TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ
KHOA ĐỊA LÝ- ĐỊA CHẤT
TÁC ĐỘNG CỦA TAI BIẾN THIÊN NHIÊN
Giảng viên hướng dẫn:
Th. S Trần Ánh Hằng
Nhóm thực hiện:
Đoàn Ngọc Nguyên Phong
Nông Thị Ngọc
Hoàng Ngọc Bảo
Võ Thị Thảo Nguyên
Phan Minh Hiếu
I/ Đặt vấn đề:
Tai biến thiên nhiên là một mối đe dọa của các sự kiện xảy ra một cách tự nhiên mà nó có những tác động tiêu
cực đến con người hoặc môi trường. Một số tai biến tự nhiên có quan hệ qua lại với nhau như động đất có thể gây
ra sóng thần và hạn hán có thể dẫn đến nạn đói một cách trực tiếp.
Hiện nay, tai biến thiên nhiên đang diễn ra vô cùng phức tạp do biển đổi khí hậu thay đổi nhanh. Việt Nam là 1
trong những nước chiu tác động mạnh của biến đổi khí hậu do đó việc chịu ảnh hưởng của tai biến thiên nhiên là điều
không thể tránh khỏi.
II. Nội dung:
2.1 Tổng quan về tai biến thiên nhiên.
2.2 Tác động của tai biến thiên nhiên đến tự nhiên.
2.3 Tác động của tai biến thiên nhiên đến kinh tế - xã hội.
2.4 Tác động của tai biến thiên nhiên đến
con người.
LOGO
2.1 Tổng quan về tai biến thiên nhiên:
2.1.1 Khái niệm tai biến thiên nhiên:
Tai biến thiên nhiên là các hiện tượng tự nhiên cực đoan hoặc hiếm hoi có nguồn gốc khác nhau (khí tượng thủy văn, địa
chất, địa mạo,..) xảy ra trên quy mô cũng rất khác nhau từ toàn cầu, khu vực cho đến cục bộ đại phương hoặc là khả năng có
thể xảy ra một sự kiện cực đoan nào đó (động đất, hạn hán, lũ lụt, trượt đất…) có sức phá hoại tiềm ẩn trên một lãnh thổ nào
đó. Khi một hiện tượng tự nhiên có thể là mọi đe dọa đời sống hoặc tài sản con người -> tai biến thiên nhiên.
2.1.2 Tình hình tai biến thiên nhiên xảy ra ở Việt Nam trong những năm gần đây:
Diễn biến của các hiện tượng tai biến thiên nhiên ngày càng phức tạp, không theo
quy luật như trước đây, tần suất tăng lên, cường độ mạnh hơn rõ rệt đặc biệt là trong bối
cảnh VN là nước chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH.
Tần xuất xuất hiện các loại thiên tai.
CAO
TRUNG BÌNH
THẤP
Lũ, ngập úng
Mưa đá và mưa lớn
Động đất
Bão, áp thấp nhiệt đới
Sạt lở đất
Sương muối
Hạn hán
Cháy rừng
Sóng thần
Lũ quét
Xâm nhập mặn
Xói lở/bồi lấp
Lốc xoáy
Nguồn: Báo cáo của Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương
Năm
Sự kiện
Số người chết
Số người bị thương
Số người mất tích
Thiệt hại kinh tế (tỷ đồng)
Vùng bị ảnh hưởng
2009
Bão Ketsana
179
1.140
8
16.078
15 tỉnh MT & TN
2008
Bão Kammuri
133
91
34
1.939.733
09 tỉnh MB & MT
2007
Bão Lekima
88
180
8
3.215.508
17 tỉnh MB & MT
2006
Bão Xangsane
72
532
4
10.401.624
15 tỉnh MN & MT
2005
Bão số 7
68
28
3.509.150
12 tỉnh MB & MT
2004
Bão số 2
23
22
298.199
05 tỉnh MT
2003
Mưa lớn kếthợp với lũ
65
33
432.471
09 tỉnh MT
2002
Lũ lịch sử
171
456.831
ĐB Sông Cửu Long
2000
Các đợt lũ quét
28
27
2
43.917
05 tỉnh MB
1999
Lũ lịch sử
595
275
29
3.773.799
10 tỉnh MT
1997
Bão Linda
778
1.232
2.123
7.179.615
21 tỉnh MT & MN
Thiên tai xảy ra trong năm 2012 đã làm hơn 700 người chết, mất tích và bị thương; hơn
100.000 ngôi nhà bị hư hỏng, cuốn trôi; hơn 80.000 ha lúa và hoa màu bị mất trắng; gần
300.000 ha lúa và hoa màu bị ngập, hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm
2012 ước tính trên 15.000 tỷ đồng. Theo báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2012 của Tổng
cục thống kê (24/12/2012).
Năm 2013, thiên tai đã làm 313 người chết và mất tích, 1.150 người bị thương; 6.400
nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; trên 692.000 ngôi nhà bị ngập nước, hư hỏng; 88,2 km đê,
kè và 894 km đường giao thông cơ giới bị vỡ, sạt lở; gần 8.000 cột điện gãy, đổ; hơn 17.000 ha
lúa và 20.000 ha hoa màu bị mất trắng; gần 117.000 ha lúa và 154.000 ha hoa màu bị ngập, hư
hỏng. Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm 2013 ước tính gần 30.000 tỷ đồng.
Tuyết bao phủ Sapa
Cảnh ngập lụt ở phố cổ Bao Vinh, xã Hương Vinh,
thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế vào ngày
17/11/2013.Quốc Việt - TTXVN
Thiên tai năm 2014 đã làm 133 người chết và mất tích, 145 người bị thương, gần 2.000
nhà đổ, sập, hơn 42.000 nhà bị ngập, hư hại, tốc mái, hơn 230.000 ha diện tích lúa và hoa màu
bị thiệt hại, hàng triệu mét khối đất đá giao thông, thủy lợi bị sạt lở bồi lấp…ước tính thiệt hại
khoảng 2.830 tỷ đồng.
Trong năm 2015, thiên tai đã làm 154 người chết, gần 1.300 nhà bị sập, hơn 445.000ha
diện tích rau và hoa màu bị thiệt hại. Ước tính tổng thiệt hại hơn 8.100 tỉ đồng.
2.2 Tác động của tai biến thiên nhiên đối với tự nhiên
Do tác động của BĐKH, những năm gần đây, thiên tai dị thường về khí hậu vượt qua những hiểu biết
hiện tại của con người đã xảy ra ngày một thường xuyên hơn, diễn biến phức tạp hơn, gây hậu quả khó
lường
Bão
Động đất
2.2.1 Tác động đến các điều kiện tự nhiên
Tác động đến điều kiện môi trường tự nhiên thường là
kết quả tác động của một số hiện tượng kết hợp với nhau.
Ví dụ, lũ lụt dễ xuất hiện hơn ở vùng đất đã bão hòa nước, điều
này có nghĩa là cả độ ẩm của đất và cường độ mưa đều đóng
vai trò quan trọng. Tương tự như vậy, hạn hán là kết quả của
thâm hụt độ ẩm trong đất, thiếu hụt lượng mưa kéo dài ngày,
bốc hơi lớn.
- Nắng nóng
Tác động của các hiện tượng cực đoan liên quan đến nhiệt độ ở Việt Nam được thể hiện qua những ảnh hưởng của
các hiện tượng nắng nóng (nhiệt độ cao nhất trong ngày Tx ≥ 35 ºC), khô nóng (nhiệt độ cao nhất trong ngày Tx ≥ 35ºC và
độ ẩm tương đối RH ≤ 55 %). Các nghiên cứu gần đây từ số liệu quan trắc cho thấy, ở Việt Nam, số ngày và số đợt nắng
nóng hàng năm có xu thế tăng lên trên hầu khắp toàn quốc, nhất là khu vực miền Trung (Phan Văn Tân và nnk, 2010). Một
số nơi đã quan trắc được giá trị nhiệt độ cao kỷ lục.
- Hạn hán
Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí
và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng
chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo
và dịch bệnh...vv.
Nguyên nhân: khách quan (tự nhiên liên quan tới BĐKH): Do khí hậu thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường
xuyên ít ỏi hoặc nhất thời thiếu hụt. Tình trạng này có thể xảy ra trên hầu khắp các vùng, kể cả vùng mưa nhiều, mưa trung
bình, những vùng khô hạn, bán khô hạn trong một thời gian nhất định trước đó không mưa hoặc mưa chỉ đáp ứng nhu
cầu tối thiểu của sản xuất và môi trường xung quanh, các vùng khí hậu gió mùa, có sự khác biệt rõ rệt về lượng mưa giữa 2
mùa (mùa mưa và mùa khô).
Nguyên nhân chủ quan do con người: Tình trạng phá rừng bừa bãi làm mất nguồn nước ngầm dẫn đến
cạn kiệt nguồn nước; việc trồng cây không phù hợp (vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước “lúa”) làm
cho việc sử dụng nước quá nhiều, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước; công tác quy hoạch sử dụng nước bố trí
công trình không phù hợp nhiều công trình không phát huy được tác dụng (vùng cần nhiều nước lại bố trí
công trình nhỏ, còn vùng thiếu nước lại bố trí xây dựng công trình lớn).
- Xâm nhập mặn
Nước biển có thể "ăn" sâu vào đất liền theo sông, thẩm thấu hoặc tiềm sinh, xâm nhập mặn xảy ra ở
những khu vực ven các cửa sông tùy theo chế độ thủy triều có thể hiện tượng xâm nhập mặn tiến sâu
vào đất liền có những nơi vào khoảng vài chục cây số.
Nguyên nhân : Nhiễm mặn nước mặt: nước sông xuống thấp => nước biển ăn theo.
Nhiễm mặn do thẩm thấu : Do khai thác nước ngầm quá mức.
2.2.2 Tác động đến hệ thống tự nhiên
Hệ thống các lưu vực sông:
Theo các nghiên cứu về thủy văn, những năm gần đây, dòng chảy các hệ thống sông, suối ở Việt
Nam đều thiếu hụt nhiều so với trung bình nhiều năm, có nơi tới 60 - 90 %; mực nước nhiều nơi đạt mức
thấp nhất lịch sử như sông Hồng - Thái Bình, sông Mã, sông Cả, sông La, sông Trà Khúc, sông Ba… đã gây
thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp, mặn xâm nhập sâu vào vùng cửa sông (Hình 4-11) (Nguyễn Văn
Thắng, 2010; Trần Thanh Xuân và nnk, 2011).
- Tác động đến hệ sinh thái tự nhiên:
Các HST ở Việt Nam gồm:
Các HST trên cạn với các đặc trưng điển hình như rừng, đồng cỏ, savan, đất khô hạn, đô thị, nông nghiệp, núi đá vôi;
HST đất ngập nước nội địa với các vùng đặc trưng như hồ, hồ chứa, ao, đầm, ruộng lúa nước, các thủy vực nước
chảy (sông, suối, kênh rạch);
Các HST biển và ven bờ (cửa sông, bãi bồi, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rạn san hô...) (Bộ TN&MT, 2011 - Báo cáo
quốc gia về đa dạng sinh học).
Tác động của BĐKH lên rừng ngập mặn ở Việt Nam có thể gồm: nhiệt độ tăng sẽ làm rừng ngập mặn chuyển dịch
lên phía bắc; lượng mưa tăng thì rừng ngập mặn sẽ tốt lên, nếu giảm thì suy thoái; bão với cường độ tăng sẽ hủy hoại
rừng ngập mặn.
Các hoạt động: phát triển nuôi trồng thủy sản, chuyển đổi sử dụng đất (làm muối, trồng cói, cấy lúa), khai thác quá mức
(gỗ, củi) và ô nhiễm nước cũng làm gia tăng tác động của BĐKH đến rừng ngập mặn.
Nước biển dâng sẽ ảnh hưởng đến vùng đất ngập nước ven biển Việt Nam, diện tích rừng ngập mặn có nguy cơ bị
thu hẹp; nghiêm trọng nhất là khu vực rừng ngập mặn dễ bị tổn thương ở Cà Mau, TP. Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Nam
Định.
Khô hạn cũng tạo điều kiện cho cháy
rừng ở vùng cao nguyên miền Trung
và ĐBSCL, hàng ngàn ha rừng đã bị
thiệt hại (ADB, 2009). Cháy rừng là
một trong những đe doạ lớn nhất đối
với HST rừng
2.3 Tác động của tai biến thiên nhiên đến kinh tế - xã hội:
2.3.1 Đối với nông nghiệp:
Lĩnh vực nông nghiệp:
Mất đi diện tích đất đai thích hợp canh tác cho một
số loại cây tương thích với loại đất do đất bị ngập lụt,
hay gần với các dòng chảy tự nhiên hay nhân tạo, cuốn
đi các chất dinh dưỡng của đất, thay đổi cấu trúc đất, các
loại sạt lở, sụp lở làm mất tính địa hình canh tác..
Làm ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế cho
ngành nông nghiệp:
+ Làm chậm sự hoạt động nông nghiệp hay đình trệ .
+ Làm mất đi khả năng hoạt động của các thiết bị cơ
giới do địa hình thay đổi