Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

tiểu luận cao học mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (182.44 KB, 23 trang )

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, kinh tế thị trường đang trong quá trình
phát triển mạnh mẽ và đang từng bước được hoàn thiện về cơ chế
cũng như thế chế. Điều này, mặc nhiên thừa nhận nền kinh tế
nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần (có cả kinh tế tư nhân)
được điều tiết bởi kinh tế thị trường. Trong công cuộc đổi mới đất
nước 15 năm qua, Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu to lớn.
Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ nhanh, đời sống của
nhân dân từng bước được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được thì công cuộc đổi
mới đang đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm,
trong đó có vấn đề xuống cấp của đạo đức. Điều này liên quan đến
mặt trái của kinh tế thị trường, cũng như sự tác động tiêu cực của
kinh tế thị trường đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Trong đó nổi lên những vấn đề về lợi ích và quan hệ lợi ích trên
tất cả các mặt của đời sống xã hội, nhất là vấn đề kinh tế thị
trường ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của xã hội về mặt
đạo đức và ngược lại, đạo đức chi phối như thế nào đến sự phát
triển nhanh chóng của kinh tế thị trường hiện nay.
Trước những thành quả mà kinh tế thị trường đã mang lại và
những tác động tiêu cực của nó, nhất là về mặt đạo đức, một số
người đã cho rằng, sự xuống cấp về mặt đạo đức xã hội bắt nguồn
từ việc khuyến khích lợi ích cá nhân trong người lao động. Họ cho
rằng, đạo đức xã hội và lợi ích cá nhân trong kinh tế thị trường là
không thể dung hợp được với nhau. Nhưng cũng có ý kiến cho
rằng sự khuyến khích lợi ích cá nhân (là lợi ích cá nhân chính
đáng), điều này tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân phát triển
mình về mọi mặt nhất là về tài năng và trí tuệ. Hay nói khác đi, đó
là với việc phát triển kinh tế thị trường đã tạo ra môi trường thuận
lợi phát huy vai trò chủ thể cá nhân, rằng kinh tế thị trường là cơ


chế cho nhân cách con người phát triển tốt nhất trong điều kiện
hiện nay.
Hiện nay, có một số người kỳ thị với kinh tế thị trường vì họ
cho rằng kinh tế thị trường là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái về
1


mặt đạo đức. Hiển nhiên, chúng ta có thể thấy rằng, ở một số nước
có nền kinh tế thị trường phát triển mạnh đều đang diễn ra hiện
tượng suy thoái về đạo đức, thậm chí sự suy thoái về đạo đức ở
một số nước trong một số giai đoạn còn tỉ lệ thuận với sự tăng
trưởng của kinh tế thị trường. Nhưng từ thực tế chúng ta có thể
thấy rằng, không thể đổ hết nguyên nhân làm suy thoái đạo đức
cho kinh tế thị trường và phải đánh giá đúng đắn những giá trị mà
kinh tế thị trường đã mang lại. Trên thực tế đã cho thấy: không
phải tất cả mọi người sản xuất và kinh doanh vì lợi nhuận đều suy
thoái về đạo đức; kinh tế thị trường luôn tác động hai mặt, bên
cạnh những mặt xấu thì kinh tế thị trường còn có những tác động
tốt đến đạo đức xã hội; hiện tượng băng hoại về đạo đức không
chỉ tồn tại trong nền kinh tế thị trường mà một số hiện tượng xấu
đó cũng tồn tại trong nền kinh tế phi thị trường; bên cạnh những
nước có hiện tượng xấu về đạo đức tăng cùng với sự phát triển của
kinh tế thị trường thì cũng có những nước kinh tế thị trường ngày
càng phát triển mạnh mẽ nhưng hiện tượng suy thoái về đạo đức
ngày càng giảm; hoặc chúng ta cũng có thể thấy rằng hiện tượng
băng hoại về đạo đức tăng là do một số nước thực hiện không
đúng kinh tế thị trường, nhất là do yếu kém trong quản lý xã hội
và giáo dục chưa đạt chất lượng.
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, việc giữ gìn và
phát huy những giá trị đạo đức truyền thống, cũng như xây dựng

những giá trị đạo đức mới là vấn đề mà Đảng, Nhà nước ta quan
tâm hàng đầu. Vì vậy, em chọn “Mối quan hệ giữa đạo đức và
kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình. Đề tài này chủ yếu dựa trên lý luận triết học
nhìn nhận mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường, có ý
nghĩa về mặt lý luận đó là làm rõ lý luận về đạo đức kinh tế thị
trường, những ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến đạo đức xã
hội và sự điều tiết của đạo đức trong nền kinh tế thị trường hiện
nay. Từ những lý luận đó, nhằm đưa ra những giải pháp cơ bản để
xây dựng một nền đạo đức phù hợp với kinh tế thị trường ở nước
ta hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cùng với việc thừa nhận kinh tế thị trường không phải là sản
2


phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản đã đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ
nghiên cứu, vận dụng tốt những kiến thức về kinh tế thị trường
và các quy luật của nó vào thực tiễn nước ta nhằm thực hiện mục
tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn
minh”. Kinh tế thị trường ở Việt Nam là nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, một nền kinh tế vừa làm giàu để
xóa đói giảm nghèo vừa thực hiện đền ơn đáp nghĩa, vừa phát
triển kinh tế vừa chăm lo cho đời sống tinh thần. Phát triển một
nền kinh tế giàu mạnh đi đôi với việc xây dựng mối quan hệ giữa
người với người, đạo lý làm người ngày càng tốt đẹp hơn.
Xây dựng đạo đức phù hợp với kinh tế thị trường là một vấn
đề quan trọng đang được quan tâm hàng đầu, đó là một tất yếu
khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Chính vì vậy, mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường cùng

những vấn đề liên quan, đặc biệt là công tác giáo dục đạo đức
trong giai đoạn kinh tế thị trường đã và đang được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm đặc biệt. Trong số đó, có thể kể đến một số
công trình nghiên cứu sau: Phạm Văn Đức với “Mối quan hệ giữa
lợi ích cá nhân và đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay”, Tạp chí triết học, 28/01/2006; GS.TS. Chu Văn
Cấp với “Định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở
nước ta”, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2009;
PGS.TS. Nguyễn Chí Mỳ với “Tác động hai mặt của nền kinh tế
thị trường và toàn cầu hóa đối với xây dựng đời sống văn hóa”,
Tạp chí cộng sản, 2004; Nguyễn Đình Tường với “Một số biểu
hiện của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở
Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc phục”, Tạp chí triết học,
2010. Tuy nhiên, hầu hết những đề tài trên đều xem xét mối quan
hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường chủ yếu ở góc độ thực tiễn.
Với đề tài “Mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường ở Việt
Nam hiện nay”, mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường
được nghiên cứu và xem xét ở góc độ lý luận triết học. Sự tác
động lẫn nhau giữa kinh tế thị trường và đạo đức được xem xét
với nhiều quan điểm khác nhau, để từ đó đưa ra một số giải pháp
nhằm xây dựng có hiệu quả đạo đức phù hợp với kinh tế thị
trường ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
3


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của đề tài này là
làm rõ mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Với mục đích đó, nhiệm vụ của đề tài

đặt ra là:
- Phân tích lý luận về đạo đức, kinh tế thị trường và những
vấn đề của đạo đức trong kinh tế thị trường .
- Phân tích tác động qua lại giữa đạo đức và kinh tế thị trường
ở Việt Nam giai đoạn hiện nay, đề xuất những giải pháp chính
nhằm xây dựng đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của triết học duy
vật lịch sử. Đồng thời xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đạo đức
Mác - Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó đề tài còn
có cơ sở lý luận là những quan điểm về tác động qua lại giữa kinh tế
thị trường và đạo đức trong lịch sử tư tưởng triết học.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu của
khóa luận là phương pháp biện chứng duy vật, đồng thời để
nghiên cứu vấn đề này em còn sử dụng các phương pháp như:
phương pháp lôgic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp đối chiếu và so sánh,…Trên cơ sở đó kết hợp hài
hòa giữa các phương pháp để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu một
cách hiệu quả nhất, trong đó có kế thừa có chọn lọc những tài liệu
có sẵn trong kho tàng lý luận.
5. Đóng góp của đề tài
Kể từ khi Việt Nam áp dụng cơ chế thị trường, những thay
đổi trong quan hệ kinh tế đã có sự tác động mạnh mẽ đến tất cả
các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Với những mặt tích cực mà
kinh tế thị trường đem lại đã làm cho kinh tế nước ta phát triển
mạnh mẽ và đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân
ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị
trường là vấn đề nổi cộm, nhất là hiện nay vấn đề xuống cấp của
đạo đức, vấn đề này có liên quan đến sự tác động tiêu cực của
kinh tế thị trường. Như vậy, trong lúc còn có nhiều quan điểm

4


khác nhau về mối quan hệ giữa đạo đức và kinh tế thị trường thì
đề tài này có những đóng góp sau:
- Trình bày một cách tổng hợp và khái quát lý luận về đạo
đức kinh tế thị trường, những quan điểm về mối quan hệ giữa đạo
đức và kinh tế thị trường, áp dụng vào thực tiễn Việt Nam để có
những giải pháp hữu hiệu nhằm xây dựng đạo đức phù hợp với
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.
-Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên
và những người quan tâm đến vấn đề này.
6. Kết cấu của khoá luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
Khóa luận có hai chương (6 tiết).

5


NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG,
NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA ĐẠO ĐỨC TRONG KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
1.1. Lý luận về đạo đức
Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội xuất hiện
sớm nhất trong lịch sử và phát triển cùng với sự phát triển của các
phương thức sản xuất. Đạo đức - một chế định xã hội thực hiện
chức năng điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội. Trong xã hội hiện nay, bên cạnh những giá trị đạo

đức truyền thống tốt đẹp tạo thành sức mạnh tinh thần của dân tộc
thì có không ít vấn đề tiêu cực nảy sinh. Trong quá trình thực hiện
cơ chế kinh tế thị trường cần có những định hướng giá trị đạo đức
lành mạnh cho tất cả mọi người nhằm tạo ra được đời sống tinh
thần tốt đẹp trong công cuộc đổi mới hiện nay.
1.1.1. Một số quan niệm về đạo đức trong lịch sử triết học
trước chủ nghĩa Mác
Những tư tưởng về đạo đức xuất hiện cách đây hơn 26 thế kỷ,
phát triển từ thấp đến cao, cùng với sự phát triển của lực lượng sản
xuất, thông qua sự kế thừa có chọn lọc những giá trị tư tưởng đạo
đức có trước. Tư tưởng về đạo đức trước Mác có nhiều quan niệm
khác nhau. Các quan niệm đó chủ yếu chia thành hai trường phái
trái ngược nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, khoa
học và tôn giáo.
Tiêu biểu cho những nhà duy vật trước Mác có các đại biểu:
Đêmôcrit (460 - 370 TCN), Êpyquya (431 - 270 TCN), L.Phơbach
(1084 - 1872). Những nhà triết học duy vật khẳng định nguồn gốc
trần thế, nguồn gốc xã hội của đạo đức, gắn đạo đức với những
nhu cầu về lợi ích, vật chất của con người, chống lại sự thần bí của
đạo đức mà chủ nghĩa duy tâm đã áp đặt cho nó. Vì hạn chế về
mặt điều kiện lịch sử và về thế giới quan nên các nhà triết học duy
vật trước Mác chưa thấy được yếu tố vật chất của đạo đức và đã
tách rời đạo đức với những tính đặc thù của nó.
Tiêu biểu cho quan niệm về đạo đức của những nhà triết học
6


duy tâm là Platon (427 - 347 TCN), I. Kant (1724 - 1804), P.
Heeghen (1770 - 1831). Họ xem xét nguồn gốc đạo đức ở lĩnh vực
tinh thần chủ quan - tự ý thức hay ở một lực lượng siêu nhiên - ý

niệm tuyệt đối của các nhà duy tâm khách quan. Chính vì vậy,
quan niệm về đạo đức của họ không chỉ là sản phẩm của nhận
thức duy tâm mà còn là sản phẩm của một thế giới quan tôn giáo.
Hay nói cách khác, họ đã thần bí hóa đạo đức.
Như chúng ta đã biết chức năng chủ yếu của tôn giáo là đền
bù hư ảo. Nên quan niệm của tôn giáo về đạo đức cũng mang tính
phản ánh phi hiện thực lịch sử. Tôn giáo hướng con người vào thế
giới hư ảo, nên trong đạo đức tôn giáo - đạo đức thần học, họ cho
rằng nguồn gốc của đạo đức chính là thượng đế - là hiện thân của
cái thiện mang tính đạo đức và đức hạnh, còn cái ác là cái vô đạo
đức thì xuất phát từ “tội tổ tông” của con người. Với các tôn giáo
họ coi thượng đế là tiêu chuẩn duy nhất của đạo đức, mang tính
quyền uy khi đánh giá các hành vi đạo đức.
1.1.2. Quan niệm về đạo đức trong triết học Mác - Lênin
Khái niệm đạo đức theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác
“Đạo đức là một trong những hình tái ý thức xã hội, là tổng
hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con
người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội và của
người khác trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa
cá nhân với cộng đồng xã hội.”
Quan niệm Mácxít cho rằng, đạo đức là một hình thái ý thức
xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành
vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Chủ nghĩa
Mác - Lênin đưa ra nhận thức đúng đắn về sự phát triển của con
người trong đời sống đạo đức và hướng con người tự giác tái tạo
lại chính đời sống đạo đức của mình. Họ đặt sự vận động của đạo
đức trong sự vận động chung của đời sống xã hội. Theo quan niệm
của chủ nghĩa Mác - Lênin thì đạo đức là tổng hợp những quy tắc,
chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi
của mình vì lợi ích xã hội, vì hạnh phúc của con người, vì hạnh

phúc cá nhân và tập thể hay toàn xã hội.
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định nguồn gốc của đạo đức là
từ lao động, chính lao động đã hình thành nên những giá trị đạo
7


đức của con người. Đạo đức mang bản chất giai cấp nhưng nó
không đối lập với những tính toán của xã hội và đạo đức cách
mạng là đạo đức triệt để nhất. Đạo đức có các chức năng cơ bản là
chức năng nhận thức, chức năng điều chỉnh hành vi và chức năng
giáo dục. Từ đó, bằng những luận chứng khoa học, chủ nghĩa Mác
- Lênin đã khẳng định vai trò của đạo đức là hoàn thiện nhân cách
con người và nhân đạo hóa xã hội loài người.
1.1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 1969), tư tưởng của người là
ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam, là tài sản vô giá
của Đảng và dân tộc ta. Trong hệ thống quan điểm sâu sắc và toàn
diện của Người, đạo đức là một vấn đề được người quan tâm đặc
biệt. Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những quan niệm đạo
đức có trước, dựa vào truyền thống đạo đức của dân tộc ta và vận
dụng sáng tạo quan niệm đạo đức của chủ nghĩa Mác - Lênin vào
thực tiễn nước ta. Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một nền đạo
đức mới có sự hòa nhập với đạo đức truyền thống dân tộc. Đạo
đức Hồ Chí Minh đã trở thành nền đạo đức có giá trị nền tảng to
lớn cho dân tộc Việt Nam, làm nền tảng để xây dựng một nền đạo
đức mới trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước của dân
tộc ta.
1.2. Lý luận về kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà ở đó các quan hệ
kinh tế đều được thực hiện trên thị trường, thông qua quá trình

trao đổi mua bán. Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của
kinh tế hàng hóa trên cơ sở phát triển lực lượng sản xuất. Trong
lịch sử, hình thái kinh tế hàng hóa phát triển từ thấp đến cao qua
các loại hình: kinh tế hàng hóa giản đơn, kinh tế thị trường tự do
cổ điển và kinh tế thị trường hiện đại. Kinh tế thị trường nói chung
là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hóa. Nó không đối lập
với kinh tế hàng hóa mà giống nhau về mặt bản chất. Kinh tế thị
trường là hình thức kinh tế mà ở đó các quan hệ kinh tế đều diễn
ra trên thị trường, chịu sự chi phối của quy luật kinh tế thị trường
vốn có hay chịu sự chi phối của kinh tế thị trường tự điều chỉnh.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước
8


giữ vai trò chủ đạo. Đó là nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơ
chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà
nước, thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội.
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
chấp nhận quy luật cạnh tranh nhưng không dã man, khuyến khích
làm giàu gắn liền với xóa đói giảm nghèo, gia tăng về mức sống
nhưng luôn giữ gìn đạo đức và bản sắc dân tộc, kinh tế thị trường
gắn với xã hội chủ nghĩa.
1.2. Những vấn đề của đạo đức trong kinh tế thị trường
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa đã làm thay đổi diện mạo xã hội, kéo theo sự
chuyển biến các mặt khác như: sự thay đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu
chính trị cũng như sự thay đổi về mặt văn hóa đạo đức. Những sự
thay đổi đó một mặt làm lành mạnh hơn nền kinh tế - xã hội. Mặt
khác, mặt trái của kinh tế thị trường đã làm băng hoại đến các giá

trị đạo đức như: lối sống sùng bái đồng tiền, tệ nạn xã hội ngày
càng tăng, tham nhũng ngày càng nhiều. Trong khi đó công tác
giáo dục còn nhiều thiếu sót, chưa chú trọng đến các giá trị đạo
đức truyền thống, cơ chế lãnh đạo chưa chặt chẽ, còn thiếu kiên
định.
Đạo đức trong kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay đang là
vấn đề hết sức phức tạp. Kinh tế thị trường với những mặt tích
cực, nó đã mang đến một số giá trị và một số tiêu chí được xác
lập. Tuy nhiên, thực trạng đạo đức trong kinh tế thị trường ở nước
ta hiện nay cho thấy: dư chấn của khủng hoảng thời bao cấp chưa
chấm dứt thì nay, xã hội Việt Nam đang rơi vào cuộc khủng hoảng
đạo đức với hai đứa con hư của kinh tế thị trường là “kiếm tiền”
và “hưởng thụ”.
Chương 2
SỰ TÁC ĐỘNG QUA LẠI GIỮA ĐẠO ĐỨC VÀ KINH TẾ
THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với đạo đức
Từ khi thực hiện kinh tế thị trường, tất cả mọi người đều thấy
nó đã có sự tác động mạnh mẽ đến tất cả các mặt của đời sống xã
hội, nhất là vấn đề đạo đức. Sự tác động của kinh tế thị trường đến
đạo đức diễn ra như thế nào. Hiện nay, đây đang là vấn đề được
9


nhiều người quan tâm. Chính vì vậy, khi bàn về ảnh hưởng của
kinh tế thị trường đối với sự phát triển của đạo đức xã hội đã và
đang có nhiều quan điểm khác nhau. Dưới đây, em xin nêu ra ba
quan điểm chủ yếu đó là: Quan điểm phủ nhận ảnh hưởng tích cực
của kinh tế thị trường; quan điểm khẳng định ảnh hưởng tích cực
của kinh tế thị trường và quan điểm cho rằng kinh tế thị trường có

tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) đối với đạo đức.
2.1.1. Quan điểm phủ nhận ảnh hưởng tích cực của kinh tế
thị trường đối với đạo đức
Quan điểm này cho rằng kinh tế thị trường và đạo đức ít hoặc
không có liên quan với nhau, họ phân biệt rạch ròi hành vi đạo
đức với hành vi kinh tế. Hành vi đạo đức là hành vi có tính tự đủ
về động cơ, tính tự chủ của quyết định, tính mục đích của hành vi
và tính lợi tha của kết quả. Khi có đầy đủ các tính chất đó thì hành
vi đó mới được coi là hành vi đạo đức. Khi bàn về hành vi kinh tế,
họ cho rằng, trong kinh tế thị trường, mục đích của người làm
kinh tế là biến người khác thành điều kiện để thu lợi và thu càng
nhiều càng tốt.
Cơ sở lý luận của quan điểm này là lý thuyết về sự phân biệt
và đem đối lập tự luật với tha luật trong đạo đức học. Từ đó họ
cho rằng, kinh tế thị trường không liên hệ hữu cơ với đạo đức, nên
nó chỉ có ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức. Họ coi kinh tế thị
trường chỉ gồm những quy tắc không liên quan đến đạo đức,
những người phản đối nó lại đòi chủ thể hành vi trong kinh tế thị
trường cũng phải tuân theo quy tắc đạo đức. Họ coi quy tắc của
kinh tế thị trường là một khế ước giữa quyền lợi và nghĩa vụ,
hướng quyền lợi là mục đích của khế ước và nghĩa vụ là cái giá
phải trả. Những người theo quan điểm này, họ cho rằng, quy tắc
thị trường khuyến khích con người lợi kỷ, kích thích xu hướng
tuyệt đối hóa giá trị thị trường, lấy giá trị thị trường làm thước đo
giá trị con người nói chung. Vì vậy, kinh tế thị trường cũng cản
trở không nhỏ xu hướng con người ngày càng vươn tới những giá
trị tinh thần ngày càng cao đẹp.
2.1.2. Quan điểm khẳng định ảnh hưởng tích cực của kinh
tế thị trường đối với đạo đức
Nếu như quan điểm phủ nhận những ảnh hưởng tích cực của

10


kinh tế thị trường cho rằng kinh tế thị trường không có mối quan
hệ hữu cơ với đạo đức thì trái lại, quan điểm này được xác lập trên
cơ sở khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế thị trường với
đạo đức. Nhà triết học J. Bell đã từng khẳng định: “Suy cho cùng
xã hội nào cũng là một trật tự đạo đức; nó cần chứng minh nguyên
tắc phân phối của mình là hợp lý; chỉ khi nào một chế độ xã hội có
tính chính đáng và được đại đa số người dân công nhận mới tồn
tại được”. Quan điểm này chỉ chủ trọng đến mặt ảnh hưởng tích
cực của kinh tế thị trường đến đạo đức, kinh tế thị trường giúp con
người hoàn thiện nhân cách về mặt đạo đức. Quan điểm này dựa
vào hai xu hướng:
Xu hướng dựa vào thuyết mục đích luận - công lợi, coi mục
đích cao cả nhất của hành vi đạo đức là hạnh phúc của đa số nhân
dân, nâng cao tổng công lợi xã hội chẳng những là mục tiêu của
đạo đức mà kinh tế thị trường do chỗ có ưu thế nhất trong việc
huy động mọi nguồn lực tạo ra sự phát triển kinh tế cho nên nó
cũng chứa đựng các giá trị đạo đức bên trong. Tuy nhiên, thuyết
mục đích - công lợi có hạn chế đó là, họ chỉ chú ý đến tổng công
lợi của xã hội mà không quan tâm đến sự phân cực giàu nghèo. Để
khắc phục những hạn chế của kinh tế thị trường như: phân hóa
giàu nghèo, suy thoái đạo đức…, họ chủ trương thực hiện đôi bên
cùng có lợi. Theo đó, trao đổi thị trường lành mạnh có lợi cho cả
kinh tế và đạo đức nếu thật sự các chủ thể kinh tế tuân thủ các
nguyên tắc thị trường. Nguyên tắc thị trường lành mạnh là luân lý
cho nên kinh tế thị trường phù hợp với đạo đức.
Xu hướng dựa vào nguyên tắc về tự do cá nhân, quyền bình
đẳng và quyền tự do cá nhân. Thuyết này có nguồn gốc từ nhà

triết học Kant. Những người theo xu hướng này cho rằng, kinh tế
thị trường có sự bình đẳng, hợp lý và chính đáng nên nó hoàn toàn
phù hợp với đạo đức. Dựa vào mặt tích cực của kinh tế thị trường,
một số nhà tư tưởng đã cho rằng, kinh tế thị trường phát triển có
vai trò nâng cao đạo đức xã hội, vì nó là sự biểu hiện và thực hiện
ngày càng đầy đủ quyền con người. Từ khi họ đưa ra nhận định
này, sự xuống cấp về đạo đức xã hội được giải thích là do cơ chế
thị trường chưa hoàn thiện.
2.1.3. Quan điểm coi kinh tế thị trường có tác động hai mặt
11


(tích cực và tiêu cực) đối với đạo đức
Quan điểm này không yêu cầu phải đem đối lập tự luật với
tha luật. Họ xem xét ý thức cá nhân như là một hình thái ý thức xã
hội đặc thù phản ánh tồn tại xã hội thông qua những chuẩn mực
đạo đức. Đến lượt mình chuẩn mực đạo đức thể hiện các tương
quan đạo đức. Những hành vi cá nhân trên mọi lĩnh vực nếu liên
quan đến việc làm lợi hay làm hại cho con người cũng như xã hội
đều có tính đạo đức và có thể đánh giá bằng đạo đức.
Quan điểm này khẳng định kinh tế thị trường có ảnh hưởng
tích cực đến đạo đức. Họ cho rằng, với sự phát triển một nền kinh
tế thị trường hoàn thiện tạo ra nhiều điều kiện để con người có
những hành vi đạo đức vì người khác và dần dần nó trở thành
những chuẩn mực đạo đức của xã hội. Những người này thừa
nhận sự chuyển hóa nguyên tắc kinh tế thị trường thành nguyên
tắc đạo đức, hành vi kinh tế trở thành hành vi đạo đức. Trong một
cơ chế thị trường, về cơ bản đã được hoàn thiện nó sẽ có những
nguyên tắc riêng. Nếu chủ thể kinh tế không tuân thủ nguyên tắc
thị trường hoặc họ dùng những thủ đoạn phi thị trường thì sớm

muộn cũng bị chính cơ chế thị trường loại bỏ. Bởi vậy, trong hoạt
động kinh tế thị trường tuân thủ nguyên tắc đó đã trở thành yêu
cầu để các chủ thể kinh tế tồn tại và phát triển bền vững. Việc tuân
thủ nguyên tắc thị trường một khi đã trở thành yêu cầu, thành tập
quán, thành niềm vui của chủ thể kinh tế thì lúc đó tự nó xuất hiện
nhân tố đạo đức của hành vi kinh tế. Một khi nguyên tắc thị
trường được nội tâm hóa, trở thành nhu cầu bên trong của chủ thể
kinh tế thì nó trở thành nguyên tắc đạo đức. Đến lúc đó sẽ không
có sự đối lập thật sự giữa hành vi kinh tế thị trường và hành vi đạo
đức. Hành vi kinh tế lúc đó, bản thân nó đã chứa đựng những giá
trị đạo đức. Hành vi kinh tế nếu được thực hiện một cách đạo đức
thì bao giờ nó cũng mang lại lợi ích cho người khác và cho toàn
xã hội. Như vậy, theo quan điểm này, kinh tế thị trường về bản
chất có mặt lợi tha. Với bản chất của kinh tế thị trường, nó đã
chứa những giá trị đạo đức mang lại lợi ích cho người khác. Đồng
thời, khi tuân thủ nguyên tắc kinh tế thị trường, hành vi kinh tế
còn bộc lộ những khía cạnh đạo đức là ở chỗ: với thói quen tuân
thủ các nguyên tắc thị trường trong hoạt động kinh tế, những hành
12


vi kinh tế của họ sẽ được đạo đức hóa; mặt khác, con người lại có
nhu cầu và xu hướng thể hiện phẩm chất đạo đức của mình trong
những lĩnh vực ngoài kinh tế như làm việc làm từ thiện. Không
những thế, kinh tế thị trường phát triển còn tạo điều kiện cho con
người tham gia rộng hơn, sâu hơn vào các quan hệ xã hội và các
hoạt động xã hội đa dạng, thúc đẩy và hoàn thiện nhân cách của
mình.
Quan điểm này không đối lập cực đoan giữa kinh tế thị
trường với đạo đức, nhưng họ cũng đã cho thấy những tác động

tiêu cực của kinh tế thị trường:
Thứ nhất, kinh tế thị trường kích thích hoạt động tích cực của
cá nhân,thúc đẩy chủ nghĩa cá nhân cả trong và ngoài lĩnh vực
kinh tế. Khi họ quá coi trong giá trị thị trường thì giá trị ấy trở
thành thước đo giá trị phổ quát của nhân cách con người.
Thứ hai, Kinh tế thị trường khuyến khích con người theo
đuổi lợi nhuận. Điều đó dẫn đến thái độ đánh giá con người qua
khả năng biến người khác thành phương tiện để thực hiện lợi ích
một cách hợp pháp.
Thứ ba, kinh tế thị trường dựa trên nguyên tắc cạnh tranh,
buộc con người vươn lên trên bản thân mình và vượt trội hơn
người khác từ lĩnh vực kinh tế đến những lĩnh vực ngoài kinh tế.
Bên cạnh mặt tích cực của nó là tạo điều kiện cho cá nhân phát
huy hết năng lực của mình, nó còn tạo ra thói quen phô trương,
kiêu căng dẫn đến mâu thuẫn giữa giá trị đích thực của nhân cách
và hình thức biểu hiện. Có nhiều người dùng thái độ bên ngoài của
mình che dấu bản chất thật của mình.
2.2. Vai trò điều tiết của đạo đức đối với kinh tế thị trường
Đạo đức là một trong những hiện tượng phổ biến của xã hội.
Nó tồn tại một cách tất yếu khách quan nhằm điều chỉnh hành vi,
ý thức, quan hệ ứng xử của con người với nhau trong xã hội.
Trong điều kiện kinh tế thị trường đang có những sự tác động
mạnh mẽ và làm đảo lộn giá trị đạo đức như hiện nay, chúng ta
cần có sự quan tâm nghiên cứu “vai trò của đạo đức mới trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam hiện nay”. Vì đây đang là vấn đề đang được sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu và những người có trách nhiệm, nên hiện
13



nay đang có nhiều quan điểm khác nhau. Dưới đây em xin nêu ra
hai quan điểm bàn luận về vấn đề này.
2.2.1. Chủ trương tách biệt đạo đức với kinh tế thị trường
Khi chủ trương tách biệt đạo đức với kinh tế thị trường , họ
cho rằng, không khéo thì đạo đức sẽ can thiệp quá sâu vào kinh tế
thị trường và kìm hãm kinh tế thị trường. Theo họ, những nguyên
tắc thị trường chỉ liên quan đến hành vi kinh tế, mặc nhiên sẽ cho
phép con người cạnh tranh để thu lợi nhuận tối đa, không thuộc
lĩnh vực đạo đức. Chính vì vậy, nếu áp dụng các chuẩn mực đạo
đức trong kinh tế thị trường sẽ dẫn tới sự ngụy biện, giảm khao
khát lợi nhuận và giảm hiệu quả của hành vi kinh tế. Để biện hộ
cho quan điểm này, họ đã đưa ra một dẫn chứng, đó là, chủ nghĩa
bình quân trước đây được xem là nguyên tắc đạo đức đã không
khuyến khích con người tích cực lao động, lại kích thích thói lười
biếng. Do vậy, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, không nên
áp đặt các chuẩn mực đạo đức vào kinh tế. Trong hoạt động kinh
tế chỉ nên dựa vào cơ chế thị trường, các chủ thể kinh tế phải được
tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước.Tuy
nhiên, những người theo quan điểm này cũng cho rằng, muốn hạn
chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với các lĩnh vực
khác của đời sống xã hội thì cần sử dụng các giải pháp đạo đức
nhằm hạn chế lòng tham của con người.
2.2.2. Chủ trương coi kinh tế thị trường và đạo đức có quan
hệ nội tại
Quan điểm này coi đạo đức là một phương diện của kinh tế
thị trường, nó là yêu cầu bên trong của kinh tế thị trường, điều tiết
hành vi và các quan hệ kinh tế. Đạo đức có thể góp phần thúc đẩy
lĩnh vực kinh tế phát triển. Coi kinh tế thị trường và đạo đức có
quan hệ chặt chẽ với nhau, quan điểm này nhấn mạnh những ảnh
hưởng tích cực của đạo đức đến các hoạt động kinh tế cũng như

lợi ích của nó. Những cơ sở lý luận để những người theo quan
điểm này đưa ra nhận định trên là:
Thứ nhất, mọi chế độ kinh tế chỉ tồn tại và vận hành được khi
nó có tính hợp lý và chính đáng. Kinh tế thị trường là một chế độ
kinh tế không nằm ngoài quy luật đó, hiện nay nó là một cơ chế
kinh tế đúng theo nghĩa đó. Kinh tế thị trường đang là hình thức tổ
14


chức kinh tế được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Vì lẽ nó
đang tồn tại một cách hiển nhiên và khách quan nên nó đúng đắn
và cần thiết. Kinh tế thị trường là lĩnh vực mà các hoạt động của
con người liên quan trực tiếp đến lợi ích. Kinh tế thị trường đề cao
vấn đề lợi ích nhưng những hành vi liên quan đến nó đều mang
tính tự nguyện và tự do, không mang tính cưỡng chế. Và hành vi
đạo đức vốn dĩ nó đã là một hành vi tự nguyện và tự do. Nên trong
trường hợp này, đạo đức là yếu tố có thể điều tiết một cách tích
cực đối với kinh tế thị trường.
Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường hoạt động bằng các
nguyên tắc và quy luật thị trường, dưới sự giám sát hành chính và
tuân thủ những quy định của pháp luật. Nhưng nếu chỉ dựa vào
các phương tiện kinh tế, các quy định hành chính và hệ thống
pháp luật thì các hoạt động kinh tế có thể bị hạn chế về mặt hiệu
quả. Tất cả những biện pháp trên, nhất là hệ thống các quy định
pháp luật đều là những phương tiện mang tính chất cưỡng chế mà
chủ thể kinh tế có thể tự giác hoặc không tự giác thực hiện. Nếu
họ tự giác thực hiện thì sẽ tạo ra được môi trường kinh tế lành
mạnh. Ngược lại, trường hợp các chủ thể kinh tế vì chạy theo lợi
nhuận không tự giác chấp hành những quy định, để phục vụ cho
mục đích kinh tế của mình, họ sẽ tìm những “kẽ hở” trong những

phương tiện này, đặc biệt là “kẽ hở” trong pháp luật để vượt qua
những hạn chế của chúng. Những phương tiện này chỉ là những
ràng buộc bên ngoài, chúng không thể điều tiết được những động
cơ bên trong của chủ thể kinh tế. Trong trường hợp này, kinh tế thị
trường sẽ không đạt được kết quả cao, đạo đức xã hội xuống cấp.
Vì vậy, không nên điều tiết kinh tế thị trường chỉ bằng các biện
pháp cưỡng chế mà nên áp dụng cả những nguyên tắc tự nguyện
và tự giác.
Thứ ba, các quy định của pháp luật là thiết chế hóa tối thiếu
các chuẩn mực đạo đức. Để tồn tại và phát triển trong xã hội, con
người cần phải có đạo đức tối thiếu và đạo đức thực sự là pháp
luật tối đa. Do đó cả đạo đức và pháp luật phải có sự tương trợ lẫn
nhau trong kinh tế thị trường. Đưa đạo đức vào kinh tế sẽ làm cho
các biện pháp và nguyên tác của kinh tế thị trường được điều tiết
bởi các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức.
15


Thứ tư, xét về phương diện chủ thể, việc họ tuân thủ một cách
tự nguyện và tự giác các quy tắc của kinh tế thị trường, biến nó
thành nhu cầu bên trong, trở thành những nguyên tắc đạo đức
trong kinh doanh. Điều này không những không hạn chế, không
cản trở các hoạt động kinh tế mà còn thúc đẩy sự hợp lý hóa hoạt
động kinh tế thị trường, làm cho cơ chế thị trường hoạt động nhịp
nhàng, đồng bộ và lành mạnh hơn. Việc tăng cường phẩm chất
đạo đức của chủ thể kinh tế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của
chính nền kinh tế thị trường, là động lực lâu dài cho sự phát triển
và hoàn thiện nền kinh tế thị trường. Đây thực chất là hệ thống
những yêu cầu pháp lý - đạo đức đối với người mua, người bán,
nhân viên, các cổ đông. Hệ thống này có tác dụng tích cực cho sự

điều phối các hoạt động kinh tế, làm cho sự vận hành nền kinh tế
trở nên nhịp nhàng hơn, đồng bộ và ngày càng lành mạnh. Như
vậy, từ những cơ sở lý luận trên, những người theo quan điểm này
đã thấy được sự cần thiết của việc đưa các chuẩn mực đạo đức vào
trong kinh tế. Kinh tế thị trường với những ưu việt vượt trội của
no nếu được điều tiết bởi một nền đạo đức mới phu hợp sẽ trở
thành một cơ chế kinh tế lành mạnh và ngày một hoàn thiện hơn.
2.3. Một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đạo đức phù hợp
với kinh tế thị trường
Hiện nay, một nền đạo đức mới phù hợp với kinh tế thị
trường không thể xuất hiện một cách tự phát mà nó được hình
thành một cách tự giác chủ động. Để xây dựng được một nền đạo
đức mới trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần giải pháp phù
hợp. Về phương diện lý luận, việc xây dựng đạo đức mới trong
kinh tế thị trường còn nhiều vấn đề cần quan tâm giải quyết. Tuy
nhiên, trước mắt chúng ta muốn xây dựng nền đạo đức mới này
cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
2.3.1. Trước hết phải hoàn thiện cơ chế thị trường làm cơ
sở cho việc xây dựng đạo đức mới
Trong công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta chưa trải qua
kinh tế tư bản chủ nghĩa, cơ chế kinh tế thị trường vẫn còn mới, cơ
chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp vẫn còn những dấu ấn khá
nặng, nhưng ngay lúc đó chúng ta chuyển sang cơ chế thị trường
đối với chúng ta vẫn còn khá chập chững, còn nhiều khiếm
16


khuyết, cộng thêm vào là sự xuống cấp về mặt đạo đức và nhiều
mặt khác của văn hoá tinh thần. Một trong những nguyên nhân
dẫn đến tình trạng đó là do chúng ta thiếu một cơ chế thị trường

hoàn thiện và lành mạnh. Vấn đề cấp bách hiện nay, với yêu cầu
đảm bảo tiến bộ xã hội nói chung và chấn hưng đạo đức xã hội nói
riêng là phải kiện toàn cơ chế thị trường với sự kiếm soát (sự điều
tiết) hợp lý của nhà nước nhằm đảm bảo định hướng xã hội chủ
nghĩa của sự phát triển đất nước. Sự điều tiết hợp lý của nhà nước
nhằm đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có nội dung
cơ bản sau:
Một là, xây dựng chế độ, chính sách phù hợp với kinh tế thị
trường, điều tiết sản xuất, lưu thông và phân phối theo nguyên tắc
thị trường nhằm khắc phục những khiếm khuyết của thị trường tự
phát nói chung, đảm bảo sự cân đối, hài hoà giữa tăng trưởng kinh
tế với tiến bộ xã hội và công bằng xã hội.
Hai là, để kiện toàn cơ chế thị trường, phát triển một nền kinh
tế thị trường lành mạnh, cần khắc phục những kẽ hở của pháp luật
kinh tế, của bản thân cơ chế, hạn chế đến mức tối thiếu ảnh hưởng
của mặt trái của cơ chế thị trường đối với văn hoá tinh thần và đạo
đức xã hội. Việc hoàn thiện cơ chế thị trường cũng nhằm một
phần đưa các chủ thể kinh tế đi vào hoạt động có nguyên tắc,
không trái với quy luật vận hành của kinh tế thị trường, đảm bảo
cạnh tranh lành mạnh, công bằng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Thực hiện được điều này sẽ làm cho các chủ thể kinh tế
trong khi hướng tới mục tiêu lợi nhuận họ có thể phát huy và củng
cố năng lực đạo đức, nhân tính của mình, biến những yêu cầu đạo
đức mang tính cưỡng chế bên ngoài thành nhu cầu, động cơ cơ
bản bên trong của chính hoạt động kinh tế.
2.3.2. Cùng với việc kiện toàn cơ chế thị trường, cần phải
đẩy mạnh việc xây dựng và kiện toàn về thiết chế cũng như thế
chế nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm taọ khung
pháp lý và chính trị cho việc xây dựng đạo đức mới
Pháp luật bao gồm những quy định mang tính chất ràng

buộc, cưỡng chế đối với con người và buộc con người phải tuân
thủ những nguyên tắc do hệ thống pháp luật đặt ra. Nếu như con
người thực hiện đúng với những quy định của pháp luật đồng
17


nghĩa với việc họ có tự do. Nhưng ngược lại, con người sẽ bị
trừng phạt nếu vi phạm những quy định của nó. Trong lĩnh vực
đạo đức con người thực hiện những chuẩn mực của đạo đức không
có tính cưỡng bức bằng bạo lực của chính quyền, chúng được
khuyến khích bởi dư luận xã hội và tác động vào lương tâm của
con người. Đạo đức trong chừng mực đặt trong quan hệ với pháp
luật lại là lĩnh vực hoạt động tự nguyện và có tính tự do. Pháp luật
với hệ thống luật lệ và những quy định do Nhà nước ban bố và
cưỡng bức thi hành. Trong khi đó đạo đức mang tính tự nguyện.
Cho nên, xây dựng đạo đức cũng cần gắn với xây dựng và kiện
toàn hệ thống pháp luật. Pháp luật và đạo đức có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Nên hiện nay muốn xây dựng một nền đạo đức mới,
cần hoàn thiện hệ thống pháp luật
Trong thời gian vừa qua, hệ thống pháp luật của chúng ta về
cơ bản chưa được hoàn thiện. Trong hệ thống các quy định pháp
luật vẫn còn nhiều “kẽ hở” cộng với truyền thống của người Việt
Nam còn nặng nề về tình cảm, về tư tưởng đức trị đã làm giảm đi
phần nào hiệu lực của pháp luật, nhất là hệ thống pháp luật phù
hợp với kinh tế thị trường.
Chế độ nhà nước pháp quyền hình thành và về cơ bản được
kiện toàn với lịch sử chính trị pháp lý phương Tây, do vậy đối với
lịch sử nước ta nó vẫn đang là vấn đề còn mới mẽ. Nhưng chúng
ta đang thực hiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là xây dựng nhà nước của dân,

do dân và vì dân, có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ. Muốn làm tốt
được điều này, chúng ta cần thực hiện những biện pháp cơ bản
sau:
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật gắn với việc kiện
toàn hệ thống thiết chế pháp lý chính trị sao cho đáp ứng được yêu
cầu đưa các chủ thể kinh tế vào cơ chế vận hành của kinh tế thị
trường.
Thứ hai, khi vai trò của những nhân tố đạo đức mới phù hợp
với cơ chế thị trường chưa tác động phổ biến và vững chắc, thì
chúng ta cần chú trọng hơn vai trò của hệ thống pháp luật của cơ
chế thị trường, thông qua việc thực hiện đầy đủ các nguyên tắc
của cơ chế thị trường để tạo dựng và bổ sung, củng cố những
18


nguyên tắc của đạo đức mới.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay chúng ta chủ trọng xây
dựng nhà nước pháp quyền là xây dựng một nhà nước đảm bảo
cho sự hình thành và vận hành đầy đủ, lành mạnh của cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa chứ không phải biến toàn bộ
xã hội thành thị trường.
2.3.3. Tăng cường giáo dục xã hội, đặc biệt là giáo dục đạo
đức để chuyển chuẩn mực xã hội (về chính trị, pháp lý, thẩm
mỹ, khoa học) đã và đang được tạo dựng trong nền kinh tế thị
trường và xây dựng nhà nước pháp quyền thành chuẩn mực
đạo đức cá nhân
Hiện nay, muốn xây dựng một nền đạo đức mới phù hợp với
nền kinh tế thị trường, chúng ta cần tăng cường công tác giáo dục,
hình thành nên những chuẩn mực đạo đức đã và đang được xây
dựng trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Muốn vậy những nhà

giáo dục và những người có trách nhiệm phải có một phương
hướng giáo dục có hiệu quả nhất. Trong định hướng giá trị đạo
đức cần có định hướng cho cá nhân có một lý tưởng sống, biết xây
dựng cuộc sống trên những giá trị đạo đức cao đẹp. Đồng thời, cần
quan tâm nhiều hơn nữa đến những giá trị đạo đức truyền thống để
làm nền tảng cho việc xây dựng một chuẩn mực đạo đức mới
trong giai đoạn hiện nay.
Qúa trình hình thành ý thức đạo đức của mỗi cá nhân luôn
diễn ra trong quan hệ với toàn bộ thế giới tinh thần của cá nhân đó
và của chính cộng đồng mà cá nhân đó là một thành viên. Một hệ
thống giáo dục thực thụ thì bao giờ cũng được tiến hành trên tất cả
các lĩnh vực của văn hoá tinh thần. Đó là quá trình giáo dục đông
bộ các lĩnh vực như tri thức, đạo đức và thẩm mỹ, làm cho các yếu
tố của lý trí, tình cảm và đạo đức thống nhất với nhau, giúp con
người ngày càng vươn tới giá trị cao đẹp chân - thiện - mỹ. Thông
qua giáo dục, các chuẩn mực xã hội chuyển hoá thành các tín
niệm bên trong hành vi đạo đức của mỗi cá nhân, hình thành nên
lối sống và đời sống tâm lý của cá nhân đó.
Muốn công tác
giáo dục đạo đức xã hội nói chung, công tác giáo dục đạo đức nói
riêng co hiệu quả cao nhất, cần phải xử lý thích hợp mối quan hệ
giữa giá trị truyền thống và hiện đại. Thái độ hư vô chủ nghĩa đối
19


với những giá trị truyền thống đồng nghĩa với việc tiếp nhận
không có sự chọn lọc đới với những giá trị của phương Tây, hoặc
chưa có cách hiểu đúng đắn những giá trị đạo đức của họ, dẫn đến
đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc, suy thoái đạo đức xã hội,
khủng hoảng văn hoá xã hội, gây trở ngại cho quá trình tìm tòi học

hỏi những giá trị văn hoá đạo đức mới. Tất cả những điều đó sẽ
kìm hãm và cản trở việc xây dựng đạo đức mới phù hợp với nền
kinh tế thị trường
Trong điều kiện hiện nay, muốn tồn tại và phát triển thì cần
kết hợp sức mạnh của những giá trị đạo đức truyền thống với
những giá trị đạo đức hiện đại trên cơ sở kế thừa có chọn lọc
những tinh hoa văn hoá của nhân loại. Vấn đề đặt ra ở đây là làm
thế nào để giúp mọi người nhận thức đúng dắn những giá trị hiện
đại, từ đó để có những tác động thiết thực và phù hợp với sự phát
triển của xã hội, của thời đại của các giá trị tinh thần, đạo đức
truyền thồng phải được nâng lên một tầm cao mới.
Cùng với phương thức giáo dục trên, công tác giáo dục xã hội
nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng còn phải quan tâm giải
quyết vấn đề mối quan hệ giữa tính dân tộc và tính quốc tế, mối
quan hệ giữa giao lưu hợp tác quốc tế với yêu cầu bảo vệ bản sắc,
độc lập dân tộc ngay trong giáo dục và đào tạo. Chính vì vậy,
công tác giáo dục của chúng ta hiện nay cần chủ trọng làm rõ
những giá trị của dân tộc không gì thay thế được. Đặc biệt là hoà
nhập nhưng không hoà tan, chúng ta hội nhập vào xu thế phát
triển của thế giới nhưng cần gìn giữ những bản sắc văn hoá của
dân tộc mình. Quan trọng nhất mỗi chúng ta, con em của dân tộc
Việt Nam cần ý thức được lòng tự tôn dân tộc để bảo vệ nền độc
lập của dân tộc mình. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần thấy rằng,
quá trình giao lưu và hợp tác quốc tế cũng là một cơ sở để xây
dựng đạo đức mới phù hợp với kinh tế thị trường.

20


KẾT LUẬN

Tóm lại, trong công cuộc đổi mới đất nước, Việt Nam đã đạt
được những tành tựu to lớn, kinh tế đang trên đà phát triển nhanh
chóng, tốc độ tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân đang không
ngừng được cải thiện. Kinh tế thị trường nước ta đang trong tiến
trình ngày càng được hoàn thiện cả về cơ chế lẫn thể chế. Kinh tế
nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần (có cả thành phần kinh tế
tư nhân) được điều tiết bởi cơ chế thị trường. Kinh tế thị trường
làm nổi lên những vấn đề về lợi ích và quan hệ lợi ích trên tất cả
các mặt của đời sống xã hội. Trong đó vấn đề đáng quan tâm nhất
là kinh tế thị trường ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của
xã hội về mặt đạo đức. Bên cạnh những mặt tích cực mà kinh tế
thị trường mang lại, mặt trái của kinh tế thị trường đang đặt ra cho
Việt Nam nhiều vấn đề cần quan tâm nghiên cứu. Trong đó vấn đề
quan trọng hiện nay đó là sự xuống cấp, băng hoại về đạo đức của
một bộ phận người trong xã hội. Trước tình hình đó, thực chất của
mối quan hệ kinh tế thị trường và đạo đức đang đươc nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm làm rõ.
Kinh tế thị trường là một mô hình kinh tế mà ở đó các quan
hệ kinh tế đều được thực hiện trên thị trường, thông qua quá trình
trao đổi mua bán. Kinh tế thị trường ra đời trên cơ sở phát triển
của lực lượng sản xuất nhất định. Nền kinh tế thị trường ra đời còn
dựa trên sự phân công lao động xã hội và phân chia về lợi ích
giữa các chủ thể. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, kinh tế thị trường
chiếm ưu thế , là nền kinh tế tự do, quan hệ giữa người với người
là quan hệ kinh tế, mọi người đều mưu cầu lợi ích kinh tế. Quan
hệ giữa những cá nhân, những chủ thể trong kinh tế thị trường là
cạnh tranh để đạt tới lợi ích của cá nhân. Nền kinh tế thị trường ở
nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của

Nhà nước. Từ khi Nhà nước ta thừa nhận kinh tế thị trường không
phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản và áp dụng vào công
cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Kinh tế thị trường đã có
những ảnh hưởng mạnh mẽ đên tất cả các mặt của đời sống xã hội.
21


Đặc biệt là kinh tế thị trường đã làm đạo đức xã hội có những
chuyển biến nhất định. Kinh tế thị trường tạo điều kiện thuận lợi
cho cá nhân phát triển mình trên tất cả các phương diện, đảm bảo
trách nhiệm cá nhân là một chuẩn mực đạo đức của con người;
kinh tế thị trường đòi hỏi con người phải có những quan điểm đạo
đức thiết thực, bớt chủ quan ảo tưởng; kinh tế thị trường làm cho
động cơ và hiệu quả gắn liền và thống nhất với nhau, đồng thời
làm cho mỗi người luôn năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm,
không ngừng học tập. Bên cạnh những tác động tích cực đến đạo
đức thì kinh tế thị trường đang dẫn đến hiện tượng suy thoái về
mặt đạo đức. Và chính vấn đề trượt dốc về đạo đức trong xã hội
hiện nay là vấn đề đáng quan tâm.
Mặc dù thừa nhận tính tất yếu cần thiết của kinh tế thị trường
ở nước ta hiện nay, nhưng khi bàn đến ảnh hưởng của nó đối với
sự phát triển của đạo đức xã hội có nhiều quan điểm khác nhau.
Quan điểm phủ nhận ảnh hưởng tích cực của cơ chế thị trường cho
rằng, kinh tế thị trường và đạo đức ít hoặc không có liên quan với
nhau, theo quan niệm này đòi hỏi có sự phân biệt rạch ròi hành vi
đạo đức với hành vi kinh tế. Quan điểm khẳng định ảnh hưởng
tích cực của kinh tế thị trường đối với đạo đức, quan điểm này
được xác lập trên cơ sở khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa kinh
tế thị trường với đạo đức. Với quan niệm này, họ cho rằng kinh tế
thị trường hoàn toàn phù hợp với đạo đức. Hoặc quan điểm coi

kinh tế thị trường có tác động hai mặt đối với đạo đức, quan điểm
này thừa nhận sự chuyển hóa nguyên tắc kinh tế thị trường thành
nguyên tắc đạo đức, hành vi kinh tế thành hành vi đạo đức, không
có sự đối lập thật sự giữa kinh tế thị trường và đạo đức, quan điểm
này không đối lập cực đoan kinh tế thị trường với đạo đức nhưng
quan điểm này cũng đã nêu lên những tác động tiêu cực của kinh
tế thị trường.
Kinh tế thị trường ảnh hưởng mạnh mẽ đến đạo đức xã hội,
tuy nhiên, ngược lại đạo đức có vai trò điều tiết đối với kinh tế thị
trường. Khi bàn đến khía cạnh này có 2 quan điểm đối lập nhau.
Đó là quan điểm chủ trương tách biệt đạo đức với kinh tế thị
trường, theo họ khi chuyển sang kinh tế thị trường không nên áp
đặt chuẩn mực đạo đức vào kinh tế, trong hoạt động kinh tế chỉ
22


nên dựa vào cơ chế thị trường, tuy nhiên quan điểm này cũng chủ
trương sử dụng đạo đức để hạn chế lòng tham của con người
ngoài lĩnh vực kinh tế. Quan điểm coi kinh tế thị trường và đạo
đức có quan hệ nội tại, họ cho rằng đạo đức là một phương diện
của kinh tế thị trường, là yêu cầu bên trong và có chức năng điều
tiết các quan hệ kinh tế.
Bên cạnh những mặt tích cực thì hiện nay kinh tế thị trường
đang làm chao đảo giá trị đạo đức của xã hội. Hiện tượng suy đồi
về mặt đạo đức đang là vấn đề quan tâm của nhiều nước trên thế
giới trong đó có Việt Nam. Vấn đề này đòi hỏi Đảng và Nhà nước
ta cần có những giải pháp nhằm xây dựng đạo đức phù hợp với
kinh tế thị trường. Nền đạo đức mới phù hợp với kinh tế thị
trường không thể xuất hiện một cách tự phát mà được hình thành
một cách tự giác chủ động. Xét về mặt lý luận, để xây dựng đạo

đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường có nhiều vấn đề phải
bàn, tuy nhiên trước mắt cỏ thể thực hiện một số giải pháp như:
Hoàn thiện cơ chế thị trường làm cơ sở để xây dựng đạo đức mới;
Đẩy mạnh việc xây dựng và kiện toàn về thiết chế cũng như thế
chế nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tạo khung pháp lý và
chính trị cho việc xây dựng nền đạo đức mới; Tăng cường giáo
dục xã hội, đặc biệt là giáo dục đạo đức để chuyển chuẩn mực xã
hội đã và đang được tạo dựng trong nền kinh tế thị trường và xây
dựng nhà nước pháp quyền thành đạo đức cá nhân.
Như vậy, trong điều kiện nước ta đang tiến nhanh trên con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bên cạnh phát triển một nền kinh tế
thị trường, việc gìn giữ và phát huy những giá trị đạo đức truyền
thống cũng như việc xây dựng hhệ giá trị đạo đức mới cần được
quan tâm đúng mức.

23



×