: “có nhiều loại chiến tranh, có
chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phản động, có chiến tranh của những giai cấp
tiên tiến và chiến tranh của giai cấp lạc hậu, có chiến tranh nhằm củng cố ách áp bức
giai cấp và chiến tranh nhằm lật đổ ách áp bức ấy” (t.49, tr.403-404).
- Thái độ của giai cấp vô sản và nhân dân lao động đối với chiến tranh
Ủng hộ chiến tranh chính nghĩa, kiên quyết lên án, ngăn chặn chiến tranh phi nghĩa
“Đối với người maxxit thì làm sáng tỏ tính chất của chiến tranh là tiền đề cần thiết để
giải quyết vấn đề thái độ của mình đối với chiến tranh” (t.26, tr.30).
Biến chiến tranh đế quốc chủ nghĩa thành nội chiến. Trong chiến tranh chính

nghĩa, khẩu hiệu bảo vệ tổ quốc là chính đáng và hợp lý. Còn trong chiến tranh phi
nghĩa, khẩu hiệu bảo vệ tổ quốc chỉ là giả dối và thái độ của người maxxit là vạch trần,
chống lại chiến tranh đế quốc, lật đổ chế độ, chính phủ.


*Về quân đội
- Nguồn gốc quân đội: tiếp tục khẳng định những quan điểm của Mác và Ăngghen:
quân đội là một hiện tượng xã hội, là một phạm trù lịch sử; quân đội ra đời, tồn tại gắn
với nhà nước và chiến tranh; quân đội là công cụ bạo lực để phục vụ lợi ích của giai
cấp, nhà nước tổ chức ra nó.
- Bản chất của quân đội: phê phán các nhà tư tưởng tư sản luôn tìm cách che dấu
thực chất quân đội là công cụ của chính sách đối nội và đối ngoại của bọn bóc lột. Họ
cố chứng minh quân đội là một hiện tượng vĩnh viễn, “trung lập về chính trị” và “phi
giai cấp”.
Khẳng định: “không phải chỉ có dưới chính thể quân chủ, quân đội mới là công cụ
đàn áp. Nó vẫn là công cụ đàn áp của tất cả các chính thể cộng hoà tư sản, kể cả những
chính thể cộng hoà dân chủ nhất” (t.49, tr.610) và nhấn mạnh: “quân đội của nhà nước
tư sản là công cụ vững chắc nhất để duy trì và bảo vệ chế độ cũ, là phương tiện quan
trọng để đạt được các mục tiêu chính trị phi nghĩa” (t.49, tr.361).
Quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, giai cấp nhật định.
- Lần đầu tiên nêu lên và vận dụng thành công những nguyên tắc xây dựng quân
đội kiểu mới của giai cấp vô sản
Trong tác phẩm “Bàn về Hồng quân”, Lênin nêu lên 8 nguyên tắc xây dựng quân
đội kiểu mới của giai cấp vô sản: 1. Nguyên tắc Đảng cộng sản phải lãnh đạo tập trung,
thống nhất quân đội. 2. Quân đội và nhân dân phải thống nhất, phải trung thành với chủ
nghĩa cộng sản. 3. Phải thực hiện chế độ một thủ trưởng. 4. Quân đội phải có kỷ luật tự
giác, nghiêm minh. 5. Phải không ngừng nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. 6.
Thường xuyên sẵn sàng chiến đấu. 7. Không ngừng hoàn thiện cơ cấu, tổ chức, xây
dựng quân đội chính qui.8.Phát triển hài hòa tất cả các quân, binh chủng.
Những nguyên tắc trên đã làm cho quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản khác hẳn

về chất so với quân đội tư sản.
- Phát triển lý luận về vai trò của nhân tố tinh thần trong chiến tranh, chỉ ra tính
quy luật của quá trình hình thành, phát triển của nhân tố tinh thần, cơ sở để củng cố
xây dựng nhân tố tinh thần cho quân đội như: phải dựa vào chế độ chính trị - xã hội;
nhân dân và quân đội phải thống nhất về chính trị tư tưởng; vai trò của hậu phương
quân đội, vai trò của công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội… “Ở đâu công tác
chính trị trong quân đội được tiến hành chu đáo nhất thì ở đấy không có tình trạng lỏng
lẻo trong quân đội, quân đội giữ được trật tự tốt hơn, tinh thần của quân đội cao hơn, ở
đấy thu được nhiều thắng lợi hơn” (t.39, tr.66).
- Ngoài ra, V.I.Lênin còn đề cập đến tư tưởng xây dựng, củng cố quốc phòng, mối
quan hệ kinh tế với quốc phòng, xây dựng Hồng quân vững mạnh.
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Khẳng định đóng góp của Lênin: Bổ sung, phát triển…. thực chất là lý luận về
chiến tranh, quân đội trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa.
- Những vấn đề thuần Lênin: Nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới (Hồng
quân); xây dựng học thuyết vũ trang, bảo vệ tổ quốc.
- Điều kiện ngày nay: Bổi cảnh quốc tế, khu vực, trong nước; Sự phát triển của
khoa học công nghệ và chiến tranh công nghệ cao; Sự chống phá của kẻ thù.
- Đấu tranh các quan điểm sai trái.


5. Sự thống nhất và khác biệt giữa quan điểm của Claudơvít và quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất chiến tranh? Ý nghĩa phương pháp luận
của vấn đề?
Bản chất chiến tranh là vấn đề phức tạp, gây nhiều tranh cãi trong lịch sử, cũng như
hiện nay. Chiến tranh nổ ra với tính chất, quy mô và với không gian, thời gian khác nhau,
vì vậy nhận thức bản chất chiến tranh thường gặp khó khăn đối với mọi người. Trong lịch
sử đã có nhiều nhà tư tưởng, nhà quân sự khái quát về bản chất chiến tranh. Thời Cổ đại,
Arixtốt (384-322 Tr.CN) đã khái quát, chiến tranh là nghệ thuật chính trị. G.Hêghen
(1770-1830), nhà triết học duy tâm cổ điển Đức quan niệm, chiến tranh là công cụ thực

hiện mục đích chính trị. C.Ph.Claudơvít (1780-1831) nhà quân sự tư sản Phổ cho rằng:
“Chiến tranh của một cộng đồng tiến hành bao giờ cũng là một hành vi chính trị, một sự
kế tục của các quan hệ chính trị, một sự thực hiện các quan hệ chính trị bằng các biện
pháp khác (thủ đoạn bạo lực)” (Bàn về chiến tranh, Nxb.QĐND, H, 1976 tr.55).
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đánh giá cao quan điểm của các nhà tư
tưởng trên, đã kế thừa, phát triển và vạch ra bản chất chiến tranh. V.I.Lênin đã dùng khái
quát của C.Ph.Claudơvít và khẳng định: “Chiến tranh là sự tiếp tục của chính trị bằng
những biện pháp khác (cụ thể là bằng bạo lực)” (t.26, tr.397). Về hình thức khái quát của
C.Ph.Claudơvít và V.I.Lênin không khác nhau, nhưng bản chất khác nhau căn bản.
- Claudơvít đã tách rời mối quan hệ giữa chiến tranh và kinh tế, cho rằng chính trị
như là trí tuệ của quốc gia được nhân cách hóa -> che dấu nguồn gốc của chiến tranh
(nguồn gốc kinh tế) - > che dấu mục đích thật sự xấu xa của giai cấp thống trị (áp bức,
bóc lột) -> vì lợi ích kinh tế.
Ví dụ: Pháp xâm lược Việt Nam (khai hóa văn minh cho Việt Nam).
Theo Lênin “chính trị là sự phản ánh tập trung của kinh tế” (t.42, tr.349). Vì xét
đến cùng kinh tế là cái quyết định chính trị, mối quan hệ giữa các giai cấp trong nền sản
xuất vật chất chi phối mối quan hệ giữa các giai cấp trong chính trị.
- Theo quan điểm của Claudơvít, chính trị mà chiến tranh kế tục là chính trị
chung chung, không mang bản chất giai cấp -> phủ nhận tính giai cấp của chính trị,
rêu rao bảo vệ lợi ích của toàn dân nhằm mục đích tập hợp lực lượng, ủng hộ chính
phủ phát động chiến tranh, lôi cuốn mọi người tham gia chiến tranh vì lợi ích không
riêng của giai cấp thống trị mà là của mọi người. Nhưng trên thực tế, chỉ có giai cấp
thống trị mới đạt được lợi ích (lợi ích đối lập với quần chúng nhân dân lao động) ->
quan điểm sai trái.
Theo Lênin “chiến tranh chẳng qua là chính trị từ đầu đến cuối, chỉ là sự tiếp tục
thực hiện của những mục đích… của các giai cấp… với những phương pháp khác mà
thôi” (t.32, tr.356).
Trong xã hội có giai cấp, không có chính trị chung chung cho toàn xã hội, chính trị
là biểu hiện lợi ích của các giai cấp.
- Theo Claudơvít, chính trị mà chiến tranh kế tục chỉ là đường lối đối ngoại (tức

quan hệ giữa quốc gia, dân tộc này với quốc gia, dân tộc khác), ông phủ nhận những
cuộc chiến diễn ra trong nội bộ quốc gia, dân tộc giữa hai giai cấp đối kháng. Ông chỉ
quan tâm đến vấn đề đối ngọai, quan hệ giữa các nước -> đem quân đánh nước khác ->
hai nước đánh nhau -> không có cuộc chiến tranh trong một nước -> trái quy luật,
không hợp lý -> phản đối nội chiến cách mạng.


Theo Lênin, chiến tranh là sự thống nhất cả chính trị, đối nội và đối ngoại, trong đó
đối ngoại là phản ánh của đối nội “chiến tranh là sự phản ánh của chính sách đối nội mà
nước đó đã thi hành trước đây” (t.39, tr.361).
Kết luận: Từ sự so sánh trên cho phép chúng ta bác bỏ quan điểm tư sản cho rằng
qua điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đồng nhất với quan điểm của Claudơvít về bản
chất của chiến tranh.
6. Quan điểm mácxít về mối quan hệ giữa chiến tranh và chính trị? Ý nghĩa
trong xem xét, đánh giá bản chất các cuộc chiến tranh hiện nay?
Chiến tranh và chính trị là những hiện tượng chính trị xã hội khác nhau, nhưng
quan hệ hữu cơ với nhau. Quan hệ giữa chính trị và chiến tranh là một phương diện
quan trọng của bản chất chiến tranh. Trong quan hệ này, chính trị là mặt bất biến, chiến
tranh là mặt khả biến. Mặt chính trị như cái chung, bản chất xuyên suốt các cuộc chiến
tranh, còn mặt khả biến có thể biến động khôn lường, nhưng thoát khỏi quỹ dạo của
chính trị. Hiện nay, xem xét bản chất các cuộc chiến tranh càng phải thông qua mối
quan hệ giữa chính trị và chiến tranh.
Chiến tranh là một hiện tượng chính trị - xã hội mang tính lịch sử được thể hiện
bằng đấu tranh vũ trang giữa các tập đoàn người trong một nước, hoặc liên minh các
nước nhằm đạt tới những mục đích chính trị nhất định.
Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến các mối quan hệ giữa các
giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính
quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước,
sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước.
(Từ điển BKQSVN, H.2004, tr.244)

*Cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ
- Xuất phát từ mối quan hệ của các yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội: mối
quan hệ giữa kinh tế và chính trị - chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, biểu hiện
cụ thể của mối quan hệ đó trong chiến tranh - một hoạt động đặc biệt của xã hội đó
chính là mối quan hệ giữa mục đích và phương tiện của giai cấp nhà nước tiến hành
chiến tranh: đường lối chính trị, hoạt động chính trị của giai cấp nhà nước là mục đích
còn chiến tranh là phương tiện để thực hiện đường lối, mục đích chính trị của giai cấp
nhà nước nhất định.
+ Chính trị không chỉ là ý thức chính trị, tổ chức chính trị, quan hệ chính trị…, mà
còn có các lực lượng chính trị, các chủ thể chính trị cùng các hoạt động chính trị của các
giai cấp, nhà nước, đảng phái.
+ Chiến tranh không chỉ có bạo lực vũ trang, mà còn có các hoạt động kinh tế, văn
hóa, tư tưởng…, phục vụ, hỗ trợ cho đấu tranh vũ trang.
- Xuất phát từ mối quan hệ phổ biến của các sự vật hiện tượng trong thế giới: cụ
thể là mối quan hệ giữa cái toàn thể và cái bộ phận
+ Theo Lênin, “mọi cuộc chiến tranh đều gắn với chế chế độ chính trị đã sinh ra
nó” thì đây là mối quan hệ giữa chủ thể và phương tiện. Chủ thể là chính trị, chiến tranh
là phương tiện.
+ Chủ thể chuẩn bị, tổ chức, điều khiển mọi quá trình của chiến tranh, quyết định
mục đích, phương hướng, phương thức, thời cơ và kết thúc chiến tranh. Chính trị tạo


môi trường kinh tế, văn hoá, chỉ đạo hoạt động kinh tế, tư tưởng, ngoại giao phục vụ
cho chiến tranh; dự kiến sử dụng kết quả chiến tranh.
+ Chiến tranh là một bộ phận, là phương tiện của chính trị. Nó thử thách toàn bộ
chế độ chính trị. Chiến tranh làm thay đổi mọi tổ chức, cơ chế họat động của các tổ
chức chính trị; làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng chính trị, tính chất các mâu
thuẫn chính trị từ đó có thể làm xuất hiện hay mất đi tình thế thời cơ cách mạng.
+ Thực tiễn lịch sử chứng minh: Các cuộc chiến tranh chống Pháp, Mỹ xâm lược
của dân tộc ta. Các cuộc chiến tranh công nghệ cao do CNĐQ và đồng minh tiến hành.

*Nội dung biểu hiện của mối quan hệ
Thứ nhất, chính trị quyết định chiến tranh: Trong mối quan hệ giữa chính trị và
chiến tranh thì chính trị quyết định chiến tranh. Chính trị quyết định chiến tranh trên
mọi phương diện.
- Chính trị quyết định mục đích chiến tranh. Bất kỳ một cuộc chiến tranh nào đều
hướng tới một mục đích chính trị nhất định. Mục đích chính trị của chiến tranh biểu
hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau. Mỗi giai cấp trong một dân tộc tiến hành chiến tranh
với nhau có mục đích chính trị khác nhau. Trước sức mạnh của quần chúng trong đấu
tranh giành chính quyền thì bạo lực phản cách mạng mà giai cấp thống trị sử dụng là
nhằm mục đích giữ vững địa vị, lợi ích, chế độ chính trị hiện tại. Ngược lại, quần chúng
nhân dân dưới sự lãnh đạo của lực lượng tiên tiến tiến hành chiến tranh cách mạng lại
có mục đích lật đổ chế độ chính trị hiện tại, thiết lập chế độ mới. Những cuộc chiến
tranh giữa các dân tộc, mục đích chính trị của mỗi bên tham chiến cũng khác nhau. Kẻ
đi xâm lược thì mục đích là áp đặt một chế độ chính trị bù nhìn, tay sai cho chúng, còn
các dân tộc chống lại chiến tranh xâm lược lại với mục đích giữ vững độc lập dân tộc,
chủ quyền đất nước. Mỗi cuộc chiến tranh có mục đích cụ thể khác nhau, nhưng thống
nhất ở mục đích chính trị.
- Chính trị quy định tiến trình, kết cục chiến tranh. Tiến trình diến biến của chiến
tranh rất phức tạp, nhưng cái chung nhất là do chính trị quy định. Mỗi giai đoạn của tiến
trình phát triển chiến tranh đều có mục đích chính trị cụ thể, nhưng thống nhất với mục
đích chung. Những cuộc chiến tranh do giai cấp, nhà nước thống trị tiến hành thường
được chỉ đạo bởi mục đích chính trị là kết thúc nhanh chóng. Tiến trình diễn ra và kết
cục của các cuộc chiến tranh này là do ý đồ chính trị muốn nhanh chóng củng cố địa vị
thống trị trong nước hoặc áp đặt chế độ bóc lột ở nước ngoài. Xét cho cùng tiến trình
này do lợi ích của giai cấp thống trị quyết định. Tiến trình đó còn dựa trên cơ sở tiềm
lực kinh tế, quân sự trong tay giai cấp thống trị khá mạnh và được chuẩn bị kỹ lưỡng từ
trước. Với thế và lực thực tế trong tay thì tiến trình chiến tranh do giai cấp thống trị tiến
hành đòi hỏi đánh nhanh, thắng nhanh là chủ yếu. Ngược lại, những cuộc chiến tranh
chống xâm lược, tiến trình chiến tranh dược diễn ra theo chỉ đạo của tư tưởng chính trị
đánh lâu dài. Trước sức mạnh ban đầu của kẻ xâm lược, nước tiến hành chiến tranh bảo

vệ tổ quốc khó có thể giành thắng lợi nhanh chóng. Cơ sở cho tư tưởng chỉ đạo này là
do tiềm lực kinh tế, quân sự yếu hơn, trong khi đối phương tập trung sức mạnh ban đầu
khá mạnh.
Ở một thời đại cụ thể, chế độ chính trị nào tiến bộ thì chiến tranh do nó tiến hành
thường có xu hướng phát triển ngày càng mạnh và giành thắng lợi. Ngược lại, những
cuộc chiến tranh của chế độ chính trị đã lỗi thời thường đi vào bế tắc, ngõ cụt, sa lầy.


Đây là xu hướng chung của lịch sử phát triển chiến tranh. V.I.Lênin: “Mọi cuộc chiến
tranh đều gắn với chế độ chính trị đã sinh ra nó”. Tuy nhiên, trong thời điểm cụ thể
không hẳn mọi cuộc chiến tranh của chế độ chính trị tiến bộ tiến hành đều thắng lợi. Bởi
chiến tranh còn bị chi phối nhiều nhân tố khác.
- Chính trị quyết định bản chất và tính chất chính trị xã hội của chiến tranh. Chiến
tranh là chính trị từ đầu đến cuối, thậm chí trước khi nổ ra chiến tranh, trong giai đoạn
chuẩn bị đã có chính trị, do chính trị quyết định. Bản chất tiến bộ cách mạng của chế độ
chính trị sẽ quyết định bản chất và tính chất chính nghĩa, tiến bộ của chiến tranh. Ngược
lại, chế độ chính trị đã lỗi thời thì những cuộc chiến tranh bảo vệ, củng cố chế độ đó là
phản động.
Thứ hai, Chiến tranh tác động trở lại to lớn đối với chính trị
Chiến tranh tác động trở lại chính trị. Đây là tác động của một phương thức thực
hiện đến mục đích, nội dung của nó là chính trị. Biểu hiện tác động của chiến tranh đến
chính trị cũng rất da dạng. Chiến tranh có thể thúc đẩy nhanh hay chậm thực hiện mục
đích chính trị, thậm chí làm thất bại hoàn toàn mục đích chính trị. Sự thất bại của chiến
tranh sẽ kết thúc mục đích chính trị ở một giai đoạn cụ thể. Mục đích cụ thể ở mỗi giai
đoạn là những nấc thang phát triển tiến tới mục đích chung của toàn bộ cuộc chiến tranh.
Mỗi thắng lợi của chiến tranh ở từng giai đoạn cụ thể là hoàn thành mục đích cụ thể. Mỗi
mục đích cụ thể là một bước tiến dần đến hoàn thành mục đích chính trị toàn cục.
Trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định, chiến tranh làm cho mục đích
chính trị phải thay đổi. Mỗi bước phát triển hay mỗi thất bại cục bộ của chiến tranh có
thể làm thay đổi mục đích cụ thể của chính trị. Nếu tiến trình phát triển của chiến tranh

thuận lợi thì chủ thể tiến hành chiến tranh có thể đẩy nhanh, rút ngắn thời gian thực hiện
mục đích cuối cùng của một cuộc chiến tranh. Nếu tiến trình phát triển của chiến tranh
gặp khó khăn, chủ thể tiến hành chiến tranh có thể rút lui những mục đích chính trị cụ
thể, thường là nhượng bộ, thậm chí đầu hàng không điều kiện, từ bỏ mục đích chiến
tranh đã xác định trước.
Tiến trình phát triển của một cuộc chiến tranh có thể củng cố vững chắc, phát triển
một chế độ chính trị và cũng có thể làm sụp đổ hoàn toàn một chế độ chính trị. Nhìn
tổng quát trên toàn thể nhân loại, sự thất bại của chiến tranh do chế độ chính trị lỗi thời
tiến hành sẽ xoá bỏ mục đích chính trị, đồng thời tiêu diệt chế độ xã hội cũ, mở ra thời
đại mới. Sự thất bại của chiến tranh do chế độ phong kiến tiến hành chống lại chiến
tranh cách mạng của giai cấp tư sản sẽ xoá bỏ mục đích chính trị của nó và thủ tiêu chế
độ phong kiến. Trong thời đại đó, sự thắng lợi của chiến tranh cách mạng do giai cấp tư
sản lãnh đạo sẽ cho ra đời, phát triển chế độ chính trị tư sản. Trong thời đại ngày nay,
đến một lúc nào đó chiến tranh của giai cấp tư sản thất bại cũng sẽ kết thúc hoàn toàn
mục đích chính trị cũng như chế độ chính trị của giai cấp tư sản. Đồng thời với nó,
thắng lợi của chiến tranh do giai cấp vô sản tiến hành sẽ đánh đổ chế độ chính trị tư sản
và thiết lập chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới.
*Ý nghĩa phương pháp luận
- Quan hệ giữa chiến tranh và chính trị là mối quan hệ cơ bản xuyên suốt trong mọi
cuộc chiến tranh, tuỳ vào điều kiện hoàn cảnh mà biểu hiện mối quan hệ này trong các
cuộc chiến tranh là không giống nhau.
Ví dụ: Chiến tranh thế giới lần thứ nhất khác lần 2.


Do đó, trong nhận thức cũng vừa phải thấy sự thống nhất, vừa phải thấy sự khác
biệt mới có thể có thái độ đúng với chiến tranh. Nếu đồng nhất giữa hai mối quan hệ
này sẽ làm lẫn lộn giữa cách mạng và phản cách mạng; giữa chiến tranh chính nghĩa và
chiến tranh phi nghĩa. Nếu chỉ thấy sự khác biệt thì mối quan hệ giữa cách mạng và
chiến tranh không có cơ sở khoa học trong xem xét đánh giá và thái độ đối với chiến
tranh khó tránh khỏi sai lầm.

- Xem xét các vấn đề chiến tranh phải xuất phát từ chính trị, rút ra những kết luận
chính trị (mục đích chính trị, lực lượng chính trị tiến hành, chính nghĩa, phi nghĩa…); từ
đó bày tỏ thái độ, có biện pháp phù hợp ứng phó với chiến tranh; chỉ đạo giành thắng lợi
trong chiến tranh; xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, bảo vệ vững chắc tổ quốc
xã hội chủ nghĩa; đấu tranh chống lại những biểu hiện sai tri: phiếm diện, tuyệt đối hố
mặt quân sự hay mặt chính trị.
- Vai trò quyết định của chính trị đối với chiến tranh không có gì thay đổi, trong
điều kiện hiện nay, chính trị tác động đến chiến tranh theo hướng nhanh chóng hơn,
rộng lớn hơn nhưng cũng phải thận trọng hơn trong suốt cả quá trình chuẩn bị, tiến hành
và kết thúc chiến tranh. (Vì nó tác động rất lớn đến lợi ích của các nước; toàn cầu hoá;
sử dụng vũ khí công nghệ cao; chi phí lớn; không gian mở rộng…).
- Đấu tranh phê phán mọi biểu hiện mơ hồ về lập trường giai cấp, tách rời chiến
tranh với chính trị.
7. Quan điểm mácxít về bản chất của quân đội? Ý nghĩa của vấn đề đối với
tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Quân đội ta hiện nay?
Theo Ph.Ăngghen: “Quân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức, do nhà
nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hoặc chiến tranh phòng
ngự”. (Tuyển tập luận văn quân sự, tập VI, Nxb.QĐND. H, 1998, tr9)
Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam: Quân đội, tổ chức vũ trang chuyên
nghiệp (tập trung, thường trực) do một tập đoàn nhà nước, tập đoàn chính trị hoặc
phong trào chính trị làm chức năng nhà nước xây dựng để tiến hành đấu tranh vũ trang
nhằm thực hiện mục đích chính trị của nhà nước, tập đoàn hay phong trào đó.
(Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb.QĐND, H, 1996, tr.656).
*Quan điểm ngoài mác xít: Các nhà tư tưởng ngoài mácxít đã có nhiều quan điểm
khác nhau về bản chất của quân đội.
- Arixtốt đã quan niệm quân đội là công cụ của nhà nước.
- Trong bộ luật Malu của Ấn Độ đã viết: Quân đội là để kiểm soát thần dân và đàn
áp sự nổi dậy của cấp dưới.
- Giai cấp tư sản lại cho rằng quân đội là để bảo vệ lợi ích của toàn dân tộc, thực
chất họ muốn che đậy bản chất giai cấp của quân đội, tách rời quân đội với hệ thống

chính trị, đánh đồng quân đội của giai cấp tư sản với quân đội của giai cấp vô sản, hòng
lừa bịp nhân dân và lừa bịp chính quân đội của họ.
*Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: quân đội là công cụ bạo lực vũ trang
của một giai cấp, một nhà nước nhất định nhằm phục vụ cho giai cấp và nhà nước tổ
chức, nuôi dưỡng nó.


Ở phương diện này, quân đội của các giai cấp và nhà nước thống trị bóc lột trong
lịch sử bao giờ cũng là công cụ bạo lực vũ trang để tiến hành chiến tranh và đàn áp nhân
dân lao động.
V.I.Lênin chỉ rõ: “Không phải chỉ dưới chính thể quân chủ, quân đội mới là công
cụ đàn áp. Nó vẫn là công cụ đàn áp trong tất cả các chính thể cộng hoà tư sản, kể cả
những chính thể cộng hoà dân chủ nhất”(t.37, tr.610).
Như vậy: Bản chất của quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, giai cấp
nhất định nhằm bảo vệ lợi ích căn bản của nhà nước, giai cấp ấy.
Với tính cách là một hiện tượng chính trị - xã hội, bất cứ quân đội nào trong lịch sử
cũng có bản chất giai cấp sâu sắc. Cái quyết định bản chất giai cấp của một quân đội là
ở chỗ, quân đội đó là chỗ dựa của chế độ chính trị xã hội nào; hoạt động của quân đội
đó bảo vệ lợi ích cho giai cấp nào và bản chất giai cấp của nó phụ thuộc một cách trực
tiếp vào bản chất giai cấp của nhà nước đã tổ chức ra quân đội. Bản chất giai cấp của
quân đội còn được thể hiện trong quá trình xây dựng và tổ chức quân đội. Giai cấp
thống trị bảo đảm sự vững mạnh về chính trị của quân đội, bảo đảm phương hướng phát
triển và hoạt động của quân đội phù hợp với lợi ích của giai cấp đó. Trong lịch sử chưa
có một quân đội nào chiến đấu vì lợi ích chung của tất cả các giai cấp, vì nó là công cụ
bạo lực vũ trang của một giai cấp, một nhà nước nhất định. Để giữ vững phương hướng
chính trị và tăng cường bản chất giai cấp cho quân đội, giai cấp thống trị bóc lột tiến
hành truyền bá hệ tư tưởng của nó cho quân đội bằng hệ thống giáo dục có tính chất
nhồi sọ về tư tưởng cho binh lính; thực hiện triệt để đường lối tổ chức, phương hướng
hoạt động và kiểm soát mọi hoạt động của quân đội.

Sự ra đời, tồn tại và phát triển của quân đội luôn gắn với vai trò của giai cấp và nhà
nước. Thực tế cho thấy, giai cấp và nhà nước luôn giữ vai trò quyết định đối với quân
đội về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Về chính trị, giai cấp và nhà nước quyết định mục
tiêu, lý tưởng chiến đấu; đến việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cơ bản của quân
đội. Đồng thời, hệ tư tưởng của giai cấp đó luôn giữ vai trò thống trị đối với quân đội,
chi phối đến đời sống tinh thần của quân đội. Về tổ chức, giai cấp và nhà nước quyết
định đường lối, nguyên tắc tổ chức xây dựng quân đội; quyết định cơ chế lãnh đạo,
thành phần chỉ huy và binh lính tham gia trong quân đội.
Những nội dung trên là biểu hiện bản chất giai cấp của quân đội. Để tăng cường
bản chất giai cấp của quân đội, đảm bảo cho quân đội thực sự trung thành với lợi ích
của mình, các giai cấp và nhà nước tổ chức ra quân đội phải luôn đặc biệt quan tâm xây
dựng các yếu tố cơ bản trên.
Hoạt động của quân đội phụ thuộc vào chế độ chính trị - xã hội, chịu sự quy định
của giai cấp và nhà nước tổ chức ra nó. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển nó có tính
độc lập tương đối. Là một bộ phận của chỉnh thể xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, quá
trình phát triển của quân đội tất yếu chịu sự chi phối, tác động của các qui luật xã hội
nói chung. Mặt khác, là một tổ chức đặc biệt của nhà nước và do tính chất đặc thù của
hoạt động quân sự qui định, quân đội còn có qui luật phát triển riêng. Tính qui luật trong
sự phát triển của quân đội, không phải thoát ly khỏi bản chất vốn có của nó, mà phản
ánh các mối liên hệ bản chất, tất yếu trong quá trình phát triển của quân đội.
Bản chất của quân đội tương đối ổn định, song không phải là cái cố định, bất biến,
mà có sự vận động, biến đổi. Sự vận động, biến đổi đó tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố và


theo hai chiều hướng hoặc là được tăng cường, hoặc là suy giảm. Vì quân đội là một tổ
chức, một lực lượng chính trị - xã hội của nhà nước, một bộ phận của kiến trúc thượng
tầng phản ánh cơ sở hạ tầng nên sự tác động của các điều kiện kinh tế, chính trị, giai
cấp, môi trường xã hội tất yếu ảnh hưởng đến bản chất giai cấp của quân đội. Trong các
yếu tố ảnh hưởng đến bản chất giai cấp của quân đội, yếu tố giai cấp luôn tác động trực
tiếp, mạnh mẽ và quyết định nhất. Quân đội nào cũng do nhà nước tổ chức ra và chịu sự

chi phối bởi đường lối chính trị của một giai cấp. Bài học xương máu của Liên Xô và
các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho thấy, khi Đảng cộng sản mất vai trò lãnh đạo,
sự biến chất của nhà nước là không tránh khỏi và hậu quả tất yếu của nó là làm cho
quân đội mất phương hướng chính trị. V.I.Lênin từng chỉ rõ, giai cấp vô sản muốn là
giai cấp thống trị, thì nó phải tỏ rõ điều đó bằng tổ chức quân sự của mình.
Hiện nay, các học giả tư sản đang ra sức tuyên truyền cho quan điểm “siêu giai
cấp” của quân đội và cho rằng, quân đội là công cụ của toàn xã hội, sự tồn tại của nó là
cần thiết để đảm bảo hoạt động “bình thường” của bất cứ hệ thống xã hội nào. Do vậy,
quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không có bản chất giai cấp; là lực lượng
“trung lập về chính trị”. Thực chất của quan điểm trên là che đậy bản chất phản động
vốn có của quân đội tư sản đế quốc; thực hiện mưu đồ “vô hiệu hoá” quân đội của các
nước có chế độ chính trị xã hội xã hội chủ nghĩa còn lại, làm cho quân đội xã hội chủ
nghĩa dao động về tư tưởng, mất phương hướng chính trị; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng
chiến đấu; tước bỏ quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với quân đội. Cần thấy rằng,
đây là một thủ đoạn hết sức nham hiểm trong chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn
lật đổ và chuẩn bị gây chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc hiện nay để thực
hiện mục tiêu lật đổ và xoá bỏ chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Bởi vậy, cần đấu tranh
vạch trần bản chất phản động, phản khoa học của các luận điểm trên và khẳng định vấn
đề có tính nguyên tắc do V.I.Lênin chỉ ra là, hiện nay cũng như trước kia và sau này
quân đội sẽ không bao giờ có thể trung lập được. Nghĩa là, không có quân đội nào ra đời
và tồn tại lại thoát ly khỏi các quan hệ chính trị, giai cấp hiện thực và tăng cường bản
chất giai cấp công nhân, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản với quân đội xã
hội chủ nghĩa là vấn đề tất yếu đặt ra. Mặt khác, cần chủ động đấu tranh ngăn chặn,
khắc phục các tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến bản chất giai cấp công nhân của
quân đội xã hội chủ nghĩa hiện nay.
*Ý nghĩa của vấn đề đối với tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Quân
đội ta hiện nay
- Khi xem xét bản chất giai cấp của quân đội phải đi từ bản chất giai cấp của nhà
nước, giai cấp đã tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng nó.
- Việc xây dựng bản chất giai cấp công nhân cho quân đội ta là một tất yếu khách

quan, do đó phài tiến hành thường xuyên, liên tục và khoa học, chống mơ hồ giai cấp
hoặc nôn nóng mất cảnh giác.
- Phải hết sức coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho quân đội.
- Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về moi mặt của Đảng đối với quân
đội nhân dân.
- Nâng cao chất lượng công tác giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng trong quân đội, đặc biệt là ở các đơn vị
cơ sở.


- Tăng cường quan hệ máu thịt với nhân dân, tích cực vận động nhân dân thực hiện
tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ.
- Ở nước ta, bản chất giai cấp công nhân của quân đội là biểu hiện tập trung trong
truyền thống vẻ vanh của mình như lời khen ngợi của Bác Hồ “Quân đội ta trung với
Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ
nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào
cũng đánh thắng” (t.11, tr.350).
- Nghị quyết Đại hội Đảng XI đã xác định “xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” (234)
Mục tiêu xây dựng quân đội là làm cho quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng,
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và nhan dân, với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Đây là phẩm chất chính trị, đạo đức hàng đầu, là biểu hiện tập trung nhất bản chất
giai cấp công nhân của quân đội ta trong giai đoạn mới của cách mạng.
8. Vận đụng quan điểm mácxít về bản chất giai cấp của quân đội phê phán
quan điểm “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch đối với cách mạng
Việt Nam hiện nay?
Theo Ph.Ăngghen: “Quân đội là một tập đoàn người vũ trang có tổ chức, do nhà
nước xây dựng nên và dùng vào cuộc chiến tranh tấn công hoặc chiến tranh phòng ngự”
(Tuyển tập luận văn quân sự, tập VI, Nxb.QĐND. H, 1998, tr9)
Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam: Quân đội, tổ chức vũ trang chuyên

nghiệp (tập trung, thường trực) do một tập đoàn nhà nước, tập đoàn chính trị hoặc
phong trào chính trị làm chức năng nhà nước xây dựng để tiến hành đấu tranh vũ trang
nhằm thực hiện mục đích chính trị của nhà nước, tập đoàn hay phong trào đó.
(Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb.QĐND, H, 1996, tr.656).
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: quân đội là công cụ bạo lực vũ trang
của một giai cấp, một nhà nước nhất định nhằm phục vụ cho giai cấp và nhà nước tổ
chức, nuôi dưỡng nó.
Bản chất của quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, giai cấp nhất định
nhằm bảo vệ lợi ích căn bản của nhà nước, giai cấp ấy.
Bản chất giai cấp của quân đội phụ thuộc vào bản chất giai cấp của nhà nước, của
giai cấp đã tổ chức, nuôi dưỡng và sử dụng nó.
- Bản chất giai cấp của quân đội phụ thuộc vào bản chất giai cấp của nhà nước về
mọi mặt.
+ Bản chất giai cấp, nội dung của nhà nước như thế nào thì quân đội mang bản
chất, nội dung như thế đó.
+ Về chính trị: quân đội do giai cấp thống trị và nhà nước tổ chức, xây dựng theo
đường lối, quan điểm chính trị của giai cấp mình. Giai cấp thống trị và nhà nước quyết
định mục tiêu chiến đấu của quân đội. Nói cách khác, mục tiêu chiến đấu của quân đội
là do mục tiêu chính trị của giai cấp, nhà nước tổ chức ra nó quyết định.
+ Về tư tưởng: hệ tư tưởng của giai cấp tổ chức ra nhà nước và quân đội luôn luôn
là hệ tư tưởng thống trị của quân đội, nó chi phối đến toàn bộ đời sống tinh thần của
quân đội.


+ Về tổ chức: giai cấp thống trị và nhà nước quyết định phương hướng và nguyên
tắc tổ chức, xây dựng quân đội; quyết định cơ chế lãnh đạo và chỉ huy quân đội; kiểm
tra, giám sát mọi hoạt động của các tổ chức trong quân đội.
Ví dụ: Quân đội nhân dân Việt Nam
Mục tiêu, lý tưởng: từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.
Phương hướng, nhiệm vụ xây dựng quân đội: trục xuyên suốt là cách mạng, chính

quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trong tình hình mới hiện đại ngay một số lực lượng,
quân binh chủng: Hải quân, PKKQ, thông tin, trinh sát, tác chiến điện tử.
- Bản chất giai cấp của quân đội là tương đối ổn định nhưng không phải là cố định,
bất biến, không biến đổi.
+ Sự biến đổi bản chất giai cấp của quân đội phụ thuộc vào sự biến đổi của giai
cấp, nhà nước tổ chức ra quân đội.
+ Sự biến đổi bản chất giai cấp của quân đội phụ thuộc vào sự biến đổi của các
điều kiện kinh tế, chính trị, môi trường văn hóa, xã hội. Quân đội là một bộ phận của
kiến trúc thượng tầng, chịu sự chi phối của cơ sở hạ tầng.
Ví dụ: Kết cấu giai cấp - xã hội trong quân đội. trước kia hơn 90% là con em nông
dân. Hiện nay đủ các thành phần, giai cấp.
+ Sự biến đổi bản chất giai cấp của quân đội phụ thuộc vào việc giải quyết các mối
quan hệ nội bộ trong quân đội.
Tóm lại, quân đội tồn tại và phát triển trong mối quan hệ biện chứng với giai cấp
và nhà nước. Trong đó, giai cấp, nhà nước luôn luôn giữ vai trò quyết định đối với quân
đội về mặt chính trị tư tưởng và tổ chức.
*Hiện nay các học giả tư sản thường rêu rao quan điểm “phi chính trị hóa quân đội”,
tức là đặt quân đội đứng ngoài chính trị, quân đội không mang bản chất giai cấp nào.
“Phi chính trị hóa” Quân đội là một âm mưu, thủ đoạn nằm trong chiến lược “Diễn
biến hoà bình” của các thế lực thù địch, nhằm tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của
Đảng, làm cho Quân đội biến chất, không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng
chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước. Để khắc phục tình trạng đó, cần có các giải
pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội hiện nay.
“Phi chính trị” hóa Quân đội là luận điểm đã có từ lâu, mà các đảng chính trị đối
lập ở những nước đi theo chế độ đa đảng thường sử dụng, để hạn chế quân đội “can dự”
vào những tranh giành chính trị của các đảng phái.
Phi chính trị hóa quân đội tức là đặt quân đội đứng ngoài chính trị, quân đội không
mang bản chất giai cấp nào.
Lý luận và thực tiễn khẳng định rằng, quân đội bao giờ cũng là công cụ của một
giai cấp, một nhà nước nhất định, không có quân đội đứng ngoài chính trị, quân đội

trung lập về chính trị.
“Phi chính trị” hóa quân đội là tách quân đội xã hội chủ nghĩa ra khỏi sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản, đối lập quân đội ta với Đảng, với nhân dân, làm cho quân đội
không có sức chiến đấu, dần dần thoái hóa, biến chất về chính trị, xa rời hệ tư tưởng
chính trị, cách mạng, không còn là quân đội xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện cho chủ
nghĩa đế quốc thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ và có thể gây
chiến tranh xâm lược. Lênin khẳng định: mọi tiếng gào thét về sự trung lập hóa chính trị
quân đội trong nhà nước là điều “bịa đặt hèn hạ và dối trá”.


- Âm mưu, thủ đoạn chống phá quân đội ta của các thế lực thù địch là chống phá về
chính trị, là đánh vào cái “gốc” chính trị của quân đội - chính trị của Đảng của giai cấp
công nhân.Chúng tập trung công kích, phá hoại những vấn đề rất cơ bản của quân đội ta.
Đó là: thứ nhất, phá hoại nền tảng tư tưởng của quân đội; thứ hai,phủ định sự lãnh đạo
của Đảng đối với quân đội; thứ ba, xuyên tạc, phủ định mục tiêu, lý tưởng và bản chất,
truyền thống của quân đội ta; thứ tư, phá hoạimốiquan hệmật thiết giữaquân đội với nhân
dân; thứ năm,lôi kéo quân đội ta tham gia liên minh quân sự, phá hoại tình đoàn kết quốc
tế và khống chế các mối quan hệ hợp tác giữa quân đội ta với quân đội các nước.
- Nội dung: dùng mọi nỗ lực để tạo ra tâm lý “thờ ơ về chính trị”, không quan tâm
đến chính trị, tạo ra “khoảng trống về ý thức hệ”, “chân không ý thức hệ”, pha loãng làm
“nhạt” dần chính trị cách mạng, làm cho hệ tư tưởng tư sản ngày càng xâm nhập sâu hơn
vào đời sống chính trị, tinh thần của bộ đội. Tạo ra sự mơ hồ, mất cảnh giác, mất phương
hướng về chính trị để cuối cùng đi đến làm cho quân đội biến mất về chính trị.
- Để thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, các thế lực thù địch sử dụng
mọi biện pháp, cả về lý luận, tư tưởng lẫn hành động thực tiễn.
Trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng, họ thường lập luận rằng: quân đội là của nhà nước,
nên chỉ phục tùng nhà nước, chứ không phục tùng và chịu sự lãnh đạo của bất cứ chính
đảng nào; hoặc hoạt động của quân đội chỉ để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và
phục vụ nhân dân, nên chỉ phải trung thành với Tổ quốc, nhân dân chứ không phải trung
thành với bất kỳ tổ chức nào…

Trong hành động thực tiễn, những người cổ súy cho tư tưởng “phi chính trị hóa
quân đội” đòi “quân đội phải trung lập về chính trị,” tức là một khi có biến động chính
trị, quân đội hãy án binh, bất động, không đứng về phe nào.
- Thực chất âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội là nhằm tước bỏ sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân, làm cho quân đội
không còn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng,
Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
- Tính nguy hiểm của âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội: hàng ngày, hàng giờ thẩm
thấu vào tư tưởng, tình càm của cán bộ, chiến sĩ quân đội, làm cho chúng ta không dễ dàng
nhận biết đâu là âm mưu của chúng, đâu là những thiếu sót, khuyết điểm của chúng ta.
Hơn nữa “phi chính trị hóa” quân đội lại được ngụy trang hết sức tinh vi dưới cái vỏ
có vẻ “khách quan” là quân đội chỉ cần đặt dưới sự quản lý, điều hành của nhà nước mà
không cần đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng nữa vì đó là yêu cầu của việc xây dựng nhà nước
pháp quyền; hay quân đội chỉ là của quốc gia, không thuộc về giai cấp, đảng phái nào.
Thực chất đây là sự ngộ nhận, mơ hồ về mục đích thật sự trong âm “phi chính trị
hóa” quân đội hoặc chí ít cũng làm cho chúng ta dể mất cảnh giác đối với âm mưu, thủ
đoạn thâm độc này.
- Biện pháp phòng chống:
+ Một là, tăng cường giáo dục, giác ngộ bản chất giai cấp công nhân của quân đội,
nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội.
+ Hai là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, xây dựng
các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch, vững mạnh.
+ Ba là, coi trọng xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh ở các đơn vị
quân đội.


9. Cơ sở lý luận khoa học của vấn đề xây dựng quân đội về chính trị? Ý nghĩa
Mác - Lênin của vấn đề đối với xác định phương hướng xây dựng Quân đội ta về
chính trị hiện nay?
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị làm cơ sở để xây

dựng về mọi mặt, nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu là một nguyên tắc cơ
bản, quan trọng hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình xây dựng quân đội
cách mạng của Đảng, nhằm làm cho quân đội luôn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng
chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; giữ vững và
phát huy bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; luôn hoàn thành
xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
*Xuất phát từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu
mới, quân đội của giai cấp vô sản
V.I.Lênin “Chiến tranh chẳng qua chỉ là chính trị từ đầu đến cuối, chỉ là sự tiếp tục
thực hiện cùng những mục đích... của các giai cấp... với những phương pháp khác mà
thôi” (t.32, tr.356).
Theo lý luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về chiến tranh
và quân đội, các ông đều cho rằng, muốn đánh giá đúng đắn khả năng chiến đấu của
quân đội, không chỉ xem xét yếu tố vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, mà còn phải xem
xét đến tinh thần quyết chiến, khả năng chịu đựng gian khổ của nó trong chiến tranh.
V.I.Lênin viết: “Trong mọi cuộc chiến tranh rút cuộc thắng lợi hay thất bại đều tuỳ
thuộc vào tâm trạng của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường” (t.41, tr.147).
Yếu tố chính trị giữ vai trò quyết định trong chiến tranh. Bởi vì, yếu tố chính trị
tinh thần khi được thấm nhuần, nó trở thành sức mạnh vật chất, làm cho sức mạnh chiến
đấu của quân đội được tăng lên gấp bội. Chỉ có tinh thần chính trị cao thì quân đội mới
có thể chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh ác liệt của cuộc chiến tranh hiện đại,
nâng cao hiệu quả của các loại vũ khí hiện đại ở mức cao nhất. Ngược lại tinh thần
chính trị thấp sẽ làm cho quân đội không những không có sức chiến đấu mà còn mất
phương hướng mục tiêu chính trị, không sử dụng và phát huy hiệu quả vũ khí trang bị
cho dù vũ khí tối tân hiện đại. Do vậy, việc xây dựng quân đội về chính trị là một vấn
đề tất yếu, cơ bản hàng đầu quyết định sức mạnh chiến đấu của quân đội.
*Xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới, quân đội
của giai cấp vô sản
Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Chỉ thị nêu
rõ: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân

sự” (t.5, tr.768), “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có
hại” (t.6, tr.318). “Chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc” (t.6, tr.319).
Người đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng quân đội về chính trị, lấy xây dựng chính
trị làm cơ sở cho mọi mặt xây dựng khác, coi việc xây dựng nhân tố chính trị tinh thần
là một trong những nhân tố quyết định đến tiến trình và kết cục của chiến tranh; tăng
cường củng cố bản chất giai cấp công nhân cho quân đội nhân dân, trong đó thành phần
tham gia quân đội cơ bản là con em các tầng lớp lao động, chủ yếu là nông dân, đó là
đóng góp lớn của Hồ Chí Minh về lý luận xây dựng quân đội kiểu mới; bên cạnh đó
Người luôn quan tâm đến việc xây dựng toàn diện các yếu tố khác tạo thành sức mạnh


chiến đấu tổng hợp của quân đội cách mạng, không tuyệt đối hoá vai trò của yếu tố
chính trị - tinh thần.
*Xuất phát từ điều kiện kinh tế - xã hội, giai cấp ở nước ta hiện nay
- Những thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước đã củng cố, ý thức, trách nhiệm
chính trị, nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý của cán bộ, chiến sỹ đối với sự
nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ
chế độ, làm tăng thêm sức mạnh chính trị - tinh thần của quân đội ta.
- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho bộ mặt kinh tế - xã hội có biến đổi, do đó
nó làm phân hoá, phân tầng giai cấp xã hội.
- Sự biến đổi kinh tế - xã hội, nền kinh tế nhiều thành phần và mặt trái của cơ chế
thị trường đã làm xuất hiện những tiêu cực mới trên mọi phương diện, tác động không
nhỏ đến xây dựng quân đội về chính trị như: ý thức giác ngộ chính trị; nhận thức về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội; sự thoái hoá về phẩm chất đạo đức lối sống ở một bộ
phận cán bộ chiến sỹ bị giảm sút.
*Xuất phát từ tính chất của cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận, đấu tranh ý thức
hệ ở nước ta hiện nay
- Những tàn dư của tư tưởng phong kiến, tư tưởng tiểu tư sản là hệ tư tưởng tư sản,
chủ nghĩa chống cộng công khai và chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, xét lại đang tấn công
toàn diện và mạnh mẽ vào bản chất cách mạng của quân đội ta.

- Nhiều quan điểm chống phá, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực ý thức hệ rất phức tạp,
nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, tình hình biển Đông, và tình hình đất nước trước
thềm đại hội XII của Đảng.
*Xuất phát từ cuộc khủng hoảng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên
Xô hiện nay
- Sự sụp đổ mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên xô và Đông Âu, đây là bài học đau
xót và là lời cảnh tỉnh cho những ai xa rời những nguyên lý, nguyên tắc của chủ nghĩa
Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, nhất là vấn đề xây dựng quân đội về chính
trị, củng cố và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của quân đội kiểu mới.
- Tương quan so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng thay đổi bất
lợi cho chủ nghĩa xã hội, nó tác động mạnh mẽ đến tư tưởng chính trị của cán bộ chiến
sỹ Quân đội ta trên nhiều phương diện.
- Sự sụp đổ đó có nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân về sự sụp đổ về xây
dựng chính trị. Cuộc đấu tranh giai cấp dân tộc tiếp tục diễn ra trong điều kiện mới, nội
dung mới, hình thức phức tạp, dưới những sứac thái mới, mà tính chất của chúng không
kém phần gay go, quyết liệt. Vì vậy phải xây dựng Quân đội về chính trị để quân đội
đứng vững trước các vấn đề phức tạp đó.
*Xuất phát từ yêu cẩu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta
trong giai đoạn mới
Yêu cầu, nhiệm vụ của bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay có sự phát triển mới:
“Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo
vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hoà bình, ổn định
chính trị và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; chủ động đấu tranh làm thất bại
mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lưc thù địch đối với sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta” (ĐH 11, tr.81-82)


*Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với đất
nước và quân đội
- Lợi dụng những thành tựu khoa học vào lĩnh vực quân sự, sử dụng vũ khí công

nghệ cao làm đòn răn đe.
- Các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật
đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở
nước ta với những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, nhất là trên lĩnh vực chính trị, tư
tưởng. Đối với quân đội, chúng thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội, từng
bước làm cho cán bộ, chiến sĩ ta mơ hồ, mất cảnh giác, xa rời mục tiêu, lý tưởng, dẫn
đến suy giảm sức mạnh chiến đấu.
*Xuất phát từ thực trạng xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được thì việc xây dựng quân đội vững
mạnh về chính trị vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định về nhận thức, trách nhiệm;
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; chất lượng hoạt động của các tổ chức quần
chúng; trình độ lý luận, đạo đức và lối sống, phong cách công tác của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên…
*Ý nghĩa Mác - Lênin của vấn đề đối với xác định phương hướng xây dựng
Quân đội ta về chính trị hiện nay
Xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị là một đòi hỏi
khách quan và cần phải được thực hiện một cách kiên quyết, đồng bộ và sáng tạo trong
bối cảnh mới nhằm bảo đảm cho quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng
chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng toàn Đảng, toàn
dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
- Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.
- Toàn Đảng, toàn dân và toàn thể bộ máy nhà nước, cả Hệ thống chính trị đều có
trách nhiệm xây dựng quân đội về chính trị.
- Đổi mới phương pháp giáo dục chính trị, nâng cao tính dân chủ, tính đối thoại,
tính thuyết phục, tính tự giác, vận dụng linh hoạt nhiều hình thức phong phú và đa dạng.
- Xây dựng đồi sống chính trị, tinh thần, văn hóa cho quân đội.
- Đối mới hệ thống chính sách đối với quân đội.
10. Cơ sở khoa học của việc tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội? Ý
nghĩa phương pháp luận của vấn đề đối với việc xác định phương hướng tăng

cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta hiện nay?
Học thuyết Mác - Lênin về quân đội không chỉ đề cập đến vấn đề nguồn gốc ra
đời, bản chất của quân đội, mà còn đi sâu làm rõ những vấn đề lý luận về sức mạnh
chiến đấu của quân đội. Đây là một trong những vấn đề lý luận có vị trí, vai trò rất quan
trọng. Nó là cơ sở lý luận, phương pháp luận trong xem xét, đánh giá sức mạnh chiến
đấu của các kiểu quân đội trong lịch sử, nhất là các kiểu quân đội trong thời đại hiện
nay. Đây cũng là cơ sở lý luận quan trọng để Đảng và Nhà nước ta xác định những quan
điểm, chủ trương, phương hướng, biện pháp xây dựng sức mạnh chiến đấu của Quân
đội nhân dân Việt Nam.


Theo quan điểm Mác - Lênin, sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng thể các
yếu tố vật chất, tinh thần và sự tương tác giữa các yếu tố đó quy định trạng thái, khả
năng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu của quân đội nhằm thực hiện mục đích chính trị của
nhà nước, giai cấp nhất định.
Trong giai đoạn hiện nay, tất yếu phải tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân
đội, bởi vì:
*Cơ sở khoa học của việc tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội
- Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về sức mạnh chiến đấu của quân
đội: Sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng thể các nhân tố vật chất và tinh thần và sự
tương tác giữa các yếu tố đó quy định trạng thái, khả năng thực hiện nhiệm vụ chiến đấu
của quân đội nhằm thực hiện mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước nhất định.
Chủ nghĩa Mác - Lênin không tuyệt đối hóa yếu tố vật chất hay tinh thần mà khẳng
định sức mạnh chiến đấu của quân đội là tổng hợp của nhiều yếu tố, là sự thống nhất
biện chứng giữa các yếu tố tạo thành sức mạnh chiến đấu.
Sức mạnh chiến đẩu của quân đội chịu sự quy định của chế độ chính trị - xã hội và
điều kiện kinh tế của đất nước. Theo Lênin “Một nước có trình độ văn minh cao hơn thì
có ưu thế… về mặt quân sự” (t.34, tr.261).
- Xuất phát từ tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh: phát triển sáng tạo học thuyết Mác lênin vào điều kiện chiến tranh ở Việt Nam
Hồ Chí Minh quan tâm đến nguyên tắc chính trị - giai cấp, khẳng định chế độ

chính trị - xã hội, nhà nước quyết định bản chất quân đội và đã vận dụng sáng tạo
nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp
vô sản phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam.
Trong mọi điều kiện, Hồ Chí Minh bao giờ cũng coi trọng xây dựng quân đội toàn
diện, phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng “Phải không ngừng nâng cao trình
độ chính trị, kinh tế và văn hóa, ra sức công tác và lao động, tang gia sản xuất, thực
hành tiết kiệm góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội” (HCM với các LLVT). Trong đó
người đề cao vai trò của xây dựng quân đội về chính trị, làm nền tảng cho sức mạnh
chiến đấu của quân đội.
- Xuất phát từ những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế giới và khu
vực: (Theo đánh giá của đại hội XI)
Trong thập niên tới, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, nhưng
xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh giành tài nguyên, lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm
xuyên quốc gia có thể gia tăng cùng với những vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo,
dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên... buộc các quốc gia phải có chính
sách đối phó và phối hợp hành động.
Các nước ASEAN bước vào thời kỳ hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN và xây
dựng Cộng đồng dựa trên ba trụ cột: chính trị - an ninh, kinh tế, văn hoá - xã hội; hợp
tác với các đối tác tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu. ASEAN đang ngày càng
khẳng định vai trò trung tâm trong một cấu trúc khu vực đang định hình nhưng cũng
đang phải đối phó với những thách thức mới.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động và đang hình thành
nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn. Tuy vậy, vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất
ổn định, nhất là tranh giành ảnh hưởng, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên...


-

- Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách
mạnh Việt Nam: Đẩy mạnh thực hiện chiến lược”diễn biến hoà bình”, “bạo loạn lật đổ”,

Chống phá toàn diện trên tất cả các mặt:
Chính trị: Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng
Kinh tế: Phủ nhận đường lối đổi mới, nền kinh tế thị trường…
Văn hóa: Truyền bá lối sống phương Tây.
- Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện và hội nhập quốc
tế và đặc điểm cuộc đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay
- Xuất phát từ khủng hoảng hiện thực của chủ nghĩa xã hội - bài học kinh nghiệm
Yêu cầu, nhiệm vụ của bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay có sự phát triển mới: “Bảo vệ
vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng,
Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hoà bình, ổn định chính trị và
an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và
hành động chống phá của các thế lưc thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân
dân ta” (ĐH 11, tr.81-82).
- Từ thực trạng sức mạnh chiến đấu của quân đội ta hiện nay:
+ Quân số, tổ chức biên chế chưa hợp lý, chưa thích hợp với sự phát triển của
những điều kiện tác chiến mới. Khả năng chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, sức cơ động
của quân đội chưa cao.
+ Còn để bị bất ngờ về chiến thuật trong xử lý một số tình huống cụ thể, để kẻ địch
lợi dụng sơ hở xâm phạm vùng trời, thực hiện âm mưu phá hoại về chính trị.
+ Trình độ lý luận, tính nhạy bén và bản lĩnh chính trị, đạo đức lối sống của không
ít cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ trì trung, cao cấp chưa tương xứng với vị
trí, yêu cầu, nhiệm vụ của quân đội trong cuộc đấu tranh mới.
+ Trình độ chính quy của quân đội chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
+ Điều kiện vũ khí trang bị kỹ thuật còn lạc hậu, ngày càng xuống cấp, song chưa
xác định được chiến lược tổng thể về trang bị cho quân đội, về công nghiệp quốc phòng.
*Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề đối với việc xác định phương hướng
tăng cường sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta hiện nay
- Tăng cường sức mạnh chiến đấu cho quân đội là tất yếu, phải tang cường tất cả
các yếu tố, không được coi nhẹ yếu tố nào bởi vì các yếu tố có quan hệ biện chứng,
không tách rời.

- Để nâng cao sức mạnh chiến đấu thì phải quán triệt và thực hiện tốt phương
hướng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện
đại trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội cần tập
trung vào một số nội dung sau đây:
+ Xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, trong đó đặc biệt chăm lo xây dựng
quân đội vững mạnh về chính trị, đi đôi với bồi dưỡng, rèn luyện đạo đức, kỷ luật, đảm
bảo cho quân đội vừa giỏi tác chiến trên mặt trận chính trị tư tưởng chống “diễn biến
hoà bình” và “tự diễn biến”; đồng thời, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh bằng vũ khí
công nghệ cao.
+ Tiếp tục nghiên cứu đổi mới tổ chức, biên chế của quân đội phù hợp với yêu cầu,
nhiệm vụ của thời kỳ mới.


+ Từng bước cải tiến, đổi mới vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự; sẵn sàng đối phó
thắng lợi trong trường hợp kẻ thù liều lĩnh tiến hành cuộc chiến tranh bằng vũ khí công
nghệ cao chống nước ta.
+ Tiếp tục nghiên cứu, phát triển khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự.
+ Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, cán bộ chuyên môn
kỹ thuật.
- Đấu tranh với các quan điểm sai trái.
11. Cơ sở khoa học của việc tăng cường sức mạnh quân sự quốc gia? Ý nghĩa
phương pháp luận của vấn đề đối với việc xác định phương hướng tăng cường sức
mạnh quân sự quốc gia ở Việt Nam hiện nay?
*Khái niệm sức mạnh quân sự quốc gia
Sức mạnh quân sự quốc gia là tổng thể các lực lượng vật chất, tinh thần của một
nhà nước và khả năng huy động các lực lượng ấy để thực hiện mục đích của chiến
tranh và các nhiệm vụ quốc phòng.
- Sức mạnh quân sự quốc gia là một chỉnh thể thống nhất bao gồm nhiều lực lượng
và các mối quan hệ tạo thành. Nó luôn luôn tồn tại dưới hai trạng thái:
Trạng thái tiềm lực: là sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng của những lực

lượng, phương tiện đã có, hoặc có thể động viên để sử dụng trong chiến tranh.
Trạng thái nhân tố: là những tiềm lực đã được huy động trở thành sức mạnh hiện
thực tác động vào quá trình chiến tranh.
- Sức mạnh quân sự quốc gia mang tính lịch sử - cụ thể sâu sắc. Bởi vì: Ở các thời
điểm lịch sử, sức mạnh quân sự quốc gia (được đánh giá là mạnh hay yếu) không chỉ
phụ thuộc vào số lượng, chất lượng các tiềm lực tạo nên nó, mà còn phụ thuộc vào so
sánh lực lượng với sức mạnh quân sự quốc gia của nhà nước đối địch; phụ thuộc vào
yêu cầu nhiệm vụ mà sức mạnh quân sự quốc gia cần giải quyết.
*Cơ sở khoa học của việc tăng cường sức mạnh quân sự quốc gia
- Xuất phát từ vai trò của sức mạnh quân sự quốc gia đối với nhiệm vụ xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
+ Yêu cầu phải thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược, hướng tới mục tiêu
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Để thực hiện mục tiêu đó Đảng, Nhà nước ta phải lãnh đạo, tổ chức phát huy sức
sáng tạo của toàn dân, trong đó tăng cường sức mạnh quân sự quốc gia có vai trò quan
trọng đăc biệt.
+ Sức mạnh quân sự quốc gia còn có giá trị như một nhân tố kích thích sự phát
triển của kinh tế - xã hội, trực tiếp tạo ra lợi thế trong quan hệ quốc tế trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự thắng
lợi của con đường xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
- Xuất phát từ tình hình quốc tế và khu vực đã và đang có những diễn biến phức
tạp, khó lường: (Theo đánh giá của đại hội XI)
Trong thập niên tới, hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, nhưng
xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh giành tài nguyên, lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm
xuyên quốc gia có thể gia tăng cùng với những vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo,


dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên... buộc các quốc gia phải có chính
sách đối phó và phối hợp hành động.
Các nước ASEAN bước vào thời kỳ hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN và xây

dựng Cộng đồng dựa trên ba trụ cột: chính trị - an ninh, kinh tế, văn hoá - xã hội; hợp
tác với các đối tác tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu. ASEAN đang ngày càng
khẳng định vai trò trung tâm trong một cấu trúc khu vực đang định hình nhưng cũng
đang phải đối phó với những thách thức mới.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục phát triển năng động và đang hình
thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn. Tuy vậy, vẫn tiềm ẩn những nhân
tố gây mất ổn định, nhất là tranh giành ảnh hưởng, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài
nguyên...
Đặc biệt vấn đề tranh chấp Biển Đông và các quần đảo Hoàng Sa, Trường sa…
giữa Trung Quốc với Việt Nam và các nước trong khu vực đang tạo ra những bất đồng,
cũng như tiềm ẩn những nhân tố gây bất ổn giữa các nước.
- Xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách
mạnh Việt Nam
+ Thủ đoạn của Đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch ngày càng đa dạng, phức tạp
và hết sức khó lường. Tực hiện chiến lược: “Diễn biến hòa bình”, chúng tìm mọi cách
chống phá ta trên tất cả các lĩnh vực: từ kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, ngoại giao...
hòng làm suy yếu và sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
+ Hơn nữa, ngày nay để thực hiện âm mưu bá chủ thế giới, chủ nghĩa đế quốc đang
tạo ra một cuộc chạy đua vũ trang mới. Chúng đang ra sức tìm cách tạo ra các thế hệ vũ
khí mới và xây dựng quân đội có sức cơ động nhanh, sức chiến đấu cao... nhằm chiếm
ưu thế tuyệt đối trong chiến tranh.
Do vậy, nếu xảy ra chiến tranh trong tương lai do chủ nghĩa đế quốc tiến hành, đó
sẽ là cuộc chiến tranh công nghệ cao, tính chất quyết liệt và sự tàn khốc là chưa từng
có. Nó đòi hỏi chúng ta phải có tiềm lực quốc phòng và khả năng quân sự tương ứng
mới có thể bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đó là vấn đề rất nghiêm túc và
là thách thức rất lớn đối với nước ta.
- Xuất phát từ thực trạng sức mạnh quân sự quốc gia ở nước ta hiện nay
+ Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, sức mạnh quân sự quốc gia, sức mạnh
chiến đấu của quân đội đã được tăng cường; chúng ta có ưu thế về tiềm lực xã hội và
tiềm lực chính trị tinh thần, có kinh nghiệm và nghệ thuật chiến tranh; có đường lối

chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân, cho phép huy động tối đa cho nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc.
+ Hạn chế:
Vũ khí trang bị của quân đội chưa được hiện đại hoá, khả năng mua sắm, sản xuất
vũ khí trang bị phục vụ cho quốc phòng còn rất hạn chế.
Công nghiệp quốc phòng chưa phát triển, ngân sách quốc phòng tuy đã tăng nhưng
nhìn chung còn thấp, chưa thoả mãn được yêu cầu nhiệm vụ.
Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ
nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công
chức diễn ra nghiêm trọng”


Tình hình khiếu kiện phức tạp kéo dài, dân chủ ở nhiều nơi còn manh tính hình
thức, những vấn đề dân tộc, tôn giáo… chưa được giải quyết triệt để đang ảnh hưởng
không tốt đến khối đại đoàn kết toàn dân, đến tiềm lực xã hội và tiềm lực tinh thần trong
sức mạnh quân sự quốc gia.
Như vậy, từ yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, từ âm mưu thủ đoạn và khả
năng quân sự của chủ nghĩa đế quốc, từ thực trạng sức mạnh quân sự nước ta hiện nay,
vấn đề tăng cường sức mạnh quân sự quốc gia là yêu cầu khách quan, cấp bách đối với
nước ta.
- Xuất phát từ quy luật dựng nước phải đi đôi với giữ nước cũng là quy luật tồn tại
và phát triển của dân tộc ta.
*Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề đối với việc xác định phương hướng
tăng cường sức mạnh quân sự quốc gia ở Việt Nam hiện nay
- Là cơ sở khoa học để xây dựng SMQSQG của các giai cấp, nhà nước.
- Là cơ sở quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng ta về xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân hiện nay.
- Vận dụng vào giáo dục bộ đội, xây dựng và chuẩn bị lực lượng sẵn sàng chiến
đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc VN XHCN.
- Phê phán các tư tưởng sai trái (Xây dựng SMQSQG là do ý muốn chủ quan của

các nhà nước); tuyệt đối hoá hoặc coi nhẹ tiềm lực này hay tiềm lực khác.
Một số giải pháp cơ bản tăng cường sức mạnh quân sự quốc gia của nước ta trong
giai đoạn hiện nay.
- Tập trung phát triển kinh tế, phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Nâng cao vai trò của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân tộc.
- Đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ, chú trọng phát triển khoa học công
nghệ quốc phòng, quân sự; đảm bảo cho việc tăng cường sức mạnh quân sự quốc gia.
Tóm lại, xây dựng và tăng cường sức mạnh quân sự quốc gia ở nước ta là vấn đề
có tính quy luật, vừa có ý nghĩa chiến lược, vừa có ý nghĩa cấp thiết hiện nay. Để tăng
cường sức mạnh quân sự quốc gia của nước ta hiện nay, chúng ta phải có quan điểm, có
đường lối, chính sách đúng đắn, khoa học, vừa phản ánh, đáp ứng được yêu cầu nhiệm
vụ bảo vệ Tổ quốc, củng cố quốc phòng, vừa phù hợp với điều kiện, khả năng kinh tế xã
hội ở nước ta. Trong đó, việc tập trung phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học
công nghệ, tăng cường vai trò và hiệu lực của hệ thống chính trị, phát huy sức mạnh
khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ
và từng bước hiện đại là những vấn đề có ý nghĩa trực tiếp nhất đối với viêc tăng cường
sức mạnh quân sự quốc gia ở nước ta hiện nay.
12. Cơ sở khoa học của việc tăng cường sức manh quân sự quốc gia trong bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa? Ý nghĩa của vấn đề?


3. Sự vận dụng, phát triển học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh và quân đội
của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam? Ý nghĩa phương pháp luận của
vấn đề?
*Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến tranh
- Trên cơ sở lập trường duy vật biện chứng, Hồ Chí Minh đã sớm đánh giá đúng
đắn bản chất, qui luật của chiến tranh, tác động của chiến tranh đến đời sống xã hội.
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cuộc chiến tranh do thực dân Pháp tiến hành ở nước ta là cuộc

chiến tranh xâm lược. Ngược lại cuộc chiến tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp
xâm lược là cuộc chiến tranh nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền và thống nhất đất nước.
- Xác định tính chất xã hội của chiến tranh, phân tích tính chất chính trị - xã hội
của chiến tranh xâm lược thuộc địa, chiến tranh ăn cướp của chủ nghĩa đế quốc, chỉ ra
tính chất chính nghĩa của chiến tranh giải phóng dân tộc.
+ Hồ Chí Minh đã xác định tính chất xã hội của chiến tranh: chiến tranh xâm lược
là phi nghĩa, chiến tranh chống xâm lược là chính nghĩa, từ đó xác định thái độ của
chúng ta là ủng hộ chiến tranh chính nghĩa, phản đối chiến tranh phi nghĩa
+ Kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về bạo lực cách mạng,
Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chiến tranh cách mạng Việt Nam.
Người khẳng định: “chế độ thực dân, tự bản thân nó đã là một hành đọng bạo lực, độc
lập, tự do không thể cầu xin mà có được phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực
phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”
+ Bạo lực cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh được tạo bởi sức mạnh của toàn
dân, bằng cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh
chính trị và đấu tranh vũ trang.
- Hồ Chí Minh khẳng định: Ngày nay chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân
dân ta là chiến tranh nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
+ Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Hồ Chí Minh luôn coi con người là
nhân tố quyết định thắng lợi trong chiến tranh. Người chủ trương phải dựa vào dân, coi
dân là gốc, là cội nguồn của sức mạnh để “xây dựng lầu thắng lợi”.
+ Chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng là cuộc chiến tranh toàn dân,
phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
+ Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đánh giặc phải bằng sức mạnh của toàn dân, trong
đó phải có lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Kháng chiến toàn dân phải đi đôi
với kháng chiến toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, đánh địch trên tất
cả các mặt trận: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá…
Sự khái quát trên đã phản ánh nét đặc sắc của chiến tranh nhân dânViệt Nam
trong thời đại mới và là một sự phát triển cao tư tưởng vũ trang toàn dân của chủ nghĩa
Mác - Lênin. Sự phát triển sâu sắc làm phong phú thêm lí luận mác xít về chiến tranh

nhân dân trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam
*Tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về quân đội
- Khẳng định sự ra đời của quân đội là một tất yếu, là vấn đề có tính quy luật
trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở Việt Nam
Sự ra đời của quân đội xuất phát từ chính yêu cầu của sự nghiệp cách mạng giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở nước ta. Thực tiễn lịch sử cho thấy, kẻ thù dùng
bạo lực phản cách mạng để áp bức nô dịch dân tộc ta. Do vậy, muốn giải phóng dân tộc,


×