Tải bản đầy đủ (.pdf) (72 trang)

Một số biện pháp vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học môn khoa học 4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (769.31 KB, 72 trang )

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

LÊ THỊ MAI

MỘT SỐ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP
BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC
MÔN KHOA HỌC LỚP 4

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tự nhiên và Xã hội

HÀ NỘI - 2016


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

LÊ THỊ MAI

MỘT SỐ BIỆN PHÁP VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP
BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC
MÔN KHOA HỌC LỚP 4

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tự nhiên và Xã hội

Người hướng dẫn khoa học
TS.PHẠM QUANG TIỆP

HÀ NỘI - 2016




LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự hƣớng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô giáo
trong khoa Giáo dục Tiểu học đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá
trình thực hiện khóa luận. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy
giáo: T.S Phạm Quang Tiệp đã tận tình hƣớng dẫn và giúp đỡ em trong suốt
quá trình nghiên cứu này.
Trong quá trình thực hiện khóa luận do điều kiện, năng lực và thời gian
có nhiều hạn chế đề tài nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy,
em rất mong nhận đƣợc sự góp ý và bổ sung của thầy cô và các bạn để đề tài
thêm hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 3 tháng 5 năm 2016
Ngƣời thực hiện

Lê Thị Mai


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là này
là thành quả riêng của tôi. Nội dung khóa luận không trùng với bất cứ công
trình nghiên cứu nào.
Hà Nội, ngày 3 tháng 5 năm 2016
Ngƣời thực hiện

Lê Thị Mai


DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT


PPDH

: Phƣơng pháp dạy học

PPDH BTNB

: Phƣơng pháp dạy học Bàn tay nặn bột

PPBTNB

: Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột

GV

: Giáo viên

HS

: Học sinh

SGK

: Sách giáo khoa

SGV

: Sách giáo viên



MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
PHẦN NỘI DUNG........................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG............................ 6
PHƢƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC ....................... 6
MÔN KHOA HỌC LỚP 4 ............................................................................... 6
1.1.Những vấn đề lý luận về phƣơng pháp Bàn tay nặn bột ......................... 6
1.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu................................................................ 6
1.1.2. Khái niệm phương pháp Bàn tay nặn bột......................................... 7
1.1.4. Cơ sở khoa học của phương pháp Bàn tay nặn bột ......................... 9
1.1.4.1. Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu ................................... 9
1.1.4.2. Tiến trình cụ thể khi dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột......... 12
1.2. Dạy học môn Khoa học lớp 4 ............................................................... 17
1.2.2 Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4................................... 18
1.2.3 Đặc điểm của phân môn Khoa học và việc sử dụng phương pháp
Bàn tay nặn bột trong dạy học môn học này ............................................ 19
1.3 Đặc điểm của học sinh tiểu học ............................................................. 22
1.4. Điều kiện vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học môn
Khoa học lớp 4 ............................................................................................ 25
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP BÀN TAY
NẶN BÔT TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4 ......................... 28
2.1. Mục đích điều tra .................................................................................. 28
2.2. Nội dung điều tra .................................................................................. 28
2.3. Đối tƣợng điều tra ................................................................................ 28
2.4. Phƣơng pháp điều tra............................................................................ 28


2.5. Kết quả điều tra .................................................................................... 30

2.5.1. Sự hiểu biết về phương pháp Bàn tay nặn bột của cán bộ, giáo viên
ở một số trường tiểu học .......................................................................... 30
2.5.2. Thực trạng tổ chức dạy học môn Khoa học hiện nay..................... 30
CHƢƠNG 3. BIỆN PHÁP VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN
BÔT TRONG DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC LỚP 4 .................................. 37
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp .............................................................. 37
3.1.1. Khai thác thế mạnh của phương pháp Bàn tay nặn bột ................. 37
3.1.2. Phù hợp với đặc trưng môn Khoa học ở Tiểu học ......................... 37
3.1.3. Phù hợp với đặc điểm của học sinh tiểu học .................................. 37
3.1.4. Phù hợp với thực tiễn dạy học ở Tiểu học hiện nay ....................... 38
3.2.2. Vận dụng linh hoạt quy trình của phương pháp Bàn tay nặn bột .. 47
3.2.3. Chuẩn bị nguồn công cụ, phương tiện, vật liệu phục vụ dạy học
môn khoa học theo phương pháp Bàn tay nặn bột ................................... 49
3.3. Minh họa thiết kế giáo án trong môn Khoa học lớp 4 theo phƣơng pháp
Bàn tay nặn bột ............................................................................................ 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................................ 58
KẾT LUẬN .................................................................................................. 58
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 60
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 61


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Hiện nay ở nƣớc ta, vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học diễn ra
một cách sôi động trên bình diện cả về lý luận cũng nhƣ về thực tiễn. Định
hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học đƣợc nghị quyết Trung ƣơng lần II Ban
chấp hành Trung ƣơng khóa VIII khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phƣơng
pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp
tƣ duy sáng tạo của ngƣời học, từng bƣớc áp dụng phƣơng pháp tiên tiến, các

phƣơng tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo thời gian tự học,
tự nghiên cứu của học sinh”. Và theo Nghị quyết số 29 NQ/TW ngày
4/11/2013 Hội nghị Trung ƣơng 8 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo, toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân sẽ đƣợc đổi mới theo hƣớng hình
thành, bồi dƣỡng phẩm chất và năng lực của ngƣời học, nhằm đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc trong bối cảnh Việt Nam đang
đứng trƣớc thời cơ lớn đƣợc thừa hƣởng những thành tựu vĩ đại của nhân loại,
nhờ sự hội nhập và giao thoa mạnh mẽ mọi mặt của đời sống xã hội với các
nƣớc lớn, các nƣớc phát triển trên thế giới.
1.2. Theo định hƣớng trên nhiều phƣơng pháp dạy học tiên tiến, hiện
đại trên thế giới nhƣ “Phƣơng pháp tự phát hiện tri thức”, “Phƣơng pháp dạy
học tích cực”, “Phƣơng pháp cùng tham gia”, “Phƣơng pháp tƣơng tác” và
gần đây là “Phƣơng pháp bàn tay nặn bột” từng bƣớc đƣợc vận dụng vào quá
trình dạy học ở tiểu học – bậc học đƣợc coi là nền tảng của hệ thống giáo dục
quốc dân.
Trong những năm gần đây một trong những phƣơng pháp dạy học mới
với nhiều ƣu điểm và có thể đáp ứng đƣợc mục tiêu trên cũng nhƣ có thể vận
dụng tốt vào quá trình dạy học môn Khoa học ở Tiểu học chính là phƣơng

1


pháp Bàn tay nặn bột. Ra đời vào năm 1992 bởi Giáo sƣ ngƣời Pháp Georges
Char – Pak, phƣơng pháp Bàn tay nặn bột đã góp phần rèn luyện cho học sinh
khả năng tích cực, quan sát, khám phá, tìm tòi và sáng tạo. Thực hiện phƣơng
pháp dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên, chính học sinh sẽ là ngƣời tìm ra câu
trả lời cho những vấn đề đƣợc đặt ra trong cuộc sống, thông qua tiến hành thí
nghiệm, nghiên cứu tài liệu, vận dụng kiến thức sẵn có hay điều tra để từ đó
tự hình thành kiến thức cho mình.Trong quá trình tiếp cận phƣơng pháp này
học sinh luôn luôn đƣợc động não, thảo luận với học sinh khác trong nhóm,

trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức.
1.3.Khoa học là môn chiếm vị trí quan trọng trong các môn học ở tiểu
học. Đây là môn tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học thực nghiệm
nhƣ: Vật lý, hóa học, sinh học. Vì vậy, môn này có nhiều thuận lợi để vận
dụng các phƣơng pháp dạy học tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học để
bƣớc đầu hình thành cho học sinh phƣơng pháp học tập mang tính chất tìm
tòi, nghiên cứu, rèn luyện nếp tƣ duy sáng tạo cho học sinh.
1.4.Thực tiễn dạy học môn Khoa học ở trƣờng tiểu học cho thấy, giáo
viên còn gặp nhiều khó khăn trong việc sử dụng phƣơng pháp dạy học. Các
phƣơng pháp dạy học truyền thống vẫn chiếm ƣu thế, học sinh học tập còn thụ
động. Các thí nghiệm khoa học trong bài còn mang tính chất minh họa. Giáo
viên còn tự mình trình bày, biểu diễn các thí nghiệm thực hành để minh họa
cho kiến thức của bài học mà ít tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động này
để các em chiếm lĩnh tri thức khoa học một cách chủ động, thỏa mãn đƣợc
nhu cầu tìm tòi hiểu biết, óc tò mò khoa học của học sinh tiểu học. Vì vậy, các
giờ học còn mang tính áp đặt, kiến thức mà học sinh chiếm lĩnh trong giờ học
chƣa cao, học sinh ít đƣợc tham gia vào quá trình dạy học.
Việc tìm kiếm và vận dụng các phƣơng pháp tiên tiến vào quá trình dạy
học ở tiểu học nói chung và môn Khoa học nói riêng là vấn đề quan trọng để

2


hình thành cho học sinh những phƣơng pháp học tập độc lập, sáng tạo, qua đó
nâng cao chất lƣợng dạy học. Một trong những phƣơng pháp có ƣu điểm, đáp
ứng đƣợc mục tiêu trên và có thể vận dụng tốt vào quá trình dạy học môn
Khoa học ở tiểu học là phƣơng pháp Bàn tay nặn bột. Trong những năm gần
đây, phƣơng pháp Bàn tay nặn bột bƣớc đầu đƣợc thử nghiệm vào quá trình
dạy học môn Khoa học ở một số trƣờng tiểu học ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc
nghiên cứu chỉ ở mức độ hạn hẹp, mang tính chất thử nghiệm ở một số bài

học. Việc nghiên cứu áp dụng phƣơng pháp này vào quá trình dạy học sao cho
phù hợp với điều kiện của nhà trƣờng tiểu học Việt Nam là vấn đề hết sức cần
thiết để góp phần đổi mới phƣơng pháp dạy học. Có nhƣ vậy mới hình thành
đƣợc cho học sinh phƣơng pháp học tập đúng đắn, giúp học sinh thực sự trở
thành “chủ thể” tìm kiếm tri thức. Vì những lý do trên tôi chọn đề tài nghiên
cứu của mình là: Một số biện pháp vận dụng phương pháp Bàn tay nặn bột
trong dạy học môn Khoa học lớp 4 nhằm tiểu hiểu kỹ hơn về nội dung, quá
trình thực hiện cũng nhƣ áp dụng một cách tốt nhất vào công tác giảng dạy
góp phần thực hiện mục tiêu mà Bộ Giáo dục đề ra.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn bột trong
dạy học môn Khoa học lớp 4 nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng và hiệu quả
dạy học môn Khoa học ở tiểu học.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học môn Khoa học lớp 4.
Đối tƣợng nghiên cứu: Việc vận dụng một số biện pháp sử dụng
phƣơng pháp Bàn tay nặn bột trong dạy học môn Khoa học lớp 4.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất các biện pháp vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn bột
trong dạy học môn Khoa học lớp 4 khai thác đƣợc thế mạnh của phƣơng pháp

3


Bàn tay nặn bột đồng thời phù hợp với đặc trƣng của môn Khoa học và phù
hợp với đặc điểm của học sinh tiểu học thì sẽ nâng cao đƣợc chất lƣợng và
hiệu quả dạy học môn Khoa học trong thực tiễn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc vận dụng phƣơng pháp Bàn tay
nặn bột trong dạy học môn Khoa học lớp 4.

5.2. Tìm hiểu thực trạng vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn bột trong
dạy học môn Khoa học lớp 4.
5.3. Đề xuất một số biện pháp vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn bột
trong dạy học môn Khoa học lớp 4.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài giới hạn nghiên cứu dạy học Bàn tay nặn bột trong dạy học
môn Khoa học lớp 4.
- Địa bàn điều tra: Trƣờng Tiểu học Trƣng Nhị, thị xã Phúc Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc.
7. Các phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích các tài liệu có liên quan đến phạm vi, nội dung nghiên cứu để
thu tập thông tin, tổng hợp các vấn đề mà xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài.
7.2. Phương phápnghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phƣơng pháp quan sát: Quan sát hoạt động dạy học môn Khoa
học ở trƣờng tiểu học để thu tập những thông tin cần thiết cho đề tài.
7.2.2. Phƣơng pháp điều tra: Điều tra đƣợc tiến hành theo mẫu phiếu
hỏi để thu đƣợc những thông tin làm rõ thực trạng giảng dạy và những hiểu
biết của giáo viên về phƣơng pháp Bàn tay nặn bột
7.2.3. Phƣơng pháp thống kê toán học

4


Sử dụng thống kê toán học để tổng hợp kết quả điều tra của các kết quả
nghiên cứu.
8. Cấu trúc khóa luận
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn
bột trong dạy học môn Khoa học lớp 4.
Chƣơng 2: Thực trạng của việc vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn bột

trong dạy học môn Khoa học lớp 4.
Chƣơng 3: Biện pháp vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn bột trong dạy
học môn Khoa học lớp 4

5


PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG
PHƢƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT TRONG DẠY HỌC
MÔN KHOA HỌC LỚP 4

1.1. Những vấn đề lý luận về phƣơng pháp Bàn tay nặn bột
1.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột (tiếng Pháp: “La main à la pate”, tiếng
Anh: Hands on) là ý tƣởng sáng tạo của nhà vật lý ngƣời Mỹ từng nhận giải
nobel năm 1988 Leon Ledeman. Tiếp đó, Georges Charpak – nhà vật lý ngƣời
Pháp đã kế tục và triển khai PPDH này tại một số trƣờng tiểu học ở Paris và
đạt đƣợc những thành công nhất định. Việc xây dựng chƣơng trình này đƣợc
khởi nguồn từ khi Georges Charpak đến thăm Chicago năm 1944. Ông đến
Chicago và thấy nhà vật lý Ledeman đang tiến hành một thí nghiệm về “xóa
mù khoa học”, đó là chƣơng trình “Nhúng tay vào” – chƣơng trình đang gây
hứng thú trong các nhà trƣờng tiểu học.
Tháng 9/1996, ở Pháp diễn ra cuộc hội thảo xung quanh vấn đề dạy
khoa học ở trƣờng tiểu học, tổ chức tại Treilles. Từ đó, chƣơng trình “Bàn tay
nặn bột” đƣợc áp dụng thử nghiệm ở nhiều trƣờng tiểu học ở Pháp. Họ chủ
trƣơng cho học sinh tiếp xúc với khoa học và cách nghiên cứu một vấn đề
khoa học bằng việc chính các em tự tiến hành làm thí nghiệm dƣới sự định
hƣớng, giúp đỡ của GV, tránh tình trạng GV dạy học bằng cách thông báo

cho học sinh một cách đơn giản “chân lý là thế” và bắt các em phải chấp
nhận. Sau một năm thực nghiệm, bắt đầu từ năm học 2001 – 2002, PPBTNB
chính thức đƣợc Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp đƣa vào chƣơng trình dạy học

6


các môn Khoa học ở trƣờng tiểu học. Sau đó, chƣơng trình này tiếp tục đƣợc
phổ biến dần trên thế giới.
Tháng 8/2001, chƣơng trình “Learning by doing” do Bộ Giáo dục
Trung Quốc, Hội Khoa học và công nghệ Trung Quốc khởi xƣớng chính thức
khởi động với sự giúp đỡ của Viện hàn lâm khoa học Pháp và ISCU đã vận
dụng PPDH BTNB vào dạy học ở các trƣờng tiểu học. Bƣớc đầu chỉ ở một số
thành phố lớn và nay đã đƣợc thực nghiệm rộng rãi trên nhiều tỉnh.
Tháng 12/2002, Hội thảo quốc tế lần hai về dạy học các môn Khoa học
ở trƣờng tiểu học diễn ra htại Braxin. Sau đó, một loạt các lớp bồi dƣỡng về
PPDHBTNB đƣợc tổ chức ở Braxin, Mexico và một số nƣớc châu Phi.
Tháng 9/2003, tại Kuala Lumpua (Malayxia), lần đầu tiên Hội thảo
dạy học các môn Khoa học – PPDH BTNB đƣợc tổ chức với sự tham gia của
10 nƣớc Asian cùng Trung Quốc và Pháp.
Ở Việt Nam, dƣới sự giúp đỡ của GS.Trần Thanh Vân, nhóm giảng
viên ngành Vật lý trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội và nhóm sinh viên khoa
vật lý của trƣờng đã đƣa PPDH BTNB vào thử nghiệm ở một số trƣờng tiểu
học ở Hà Nội nhƣ: Trƣờng tiểu học Đoàn Thị Điểm, Trƣờng tiểu học
SOS,…Thêm vào đó, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội chủ trì tổ chức, phối
hợp tất cả các lực lƣợng trong nƣớc để triển khai theo tiêu chí cụ thể “Mỗi
năm, mỗi một nội dung có thêm giáo án dạy theo bàn tay nặn bột”.
1.1.2. Khái niệm phương pháp Bàn tay nặn bột
Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột (Tiếng Anh gọi là “Hands on”, tiếng
Pháp là La Main à la Pate, dịch sang tiếng Việt Nam là “Bàn tay nặn bột”) là

cách thức tổ chức cho HS tự nghiên cứu tìm ra cách lý giải thuyết phục cho
những kiến thức trong chƣơng trình học, thông qua các hình thức thảo luận,
đề xuất và thực hiện phƣơng án thí nghiệm.

7


Ta cũng có thể hình dung phƣơng pháp Bàn tay nặn bột cũng giống nhƣ
cách ngƣời ta làm bánh, phải tự tây nặn bột làm ra cái bánh. Nhƣng khác ở
chỗ, ngƣời làm bánh chỉ làm ra những cái bánh theo khuôn mẫu. Còn ở
phƣơng pháp này, ngƣời học phải tự làm ra cái bánh theo ý nghĩ của riêng
mình. Nghĩa là cho HS các dụng cụ thí nghiệm, đồ dùng học tập, học sinh tiến
hành vạch kế hoạch thực nghiệm để đi tìm tri thức, chân lý khoa học. Nhƣ
vậy, phƣơng pháp này đặt học sinh vào vị trí của một nhà khoa học, các em có
thể tự mình tìm tòi, khám phá ra kiến thức bài học thông qua việc độc lập tiến
hành các thí nghiệm khoa học – dƣới sự giúp đỡ của GV. Vì vậy, việc tiên
đoán hiện tƣợng và thiết kế phƣơng án thí nghiệm để kiểm tra tiên đoán đƣợc
coi trọng và đƣợc lặp đi lặp lại trong nhiều tình huống. Đó là cách để các em
bộc lộ quan điểm của mình. Vì vậy, trong giờ học cần tạo những cơ hội để các
em đƣa ra tiên đoán và bộc lộ các lỗi của mình để sửa chữa.Đó là sự vận động trí
tuệ thƣờng xuyên cho phép trẻ đƣa ra các quan niệm từ kinh nghiệm hàng ngày.
1.1.3. Đặc điểm của phương pháp Bàn tay nặn bột
Bao gồm các đặc điểm sau:
- Giúp học sinh có thể tiếp cận dần các khái niệm Khoa học tự nhiên
thông qua việc thực hành làm thí nghiệm, thực hành nói và viết.
- Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột là sự thực hành, tiếp cận Khoa học bằng
hành động, hỏi đáp, tìm tòi, sáng tạo, góp phần xây dựng một tập thể học tập
tốt và thu đƣợc kiến thức cơ bản về thế giới Khoa học tự nhiên.
- Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột đƣa ra một quá trình ƣu tiên cho việc
hình thành tri thức bằng hoạt động, thí nghiệm và thảo luận.

- Phƣơng pháp này đặt học sinh vào vị trí của một nhà nghiên cứu Khoa
học đứng trƣớc một tình huống có vấn đề các em tự mình tìm tòi, khám phá ra
kiến thức thông qua việc tiến hành thí nghiệm, trao đổi, thảo luận ý kiến với
mọi ngƣời dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên.

8


- Học sinh học tập bằng hành động học sinh sẽ thấy mình học tập tiến
bộ dần qua quá trình tƣ duy, thắc mắc khi đứng trƣớc một vấn đề nào đó,
cùng thảo luận với bạn bè để đối chiếu quan điểm, tìm ra kiến thức đúng đắn
thông qua việc thiến hành làm thí nghiệm để kiểm chứng.
- Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột cho phép học sinh thoải mái đƣa ra
quan điểm của mình về sự vật, hiện tƣợng đó là những hiểu biết ban đầu của
học sinh. Những hiểu biết này có thể đúng, có thể không đúng, chƣa đầy đủ,
ngây ngô,…nhƣng vẫn đƣợc tôn trọng và khích lệ, giúp tạo niềm tin cho các
em. Và với những kiến thức đó học sinh sẽ tự mình nhận thức, sửa chữa tính
chính xác hay không sau khi tiến hành làm thí nghiệm kiểm chứng.
- Thƣờng các buổi học ở lớp vận dụng phƣơng pháp Bàn tay nặn bột
chủ đề thƣờng xoay quanh những vấn đề gần gũi với học sinh để giúp học
sinh tiếp thu kiến thức, nắm đƣợc cách tiến hành và rèn luyện ngôn ngữ.
- Dụng cụ để học tập thực hành PPBTNB cũng vô cùng đơn giản, gần
gũi, dễ tìm với các em học sinh ví dụ nhƣ: con dao, cái cốc, chai nƣớc, hạt
đậu, nụ hoa, cát, nƣớc, túi nilon,…
- Các thao tác trên thí nghiệm cũng vô cùng đơn giản.
1.1.4. Cơ sở khoa học của phương pháp Bàn tay nặn bột
1.1.4.1. Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu
Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu là một phƣơng pháp dạy
và học khoa học xuất phát từ sự hiểu biết về cách thức học tập của học sinh,
bản chất của nghiên cứu khoa học và sự xác định các kiến thức khoa học cũng

nhƣ kỹ năng mà học sinh cần nắm vững. Phƣơng pháp dạy học này cũng dựa
trên sự tin tƣởng rằng điều quan trọng là phải đảm bảo học sinh thực sự hiểu
những gì đƣợc học, mà không phải đơn giản chỉ là học để nhắc lại nội dung
kiến thức và thông tin thu đƣợc, không phải là một quá trình học tập hời hợt
với động cơ học tập dựa trên sự hài lòng từ việc khen thƣởng, dạy học khoa

9


học dựa trên tìm tòi nghiên cứu đi sâu với động cơ học tập đƣợc xuất phát từ
sự hài lòng của học sinh khi đã học và hiểu đƣợc một điều gì đó. Dạy học
khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu không quan tâm đến lƣợng thông tin đƣợc
ghi nhớ trong một thời gian ngắn mà ngƣợc lại là những ý tƣởng hay khái niệm
dẫn đến sự hiểu biết ngày càng sâu hơn cùng với sự lớn lên của học sinh.
a. Bản chất của nghiên cứu khoa học trong phương pháp Bàn tay nặn bột
Tiến trình tìm tòi nghiên cứu khoa học trong phƣơng pháp Bàn tay nặn
bột là một vấn đề cốt lõi, quan trọng. Tiến trình tìm tòi nghiên cứu của học
sinh không phải là một đƣờng thẳng đơn giản mà là một quá trình phức tạp.
Học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua tình huống (Câu hỏi lớn của bài); nêu các
giả thuyết, các nhận định ban đầu của mình, đề xuất và tiến hành các thí
nghiệm nghiên cứu; đối chiếu các nhận định (giả thuyết đặt ra ban đầu); đối
chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm khác; nếu không phù hợp
học sinh phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lại các thí nghiệm hoặc thử
làm lại các thí nghiệm nhƣ đề xuất của các nhóm khác để kiểm chứng; rút ra
kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu. Trong quá trình này, học sinh
luôn luôn phải động não, trao đổi với các học sinh khác trong nhóm, trong
lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức. Con đƣờng tìm ra kiến thức của
học sinh cũng đi lại gần giống với quá trình tìm ra kiến thức mới của các nhà
khoa học.
b.Lựa chọn kiến thức khoa học trong phương pháp Bàn tay nặn bột

Việc xác định kiến thức khoa học phù hợp với học sinh theo độ tuổi là
một vấn đề quan trọng đối với giáo viên. Giáo viên phải tự đặt ra các câu hỏi
nhƣ: Có cần thiết giới thiệu kiến thức này không? Cần thiết giới thiệu kiến
thức này vào thời điểm nào? Cần yêu cầu học sinh hiểu kiến thức này ở mức
độ nào? Giáo viên có thể tìm câu hỏi này thông qua việc nghiên cứu chƣơng
trình, sách giáo khoa và tài liệu hỗ trợ giáo viên (sách giáo viên, sách tham

10


khảo, hƣớng dẫn thực hiện chƣơng trình) để xác định rõ hàm lƣợng kiến thức
tƣơng đối với trình độ cũng nhƣ độ tuổi của học sinh và điều kiện địa phƣơng.
c.Cách thức học tập của học sinh
Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột dựa trên thực nghiệm và nghiên cứu cho
phép giáo viên hiểu rõ hơn cách thức mà học sinh tiếp thu các kiến thức khoa
học. Phƣơng pháp Bàn tay nặn bột cho thấy cách thức học tập của học sinh là
tò mò tự nhiên, giúp các em có thể tiếp cận thế giới xung quanh mình qua
việc tham gia các hoạt động nghiên cứu. Các hoạt động nghiên cứu cũng gợi ý
cho học sinh tìm kiến thức để rút ra các kiến thức cho riêng mình, qua sự
tƣơng tác với các học sinh khác cùng lớp để tìm phƣơng án giải thích các hiện
tƣợng. Các suy nghĩ ban đầu của học sinh rất nhạy cảm, ngây thơ, có tính logic
theo cách suy nghĩ của học sinh, tuy nhiên thƣờng là sai về mặt khoa học.
d.Quan niệm ban đầu của học sinh
Quan niệm ban đầu là những biểu tƣợng ban đầu, ý kiến ban đầu của
học sinh về sự vật, hiện tƣợng trƣớc khi đƣợc tìm hiểu về bản chất sự vật,
hiện tƣợng. Đây là những quan niệm đƣợc hình thành trong vốn sống của học
sinh, là các ý tƣởng giải thích sự vật, hiện tƣợng theo suy nghĩ của học sinh,
còn gọi là “các khái niệm ngây thơ”. Thƣờng thì các quan niệm ban đầu này
chƣa tƣờng minh, thậm trí còn mâu thuẫn với các giải thích khoa học mà học
sinh sẽ đƣợc học. Biểu tƣợng ban đầu không là kiến thức cũ, kiến thức đã

đƣợc học mà là quan niệm của học sinh về sự vật, hiện tƣợng mới (kiến thức
mới) trƣớc khi học kiến thức đó.
Tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu là một đặc trƣng
quan trọng của phƣơng pháp Bàn tay nặn bột.
Biểu tƣợng ban đầu của học sinh là rất đa dạng và phong phú. Tuy
nhiên, nếu để ý giáo viên có thể nhận thấy trong các biểu tƣợng ban đầu đa
dạng đó có những nét tƣơng đồng. Chính từ những nét tƣơng đồng này giáo

11


viên có thể giúp học sinh nhóm lại các ý tƣởng (biểu tƣợng ban đầu) để từ đó
đề xuất các câu hỏi.
Không chỉ ở học sinh nhỏ tuổi mà ngay cả ở ngƣời lớn cũng có những
quan niệm sai, biểu tƣợng ban đầu cũng có những nét tƣơng đồng mặc dù
ngƣời lớn có thể đã đƣợc học một hoặc một vài lần về kiến thức đó.
Biểu tƣợng ban đầu là một chƣớng ngại trong quá trình nhận thức của
học sinh. Do đó, để giúp học sinh tiếp nhận kiến thức mới một cách sâu sắc và
chắc chắn, giáo viên cần phải bỏ “chƣớng ngại” này bằng cách thực hiện các
thí nghiệm để chứng minh quan điểm đó không chính xác. Chƣớng ngại bị
phá bỏ khi học sinh tự mình làm thí nghiệm, tự rút ra kết luận, đối chiếu với
quan niệm ban đầu để tự đánh giá quan niệm của mình đúng hay sai.
Học sinh cần phải có thời gian để chứng minh biểu tƣợng ban đầu mà
các em luôn cho là đúng hoặc sai và phù hợp với những kinh nghiệm trƣớc đó.
Trong phƣơng pháp Bàn tay nặn bột học sinh đƣợc khuyến khích trình
bày quan niệm ban đầu, thông qua đó giáo viên có thể giúp học sinh đề xuất
các câu hỏi và các thí nghiệm để chứng minh. Đây là một bƣớc quan trọng
trong tiến hành phƣơng pháp mà chúng ta sẽ đề cập kỹ ở phần tiến trình của
phƣơng pháp.
Biểu tƣợng ban đầu của học sinh thay đổi tùy theo độ tuổi và nhận thức

của học sinh. Do vậy việc hiểu tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh tiểu học cũng
là một thuận lợi lớn cho giáo viên khi giảng dạy theo phƣơng pháp Bàn tay
nặn bột.
1.1.4.2. Tiến trình cụ thể khi dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột
Bao gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Quá trình chuẩn bị
Đây là giai đoạn định hƣớng cho quá trình dạy học bằng phƣơng pháp
Bàn tay nặn bột, do đó giáo viên phải chuẩn bị kỹ từ việc xác định mục tiêu,

12


nội dung bài học đến việc lựa chọn tình huống xuất phát, chuẩn bị cơ sở vật
chất cần thiết cho bài dạy đồng thời cần phải dự kiến các vấn đề nảy sinh,
những khó khăn có thể xảy ra trong quá trình dạy để có thể chủ động xử lý
một cách thích hợp.
- Về mục tiêu: giáo viên cần xác định đƣợc những mục tiêu cơ bản nhƣ
kiến thức, kỹ năng, thái độ mà học sinh cần đạt đƣợc sau bài học. Việc xác
định đúng trọng tâm bài học thì việc tổ chức dạy học theo PPBTNB mới tiến
hành đúng hƣớng và đạt kết quả tốt.
- Về đồ dùng dạy học: Từ mục tiêu đề ra của bài học mà GV chuẩn bị
các dụng cụ thích hợp với nội dung bài học. Khi dạy bằng PPBTNB ngoài
việc chuẩn bị dụng cụ dạy học đầy đủ theo nội dung bài, GV cần phải dự kiến
trƣớc những dụng cụ mà HS có thể đề xuất ra trong quá trình làm thí nghiệm
để chuẩn bị thêm. Các dụng cụ dạy học bao gồm: tranh, ảnh, máy chiếu, vật
dụng thí nghiệm, mãu vật, vật thật,…Chú ý dụng cụ học tập phải đảm bảo phù
hợp với trình độ nhận thức của học sinh, phù hợp với nội dung bài học, điều
kiện vật chất của nhà trƣờng và địa phƣơng bên cạnh đó cũng càn phải đảm
bảo tính khoa học và tính sƣ phạm.
Đây là bƣớc quan trọng nhất đối với PPBTNB. Nếu không có đồ dùng

dạy học thì không thể tiến hành thực hiện tiết dạy đƣợc.
- Về kế hoạch dạy (Giáo án): Giáo án cần phân định rõ tiến trình của
bài học nhƣ: hoạt động của giáo viên, học sinh, thời lƣợng cụ thể, vật dụng thí
nghiệm, mục tiêu bài học, nội dung đánh giá, lựa chon tình huống có vấn
đề,…Việc lập kế hoạch tổ chức dạy học theo PPBTNB có ý nghĩa quan trọng
trong việc nâng cao hiệu quả của giờ học. Nếu GV chuẩn bị chu đáo thì hoạt
động dạy học trên lớp sẽ diễn ra suôn sẻ và hiệu quả hơn.
Giai đoạn 2: Tổ chức cho học sinh học tập theo phương pháp Bàn tay
nặn bột trong dạy học môn Khoa học

13


Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quy trình. Bao gồm các bƣớc
tiến hành của giáo viên và học sinh:
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.
Đây là sự xuất phát, khởi điểm của một bài học. GV sẽ là ngƣời chủ
động đƣa ra tình huống nhƣ một cách dẫn nhập vào bài học nhằm khơi gợi sự
chú ý, tò mò của HS. Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, dễ hiểu và gần gũi
với HS, thƣờng thì tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề
vì thế tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn
đề càng dễ. Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ,
gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích trí tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của
học sinh nhằm chuẩn bị tâm thế cho học sinh trƣớc khi khám phá lĩnh hội
kiến thức. Đặc biệt câu hỏi nêu vấn đề phải là câu hỏi mở tuyệt đối không
đƣợc dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không)
Bước 2: Hình thành biểu tượng ban đầu
Hình thành biểu tƣợng ban đầu là bƣớc quan trọng, đặc trƣng của
phƣơng pháp BTNB. Bƣớc này khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ,
nhận thức ban đầu của mình trƣớc khi đƣợc học kiến thức. Hình thành biểu

tƣợng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học
có liên quan đến kiến thức mới của bài học. Khi yêu cầu học sinh trình bày
biểu tƣợng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu nhiều hình thức biểu hiện của
học sinh, có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết
hay vẽ biểu hiện suy nghĩ.
Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án tìm tòi
Đề xuất câu hỏi:
Từ những khác biệt và phong phú về biểu tƣợng ban đầu của HS, GV
sẽ giúp HS đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó, đặc biệt là sự khác biệt liên
quan đến kiến thức trọng tâm của bài học. Vì đây là một bƣớc khá khó khăn

14


vì GV phải chọn lựa các biểu tƣợng ban đầu tiêu biểu trong hàng chục biểu
tƣợng của HS nhằm giúp HS đề xuất câu hỏi từ những khác biệt đó theo ý đồ
dạy học. GV cần khéo léo chọn lựa, gợi ý, định hƣớng mốt số biểu tƣợng ban
đầu khác biệt trong lớp để giúp HS so sánh những điểm giống nhau và khác
nhau giữa các biểu tƣợng để từ đó có thể giúp học sinh dễ dàng đề xuất câu hỏi.
Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu:
Từ những câu hỏi đề xuất, GV nêu câu hỏi cho HS đề nghị các em đề
xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi đó.
GV nên khuyến khích các em đề xuất phƣơng án thực nghiệm, không nên
nhận xét đúng hay sai. Nếu ý kiến của học sinh nêu có ý đúng nhƣng ngôn từ
chƣa chuẩn xác hoặc diễn đạt chƣa rõ thì GV có thể gợi ý và từng bƣớc giúp
HS hoàn thiện diễn đạt.
Sau khi HS đề xuất phƣơng án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, GV
nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phƣơng pháp thí nghiệm đã chuẩn
bị sẵn. Trƣờng hợp HS không đƣa ra đƣợc phƣơng án thí nghiệm tìm tòi –
nghiên cứu thích hợp, GV có thể gợi ý hay đề xuất cụ thể phƣơng án nếu gợi

ý mà HS vẫn chƣa nghĩ ra.
Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu
Đây là bƣớc quan trọng nhất trong quy trình. Những hoạt động của HS
ở bƣớc này là nhằm để chấp nhận hay bác bỏ các giả thuyết của các em đã đề
ra. Qua đó khẳng định tính đúng đắn của kiến thức khoa học.
Từ các phƣơng án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu mà HS nêu ra, GV
khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm hay các thiết bị dạy học
thích hợp để HS tiến hành nghiên cứu. Ở bƣớc thực nghiệm tìm tòi – nghiên
cứu của PPBTNB có hai phƣơng án để tiến hành: một là thực hành thí
nghiệm, hai là quan sát.

15


Trƣớc khi tiến hành thí nghiệm, GV cần nêu rõ yêu cầu và mục đích thí
nghiệm hoặc yêu cầu HS cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiến
hành. Sau đó GV mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tƣơng ứng với
hoạt động.
Nếu phải làm thí nghiệm thì ƣu tiên thực hiện thí nghiệm trên vật thật.
Một số trƣờng hợp không thể tiến hành trên vật thật có thể làm trên mô hình
hoặc cho HS quan sát tranh vẽ. Đối với phƣơng án quan sát, GV nên cho HS
quan sát vật thật trƣớc, sau đó mới cho HS quan sát tranh vẽ khoa học hay mô
hình để phóng to những đặc điểm không thể quan sát ró trên vật thật.
Trong quá trình HS làm thí nghiệm GV bao quát lớp, quan sát từng
nhóm để có thể kịp thời hỗ trợ, gợi ý cho những khó khăn của HS.
Các thí nghiệm đƣợc tiến hành lần lƣợt tƣng ứng theo từng mô đun
kiến thức. Mỗi thí nghiệm thực hiện xong, GV nên dừng lại cho HS rút ra kết
luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tƣơng ứng). GV cần lƣu ý với
HS phần ghi chép vật liệu thí nghiệm, cách bố trí và thực hiện thí nghiệm (mô
tả bằng lời hay vẽ sơ đồ), ghi chú lại kết quả thực nghiệm, kết luận sau thí

nghiệm vào vở thực hành. Việc ghi chép này GV nên để HS ghi chép tự do
bằng chính ngôn ngữ của các em. Giáo viên cũng có thể thiết kế một mẫu sẵn
để HS điền kết quả thí nghiệm, vật liệu thí nghiệm vào phiếu, đối với các thí
nghiệm phức tạp.
Bước 5: kết luận kiến thức
Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, các câu trả lời dần
dần đƣợc giải quyết, kiến thức đƣợc hình thành, tuy nhiên vẫn chƣa có hệ
thống hoặc chƣa chuẩn xác một cách khoa học.
Giáo viên nên tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi vào vở
coi nhƣ là kiến thức của bài học. Trƣớc khi kết luận chung, giáo viên nên yêu
cầu một vài ý kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực hiện thí nghiệm (rút

16


ra kiến thức của bài học). Đến bƣớc này HS sẽ có cơ hội nhìn nhận, so sánh,
đối chiếu lại với những biểu tƣợng ban đầu mà mình nêu ra từ đó giúp các em
tự thấy đƣợc mình sai hay đúng mà không phải do GV nhận xét một cách áp
đặt. Từ đó HS sẽ có thể tự sửa chữa, điều chỉnh lại kiến thức cho mình một
cách chủ động. Ddieuf này sẽ giúp HS nhớ kiens thức lâu hơn, sâu sắc hơn.
1.2. Dạy học môn Khoa học lớp 4
1.2.1. Mục tiêu môn khoa học lớp 4
Về kiến thức: HS có một số kiến thức cơ bản, ban đầu, thiết thực về:
- Sự trao đổi chất của cơ thể ngƣời, cách phòng tránh một số bệnh
thông thƣờng và bệnh truyền nhiễm.
- Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động, thực vật.
- Đặc điểm và ứng dụng một số chất, một số vật liệu và năng lƣợng
thƣờng gặp trong đời sống và sản xuất.
Về kỹ năng: Bƣớc đầu hình thành và phát triển một số kỹ năng:
- Ứng xử thích hợp trong các tình huống có liên quan đến vấn đề sức

khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng.
- Quan sát và làm một số thí nghiệm khoa học đơn giản, gần gũi với đời
sống, sản xuất.
- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập; biết tìm thông tin
giải đáp; biết diễn đạt những hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ,…
- Phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng của một số
sự vật, hiện tƣợng đơn giản trong tự nhiên.
Về thái độ: Hình thành và phát triển ở HS thái độ:
- Tự giác thực hiện các quy tắc vệ sinh, an toàn cho bản thân, gia đình
và cộng đồng.
- Ham hiểu biết khoa học, có ý thức vận dụng những kiến thức đã học
vào đời sống.

17


- Yêu thiên nhiên, đất nƣớc, cái đẹp, có ý thức bảo vệ môi trƣờng xung
quanh.
1.2.2. Nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4
Bao gồm ba chủ đề:
Chủ đề: Con người và sức khỏe ( Trao đổi chất ở ngƣời; dinh dƣỡng;
phòng bệnh; an toàn trong cuộc sống). Chủ đề này bao gồm 19 bài. Ở chủ đề
này HS sẽ biết đƣợc để duy trì sự sống con ngƣời thì cần những yếu tố gì?
Một khi thiếu ngững yếu tố đó con ngƣời sẽ không thể tồn tại và trong quá
trình tồn tại con ngƣời phải có mối quan hệ với môi trƣờng xung quang đó là
các quá trình trao đổi chất. Trong chủ đề này HS còn biết thức ăn mà chúng ta
ăn hằng ngày có những chất dinh dƣỡng nào? Biết đƣợc vai trò của chất dinh
dƣỡng đó và để có đầy đủ chất dinh dƣỡng một cách an toàn chúng ta cần ăn
uống nhƣ thế nào? Câu trả lời cũng có ở chủ đề này. Vẫn trong chủ đề này HS
biết đƣợc một số bệnh do thiếu chất dinh dƣỡng gây nên và một số bện lây

qua đƣờng tiêu hóa đặc biệt nếu biết đƣợc trạng thái nhƣ thế nào khi bị bệnh
và khi đã bị bệnh thì phải ăn uống ra sao? Bài học cuối cùng trong chủ đề này
cho ta biết đƣợc những việc làm để phòng tránh tai nạn đuối nƣớc, có ý thức
phòng tránh.
Chủ đề: Vật chất và năng lượng (Nƣớc; Không khí; âm thanh; Ánh
sáng; Nhiệt) gồm 38 bài. Ở chủ đề này HS sẽ biết đƣợc nƣớc có tính chất gì?
Tồn tại nhƣ thế nào? Biết đƣợc vòng tuần hoàn của nƣớc trong tự nhiên, vị trí,
vai trò của nƣớc trong cuộc sống, những việc làm cần thiết để bảo vệ nguồn
nƣớc. Nƣớc và không khí là hai yếu tố quan trọng của sự sống vì vậy trong
chủ đề này cung cấp cho HS những kiến thức liên quan đến không khí nhƣ:
cách nhận ra không khí, khong khí có những tính chất gì, có những thành
phần nào, vai trò, tác dụng của không khí,…Ngoài nƣớc và không khí âm
thanh cũng đƣợc đề cập đến trong chủ đề này. Biết đƣợc sự hình thành của

18


×