TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH: TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH
LÀ QUY LUẬT PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG. GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG ĐỐI VỚI
CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TA HIỆN NAY
---------------------------------
Trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn, mỗi con người và mỗi tổ chức
đều có những ưu điểm và khuyết điểm, có mặt thuận lợi và khó khăn, có nhân
tố tích cực và tiêu cực, có cái tiến bộ và cái lạc hậu. Các mặt đó luôn mâu
thuẫn với nhau, tác động chi phối lẫn nhau. Quá trình phát triển của mỗi con
người, mỗi tổ chức như thế nào và theo chiều hướng nào phụ thuộc chính vào
cách thức giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt tốt - xấu, thuận lợi - khó khăn,
tích cực - tiêu cực đó.
Mỗi người đảng viên và tổ chức đảng cũng như vậy; muốn tiến bộ và
phát triển thì phải phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Muốn sửa chữa
khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phải thiết thực tự phê bình và phê bình. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: tự phê bình và phê bình là quy luật phát
triển của Đảng. Để quy luật ấy phát huy tác dụng, tạo ra động lực cho sự phát
triển, phải thông qua hoạt động của con người, của mỗi cán bộ đảng viên và
mỗi tổ chức Đảng. Thực tiễn đã chứng minh: nếu nơi nào, khi nào, đảng viên
và tổ chức đảng nhận thức đúng, đầy đủ, có động cơ đúng, hành động kiên
quyết thì tự phê bình và phê bình phát huy tác dụng; ngược lại thì tự phê bình
và phê bình chỉ còn là hình thức, nửa vời, "gặp chăng hay chớ", thậm chí trở
thành công cụ cho những kẻ vụ lợi, phá hoại Đảng.
Vì vậy, việc nhận thức sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình
và phê bình, tiến hành tự phê bình và phê bình nghiêm túc trong toàn Đảng,
là nhiệm vụ quan trọng và bức thiết trong tình hình hiện nay, để tự phê bình
và phê bình phát huy tác dụng, thực sự là quy luật phát triển của Đảng.
1-Tư tưởng Hồ Chí Minh: tự phê bình và phê bình là quy luật phát
triển của Đảng.
Vấn đề tự phê bình và phê bình đã được Hồ Chí Minh đề cập rất sâu
sắc trong tác phẩm "sửa đổi lối làm việc" và nhiều bài viết cho chuyên mục
Sửa đổi lối làm việc của báo Sự thật, trong các bài viết đề cập đến vấn đề đạo
đức cách mạng, và trong hầu hết các bài nói, bài viết về xây dựng Đảng.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình không những là vũ
khí, là "luật" trong xây dựng tổ chức mà còn được nâng lên tầm nghệ thuật
trong công tác xây dựng Đảng.
Phê bình là gì và tự phê bình là gì? Đôi khi, Hồ Chí Minh dùng cách
gọi "tự kiểm điểm và kiểm điểm" hoặc "tự sửa chữa" và "giúp đồng chí mình
sửa chữa"1, "tự xét và xét đồng chí mình" để nhấn mạnh ý nghĩa của tự phê
bình và phê bình trong việc khắc phục khuyết điểm. Nhưng quan niệm về tự
phê bình và phê bình có ý nghĩa bao quát rộng hơn. Theo Hồ Chí Minh, "Phê
bình là nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của đồng chí mình. Tự phê bình là
nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm của bản thân mình. Tự phê bình và phê
bình phải đi đôi với nhau"2. Điều đó có nghĩa là tự phê bình và phê bình
không phải chỉ vạch ra khuyết điểm mà phải nêu cả ưu điểm; nêu ưu điểm
trước, vạch khuyết điểm sau; nêu ưu điểm và vạch khuyết điểm phải đi đôi
với nhau, không coi nhẹ ý nghĩa của một mặt nào. Điều đó biểu hiện rõ tính
nhân văn và tính khoa học - nét đặc sắc trong quan niệm về tự phê bình và
phê bình của Hồ Chí Minh.
1
2
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 233
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 267.
Tính nhân văn trong tự phê bình và phê bình chính là việc nêu ưu
điểm, vạch khuyết điểm của mình trước và nêu ưu điểm, vạch khuyết điểm
của đồng chí mình sau; dù là "xét", "kiểm điểm" hay "phê bình" người khác
thì người có khuyết điểm đó cũng là đồng chí mình chứ không phải kẻ thù
hay đối địch. Cho nên, một mặt là để sửa chữa cho nhau, một mặt là để
khuyến khích nhau, "bắt chước" nhau, cùng tiến bộ mãi. Người có ưu điểm
thì phải cố gắng phát huy, vươn lên không ngừng; người có khuyết điểm, bị
phê bình thì phải vui lòng nhận rõ để sửa chữa. Tự phê bình và phê bình sẽ
không gây nản chí hoặc oán ghét.
Những biểu hiện tiêu cực như: chỉ thiên về vạch khuyết điểm của
người khác theo kiểu "bới lông, tìm vết" để tìm cách hạ bệ nhau, làm giảm uy
tín của nau, chỉ thiên về phê bình người khác mà không nghiêm khắc tự phê
bình, chỉ nhấn mạnh ưu điểm khi "phê bình cấp trên" theo kiểu tâng bốc, nịnh
hót... thực chất là biểu hiện cơ hội trong tự phê bình và phê bình, hoàn toàn
trái với tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra vị trí, ý nghĩa của tự phê bình và phê
bình, được thể hiện theo 4 cấp độ. Trước hết, với mỗi cán bộ, đảng viên, tự
phê bình và phê bình như mỗi ngày soi gương, rửa mặt, để làm cho sạch sẽ
cơ thể. Đảng là một thực thể chính trị xã hội, Đảng tồn tại trong xã hội thông
qua đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Đảng viên có tốt, chi bộ mới tốt và
Đảng mới vững. Vì vậy, tự phê bình và phê bình đối với cán bộ, đảng viên
hàng ngày là rất thiết thực, thường xuyên, bám sát trong mỗi hoạt động và
không thể thiếu trong nếp sống "văn minh Cộng sản"; là vũ khí sắc bén cần
thiết cho sự tiến bộ, trưởng thành của mỗi cán bộ, đảng viên như cơm ăn,
nước uống, như không khí để thở hàng ngày. Người yêu cầu mỗi cán bộ,
đảng viên: "luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình, những lời mình nói, những
việc mình đã làm, để phát triển điều hay của mình, sửa đổi khuyết điểm của
mình. Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình"3.
Ở cấp độ thứ hai, theo Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là
phương tiện quan trọng nhất để xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất
trong Đảng. Đoàn kết trong Đảng là đoàn kết thống nhất rất cao, là đoàn kết
thống nhất từ trong tư duy, nhận thức, từ trong lý tưởng đến hành động hàng
ngày. Tự phê bình và phê bình sẽ giúp gột rửa, lọc bỏ những sai lệch, những
bất đồng và trên cơ sở đó tạo nên sự kết dính, gắn bó hữu cơ trong nội bộ
Đảng. Người viết: “muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tư
tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”4.
Hồ Chí Minh đã chỉ ra cấp độ thứ ba về ý nghĩa của tự phê bình và
phê bình: tự phê bình và phê bình là thang thuốc hay nhất để chữa nhiều thứ
chứng bệnh, để bồi bổ cho cơ thể của Đảng ngày càng thêm cường tráng.
Theo Hồ Chí Minh, trong Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng
không tránh khỏi những sai lầm khuyết điểm trong quá trình hoạt động.
"Đảng ta hy sinh tranh đấu, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân, tranh lại thống nhất
và độc lập. Công việc đã có kết quả vẻ vang. Nhưng, nếu mỗi cán bộ, mỗi
đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn, thì thành tích của Đảng còn to tát
hơn nữa. Cán bộ và đảng viên làm việc không đúng, không khéo, thì còn
nhiều khuyết điểm. Khuyết điểm nhiều thì thành tích ít. Khuyết điểm ít thì
thành tích nhiều"."Vì vậy, ngay từ bây giờ, các cơ quan, các cán bộ, các đảng
viên, mỗi người mỗi ngày phải thiết thực tự kiểm điểm và kiểm điểm dồng chí
mình. Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửa chữa, và giúp đồng chí
mình sửa chữa"5. Trong Đảng có nhiều khuyết điểm, cũng như cơ thể con
người mang bệnh trong mình. Muốn trị bệnh phải uống thuốc. Phương thuốc
hiệu quả là tự phê bình và phê bình.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 644
Hồ Chí Minh, toàn tập, tập7, Nxb CTQG, H, 2000, Tr.492.
5
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 232-233.
3
4
Đảng viên và cán bộ cũng là người. Ai cũng có tính tốt và tính xấu.
Song đã hiểu biết, đã tình nguyện vào một Đảng vì dân, vì nước, đã là một
người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa bỏ những
tính xấu. Vì tính xấu của một người thường chỉ có hại cho người đó; còn tính
xấu của một đảng viên, một cán bộ, sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân.
Hồ Chí Minh chỉ rõ nguồn gốc của những "tính xấu", của những
khuyết điểm, của những chứng bệnh trong Đảng, để trên cơ sở đó, có phương
pháp đúng sửa chữa khuyết điểm. Đảng ta bao gồm đủ các tầng lớp xã hội, có
nhiều tính cách, rất trung thành, rất kiên quyết, rất vĩ đại; song trong Đảng ta
cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những khuyết điểm của
xã hội bên ngoài lây, ngấm vào Đảng. "Đảng ta không phải trên trời sa
xuống. Nó ở trong xã hội mà ra. Vì vậy, tuy nói chung, thì đảng viên phần
nhiều là những phần tử tốt, nhưng vẫn có một số chưa bỏ hết những thói xấu
tự tư tự lợi, kiêu ngạo, xa hoa,… Những thói xấu đó có đã lâu, nhất là trong
80 năm nô lệ, họ mang từ xã hội vào Đảng" 6. Hồ Chí Minh còn phân tích rất
sâu sắc "các hạng đảng viên": Đảng ta có rất đông đảng viên. Phần đông cố
nhiên đã hiểu biết vì dân, vì nước mà vào Đảng. Nhưng cũng có phần vì lẽ
khác mà theo Đảng. Có người tưởng vào Đảng thì dễ tìm công ăn việc làm.
Có người vào Đảng mong làm chức này, tước nọ. Có người vì anh em bạn
hữu kéo vào, v.v.. Đảng phải cảm hóa họ, dạy dỗ họ, nâng cao sự hiểu biết và
lòng phụ trách của họ lên dần dần, để họ có thể trở thành những "người chiến
sĩ khá". Biện pháp thiết thực là thường xuyên tự phê bình và phê bình ráo
riết.
Khái quát những vấn đề đã phân tích ở trên, Hồ Chí Minh cho rằng, tự
phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng, đây là cấp
độ có ý nghĩa sâu sắc bao trùm nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
6. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 262-263.
7. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H, 1996, tr. 289-290.
6
"Trong bao nhiêu năm hoạt động bí mật, dù bị bọn thực dân khủng bố gắt gao
và Đảng ta gặp rất nhiều khó khăn, nguy hiểm, nhưng Đảng ta ngày càng
phát triển, càng mạnh mẽ và đã lãnh đạo nhân dân làm cách mạng thành
công, kháng chiến thắng lợi. Đó là vì Đảng ta khéo dùng cái vũ khí sắc bén
phê bình và tự phê bình"7. Tự phê bình và phê bình được Hồ Chí Minh xác
định là một trong 12 điều "Tư cách của Đảng chân chính cách mạng". Tự phê
bình và phê bình "Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ". Thực hiện tốt tự phê
bình và phê bình "Đảng mới chóng phát triển, công việc mới chóng thành
công".
Vì vậy, ngay từ đầu tác phẩm Sửa đổi lối làm việc - tác phẩm đã thể
hiện rất sâu sắc và toàn diện về vấn đề tự phê bình và phê bình - Hồ Chí
Minh đã đề cập đến vấn đề "Phê bình và sửa chữa". Theo Người, Đảng không
che dấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận
khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ và để dạy bảo cán bộ, đảng
viên.
Trong bài viết Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng, đăng trong chuyên
mục Sửa đổi lối làm việc của báo Sự thật, Hồ Chí Minh đã nghiêm khắc phê
phán những quan điểm nhận thức sai lệch về tự phê bình và phê bình. Có
người không muốn tự phê bình và phê bình nên đã ngụy biện rằng: nếu phê
bình khuyết điểm của mình, của đồng chí mình, của Đảng và Chính phủ thì
địch sẽ lợi dụng mà công kích, phá hoại ta. Đó là một nhận thức sai lầm. Hồ
Chí Minh cho rằng, một đảng dám công khai thừa nhận khuyết điểm của
mình để sửa chữa, để tiến bộ mới là một đảng dũng cảm; một đảng giấu diếm
khuyết điểm của mình là một đảng hỏng.
Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm;
mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng. Do vậy, mục đích tự
phê bình và phê bình là làm cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như
7
hoa mùa xuân, phần xấu bị mất dần đi. "Phê bình cho đúng, chẳng những
không làm giảm thể diện và uy tín của cán bộ, của Đảng. Trái lại, còn làm
cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín thể diện càng
tăng thêm"8.
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa,
giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa chữa cách làm cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn
kết và thống nhất nội bộ"9. Mục đích là cho mọi người học lẫn ưu điểm của
nhau và giúp nhau sửa chữa những khuyết điểm.
Tự phê bình và phê bình là quy luật chung của các Đảng Cộng sản, đối
với Đảng Cộng sản Việt Nam lại càng quan trọng. Đảng ta ra đời từ một
nước nông nghiệp lạc hậu, thuộc địa nửa phong kiến, chịu ảnh hưởng nặng nề
của tư tưởng phong kiến, thực dân "Cũng như những người hàng ngày lội
bùn" nên trên người ắt nhiễm hơi bùn. Điều đó không có gì lạ. Mặt khác, khi
đảng viên có chức, có quyền rất dễ nảy sinh những biểu hiện của chủ nghĩa
cá nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng, độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng,
quan liêu, xa rời quần chúng. Muốn khắc phục những biểu hiện đó, cần tiến
hành tự phê bình và phê bình ráo riết, thường xuyên. Cũng như người lội bùn
lâu mà nhiễm hơi bùn thì phải tắm rửa và "phải tắm rửa lâu mới sạch".
Đội ngũ đảng viên của Đảng phần đông xuất thân từ nông dân và nhiều
giai tầng khác nhau, mang theo những đặc điểm tư tưởng, tâm lý, lối sống
khác nhau, điều đó tất yếu nảy sinh những mâu thuẫn trong Đảng. Đó không
phải là mâu thuẫn đối kháng, nhưng cũng là nguy cơ gây mất đoàn kết, không
tập trung, thống nhất được tư tưởng, trí tuệ trong Đảng. Vì vậy, cách tốt nhất
là thường xuyên tự phê bình và phê bình ráo riết để giải quyết hiệu quả
những mâu thuẫn đó.
8
9
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 284.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 232.
Mục đích của tự phê bình và phê bình mà Hồ Chí Minh chỉ ra chứa
đựng yếu tố cách mạng và tính nhân văn sâu sắc. Để đạt được mục đích ấy
cần phải có thái độ đúng, phương pháp đúng, có lý, có tình, trên tình thương
yêu giai cấp. Trước hết phải có thái độ đúng trong tự phê bình và phê bình.
Hồ Chí Minh yêu cầu phê bình mình cũng như phê bình người, phải
triệt để, thật thà không nể nang, không thêm bớt. Phải vạch rõ cả ưu điểm và
khuyết điểm. Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc.
Phê bình việc làm chứ không phê bình người. Những người bị phê bình thì
phải vui lòng nhận để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán
ghét.
Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: Bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp hòi,
v.v..mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng
minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong
đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong ra. Vì vậy, ta phải ra sức đề phòng
những kẻ địch đó, phải chữa hết những chứng bệnh đó. Nhưng "phải suy tính
cho kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm
vậy"10 "Để chữa khỏi những bệnh kia, ta phải tự phê bình ráo riết, và phải lấy
lòng thân ái, lấy lòng thành thật mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc
đó phải đi đôi với nhau"11. Trong lúc phê bình, khuyết điểm phải vạch ra rõ
ràng, mà ưu điểm cũng phải nhắc đến. Phải biết khuyến khích nhau, bắt
chước nhau, giúp nhau tiến bộ.
Hồ Chí Minh yêu cầu tự phê bình và phê bình phải thường xuyên, liên
tục, kiên trì. "Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê
bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong đảng sẽ
không có bệnh mà đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng" 12. Nếu không làm thường
xuyên thì khuyết điểm sẽ ngày càng tích tụ nhiều lên, lấn át ưu điểm. Những
10. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 238.
11. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 238.
12
12. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 239.
10
11
cán bộ, đảng viên thoái hóa biến chất, tham ô, tham nhũng, vi phạm tư cách
đảng viên, nguyên nhân suy cho cùng là do không thường xuyên tự phê bình
và tiếp thu phê bình. Hồ Chí Minh đã cảnh tỉnh nếu không kiên quyết sửa
chữa khuyết điểm của chúng ta thì cũng như giấu diếm bệnh tật trong mình,
không dám uống thuốc để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy hiểm đến tính
mệnh. Phát hiện càng sớm, điều trị bệnh càng chóng khỏi; để bệnh nặng rất
khó chữa, thậm chí có khi không chữa nổi.
Cha ông ta có câu: "Thuốc đắng dã tật, nói thật mất lòng". Khen thì dễ
nhưng "phê" thì rất khó. Ai cũng muốn được khen mà không muốn bị chê,
chê là đụng chạm đến khuyết tật của con người, đụng chạm đến nó là sẽ đau.
Chính vì thế trên thực tế, không ít người sợ bị phê bình và ngại phê bình
người khác. Đó là một khuyết điểm. Mặt khác, tự phê bình và phê bình phải
thật sự dân chủ mới mong trong Đảng có nhiều sáng kiến, mới tập trung được
trí tuệ. Hồ Chí Minh vạch rõ hiện tượng mất dân chủ, khiến cho "các đảng
viên và cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ,
không dám phê bình"13. Điều đó dễ dẫn đến hậu quả: Cấp trên và cấp dưới
cách biệt nhau, quần chúng với Đảng xa rời nhau. Trên thì tưởng cái gì cũng
tốt đẹp. Dưới thì cái gì cũng không dám nói rõ ra. Họ không nói vì sợ bị
"trù". Không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản.
Rồi sinh ra "không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng", "trong Đảng im tiếng,
ngoài Đảng nhiều mồm", sinh ra thói "thậm thà thậm thụt và những thói xấu
khác."
Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ vừa phải dân chủ lắng nghe ý
kiến phê bình của cấp dưới, của quần chúng, vừa phải "biết cách phê bình
sáng suốt, khôn khéo, như chiếu tấm gương cho mọi người soi thấu những
khuyết điểm của mình, để tự mình sửa chữa"14. Trong khi chỉ ra những yêu
13. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 243.
14. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 244.
13
14
cầu về thái độ, phương pháp tự phê bình và phê bình, Hồ Chí Minh cũng đã
thẳng thắn phê bình những biểu hiện tiêu cực về thái độ phê bình của một bộ
phận cán bộ, đảng viên.
Trong Đảng có một bộ phận "sao cũng mặc kệ, sao xong chuyện thì
thôi", không phê bình, không tự phê bình. Hồ Chí Minh coi đó là thái độ của
những cán bộ, đảng viên ươn hèn yếu ớt. Hoặc có biểu hiện lợi dụng sai lầm
khuyết điểm của người khác để đạt mục đích tự tư tự lợi, đó là thái độ "của
kẻ đầu cơ". Hoặc một số khác thì "đối với những người có khuyết điểm và sai
lầm đó, như đối với hổ mang, thuồng luồng. Họ đòi hỏi phải đuổi bọn kia ra
khỏi Đảng ngay. Nếu không làm như thế thì họ cho rằng: thôi hỏng hết rồi!
Do đó họ đâm ra chán nản, thất vọng. Hoặc họ không làm gì nữa hết. Thậm
chí họ bỏ Đảng. Đó là thái độ của những người máy móc quá. Đó cũng là
bệnh chủ quan"15.
Hồ Chí Minh vạch rõ biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân - một thứ vi
trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm - trong tự phê bình
và phê bình. Đối với những người mắc bệnh "cá nhân" thì việc gì không phê
bình trước mặt để nói sau lưng. Khi sinh hoạt không nói gì, ra ngoài mới nói.
Không bao giờ đề nghị gì với Đảng. Ai có ưu điểm cũng không chịu học
theo, ai có khuyết điểm cũng không dám phê bình. Còn khi họ phê bình ai thì
không phải vì Đảng, không phải vì tiến bộ, không phải vì công việc, mà vì
"công kích cá nhân, cãi bướng, trả thù, tiểu khí".
Nhiều ý kiến cho rằng, chỉ người có cái tâm trong sáng, có đức rộng,
tài cao mới tự phê bình và phê bình được tốt; còn khi người đã có khuyết
điểm nói chẳng ai nghe. Quan niệm như vậy là có mặt đúng nhưng mới là
một chiều, đem đối lập giữa "người đúng" và "người sai", đối lập giữa người
"đức rộng, tài cao" với người có khuyết điểm…như vậy là chưa thấm hết cái
15. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 264.
15
tinh thần cách mạng, khoa học, tính nghệ thuật trong tự phê bình và phê bình
của Hồ Chí Minh. Theo Hồ Chí Minh: Đạo đức không phải trên trời sa
xuống, nó là kết quả của sự dày công rèn luyện mà trong đó tự phê bình và
phê bình là một biện pháp thiết thực nhất. Phải đặt hoạt động tự phê bình và
phê bình với vấn đề đạo đức cách mạng trong một mối quan hệ biện chứng.
Thực tiễn cuộc sống luôn vận động. Cái "tâm" cái "đức" cũng không bất biến
mà nó vận động cả ở góc độ chuẩn giá trị cộng đồng, cả ở góc độ với mỗi cá
nhân cán bộ, đảng viên. Vì vậy, nếu quan niệm "tâm" "đức" là cái gốc rễ sức
sống của tổ chức, của cách mạng thì tự phê bình và phê bình là quá trình trao
đổi chất thường xuyên giúp cho việc không ngừng củng cố, bồi bổ cho sức
sống ấy. Hơn nữa, tự phê bình và phê bình thường xuyên còn làm cho cái
"tâm" cái "đức" - thuộc lĩnh vực tinh thần, tư tưởng - luôn ăn sâu, gắn chặt
mà không xa rời những điều kiện vật chất của nó; luôn theo kịp sự vận động
của thực tiễn. Tự phê bình và phê bình không phải là phương thuốc quý, là
cái quyền cho riêng ai, mà nó là quyền lợi, là nghĩa vụ, là đặc trưng phẩm
chất cao quý của tất cả những người cách mạng. Tự phê bình và phê bình
giúp người có khuyết điểm thì tiến bộ hơn lên, người tiến bộ thì tiến bộ mãi.
Hồ Chí Minh kết luận: "Trong công tác, trong tranh đấu, trong huấn
luyện, các đảng viên, các cán bộ, cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm
điểm mình và đồng chí mình. Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình,
thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta
nhất định thắng lợi"16. Trong tự phê bình và phê bình phải đặt lợi ích của
Đảng lên trên hết, kiên quyết chống bệnh tự mãn, kiêu ngạo, tự tư tự lợi, ba
hoa…Phải thực hành khẩu hiệu "chí công vô tư".
Tư tưởng Hồ Chí Minh: tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển
của Đảng có giá trị lịch sử và ý nghĩa lý luận, thực tiễn to lớn đối với Đảng,
nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên ta. Những tư tưởng đó đã kịp thời
16
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG , H, 1995, tr. 265.
định hướng, nâng cao nhận thức và cổ vũ hoạt động tự phê bình và phê bình,
khắc phục kịp thời những khuyết điểm yếu kém của cán bộ, đảng viên và các
tổ chức Đảng trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động lãnh đạo cách
mạng. Tư tưởng đó không chỉ có giá trị to lớn trong thời kỳ chiến tranh cách
mạng, mà còn có ý nghĩa rất sâu sắc, thiết thực đối với công tác xây dựng
Đảng ta hiện nay.
Như khi đặt vấn đề cho tiểu luận, người viết đã nêu: tự phê bình và phê
bình là quy luật phát triển của Đảng, nhưng để quy luật ấy phát huy tác dụng,
tạo ra động lực cho sự phát triển, phải thông qua hoạt động của con người,
của mỗi cán bộ đảng viên và mỗi tổ chức Đảng. Cho nên, cùng với những ý
nghĩa chung đối với sự nghiệp cách mạng và đối với toàn Đảng, mỗi cán bộ
đảng viên - với tư cách là "tế bào cơ bản" của Đảng, nơi diễn ra những hoạt
động "trao đổi chất" "nuôi dưỡng cơ thể Đảng" - cần thấm nhuần ý nghĩa của
tự phê bình và phê bình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Thắng lợi
của Chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ
chủ nghĩa cá nhân"17. Muốn thắng chủ nghĩa cá nhân, phải ráo riết thiết thực
tự phê bình và phê bình. Có tình đồng chí nào cao cả hơn, trong sáng hơn,
quý báu hơn tình đồng chí mà biết thật thà, ráo riết phê bình, sửa lỗi cho
nhau. Đối với cá nhân mỗi người, sự tiến bộ nào cũng đáng quý, đáng cổ vũ;
nhưng sự tiến bộ bằng nhờ tự phê bình và phê bình ráo riết, nghiêm túc tiếp
thu phê bình để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, để vượt qua chính
mình và vượt qua trở ngại, đó là sự tiến bộ hết sức đáng khâm phục, hết sức
đáng học tập và sự tiến bộ ấy bao giờ cũng bền vững, tự tin và tự hào.
2 - Giá trị của tư tưởng đối với công tác xây dựng và chỉnh đốn
đảng ta hiện nay.
17
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG , H, 1996, tr. 291.
Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê
bình, trong quá trình xây dựng và hoạt động, Đảng ta luôn coi trọng tự phê
bình và phê bình. Đảng ta khẳng định tự phê bình và phê bình là quy luật
phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là
ý thức trách nhiệm của đảng với nhân dân. Tự phê bình và phê bình là biện
pháp quan trọng để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, để giữ vững và
tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Đảng là một tổ chức chính
trị, tất yếu trong quá trình vận động, phát triển, nội bộ Đảng sẽ nảy sinh mâu
thuẫn. Nhưng đó không phải là mâu thuẫn đối kháng, mà là mâu thuẫn giữa
cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ với cái lạc hậu.
Đảng lấy tự phê bình và phê bình là biện pháp cơ bản để giải quyết
những mâu thuẫn đó, tạo động lực cho sự vận động, phát triển của Đảng. Khi
trở thành Đảng cầm quyền, vấn đề tự phê bình và phê bình càng trở nên cần
thiết hơn. Bởi vì, Đảng phải giải quyết nhiều nhiệm vụ nặng nề, nhiều vấn đề
mới, phức tạp và luôn luôn vận động, nảy sinh. Sự nắm bắt và nhận thức của
cán bộ, đảng viên không thể ngay lập tức đạt được sự sâu sắc mọi vấn đề;
đồng thời càng khó tránh khỏi những khuyết điểm, sai lầm. Thông qua tự phê
bình và phê bình mà trình độ mọi mặt của đội ngũ cán bộ, đảng viên sẽ dần
được nâng cao, phẩm chất đạo đức được bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách.
Chính nhờ có sự trung thành, quán triệt và vận dụng đúng đắn tư tưởng
Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình trong xây dựng và hoạt động, có
nhiều chỉ thị nghị quyết, mở nhiều đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, đẩy mạnh
tự phê bình và phê bình trong toàn đảng mà Đảng ta mới có đủ sức mạnh
lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; mới có
đủ bản lĩnh vượt qua những thử thách cam go, vững vàng chèo lái con thuyền
cách mạng ở những thời điểm hiểm nghèo, thời điểm vận mệnh "ngàn cân
treo sợi tóc".
Thực tiễn xây dựng Đảng cho thấy: Lúc nào, nơi nào việc tự phê bình
và phê bình không được thực hiện nghiêm túc thì lúc đó, nơi đó xuất hiện
những điều kiện làm suy yếu tổ chức đảng, làm nảy sinh các hiện tượng tiêu
cực trong xã hội.
Hiện nay, vẫn còn những biểu hiện xem nhẹ, chưa thực sự nghiêm túc
tự phê bình và phê bình. Ở nơi này, nơi khác, lúc này lúc khác, sinh hoạt tự
phê bình và phê bình chỉ còn là hình thức. Người ta vẫn tổ chức sinh hoạt đều
đặn, nhưng thực chất lại tước mất linh hồn của các buổi sinh hoạt, đó là
nguyên tắc dân chủ, cho nên tự phê bình và phê bình bị biến thành vũ khí cầu
lợi cá nhân.
Ngày nay, bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, chứa đựng
những yếu tố khó lường. Đảng lãnh đạo nhân dân ta thực hiện sự nghiệp đổi
mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiệm vụ của Đảng
rất nặng nề. Phạm vi, quy mô lãnh đạo ngày càng mở rộng, đối tượng lãnh
đạo đa dạng phức tạp; vai trò lãnh đạo của Đảng tăng lên, đòi hỏi Đảng phải
luôn luôn và thực sự trong sạch vững mạnh.
Trong khi đó, cuộc sống sinh hoạt của cán bộ, đảng viên chịu nhiều chi
phối, tác động của nhiều yếu tố, cả tích cực và tiêu cực. Do những tác động
tiêu cực của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường, sự du nhập lối sống ngoại lai
và các tệ nạn xã hội… đã tác động, làm nhiều người thay đổi về quan niệm
thang giá trị đạo đức xã hội, làm xói mòn nhiều giá trị truyền thống tốt đẹp.
Đó là những nguy cơ đe dọa sự trong sạch của đảng và của cả hệ thống chính
trị.
Một bộ phận cán bộ đảng viên suy thoái về đạo đức lối sống, sa lầy
vào chủ nghĩa cá nhân, thực dụng. Sinh ra nhiều căn bệnh nguy hiểm: cục bộ,
ích kỷ, vụ lợi, ham quyền lực, ham của cải làm giàu bất chính; lối sống thì xa
hoa, hưởng lạc. Đối với đồng chí đồng đội, họ kèn cựa, địa vị , gây mất đoàn
kết; đối với nhân dân thì quan liêu, sách nhiễu, xa rời hoặc dân chủ giả tạo,
ngoài mặt…Không ít cán bộ, đảng viên vì lợi ích cá nhân, mải lo lợi ích cá
nhân, gia đình mà quên hết lợi ích của Đảng, của dân.
Để khắc phục tình trạng trên, tự phê bình và phê bình phải được coi là
biện pháp cơ bản, có ý nghĩa quyết định. Thực hiện tốt tự phê bình và phê
bình cho phép giải quyết thấu đáo các vấn đề nảy sinh về tư tưởng, đạo đức,
lối sống một cách kiên quyết, ráo riết nhưng thiết thực, có lý có tình, không
rơi vào tình trạng đối kháng, đao to búa lớn, do đó mà đạt hiệu quả cao. Điều
đó hoàn toàn phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về mục đích và tính chất
của tự phê bình và phê bình trong Đảng.
Để phát huy tác dụng của tự phê bình và phê bình, phải nhận thức rõ
những đặc điểm trong khi tiến hành tự phê bình và phê bình hiện nay. Đó là
tình trạng nhận thức và hành động không đúng: hoặc tập trung quan liêu, gia
trưởng, độc đoán, hoặc dân chủ cực đoan. Bên cạnh đó, hiện tượng hữu
khuynh né tránh, kém tính chiến đấu của không ít cán bộ, đảng viên ảnh
hưởng tiêu cực đến hiệu quả tự phê bình và phê bình.
Mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức Đảng cần thực hiện nghiêm túc
những quy định mới về tự phê bình và phê bình mà Hội nghị Trung ương 6
(lần 2) khóa VIII đã đề ra: "Mở rộng dân chủ, khuyến khích tranh luận; tôn
trọng tập hợp và xem xét để tiếp thu hết ý kiến đúng đắn của các cấp ủy viên
và đảng viên trước khi quyết định"18. Tập trung vào một số biện pháp chủ yếu
như: tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đặc biệt là giáo dục đạo đức
cách mạng, làm cho cán bộ, đảng viên hiểu rõ vai trò, sự cần thiết phải đẩy
mạnh tự phê bình và phê bình, mục đích phương pháp tự phê bình và phê
bình, kiên quyết duy trì, thực hiện nghiêm túc nền nếp chế độ tự phê bình và
phê bình trong các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước, các tổ chức xã
hội. Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết thống
18
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) khóa VIII, Nxb CTQG, H, 1999, tr.31.
nhất trong Đảng, chống mọi biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội
thực dụng, cục bộ bè phái, mất đoàn kết.
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của tự phê bình và phê bình, điều
quan trọng là phải đứng trên lập trường chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, nắm vững đường lối của Đảng thể hiện trong cương lĩnh, nghị
quyết đại hội, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương. Đó chính là
căn cứ để mỗi cán bộ, đảng viên kiểm tra lại công việc của mình, tư cách và
năng lực của mình. Phải kết hợp chặt chẽ giữa phê bình với tự phê bình; kết
hợp chặt chẽ giữa phê bình từ trên xuống và phê bình từ dưới lên. Bên cạnh
đó, tự phê bình của Đảng phải gắn chặt với phát huy sự giám sát phê bình của
nhân dân. Tự phê bình và phê bình phải đi đôi với giữ kỷ luật nghiêm minh,
kiên quyết xử lý, loại trừ ra khỏi hàng ngũ của Đảng những phần tử không
còn tư cách người đảng viên.
Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra, kịp thời phát hiện và xử lý
nghiêm những tổ chức đảng, đảng viên không thực hiện tốt nghị quyết, chỉ thị
của Đảng về tự phê bình và phê bình, nhất là những người có thái độ thành
kiến, trù dập người phê bình; phải có biện pháp bảo vệ người phê bình đã
dũng cảm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; mặt khác phải có biện pháp
buộc người có khuyết điểm, bị phê bình phải sửa chữa khuyết điểm.
Trong điều kiện xã hội bùng nổ thông tin như hiện nay, các luồng
thông tin, các nguồn thông tin, các hình thức truyền tin rất đa dạng phong
phú. Một mặt nó mở ra điều kiện thuận lợi mới để thực hiện dân chủ công
khai và công bằng trong xã hội. Chính nhờ các điều kiện đó mà các hình thức
linh hoạt của tự phê bình và phê bình được thực hiện, nhiều trường hợp vi
phạm khuyết điểm, nhiều biểu hiện vi phạm đã được thông qua phương tiện
thông tin mà rút kinh nghiệm chung trong toàn Đảng một cách nhanh chóng
nhất… Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu chu đáo để phát huy tác dụng
tốt hơn trong công tác xây dựng Đảng. Mặt khác, cần phải có biện pháp quản
lý được tất cả các luồng, các nguồn tin, các phương tiện thông tin, có thể áp
dụng các tiến bộ kỹ thuật nhằm thẩm định, điều tra, kiểm tra nhanh và chính
xác các tin tức; quản lý chặt chẽ hoạt động thông tin tự phê bình và phê bình
cả ở diện rộng và diện hẹp; chính nó cung cấp những cứ liệu thực tiễn thiết
thực cho công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới; và chỉ như vậy mới
đảm bảo cho tự phê bình và phê bình thực sự vì sự đoàn kết, thống nhất trong
Đảng và trong toàn xã hội.
---------------------------------
muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng
dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”
(Hồ Chí Minh, toàn tập, tập7, Nxb CTQG, HN, 2000, Tr.492)
“Thang thuốc hay nhất là thiết thực phê bình và tự phê bình”.
(Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập5, Nxb CTQG, HN, 2000, Tr.262)
“Cách sửa chữa tốt nhất và quí nhất là thật thà tự phê bình và phê bình”
(Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập7, Nxb CTQG, HN, 2000, Tr.482)
“Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một
Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu
mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm
mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh
dạn, chắc chắn, chân chính”.
(Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập5, Nxb CTQG, HN, 2000, Tr.261)
“Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa
đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn, cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”
(Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập5, Nxb CTQG, HN, 2000, Tr.232)
“phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà,
không nể nang, không thêm bớt. phải vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm.
Đồng thời, chớ dùng những lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. phê bình việc
làm chứ không phải phê bình người”
(Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập5, Nxb CTQG, HN, 2000, Tr.232)
“phê bình một cách thiết thực mà thân ái”
(Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập5, Nxb CTQG, HN, 2000, Tr.10)
“Thái độ “bưng mắt bắt chim”, thái độ “giấu bệnh sợ thuốc”, một thái độ
không thật thà, không đứng đắn.”
(Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập6, Nxb CTQG, HN, 2000, Tr.534)