Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là nơi quan
trọng hình thành và phát triển nhân cách một con người. Gia đình đóng một
vai trò hết sức to lớn, có chức năng quan trọng. Thế nhưng gần đây, nhiều
cuộc bạo hành gia đình xảy ra liên tục, hậu quả ngày càng trở nên nghiêm
trọng đã gây không ít bức xúc đối với dư luận xã hội. Những phụ nữ tay yếu
chân mềm bị chồng hành hạ, làm nhục đã không biết cách để bảo vệ bản
thân mình. Vì vậy, bạo lực gia đình đang là vấn đề được dư luận quan tâm
sâu sắc. Đây là một dạng tệ nạn xã hội gây hậu quả ở nhiều mức độ lên đời
sống gia đình và xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân.
Trường hợp nhiêm trọng, bạo lực gia đình là tác nhân gây ra những hậu quả
tai hại về cuộc đời, nhân cách của con người, gián tiếp tạo nên mầm mống
các tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác trong xã hội.
Bạo lực trong gia đình tồn tại dưới nhiều hình thức, từ việc sử dụng
sức lực, vật dụng để đánh đập gây thương tích, tổn hại về thể xác cho đến
dùng lời nói nhục mạ, chửi mắng, đe dọa gây tổn thương về tâm lý và tinh
thần của các thành viên đều ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe, tâm lý, tình
cảm của mỗi cá nhân.
Trên thực tế, hầu hết người dân chưa biết cách và có ít cơ hội tiếp cận
với các dịch vụ Công tác xã hội, họ thường cố gắng chịu đựng trong một
thời gian dài và không biết làm sao để thoát khỏi tình cảnh bị bạo lực, vì vậy
cuộc sống của họ dễ đi đến chỗ bế tắc và có những hành vi tiêu cực, thậm
chí kéo dài sẽ gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng... Vì những lý do trên,
tôi chọn đề tài tiểu luận “ Công tác xã hội với phụ nữ bị bạo lực gia đình”
nhằm tìm hiểu rõ về nguyên nhân, hậu quả, thực trạng và các giải pháp để
khắc phục tình trạng bạo lực gia đình.
1
I) Cơ sở lý luận
1) Khái quát chung về bạo lực gia đình
1.1) Khái niệm về Bạo lực gia đình
Có nhiều khái niệm khác nhau về bạo lực gia đình. Theo Tổ chức Liên hợp
quốc, khái niệm bạo lực gia đình được hiểu là ‘‘bất kì hành động bạo lực nào
dẫn đến hoặc có thể dẫn đến những tổn thất về thân thể, tâm lí hay tình dục
hay những đau khổ của phụ nữ bao gồm cả sự đe dọa có những hành động
như vậy, việc cưỡng bức hay tước đoạt sự tự do, dù ở nơi công cộng hay
cuộc sống riêng tư” (United nation, 1995)
Tại Việt Nam, luật phòng chống bạo lực gia đình cũng xác định rõ: “Bạo
lực gia đình là hành vi cố ý của các thành viên trong gia đình gây tổn hại
hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành
viên khác trong gia đình” (Khoản 2, điều 1, Chương I)
Như vậy, có thể hiểu bạo lực gia đình là những hành vi cưỡng bức
hoặc đe dọa gây ra những tổn thương về thể chất, tâm lý, tình dục, kinh
tế hay xã hội giữa các thành viên trong một gia đình gây nên những hậu quả
nghiêm trọng đối với nạn nhân và môi trường xung quanh.
1.2) Các hình thức bạo lực gia đình
* Phân loại theo hình thức:
Theo nghiên cứu của Viện khoa học xã hội, bạo lực gia đình gồm có các
hình thức sau:
- Bạo lực về thể chất: Biểu hiện cụ thể ở các hành vi như đánh đập, hành hạ
nhằm gây thương tích trên cơ thể cho nạn nhân.
- Bạo lực về tinh thần: Biểu hiện cụ thể ở việc bắt nạn nhân sống trong bầu
không khí căng thẳng sợ hãi, khủng bố nạn nhân khiến hoảng loạng tâm thần
như: nhục mạ trước đám đông, dùng lời lẽ chỉ trích quá đáng gây tổn thương
về cảm xúc, tinh thần.
- Bạo lực về tình dục: Biểu hiện ở việc ép bạn đời quan hệ tình dục khi
không mong muốn, có hành vi cưỡng bức bạn đời và đánh đập sau khi quan
hệ tình dục, cưỡng ép mang thai hoặc nạo phá thai và nhiều hành vi tương tự
khác…
- Bạo lực về kinh tế: Biểu hiện ở việc bao vây kinh tế, kiểm soát tiền bạc, bắt
bạn đời lệ thuộc vào tiền nong, không cho giữ tiền, bắt phải hỏi xin tiền và
chứng minh mọi mua sắm, chi tiêu.
- Bạo lực về xã hội: Biểu hiện ở việc cô lập bạn đời bằng cách cắt đứt mọi
mối quan hệ , giao lưu với xã hội như nhốt trong nhà, không cho giao tiếp
với bất cứ ai, không cho nghe điện thoại, cắt đứt liên lạc với người
nhà, người thân hay bạn bè.
2
* Phân chia theo đối tượng:
- Bạo lực vợ - chồng: trong đó người chồng là đối tượng gây ra bạo lực cho
người vợ hoặc ngược lại
- Bạo lực bố mẹ - con cái: trong đó bố mẹ là đối tượng gây ra bạo lực cho
con cái là nạn nhân hoặc ngược lại
- Bạo lực ông bà - con cháu: trong đó ông bà là đối tượng gây ra bạo lực với
con cháu hoặc ngược lại.
* Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác
nhau. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đã quy định các hành vi bạo
lực bao gồm:
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức
khoẻ, tính mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả
nghiêm trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông,
bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với
nhau;
- Cưỡng ép quan hệ tình dục;
- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ;
- Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài
sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các
thành viên gia đình;
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá
khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra
tình trạng phụ thuộc về tài chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
2) Các hoạt động CTXH trong phòng chống bạo lực gia đình
- Can thiệp kịp thời phát hiện các hành vi bạo hành nhằm đảm bảo sự an
toàn.
- Kết nối với các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế miễn phí để nạn nhân bị bạo
lực gia đình được khám và điều trị bệnh.
- Nhân viên xã hội tiến hành đánh giá mức độ tổn thương về tâm lí, xác định
các phương pháp tham vấn và trị liệu , cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lí.
- Động viên tinh thần nạn nhân bị bạo hành gia đình để họ có them niềm tin
trong cuộc sống.
- Cùng người bị bạo hành xây dựng kế hoạch an toàn trước mắt và lâu dài
3
- Tư vấn về pháp luật và hỗ trợ các thủ tục , giấy tờ pháp luật liên quan đến
bạo hành.
- Giáo dục, răn đe nâng cao nhận thức về bạo hành gia đình, và pháp luật
liên quan tới bạo hành gia đình cho người gây bạo hành.
- Kết nối họ với các địa chỉ tin cậy ở cộng đồng dành cho người bị bạo hành
tạm lánh.
- Giới thiệu người bị bạo hành đến các địa chỉ và tư vấn hỗ trợ phù hợp tại
địa phương.
- Hỗ trợ khác bao gồm các nhu cầu thiết yếu (ăn, mặc , đồ dung thiết yếu…)
- Thông tin đa chiều giữa các cơ quan và các cấp hỗ trợ nhằm can thiệp hiệu
quả nhất.
- Hỗ trợ họ tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ pháp lý , nhằm đảm bảo quyền lợi
cho họ
- Tổ chức các hoạt động họp nhóm, sinh hoạt nhằm trang bị cho họ các kỹ
năng bảo vệ bản thân , kỹ năng sống
- Tổ chức các buổi tuyên truyền , tập huấn hay các cuộc thi về chủ đề phòng
chống bạo lực gia đình tại cộng đồng.
- Tổ chức các chuyến đi chơi cùng nhóm nhằm giúp họ có tinh thần thoải
mãi.
- Huy động nguồn lực từ gia đình , chính quyền để hỗ trợ họ.
3) Các mô hình dịch vụ trong phòng chống bạo lực gia đình
a) CLB gia đình phát triển bền vững
Một trong những điểm thành công nhất ở cấp cơ sở đó là việc xây dựng, duy
trì hoạt động phòng chống BLGĐ. Mô hình này là sự kết hợp các hoạt động
của CLB Công tác gia đình, nơi thu hút các gia đình gần nhau để giao lưu
chia sẻ kinh nghiệm xây dựng gia đình hạnh phúc, cung cấp kiến thức kỹ
năng về nhận diện thế nào là BLGĐ và ngăn ngừa, ứng xử, giải quyết mâu
thuẫn đến phát huy giá trị tốt đẹp trong gia đình.
Tại xã Yên Phú (Hàm Yên, Tuyên Quang), năm 2011, mô hình can thiệp
phòng, chống BLGĐ ra đời đã góp phần đẩy lùi, ngăn chặn và hàn gắn
những hậu quả mà BLGĐ gây ra. UBND xã đã lựa chọn 5 thôn để thành lập
CLB gia đình phát triển bền vững gồm: thôn 1A Thống Nhất, thôn 6 Thống
Nhất, thôn 4 Minh Phú, thôn 2 Thống Nhất, thôn 1B Thống Nhất với tổng số
121 hội viên. Đồng thời thành lập 5 nhóm phòng chống BLGĐ tại các thôn
có CLB gia đình phát triển bền vững, mỗi nhóm có 5 thành viên.
Mỗi Câu lạc bộ có từ 20-25 thành viên tham gia, các Câu lạc bộ sinh hoạt
định kỳ hàng tháng, với các nội dung như xây dựng gia đình no ấm, bình
đẳng, tiến bộ và hạnh phúc; nét đẹp, cách ứng xử trong gia đình; lên án, phê
phán các hành vi BLGĐ và các biện pháp phòng chống BLGĐ, kiến thức
4
chăn nuôi, phát triển kinh tế…thực hiện nội quy, quy ước thôn. Nội dung
sinh hoạt được thay đổi, hình thức đa dạng phong phú, 5 CLB gia đình phát
triển bền vững đã tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, lồng ghép với công
tác hoà giải và tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, thu hút trên 400
lượt người tham gia.
b) Thông qua hê thống loa truyền thanh
Phổ biến khoảng 3.500 chương trình tuyên truyền vận động nhân dân tích
cực thực hiện Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống BLGĐ; nêu gương
điển hình xây dựng gia đình văn hóa; hoạt động văn hóa văn nghệ, hội thi về
phòng chống BLGĐ...
Tại Thừa Thiên - Huế, hiện toàn tỉnh có 113 mô hình phòng chống BLGĐ,
288 câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững, thiết lập 113 đường dây nóng,
247 cơ sở tư vấn và 579 địa chỉ tin cậy hỗ trợ nạn nhân BLGĐ. Ngoài ra,
nhiều địa phương cũng có những phong trào hay như tại làng Mỹ Lợi (xã
Vinh Mỹ, H.Phú Lộc) có giải thưởng Nàng dâu hiếu thảo để tôn vinh các
Nàng dâu biết hiếu thảo; …
c) Xây dựng địa chỉ nhà tin cậy tại cộng đồng
Đến nay cả nước đã hình thành hơn 18 nghìn CLB với hơn 31 nghìn địa chỉ
tin cậy ở cộng đồng, hơn 20 nghìn nhóm hoạt động phòng chống BLGĐ. Có
thể nói hoạt động phòng chống BLGĐ, nhiệm vụ phòng chống BLGĐ được
thực hiện bắt đầu từ cơ sở đã triển khai có hiệu quả Luật phòng chống
BLGĐ, góp phần giảm BLGĐ trên toàn quốc.
d) Mô hình sinh hoạt các câu lạc bộ đồng đẳng
Đây là nhóm các phụ nữ cùng cảnh bị bạo lực gia đình, họ cùng nhau sinh
hoạt, chia sẻ với nhau về vấn đề bạo lực gia đình cũng như những cách thức
để phòng vệ bản thân….
e) Tổ chức các cuộc thi , các buổi diễn văn nghệ về chủ đề phòng chống
bạo lực gia đình tại các trường học cũng như khu dân cư
f) Mô hình nhà tạm lánh cho nạn nhân của bạo lực gia đình
Các phụ nữ khi tìm đến đây họ sẽ được đảm bảo sự an toàn của mình, họ
được có nơi ăn, chốn ở an toàn, được sẻ chia, được điều trị những tổn
thương cả về thể chất lẫn tinh thần. Hiện nay ở Hà Nội có một trụ sở được
gọi là “nhà tạm lánh” trực thuộc Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng về giới
- gia đình và trẻ em (CSAGA). Đây là nơi chỉ tiếp nhận nạn nhân nữ đến
5
lánh nạn, cân bằng tâm lý sau khi bị giày vò, tra tấn về tinh thần và thể xác.
Hằng tháng “nhà tạm lánh” và các trung tâm tư vấn trực tiếp hàng trăm ca về
bạo hành giới. Ca nào cũng thấm đẫm nước mắt...
Hay ở Thành phố HCM có ngôi nhà tạm lánh mang tên Open Group do anh
Phan Thanh Nhàn thành lập. Phụ nữ bị bạo hành, người đồng tính bị kỳ thị,
trẻ em bị xâm hại… là những thành viên trong ngôi nhà đặc biệt này.
4) Một số kỹ thuật, kỹ năng CTXH trong phòng chống bạo lực gia đình
- Kỹ năng tạo lập mối quan hệ giữa nhân viên CTXH và cá nhân (hoặc gia
đình)
- Kỹ năng lắng nghe
- Kỹ năng tham vấn cá nhân (hoặc tham vấn gia đình)
- Kỹ năng thấu cảm
- Thăm gia đình, hỗ trợ gia đình xác định vấn đề, đánh giá nhu cầu
- Kết nối, tìm kiếm các nguồn lực sẵn có trong cộng đồng hỗ trợ gia đình
giải quyết vấn đề
- Hỗ trợ vấn đề tâm lý và xử lý khủng hoảng với các thành viên trong gia
đình
- Tổ chức các chương trình giáo dục, nâng cao năng lực cho gia đình
5) Luật pháp, chính sách trong phòng chống bạo lực gia đình
a) Các chương trình, chính sách, luật pháp, mô hình trong phòng chống
bạo lực gia đình trên một số nước trên thế giới.
a1) Ngày 25-11 hằng năm được LHQ lấy làm ngày quôc tế phòng chống bạo
lực gia đình
a2) Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ,
Việt Nam thông qua ngày 18-12-1982
a3) Ở Châu Âu, trong số 17 quốc gia và vùng lãnh thổ có Văn bản quốc tế
quan trọng để giải quyết vấn đề bạo lực trên cơ sở giới là Tuyên bố Xoá bỏ
bạo lực đối với phụ nữ được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm
1993. Về mặt pháp lý, trong thời gian qua, rất nhiều nỗ lực cải cách luật
pháp đã được thực hiện trên thế giới để giải quyết vấn đề bạo lực trên cơ sở
giới. Rất nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã sửa đổi hoặc ban
hành những quy định pháp luật về bạo lực đối với phụ nữ.
a4) Ở Châu Mỹ, 29 quốc gia và vùng lãnh thổ đã ban hành luật pháp về bạo
lực đối với phụ nữ, phần lớn trong giai đoạn 2000-2012. Puerto Rico là quốc
gia đầu tiên ban hành luật phòng chống bạo lực đối với phụ nữ bằng việc
thông qua đạo luật Phòng chống và can thiệp đối với bạo lực gia đình năm
1989. Các nước châu Mỹ La tinh và Carribe dẫn đầu trong việc thúc đẩy xây
dựng và thông qua các văn bản pháp luật về bạo lực đối với phụ nữ. Chính
6
phủ Costa Rica thực hiện Kế hoạch hành động Quốc gia 2009 về bạo lực đối
với phụ nữ. Mexico thông qua Luật về Tiếp cận của Phụ nữ với cuộc sống
không có bạo lực năm 2007; Venezuela thông qua Luật về Quyền của phụ
nữ được sống không bạo lực năm 2006; Brazil thông qua Luật Bạo lực gia
đình năm 2006… Năm 2010, Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật quốc tế về
bạo lực đối với phụ nữ (International Violence Against Women - IVAWA),
lần đầu tiên coi giải quyết bạo lực đối với phụ nữ là một ưu tiên của chính
phủ Mỹ và đưa vấn đề này vào các chiến lược can thiệp
a5) Luật pháp phòng chống bạo lực đối với phụ nữ, Ukraine là quốc gia đầu
tiên ban hành Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2001. Tây Ban Nha
có Luật về Các biện pháp bảo vệ chống lại bạo lực giới năm 2004.
a6) Châu á có 23 quốc gia đã xây dựng và ban hành luật pháp phòng chống
bạo lực đối với phụ nữ, chủ yếu trong giai đoạn 1994-2012 và Malaysia là
quốc gia đầu tiên ban hành Luật Bạo lực gia đình năm 1994. ở Trung Quốc,
thuật ngữ cấm bạo lực gia đình được viết trong nhiều luật như Luật Hôn
nhân sửa đổi, Luật Bảo vệ Quyền và Lợi ích của Phụ nữ, và những văn bản
luật khác. Một nền tảng chính sách về ngăn ngừa quấy rối tình dục nơi làm
việc đã được đề xuất. Chính sách an toàn tại trường học nhằm ngăn ngừa
lạm dụng tình dục các em gái ở trường học cũng đang được xây dựng. Trung
Quốc đã xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia chống buôn bán phụ nữ và
trẻ em gái giai đoạn 2008-2012.
a7) Châu Phi có 10 quốc gia và Châu Đại Dương có 1 quốc gia đã ban hành
luật pháp về bạo lực đối với phụ nữ. Năm 2011, Quốc hội Zambia đã thông
qua Luật Chống bạo lực trên cơ sở giới sau những đề xuất về luật pháp nhằm
giải quyết vấn đề bạo lực trên cơ sở giới.
a8) Trong tổng số 80 quốc gia và vùng lãnh thổ có luật về bạo lực đối với
phụ nữ được đề cập trong một phân tích của hai tác giả Gaby Ortiz-Barreda
và Carmen Vives-Cases (2013) có 60 quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng
thuật ngữ “bạo lực gia đình” trong tiêu đề của luật (cụ thể về thuật ngữ tiếng
Anh có 51 trường hợp sử dụng “domestic violence”, 8 trường hợp sử dụng
“family violence” và 1 trường hợp sử dụng “intra-family violence”); 14 quốc
gia và vùng lãnh thổ sử dụng thuật ngữ “bạo lực đối với phụ nữ” (violence
against women); và chỉ có 2 quốc gia sử dụng thuật ngữ bạo lực giới (gender
violence). Có 4 quốc gia sử dụng thuật ngữ khác.
a9) Trong số 51 quốc gia sử dụng thuật ngữ tiếng Anh “domestic violence”
thì có 44 quốc gia coi “gia đình” (the family) là đối tượng được bảo vệ, tức
là người phụ nữ không được đề cập một cách rõ ràng là đối tượng của bạo
lực. Chỉ có 2 quốc gia coi người phụ nữ là đối tượng hưởng lợi của luật.
Trong số 14 quốc gia sử dụng thuật ngữ “bạo lực đối với phụ nữ” thì có 9
quốc gia xác định người phụ nữ là đối tượng bảo vệ trực tiếp của luật.
7
a10) Có 39 quốc gia và vùng lãnh thổ trong tổng số 80 quốc gia thuộc
nghiên cứu này có đề cập đến định nghĩa về các loại hình bạo lực đối với
phụ nữ trong luật. Cụ thể: 28 quốc gia đưa ra 4 hình thức bạo lực (bạo lực
kinh tế, thể chất, tâm lý và tình dục); 6 quốc gia đưa ra 3 hình thức bạo lực
(bạo lực thể chất, tâm lý, tình dục); 2 quốc gia đưa ra 2 hình thức bạo lực
(bạo lực thể chất và tinh thần); 3 quốc gia đưa ra chỉ 1 hình thức bạo lực
(bạo lực tinh thần). Các quốc gia như Argentina, Brazil, Colombia, Costa
Rica, El Salvador, Guatemala, Honduras, Mexico, Mozambique, Nicaragua,
Cộng hoà Moldova, Uruguay, Venezuela đưa ra định nghĩa về các hình thức
bạo lực khác như giết hại phụ nữ (femicide), bạo lực về thể chế
(institutional); phân biệt đối xử với phụ nữ (misogyny).
a11) Trong tất cả các khu vực thì luật pháp về bạo lực đối với phụ nữ đều
nhấn mạnh đến vai trò của hệ thống thi hành pháp luật, dịch vụ xã hội và
công an/cảnh sát. Chỉ có 28 quốc gia có đề cập đến vai trò của lĩnh vực y tế
trong luật. Giáo dục và phương tiện truyền thông đại chúng ít được các quốc
gia đưa vào luật pháp về các biện pháp can thiệp đối với bạo lực đối với phụ
nữ. ở Châu Mỹ, luật pháp của các quốc gia như Argentina, Brazil, Colombia,
Mexico, Venezuela và El Salvado đều có đề cập đến cả 6 lĩnh vực nói trên
trong khi Bolivia, Chile, Nicaragua, và Mỹ đề cập đến vai trò của cảnh sát
và hệ thống thi hành pháp luật. ở Châu Âu, chỉ có Tây Ban Nha có đề cập
đến sự tham gia của cả 6 lĩnh vực trong khi ở Châu á, luật pháp về phòng
chống bạo lực đối với phụ nữ chủ yếu nhấn mạnh đến vai trò của cảnh sát và
hệ thống thi hành pháp luật và đề cập rất ít đến dịch vụ xã hội, y tế và giáo
dục. Philippines là quốc gia duy nhất ở Châu á có nhấn mạnh đến vai trò của
cả 6 lĩnh vực.
b) Các chương trình, chính sách, luật pháp, mô hình trong phòng chống
bạo lực gia đình ở Việt Nam
b1) Hiến pháp năm 2013, tại chương II
- Điều 36 có quy định : Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình , bảo hộ
quyền lợi của người mẹ và trẻ em
- Điều 37 quy định: Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm
hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những
hành vi khác vi phạm.
b2) Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (số: 02/2007/QH12)
Luật này quy định về phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân
bạo lực gia đình; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong
phòng, chống bạo lực gia đình và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống
bạo lực gia đình.
8
b3) Luật hôn nhân và gia đình (số: 52/2014/QH13)
Luật này quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách
ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, Nhà
nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình.
b4) Luật trẻ em (số 102/2016/QH13)
Luật này quy định về quyền, bổn phận của trẻ em; nguyên tắc, biện pháp bảo
đảm thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo
dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em.
b5) Nghị định (số: 167/2013/NĐ-CP)
Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy
và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình
b6) Nghị định (số: 87/2001/NĐ-CP)
Nghị định của Chính Phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn
nhân và gia đình
b7) Quyết định ( số 363/2016/QĐ-TTg)
Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình do Thủ tướng
Chính phủ ban hành ngày 8/3/2016 và có hiệu lực kể từ ngày ký. Theo đó,
lấy tháng 6 hằng năm là "Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo
lực gia đình".
b8) Quyết định (số: 215/QĐ-TTg)
Quyết định của Thủ tướng phê duyệt chương trình hành động quốc gia về
phòng, chống bạo lực gia đình đến năm 2020
II) Cơ sở thực tiễn
1) Bài học kinh nghiệm trên Thế giới
- 30% phụ nữ trên thế giới bị bạo hành gia đình
- Kết quả thông báo ngày 15/9/2011 sau một cuộc thống kê của Hiệp Hội
Quốc gia Chấm Dứt Nạn Bạo Hành Gia đình (National Network to End
Domestic Violence – NNEDV) thực hiện trong vùng Hoa Thịnh Đốn. Các
nhà tạm trú và các chương trình chống bạo hành gia đình vẫn luôn tiếp tục
tìm cách giúp đỡ nạn nhân. Chỉ tính riêng trong năm 2011, có khoảng
67,399 người lớn tuổi và trẻ em được giúp đỡ. Con số này cũng tương
đương với những năm trước.
+ Trung bình trong một ngày, 24 giờ đồng hồ, nhân viên làm việc
trong lãnh vực bạo hành gia đình phục vụ cho trên 67,000 nạn nhân và trả
lời trên 22,000 cú điện thoại nạn nhân gọi đến đường dây nóng khẩn cấp.
- 91% những vụ chết người liên quan đến bạo hành trong gia đình là những
người trưởng thành trên 18 tuổi; những người tuổi quá 50 chiếm 13% số
người chết nói trên. Bốn trẻ em dưới 18 tuổi nằm trong tỷ lệ 9% số người bị
9
mất mạng. Trong những vụ giết người vì bạo hành gia đình xảy ra từ tháng 7
năm 2010 đến tháng 6 năm 2011, có 23 người hay 54% phạm tội có mang
súng; dao được sử dụng trong 10 vụ giết người, chiếm tỷ lệ 23%; bốn vụ
chết người do hung bạo gây ra; hai vụ chết người vì hơi ngạt; một vụ vì bóp
cổ và một vụ vì lửa cháy; hai vụ khác không rõ lý do.
Các quốc gia trên thế giới đều có những bộ luật, chính sách và mô hình dịch
vụ riêng trong việc phòng chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên việc bạo lực
gia đình vẫn đang tiếp diễn, và có quốc gia thì vấn đề này tiến triển rất
mạnh, có quốc gia thì đã hạn chế và khắc phục được rất nhiều.
2) Bài học kinh nghiệm tại Việt Nam
* Trong năm 2005, 66% các vụ ly hôn ở Việt Nam liên quan đến bạo hành
gia đình.
- Trong 5 năm từ 2000 - 2005, có 186.954 vụ ly hôn do bạo lực gia đình,
hành vi đánh đập, ngược đãi chiếm 53,1% trong các nguyên nhân dẫn tới ly
hôn.
- Năm 2005, có tới hơn 39,7 nghìn vụ ly hôn có nguyên nhân từ bạo hành
trong tổng số gần 65 nghìn vụ án về hôn nhân và gia đình, chiếm tỷ lệ
60,3%, cũng theo nghiên cứu đó thì:
+ 25% gia đình có hành vi bạo lực tinh thần.
+ 30% cặp vợ chồng xảy ra hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục.
+ Ở đồng bằng sông Cửu Long có 1.319 ca nhập viện do bạo hành gia
đình, trong đó khoảng 1.000 ca tự tử, và 30 trường hợp tử vong. Tuy nhiên,
bài báo này không đăng số liệu cho các vùng khác.
* 5% phụ nữ thường xuyên bị chồng đánh đập.
* 82% hộ dân nông thôn và 80% hộ ở thành phố có xảy ra bạo lực.
* 9-10% trường hợp nạn nhân của bạo lực gia đình là nam giới và thủ phạm
chính là người vợ
Mặc dù được Đảng và Nhà nước quan tâm, dù đã có một hệ thống văn bản
pháp luật liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình nhưng những quy
định này thực sự chưa đi vào cuộc sống, chưa đi sâu vào nhận thức của
người dân, và quan trọng hơn là chưa làm thay đổi cơ bản tình hình bạo lực
gia đình trong xã hội trong thời gian qua.
- Quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền: có thể
thấy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong
phòng, chống bạo lực gia đình còn rất mờ nhạt, mà nguyên nhân chính là do
các cơ quan này chưa thật sự ý thức được tầm quan trọng, ý nghĩa của công
tác này, cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ đã được pháp luật quy định cho họ.
Trong khi đó, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình cũng chưa có một
quy định chặt chẽ để ràng buộc trách nhiệm của các cơ quan này.
10
- Thực tiễn vấn nạn bạo lực gia đình ở nước ta cho thấy: Việc thông tin,
tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình để nâng cao sự hiểu biết, từ
đó làm thay đổi về nhận thức vấn đề là hết sức quan trọng và cần thiết,
nhưng dường như chưa được chú ý đúng mức. Pháp luật đã quy định nhưng
lại không đề ra cơ chế cho việc thực thi trên thực tế, mà chỉ quy định chung
chung trong Chương 4 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình về trách nhiệm
của các cá nhân, cơ quan, tổ chức trong thi hành Luật.
- Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật
đối với hành vi bạo lực là một trong những hành vi bị cấm theo quy định tại
Điều 8 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Những hành vi này của cơ quan,
người có thẩm quyền vô hình dung là một trong những nguyên nhân chính
khiến tình trạng bạo lực gia đình không được cải thiện: người có hành vi bạo
lực không bị xử lý càng hung hăng, cho là mình đúng; nạn nhân càng sợ sệt,
không dám phản ứng, những người xung quanh thấy thế càng có lý do để thờ
ơ, không quan tâm, thậm chí có thể cho rằng mình cũng có thể làm như vậy.
3) Kinh nghiệm tại nơi mà SV lựa chọn tình huống mà mình hỗ trợ
Trong tình huống dưới đây, địa phương mà tôi đã lựa chọn đó là phường Bồ
Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Hiện tại thì có khoảng 10% hộ gia đình trong phường có xảy ra tình trạng
bạo lực gia đình. Đây tuy không phải con số quá lớn nhưng cũng không hề
nhỏ. Mặc dù tại địa phương đã có những chính sách, mô hình dịch vụ phòng
chống bạo lực gia đình, tuy nhiên việc triển khai vẫn chưa được rộng rãi. Sự
can thiệp của chính quyền địa phương tới các hộ gia đình có bạo lực gia đình
vẫn chưa sát sao, chặt chẽ.
III) Thực trạng vận dụng kiến thức, kỹ thuật và kỹ năng vào hỗ trợ một
trường hợp cụ thể
1) Mô phỏng ngắn gọn về TH được lựa chọn. Giới thiệu thân chủ và
tình hình của thân chủ
Chị Trần Thị Hạnh và anh Nguyễn Trung Nam lấy nhau đã được hơn 10
năm. Chị Hạnh sinh năm 1980, anh Nam sinh năm 1979. Gia đình chị Hạnh
sinh sống tại tổ 14, phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Tuy
điều kiện kinh tế có khó khăn nhưng vợ chồng chị đã có cuộc sống hạnh
phúc với 2 cô con gái, cháu lớn 9 tuổi và cháu bé được 6 tuổi. Chị Hạnh mở
cửa hàng may quần áo tại nhà còn anh Nam làm công nhân tại công ty sản
xuất giày.
Thời gian gần đây, công ty của anh thua lỗ dẫn tới phá sản, anh Nam bị mất
việc, phải đi làm thuê theo thời vụ, thu nhập thấp và không ổn định, cuộc
sống gia đình anh chị ngày càng khó khăn. Anh Nam trở nên chán nản, la cà
11
các quán uống rượu say khướt mới về nhà, anh chửi mắng vợ con, rồi nghe
bạn bè khích bác là không đẻ được con trai anh lại về chửi vợ, đánh vợ, do
không có con trai nên kinh tế gia đình không tốt. Anh bắt chị tiếp tục sinh
con đến khi đẻ được con trai mới thôi. Chị Hạnh nhiều khi không chịu được,
chị trốn về nhà mẹ ruột, mặc dù chị không nói nhưng nhìn những vết bầm
tím trên mặt con mẹ chị cũng đoán ra phần nào sự việc. Dù rất khổ tâm và
đau đớn về cả mặt thể chất, nhưng chị Hạnh cũng không nói với ai. Nhiều
lần hàng xóm khuyên bảo chị nhờ sự can thiệp của chính quyền, của pháp
luật nhưng chị khẳng định là không có chuyện gì xảy ra, vợ chồng chị chỉ
đôi lúc lời qua tiếng lại vậy thôi, chị cũng không biết là mình đang bị bạo
lực gia đình do thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức về bạo lực gia đình. Việc này
ảnh hưởng nặng nề đến việc học tập và tinh thần của hai cháu. Mẹ đẻ chị
thấy chị bị đánh nhiều thì thương xót con gái nên thông qua Hội phụ nữ
phường đã tìm đến sự trợ giúp của NVXH.
2) Trình bày các hoạt động CTXH thực tế trong phòng chống bạo lực
gia đình
Tiến trình CTXH cá nhân gồm 7 bước:
Tạo lập mối quan hệ
Thu thập thông tin
Đánh giá và xác định vấn đề
Lập kế hoạch hỗ trợ
Triển khai thực hiện kế hoạch
Lượng giá
Kết thúc
2.1) Tạo lập mối quan hệ
Trong bước này, nhân viên CTXH cần xây dựng được thiện cảm, sự tin
tưởng với thân chủ. Để xây dựng và duy trì mối quan hệ này nhân viên
CTXH vận dụng linh hoạt và kiên trì các kỹ năng rất quan trọng trong
CTXH:
- Nhân viên CTXH luôn sẵn sàng lắng nghe câu chuyện của thân chủ, cần
tập trung lắng nghe những chi tiết quan trọng, cần cố gắng hiểu thân chủ nói
gì và nhạy cảm với câu chuyện của thân chủ. Mục đích cảu người làm
CTXH là phải phát triển các kỹ năng nghe để trở thành một người biết đồng
cảm, nghĩ là phải biết chính xác thân chủ của mình đang cảm thấy gì, họ
đang suy nghĩ gì và phải để ý đến các chi tiết liên quan khác.
Đặc biệt với vấn đề bạo lực gia đình, người phụ nữ bị bạo hành cần cảm thấy
người lắng nghe mình rất căhm chú và thực sự quan tâm tới mình, thì họ mới
có thể chia sẻ cảm xúc, cung cấp đầy đủ thông tin.
12
- Nhân viên CTXH bên cạnh việc lắng nghe lời nói của thân chủ, việc lắng
nghe những thông điệp phi ngôn ngữ của thân chủ cũng rất cần thiết. Ví dụ
như hành vi, ngôn ngữ cử chỉ (tư thế, sự di chuyển và các điệu bộ); mắt (sự
tiếp xúc ánh mắt, ánh mắt nhìn, sự di chuyển của mắt); giọng nói (độ cao,
âm lượng, cường độ, ngắt từ, nhấn mạnh…) biểu hiện trên gương mặt (mỉm
cười, nhíu mày, bĩu môi…); phản ứng cơ thể quan sát được (thở gấp, xanh
xao…); khoảng cách thân chủ ngồi xa hay gần người khác khi nói chuyện…
Từ đó nhân viên CTXH có những sự quan tâm phù hợp, tạo được sự thoải
mai và gần gũi trong giao tiếp, làm việc với thân chủ
2.2) Thu thập thông tin
a) Thông tin về thân chủ
- Họ tên: Trần Thị Hạnh
- Giới tính: Nữ
- Tuổi: 36
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không
- Nghề nghiệp: tự do
- Chỗ ở hiện nay: tổ 14, phường Bồ Đề, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
b) Thông tin gia đình
STT
Họ tên
Tuổi Quan hệ với thân chủ
Ngề nghiệp
1
Nguyễn Trung Nam
37
Chồng
Làm thuê thời vụ
2
Nguyễn Ngọc Lan
9
Con gái
Học sinh
3
Nguyễn Lan Anh
6
Con gái
Học sinh
4
Đào Phương Hoa
60
Mẹ đẻ
Ở nhà
2.3) Đánh giá và xác định vấn đề
13
Cây vấn đề
Bị chồng bạo lực gia
đình mà không biết
Thiếu kiến thức về
bạo lực gia đình
Tư tưởng của chị
không đúng đắn
Hy
sinh vì
chồng
con
Có tư
tưởng
“xấu
chàng
hổ ai”
Ít có điều kiện tiếp
xúc với xã hội bên
ngoài
Chủ yếu
làm may
và ở nhà
chăm
sóc gia
đình
Phương tiện
truyền thông yếu
kém
Chính
quyền
không
quan
tâm
Hội
phụ nữ
hoạt
động
yếu
Nhận xét cây vấn đề:
- Vấn đề cốt lõi: Chị Hạnh bị chồng bạo hành gia đình nhưng vẫn im lặng
chịu đựng do thiếu hiểu biết về bạo lực gia đình.
- Nguyên nhân vấn đề: do nhiều nguyên nhân nhưng
+ Thứ nhất là do tư tưởng của chị chưa đúng đắn. Chị cứ nghĩ là làm vợ là
phải biết hy sinh cho chồng con và chịu đựng tất cả các hành vi của chồng
mà không biết đó là những hành vi bạo lực sai trái
+ Thứ hai là do chị ít có điều kiện tiếp xúc với xã hội bên ngoài nên không
tiếp thu được những kiến thức cơ bản nhất về quyền phụ nữ cũng như về bạo
lực gia đình
+ Thứ ba là do các phương tiện truyền thông ở địa phương hoạt động kém
hiệu quả, không cung cấp được cho chị những thông tin cơ bản nhất về bạo
14
lực gia đình. Chính quyền, cơ quan, đoàn thể chưa có sự quan tâm đúng mức
đến vấn đề này
+ Nguyên nhân về kinh tế, tâm lý: Do anh Nam mất việc, giờ chỉ làm thuê
theo thời vụ, gia đình lại đông người nên chi phí sinh hoạt cần nhiều hơn,
trong khi thì nguồn thu nhập giảm sút. Do vậy gây nên tâm lý chán trường,
bất lực của anh Nam từ đó tìm đến rượu chè say xỉn dẫn tới hành vi chửi
mắng đánh đập chị Hạnh.
+ Nguyên nhân về tính cách: Anh Nam vì vợ không sinh được con trai mà
chửi mắng, đánh đập chị Hạnh. Vì mất việc mà anh tìm đến rượu chè say
xỉn, dẫn đến hành vi bạo lực thể chất và tinh thần với vợ mình, từ đó ta có
thể đánh giá anh Nam là người có tính cách gia trưởng, tư tưởng “trọng nam
khinh nữ” nặng nề, không có trách nhiệm với vợ con, tính nóng nảy đến mức
dữ dằn.
2.4) Lập kế hoạch hỗ trợ
STT
1
2
3
4
Mục tiêu cụ
thể
Chị Hạnh
không còn bị
chồng bạo lực
Nguồn lực
Bên trong
Bên ngoài
Chị Hạnh, NVCTXH,
con gái
hàng xóm,
chị Hạnh, Hội Phụ nữ,
mẹ đẻ
Đoàn Thanh
niên, chính
quyền xã
Chị Hạnh
Chị Hạnh, NVCTXH,
không cần
con gái
hàng xóm,
phải cố sinh
chị Hạnh, Hội Phụ nữ,
con trai
mẹ đẻ
chính quyền
xã
Anh Nam bỏ Anh Nam NVCTXH,
rượu chè
hàng xóm,
Hội nông
dân, chính
quyền xã
Anh Nam và Anh Nam NVCTXH,
gia đình được và gia
hàng xóm,
hỗ trợ để vay đình
Ngân hàng
vốn tự kinh
chính sách xã
doanh
hội, chính
quyền xã
Thời Kết quả mong
gian
muốn
3
Chị Hạnh không
tuần còn bị chồng
đánh chửi, được
chồng tôn trọng
4
tuần
Chồng chị Hạnh
không ép chị tiếp
tục sinh con trai
1
tuần
Anh Nam bỏ
được việc la cà
quán xá rượu chè
2
tuần
Anh Nam và gia
đình được hỗ trợ
vốn, sau đó mở
cửa hàng tự kinh
doanh
15
5
Chị Hạnh
được bình
đẳng trong
gia đình
Anh Nam, NVCTXH,
chị Hạnh, hàng xóm,
con gái,
Hội Phụ nữ
mẹ đẻ
6
tuần
Chị Hạnh được
bình đẳng trên
mọi lĩnh vực
trong gia đình
2.5) Triển khai thực hiện kế hoạch
ST
T
Mục
tiêu
Hoạt động
1
Chị
Hạnh
không
còn bị
chồng
bạo
lực
Hòa giải
ngay tức
khắc để anh
Nam không
còn đánh
chị Hạnh
Người
thực hiện
Hình thức,
biện pháp
thực hiện
NVCTXH Tư vấn tại chỗ,
, Hội Phụ có sự can thiệp
nữ và gia của chính
đình chị
quyền
Hạnh
Kết nối chị
Hạnh với
trung tâm y
tế
Hỗ trợ chị
Hạnh và các
thành viên
khác trong
gia đình
một số
phương
thức chống
đỡ khi bị
bạo lực gia
đình
NVCTXH
và gia
đình chị
Hạnh
NVCTXH
và gia
đình chị
Hạnh
NVCTXH giới
thiệu chị Hạnh
đến trung tâm
y tế địa phương
Tư vấn, giáo
dục qua các
buổi nói
chuyện tại nhà,
tham gia các
lớp kỹ năng,
tham gia các
buổi họp phụ
nữ về bạo lực
gia đình
Nâng cao
kiến thức về
luật pháp
cho anh
Nam trong
vấn đề bạo
NVCTXH
, đại diện
xã, anh
Nam
Tư vấn, giáo
dục cùng với
đại diện chính
quyền
Kết quả
Anh Nam cam
kết không có
hành vi bạo lực
với chị Hạnh
nữa
Chị được kiểm
tra sức khỏe một
cách toàn diện
Anh Nam, chị
Hạnh, con gái
chị Hạnh và mẹ
đẻ chị Hạnh
nhận biết được
những dấu hiệu
của bạo lực gia
đình và có được
một số kỹ năng
để phòng tránh
cũng như ứng
phó khi bạo lực
gia đình xảy ra
Anh Na, được
trang bị kiến
thức về Luật
Phòng – chống
bạo lực gia đình,
ý thức được
16
2
Chị T
không
cần
phải
cố
gắng
sinh
con
trai
lực gia đình,
gây thương
tích
Tuyên
truyền để
chị Hạnh
nhận được
sự bảo vệ
của gia
đình, cộng
đồng và
pháp luật
Nâng cao
kiến thức về
luật hôn
nhân gia
đình cho
anh Nam
hành vi của bản
thân
NVCTXH Truyền thông,
, Hội Phụ vận động qua
nữ
tổ dân phố, loa
xã, hội phụ nữ.
Đến nói
chuyện tại gia
đình. Phát tờ
rơi
Gia đình, cộng
đồng có ý thức
trong việc cùng
tham gia phòng
chống bạo lực
gia đình
NVCTXH Truyền thông,
, anh Nam vận động qua
tổ dân phố, loa
xã, hội phụ nữ.
Đến nói
chuyện tại gia
đình. Phát tờ
rơi
Anh Nam có
kiến thức về luật
hôn nhân gia
đình
Hỗ trợ tâm NVCTXH Tham vấn tâm
lý để chị
, chị Hạnh lý tại chỗ.
Hạnh xóa
Tham vấn tâm
bỏ mặc cảm
lý nhóm phụ
về việc
nữ. Cho chị
không sinh
Hạnh tham gia
được con
một số buổi hội
trai
thảo nói về vấn
đề này
Tuyên
NVCTXH Truyền thông,
truyền về
, Hội Phụ vận động qua
bình đẳng
nữ và gia tổ dân phố, loa
giới cho anh đình anh
xã, hội phụ nữ.
Nam, chị
Nam
Đến nói
Hạnh và
chuyện tại gia
con cái
đình. Phát tờ
rơi
Chị Hạnh không
còn mặc cảm về
vấn đề không
sinh được con
trai
Tuyên
NVCTXH Truyền thông,
Chị Hạnh và gia
đình có kiến
thức về Luật
bình đẳng giới,
hiểu được trách
nhiệm của mình
trong việc thực
hiện Luật bình
đẳng giới
Gia đình, cộng
17
truyền để
chị Hạnh
nhận được
sự ủng hộ
của gia
đình, cộng
đồng và
pháp luật
3
4
5
Anh
Nam
không
còn la
cà
quán
xá,
rượu
chè
Anh
Nam
và gia
đình
được
hỗ trợ
vay
vốn để
tự kinh
doanh
Chị
Hạnh
được
đối xử
bình
đẳng
trong
gia
đình
, Hội Phụ
nữ, chị
Hạnh
vận động qua
tổ dân phố, loa
xã, hội phụ nữ.
Đến nói
chuyện tại gia
đình. Phát tờ
rơi
Nâng cao
NVCTXH Truyền thông,
kiến thức về , anh Nam vận động qua
tác hại của
tổ dân phố, loa
rượu chè
xã, hội phụ nữ.
cho anh
Đến nói
Nam
chuyện tại gia
đình. Phát tờ
rơi
đồng có kiến
thức về Luật
bình đẳng giới
cũng như ý thức
được trách
nhiệm cảu mình
trong việc thực
hiện Luật bình
đẳng giới
Anh Nam nhận
thức được tác
hại của rượu chè
đến bản thân và
gia đình
Giúp anh
Nam vay
vốn để có
thể tự kinh
doanh
NVCTXH
, anh
Nam,
Ngân hàng
chính sách
xã hội địa
phương
Vận động
chính quyền
địa phương,
Ngân hàng
chính sách xã
hội cho vay
vốn
Anh Nam được
vay vốn để kinh
doanh
Giúp chị
Hạnh và gia
đình nâng
cao kiến
thức về hôn
nhân, bình
đẳng giới và
bạo lực gia
đình
NVCTXH
, Hội Phụ
nữ và gia
đình chị
Hạnh
Truyền thông,
vận động qua
tổ dân phố, loa
xã, hội phụ nữ.
Đến nói
chuyện tại gia
đình. Phát tờ
rơi
Chị Hạnh và gia
đình có kiến
thức Luật hôn
nhân và gia
đình, Luật bình
đẳng giới. Ý
thức được vai
trò và trách
nhiệm của
người phụ nữ
trong gia đình
hiện nay
18
2.6) Lượng giá
Sau quá trình làm việc với chị Hạnh và gia đình, NVCTXH nhận thấy chị
Hạnh và gia đình đã có sự tiến bộ, có những kiến thức đúng đắn và cơ bản
nhất về bạo lực gia đình, có sự thay đổi về nhận thức và cách phòng chống
bạo lực gia đình. Vấn đề bạo lực trong gia đình chị Hạnh cũng đã được giải
quyết và gia đình chị cũng đã được hỗ trợ vay vốn để tự kinh doanh. Bên
cạnh đó là việc tuyên truyền cũng đã phần nào nâng cao nhận thức cho cộng
đồng về vấn đề phòng chống bạo lực gia đình.
Tuy nhiên do kiến thức kỹ năng chưa thực sự hoàn thiện nên việc can thiệp
cũng còn đôi chút thiếu sót
2.7) Kết thúc
Khi thấy chị Hạnh đã chủ động hơn trong việc tự giải quyết vấn đề và tinh
thần em ổn định hơn nhiều NVCTXH nới lỏng để chị tự nỗ lực hơn trong
giải quyết vấn đề của mình. NVCTXH cũng sẽ thông báo cho chị Hạnh
trong thời gian tới chị sẽ phải tự giải quyết vấn đề của mình mà không có sự
hỗ trợ từ NVCTXH nữa đồng thời NVCTXH cũng đã khích lệ thân chủ duy
trì và phát huy những nỗ lực thay đổi trong thời gian vừa qua.
3) Các mô hình dịch vụ, thực tiễn trong phòng chống bạo lực gia đình
a) Thông qua hê thống loa truyền thanh
Tại quận Long Biên cũng đã triển khai việc phát thanh tuyên truyền về Luật
Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống BLGĐ…
Tuyên truyền về việc xây dựng gia đình văn hóa, hạnh phúc và hòa thuận
c) Xây dựng địa chỉ nhà tin cậy tại cộng đồng
Đến nay cả nước đã hình thành hơn 18 nghìn CLB với hơn 31 nghìn địa chỉ
tin cậy ở cộng đồng, hơn 20 nghìn nhóm hoạt động phòng chống BLGĐ. Có
thể nói hoạt động phòng chống BLGĐ, nhiệm vụ phòng chống BLGĐ được
thực hiện bắt đầu từ cơ sở đã triển khai có hiệu quả Luật phòng chống
BLGĐ, góp phần giảm BLGĐ trên toàn quốc. Tại quận Long Biên hoạt
động này cũng đã được triển khai một cách hiệu quả
d) Mô hình sinh hoạt các câu lạc bộ đồng đẳng
Đây là nhóm các phụ nữ cùng cảnh bị bạo lực gia đình, họ cùng nhau sinh
hoạt, chia sẻ với nhau về vấn đề bạo lực gia đình cũng như những cách thức
để phòng vệ bản thân….
e) Tổ chức các cuộc thi , các buổi diễn văn nghệ về chủ đề phòng chống
bạo lực gia đình tại các trường học cũng như khu dân cư
19
f) Mô hình nhà tạm lánh cho nạn nhân của bạo lực gia đình
Các phụ nữ khi tìm đến đây họ sẽ được đảm bảo sự an toàn của mình, họ
được có nơi ăn, chốn ở an toàn, được sẻ chia, được điều trị những tổn
thương cả về thể chất lẫn tinh thần. Hiện nay ở Hà Nội có một trụ sở được
gọi là “nhà tạm lánh” trực thuộc Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng về giới
- gia đình và trẻ em (CSAGA). Đây là nơi chỉ tiếp nhận nạn nhân nữ đến
lánh nạn, cân bằng tâm lý sau khi bị giày vò, tra tấn về tinh thần và thể xác.
Hằng tháng “nhà tạm lánh” và các trung tâm tư vấn trực tiếp hàng trăm ca về
bạo hành giới. Ca nào cũng thấm đẫm nước mắt...
4) Cách thức hỗ trợ nạn nhân, người gây bạo lực gia đình, pháp luật,
chính sách, chương trình hỗ trợ người bị bạo lực gia đình
Bộ luật quốc tế về quyền con người ( Internationnal Bill of Human Rights)
bao gồm tuyên ngôn thế giới về nhân quyền và cac điều ước quốc tế khác về
quyền con người do Liên Hiệp Quốc ban hành đã xác lập một khung các
quyền con người cơ bản mà mọi thành viên trong gia đình nhân loại đều
được hưởng và được bảo vệ trong mọi hoàn cảnh và môi trường kể cả môi
trường gia đình. Bạo lực gia đình là một trong các hành vi cấu thành sự vi
phạm nhiều quyền con người cơ bản cụ thể là:
Quyền Sống: Mọi người đều có quyền sống, quyền này được pháp
luật bảo vệ, không ai có thể bị tước đoạt mạng sống một cách vô cớ.
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm: không ai
được tự ý làm tổn hại đến thân thể, danh dự, nhận phẩm của người khác.
Quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật: theo quy định này mọi người,
bất kể sự khác biệt về giới tính, độ tuổi… đều có vị thế bình đẳng trước pháp
luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng. Theo đó, quy định về
quyền này trong pháp luật quốc tế về quyền con người có ý nghĩa phòng,
chống bạo lực gia đình trước hết nảy sinh từ vị thế bất bình đẳng giữa kẻ có
hành vi bạo lực với người bị bạo lực mà thông thường là giữa nam giới và
phụ nữ.
Quyền bình đẳng không bị phân biệt đối xử: Quyền này trở thành nền
tảng cho việc phòng, chống bạo lực gia đình, bởi lẽ bạo lực gia đình cơ bản
có nguyên nhân từ sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới.
Căn cứ luật số 02/2007/ QH12 của Quốc Hội Luật phòng, chống bạo lực
gia đình. Luật này quy định về phòng ngừa bạo lực gia đình, hỗ trợ nạn
nhân bạo lực gia đình, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan tổ chức
trong phòng, chống bạo lực gia đình và xử lý vi phạm pháp luật về phòng,
chống bạo lực gia đình.
20
Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên trong gia đình gây tổn hại
hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành
viên khác trong gia đình.
Điều 2 của luật này quy định về các hành vi bạo lực gia đình gồm có:
Hành hạ, ngược đãi đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức
khỏe tính mạng.
Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả
nghiêm trọng…
Điều 3 luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định về nguyên tắc phòng
chống bạo lực gia đình:
Kết hợp các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình , lấy phòng
ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình, tư vấn
hòa giải phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của
dân tộc Việt Nam.
Hành vi bạo lực gia đình được phát hiện và ngăn chặn kịp thời theo
quy định của pháp luật.
Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ giúp đỡ kịp thời, phù hợp với
điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế xã hội của đất nước… Phát
huy vai trò trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan tổ chức trong việc
phòng, chống bạo lực gia đình.
Điều 4, luật này quy định: Nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực gia đình.
Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng, chấm dứt ngay hành
vi bạo lực.
Chấp hành quyết định của cơ quan tổ chức có thẩm quyền.
Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị, chăm sóc trừ trường hợp
nạn nhân từ chối.
Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bị bạo lực gia đình khi có yêu cầu
của pháp luật.
Chương IV của luật này quy định trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan
tổ chức trong việc phòng, chống bạo lực gia đình.
Trên đây là một số căn cứ pháp lý mà NVCTXH chọn lọc có thể áp dụng để
giải quyết tình huống bạo hành trong gia đình chị Hạnh. Toàn bộ những điều
khoản quy định trong luật này đã được áp dụng để phân tích tình huống của
gia đình chị Hạnh và cũng đã sử dụng làm căn cứ để xây dựng phương án
giải quyết tình huống của gia đình chị ở phần trên.
IV) Đánh giá sự áp dụng các kiến thức, kỹ thuật và kỹ năng trong
phòng chống bạo lực gia đình
21
1) SV tự đánh giá việc áp dụng các kiến thức, cách thức, kỹ thuật và kỹ
năng CTXH trong phòng chống bạo lực gia đình
Trong tình huống đưa ra, SV đã áp dụng được một số các kỹ năng công tác
xã hội cá nhân vào xử lý tình huống bạo lực gia đình. Bên cạnh đó cũng đã
vận dụng được các kiến thức của bản thân để nâng cao nhận thức cho thân
chủ và gia đình về bạo lực gia đình. Và thêm nữa là việc tuyên truyền phòng
chống bạo lực gia đình. Tuy nhiên các kiến thức, kỹ năng vẫn còn ít nên việc
vận dụng can thiệp vào tình huống còn đôi chút thiếu sót
2) Những thuận lợi, khó khăn đã gặp phải
*Thuận lợi:
- Có vốn kiến thức
- Có nhiều nguồn tài liệu để tham khảo
*Khó khăn:
- Việc thu thập các số liệu chính xác còn nhiều hạn chế
V) Đề xuất, kiến nghị
- Đối với cá nhân, liên hệ bản thân
+ Học tập và trang bị thật tốt các kiến thức để có thể tham gia vào các hoạt
động tình nguyện tuyền truyền về các hoạt động phòng chống bạo lực gia
đình cho mọi người dân
- Đối với gia đình
+ Các thành viên trong gia đình cần nắm rõ các luật pháp, chính sách liên
quan đến việc phòng chống bạo lực gia đình
+ Thực hiện tốt các phong trào, mô hình phòng chống bạo lực gia đình do
địa phương đề ra
- Đối với Đảng và Nhà nước
+ Cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra của các cấp uỷ Đảng, chính
quyền đối với công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Thường xuyên kiểm
tra, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật, chính sách về phòng, chống bạo
lực gia đình; xử lý kịp thời các hành vi bạo lực gia đình theo quy định của
pháp luật; tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành, kiểm tra theo chuyên đề về
phòng, chống bạo lực gia đình. Đưa mục tiêu về phòng, chống bạo lực gia
đình vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm ở cấp Trung ương và
địa phương; xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp liên ngành phù hợp
trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình. Nghiên cứu việc hình thành
mạng lưới cộng tác viên, tình nguyện viên phòng, chống bạo lực gia đình ở
cơ sở. Đánh giá các mô hình phòng, chống bạo lực gia đình; nghiên cứu
chuyển các mô hình hoạt động có hiệu quả thành nhiệm vụ thường xuyên.
Biểu dương, khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công
22
tác phòng, chống bạo lực gia đình. Xây dựng và đưa vào sử dụng cơ sở dữ
liệu về gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình.
- Đối với các cơ quan chức năng
+ Phối hợp với các cấp, các ngành, đoàn thể tổ chức tuyên truyền nâng cao
nhận thức của cán bộ, nhân dân, phụ nữ về gia đình và phòng chống bạo lực
gia đình.
+ Các cấp, các ngành tăng cường hoạt động tuyên truyền về giới và bình
đẳng giới, kiến thức phòng chống bạo lực gia đình, Luật phòng chống bạo
lực gia đình, Luật hôn nhân gia đình và các chuyên đề liên quan đến phòng
chống bạo lực gia đình với nhiều nội dung và hình thức phong phú: Tập
huấn chuyên đề, hội thảo, toạ đàm, sinh hoạt nhóm, sinh hoạt câu lạc bộ,
giao lưu văn nghệ, mít tinh và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin
đại chúng.
+ Tích cực tổ chức tập huấn kiến thức, kỹ năng về phòng chống bạo lực gia
đình cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của các Ban, ngành, đoàn
thể các cấp, đặc biệt là báo cáo viên, tuyên truyền viên của Hội phụ nữ. 18
+ Lồng ghép tuyên truyền phòng chống bạo lực gia đình vào các hoạt động
của các Ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, tuyên truyền tại các cuộc
họp tổ dân phố, họp thôn, xóm, các đoàn thể.
+ Tăng cường các biện pháp giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng
chống bạo lực gia đình tại các địa phương. Nắm bắt kịp thời các vụ bạo lực
gia đình xảy ra tại địa phương để can thiệp kịp thời, có thể thiết lập "đường
dây nóng" để nhận tin báo về các vụ bạo lực gia đình. Đẩy mạnh hoạt động
tư vấn, hòa giải của các tổ hòa giải, các tuyên truyền viên, cộng tác viên.
Tăng cường tổ chức hoạt động tư vấn, trợ giúp pháp lý ở cơ sở.
+ Xây dựng các địa chỉ tin cậy, tuyên truyền để người dân biết dến các dịch
vụ của Trung tâm Công tác xã hội giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình. Cung cấp
các địa chỉ tin cậy ở cộng đồng là cá nhân, tổ chức có uy tín, có khả năng và
tự nguyện giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình tại cộng đồng dân cư. Các
trung tâm cứu giúp phụ nữ bị bạo lực tại địa phương nằm trong trạm y tế xã,
phường, thị trấn hoặc các bệnh viện của địa phương. Giao trách nhiệm cho
các cán bộ y tế có trách nhiệm chữa trị vết thương cho nạn nhân, các cán bộ
y tế không được có thái độ kỳ thị, gây khó khăn đối với nạn nhân bị bạo lực
gia đình.
+ Áp dụng các biện pháp giáo dục tại cộng đồng dân cư. tổ chức họp, phê
bình, góp ý đối tượng gây bạo lực gia đình. Đối tượng bị góp ý, phê bình là
người từ đủ 16 tuổi trở lên có hành vi bạo lực gia đình đã được tổ hòa giải ở
cơ sở hòa giải nhiều lần mà vẫn tiếp tục có hành vi bạo lực. Xử lý nghiêm
người có hành vi vi phạm pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình, tùy
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ
23
luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi
thường theo luật định.
24
Kết luận
Bạo lực gia đình là vấn đề mang tính toàn cầu, để lại nhiều hậu quả nghiêm
trọng cho con người, nhất là đối với phụ nữ, nó làm hạn chế sự tham gia của
họ vào đời sống cộng đồng, không chỉ gây hậu quả về thể chất, tâm lý cho
bản thân phụ nữ mà còn với cả trẻ em, gia đình, toàn xã hội và vi phạm
nghiêm trọng các quyền con người. Nhiều thập kỷ qua, cùng với các chủ
trương phát triển kinh tế, chính trị, an sinh xã hội Nhà nước và nhiều cấp ở
địa phương chú trọng; vấn đề phụ nữ, giới và bình đẳng giới. Nhiều phụ nữ
nay được tín nhiệm, đề cử vào nhiều vị trí quan trọng trong chính quyền và
xã hội. Theo Ủy ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội, nguyên nhân sâu xa
của bạo lực gia đình là do tư tưởng bất bình đẳng giới, lối xử sự gia trưởng
từng tồn tại dai dẳng ở nước ta. Từ lâu nay, chế độ phụ hệ, tư tưởng trọng
nam, khinh nữ kéo theo sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới. Trước
đây, người phụ nữ bị hành hạ do sống phụ thuộc chủ yếu vào chồng. Khi nền
kinh tế thị trường, vai trò của phụ nữ có nhiều thay đổi và thành đạt hơn
chồng thế nhưng họ vẫn bị chồng ngược đãi. Mặc dù ở nước ta Luật Phòng,
chống bạo lực gia đình đã có hiệu lực từ tháng 7-2008 nhưng hiện tượng bạo
lực vẫn chưa thuyên giảm. Làm thế nào để đưa luật vào cuộc sống, ngăn
chặn được tình trạng bạo lực gia đình. Ðiều đáng quan tâm nữa là một số
nạn nhân của bạo lực gia đình có tâm lý cam chịu, không muốn tố cáo, sợ
vạch áo cho người xem lưng. Nhiều vụ bạo lực gia đình gây hậu quả nghiêm
trọng nhưng hình phạt dường như còn quá nhẹ. Vì vậy tính phòng ngừa răn
đe hạn chế. Phòng, chống bạo lực gia đình phải được kết hợp đồng bộ với
nhiều giải pháp, song lấy phòng ngừa là chính; cần chú trọng trước hết là
công tác tuyên truyền, giáo dục về gia đình và làm tốt công tác tư vấn hòa
giải và đi đôi với phòng, chống tệ nạn xã hội. Làm tốt công tác tuyên truyền
sẽ giúp thay đổi nhận thức, hành vi trong ứng xử về gia đình, từ đó dần xóa
bỏ bạo lực gia đình, đề cao truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt
Nam.
25