SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN
PHƯƠNG PHÁP BẠO LỰC CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
THỜI KỲ 1930 - 1945
Đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của
cách mạng. Tuy nhiên để biến đường lối thành hiện thực thì phương pháp
cách mạng giữ vai trò đặc biệt quan trọng, phương pháp cách mạng đúng đắn
là “chìa khoá” của mọi thành công. Xác định phương pháp cách mạng đúng là
cơ sở đảm bảo cho mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng thành hiện thực thắng
lợi. Tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, cố
Tổng bí thư Lê Duẩn đã viết: “kinh nghiệm cho thấy phong trào cách mạng
có khi giẫm chân tại chỗ, thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu phương
hướng và mục tiêu rõ ràng mà chủ yếu vì thiếu phương pháp cách mạng thích
hợp”1
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám (1945) dẫn đến sự ra đời của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - là một điển hình của sự vận dụng sáng tạo lý
luận Mác-Lênin về bạo lực cách mạng và khởi nghĩa vũ trang vào điều kiện
cụ thể một nước thuộc địa nửa phong kiến. Thắng lợi đó không chỉ là kết quả
tất yếu của một đường lối chiến lược đúng đắn, mà còn bắt nguồn từ việc xác
định phương pháp cách mạng phù hợp của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phương
pháp bạo lực cách mạng theo quan điểm của Đảng là sự kết hợp của hai lực
lượng chính trị và quân sự, là sự kết hợp của hai hình thức đấu tranh chính trị
và đấu tranh quân sự một cách mềm dẻo, nhuần nhuyễn phù hợp với từng giai
đoạn lịch sử, từng vùng chiến lược để tạo sức mạnh giành thắng lợi.
Lê Duẩn. Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng...Nxb ST, H. 1976, tr. 34.
1
2
Việc nghiên cứu về phương pháp bạo lực cách mạng của Đảng trong thời
kỳ 1930-1945, không những giúp làm rõ sự sáng suốt của Đảng trong xác
định phương pháp cách mạng và việc chỉ đạo tiến hành đấu tranh giành chính
quyền, mà điều đó còn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong công cuộc đổi mới
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Cơ sở xuất phát, sự hình thành và phát triển phương pháp bạo lực
cách mạng của Đảng.
Sự hình thành và phát triển phương pháp bạo lực cách mạng của Đảng
trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền (1930-1945) là một quá trình lâu
dài trên cơ sở thấm nhuần những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin và vận
dụng linh hoạt, sáng tạo phù hợp thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Lý luận Mác-Lênin chỉ ra: bạo lực cách mạng là một trong những phương
pháp cơ bản, phổ biến nhất của phương pháp cách mạng do giai cấp vô sản
tiến hành, sử dụng kết hợp các phương thức tổ chức và hình thức đấu tranh
tạo sức mạnh bạo lực của đông đảo quần chúng để lật đổ chính quyền của giai
cấp thống trị cũ, thiết lập và giữ vững chính quyền của giai cấp vô sản.
Phương pháp bạo lực cách mạng là chỉ tính chất của bạo lực trong cuộc đấu
tranh giành và giữ chính quyền của giai cấp vô sản, là việc giai cấp vô sản sử
dụng sức mạnh bạo lực của quần chúng để chống lại bạo lực phản cách mạng.
Tính tất yếu của phương pháp bạo lực cách mạng được quy định bởi, giai cấp
thống trị cũ không bao giờ tự nguyện từ bỏ những đặc quyền đặc lợi về kinh
tế, chính trị, xã hội. Trước phong trào cách mạng của quần chúng, khi quyền
lợi giai cấp bị uy hiếp, giai cấp thống trị chắc chắn sẽ sử dụng những công cụ
bạo lực để khủng bố, đàn áp quần chúng và phong trào cách mạng. Do vậy,
muốn lật đổ giai cấp thống trị giành chính quyền, giai cấp cách mạng không
còn cách nào khác là phải sử dụng bạo lực cách mạng. Mác đã từng chỉ ra:
bạo lực là công cụ mà sự vận động xã hội dùng để tự mở đường cho mình và
3
đập tan những hình thức chính trị khô khan và chết cứng. Chủ nghĩa MácLênin coi phương pháp bạo lực cách mạng là phổ biến vì trong lịch sử nhân
loại hiếm có một giai cấp cách mạng nào giành được chính quyền nhà nước
mà không phải sử dụng phương pháp bạo lực, cho dù một xã hội mới được
hình thành, được thai nghén đến mức nào đi chăng nữa, thì sự chuyển hoá xã
hội lên một chế độ chính trị cao hơn, sự thay đổi chính quyền bao giờ cũng
bằng bạo lực hay trên cơ sở bạo lực cách mạng đã áp đảo.
Cách mạng vô sản là cuộc cách mạng triệt để nhất trong lịch sử nhân loại
và cũng là cuộc cách mạng lâu dài, khó khăn nhất. Giai cấp tư sản dù không
còn ở địa vị trung tâm của thời đại, nhưng nó không bao giờ tự nguyện từ bỏ
những quyền lợi của mình và do vậy chúng vẫn sẽ dùng mọi thủ đoạn để giữ
chính quyền nhà nước. Vì vậy giai cấp vô sản không còn cách nào khác là
phải dùng bạo lực cách mạng để trấn áp, đập tan bộ máy bạo lực của giai cấp
tư sản để giành lấy chính quyền.
Lý luận Mác-Lênin chỉ ra: bạo lực cách mạng không chỉ là dùng sức
mạnh của lực lượng quân sự và đấu tranh vũ trang, mà còn bao gồm sử dụng
lực lượng chính trị và các hình thức đấu tranh chính trị của quần chúng dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản tạo thành sức mạnh tổng hợp để đấu tranh
giành chính quyền. Việc kết hợp giữa hai hình thức đấu tranh và hai lực lượng
này của Đảng ta trên thực tế cũng là một nội dung mới, rất khoa học khi vận
dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về bạo lực cách mạng vào thực tiễn
lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ ra rằng việc kết hợp
các hình thức đấu tranh cần phải được vận dụng một cách linh hoạt và sáng
tạo, tuỳ theo tình hình thực tiễn mà mức độ của mỗi hình thức khác nhau. Cần
phải phát huy sức mạnh tổng hợp của bạo lực cách mạng một cách cao nhất
trong những thời điểm quyết định để giành thắng lợi. Một dân tộc muốn giành
4
được độc lập cho chính mình, thì không giới hạn trong những phương thức
thông thường để tiến hành chiến tranh. Khởi nghĩa của quần chúng, chiến
tranh cách mạng, các đội du kích ở khắp nơi, đó là phương thức duy nhất nhờ
đó một dân tộc nhỏ có thể đánh thắng một dân tộc lớn. Để phát huy đầy đủ
sức mạnh của phương pháp cách mạng bạo lực Lê-nin khẳng định: Tất cả mọi
lực lượng, mọi tài nguyên của đất nước đều phải được động viên cho cuộc
cách mạng. Trong lực lượng toàn dân phải biết kết hợp giữa đấu tranh chính
trị và đấu tranh quân sự, kết hợp giữa chiến tranh du kích và khởi nghĩa vũ
trang để giành chính quyền về tay nhân dân.
Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác-Lênin coi: bạo lực cách mạng chỉ là phương
tiện, là công cụ, không phải là mục đích của cách mạng vô sản, nó chỉ là điều
kiện chứ không phải là nguyên nhân sinh ra chế độ xã hội mới. Do vậy,
những người Mác xít cũng không phủ nhận khả năng giành chính quyền bằng
con đường hoà bình. Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra: về lý luận, cách mạng vẫn
có thể xảy ra và giành thắng lợi bằng phương pháp hoà bình, song nó là hết
sức quí hiếm. Cách mạng chỉ có thể thắng lợi bằng phương pháp hoà bình khi
chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng thành công ở hầu hết các nước trên thế
giới, chủ nghĩa đế quốc chỉ còn là “những ốc đảo nhỏ” giữa đại dương.
Dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ tịch Hồ Chí Minh và
Đảng ta đã sớm xác định phương pháp bạo lực cách mạng cho cách mạng
Việt Nam. Tư tưởng bạo lực cách mạng của Hồ Chí Minh được xác định rõ
ngay từ những năm 1923-1925, khi Người còn hoạt động ở Liên Xô, ở Quảng
Châu (Trung Quốc). Người cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng,
và muốn làm cách mạng trước hết phải làm cho quần chúng giác ngộ: “Muốn
đồng tâm hiệp lực, muốn bền gan thì trước hết ai ai cũng phải hiểu rõ vì sao
phải làm, vì sao không làm được, vì sao ai ai cũng phải gánh vác một vai, vì
sao phải làm ngay, không nên người này ngồi chờ người khác, có như thế
5
mục đích mới đồng; mục đích mới đồng, chí mới đồng; chí có đồng, tâm mới
đồng; tâm đã đồng, lại phải biết cách làm thì mới chóng”2. Trên cơ sở nghiên
cứu các cuộc cách mạng trên thế giới, đặc biệt là kinh nghiệm khởi nghĩa của
Cách mạng Tháng Mười Nga (1917)- cuộc khởi nghĩa vũ trang dựa vào sức
mạnh của quần chúng do Đảng Cộng sản Nga lãnh đạo đã giành thắng lợi triệt
để. Đây là cuộc cách mạng điển hình về phương pháp sử dụng bạo lực cách
mạng của quần chúng. Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu và vận dụng một cách
sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Do vậy, về phương pháp cách
mạng, quan điểm Nguyễn Ái Quốc là quan điểm cách mạng bạo lực theo kiểu
Cách mạng Tháng Mười Nga. Theo Người, cách mạng Việt Nam phải đi theo
con đường cách mạng bạo lực, phải sử dụng sức mạnh của quần chúng khởi
nghĩa vũ trang để giành chính quyền; bạo lực cách mạng phải được tổ chức
chặt chẽ do giai cấp công nhân lãnh đạo, phải đoàn kết mọi lực lượng lấy liên
minh công nông làm nòng cốt, được thực hiện khi có điều kiện, tức là khi có
tình thế và thời cơ cách mạng.
Bạo lực cách mạng theo quan điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh là bạo lực của đông đảo quần chúng cách mạng, được giáo dục giác
ngộ, được tổ chức chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản với bộ tham
mưu của nó là Đảng Cộng sản. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần
chúng là nguồn gốc sức mạnh bạo lực cách mạng bởi vì “Dân khí mạnh thì
không có binh lính nào, súng ống nào chống lại nổi”. Do đó, Hồ Chí Minh đã
dạy: “Cách mạng thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái
giai cấp áp bức mình chứ không phải nhờ năm bảy người giết hai ba anh vua,
chín mười anh quan mà được”. Vì vậy, mọi biểu hiện xúi giục dân chúng
manh động, ám sát...đều là làm liều, ít kết quả và trái với quan điểm bạo lực
cách mạng của Đảng ta. Cho nên “Bạo lực cách mạng nhằm lật đổ giai cấp
22
Đảng Cộng sản Viêt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 1, Nxb CTQG, H. 1998, tr. 32.
6
thống trị nhất thiết phải là bạo lực của quần chúng, của đông đảo quần
chúng bị áp bức bóc lột. Quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng có muôn
ngàn cách khác nhau để biểu thị sức mạnh và ý chí của mình”3.
Trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
bạo lực cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm xác định phương pháp
tiến hành đúng đắn cho cách mạng Việt Nam là bạo lực cách mạng. Trong các
văn kiện của Cương lĩnh đầu tiên (2/1930) và Luận cương chính trị (10/1930)
đã khẳng định những vấn đề về mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược cơ bản của giai
đoạn cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta là đấu tranh giành độc lập, giải
phóng nhân dân, mà chủ yếu là nông dân khỏi ách áp bức, bóc lột của chủ
nghĩa đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến bằng con đường đấu tranh cách
mạng. Điều này cũng thể hiện rằng, ngay từ đầu, khi xác định phương pháp
cho cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã căn cứ thực tiễn điều kiện cụ thể lịch sử
của nước ta. Đó là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, thực tiễn sự câu kết
giữa thực dân Pháp và giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam để thống trị, bóc
lột và sử dụng bộ máy bạo lực phản cách mạng thẳng tay đàn áp phong trào
đấu tranh của nhân dân. Đặc điểm này quy định phương pháp cách mạng dân
tộc dân chủ ở nước ta là chỉ có thể bằng sức mạnh bạo lực của quần chúng
mới đánh đổ được bộ máy bạo lực phản cách mạng của đế quốc và các thế lực
tay sai giành chính quyền về tay nhân dân.
Trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắt tắt Đảng đã khẳng định con
đường giành độc lập dân tộc phải bằng bạo lực cách mạng, đấu tranh cách
mạng, không thể bằng thoả hiệp cải lương. Cách mạng Việt Nam phải sử
dụng bạo lực với sức mạnh to lớn của đông đảo quần chúng để đánh đổ đế
quốc và phong kiến. Muốn như vậy phải “tổ chức ra quân đội công nông”4.
“Đảng phải thu phục được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp
3
4
Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng…Nxb ST, H 1976, tr 52
Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t1, tr.2.
7
mình lãnh đạo được dân chúng. Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, tri
thức, trung nông, thanh niên... để lôi kéo họ vào phe vô sản giai cấp”5. Tư
tưởng sử dụng sức mạnh quần chúng để lật đổ chính quyền phong kiến lập
nên nhà nước công nông đã có bước phát triển cao hơn ở Luận cương chính
trị (10/1930). Luận cương khẳng định: “Võ trang bạo động không phải là
việc thường, chẳng những là theo tình thế trực tiếp cách mạng, mà phải theo
khuôn phép nhà binh... khi không có tình thế trực tiếp cách mạng cũng cứ
kịch liệt đấu tranh, nhưng kịch liệt tranh đấu ấy không phải là để tổ chức
những cuộc manh động, hoặc là võ trang bạo động quá sớm, mà cốt là để huy
động đại quần chúng ra thị oai, biểu tình bãi công để dự bị họ về cuộc võ
trang bạo động sau này”6. Như vậy, trong Luận cương chính trị, Đảng ta đã
chỉ ra việc tiến hành cách mạng bạo lực ở nước ta phải bằng khởi nghĩa vũ
trang khi có điều kiện, thời cơ cách mạng.
Trên cơ sở đường lối và phương pháp cách mạng được xác định trong
Cương lĩnh đầu tiên và Luận cương chính trị, qua thực tiễn chỉ đạo hai cao
trào cách mạng (1930-1931), (1936-1939), Đảng ta đã đúc rút được những
kinh nghiệm quan trọng. Phân biệt hai hình thức và phương pháp đấu tranh
khi chưa có và khi có tình thế cách mạng là yêu cầu vô cùng quan trọng của
phương pháp cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền. Khi chưa
có tình thế cách mạng, phương pháp thích hợp nhất là đấu tranh đòi những
quyền lợi thiết thực như đưa ra các khẩu hiệu: tăng lương, giảm giờ làm, giảm
thuế… Thông qua các hoạt động từ thấp lên cao mà vận động, tập hợp và tập
dượt cho quần chúng trong tranh đấu. Khi có tình thế cách mạng Đảng phải
đưa ra các khẩu hiệu cao hơn như lập chính quyền Xô viết, vũ trang cho công
- nông… qua đó mà tập hợp lực lượng và tổ chức đấu tranh bằng bạo lực cách
mạng của quần chúng. Thời kỳ (1930-1931), (1936-1939) phương pháp bạo
Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t1, tr. 4.
Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t2, tr 102.
5
6
8
lực cách mạng được áp dụng chủ yếu là sử dụng sức mạnh của quần chúng
nhân dân để đấu tranh đòi các quyền dân sinh dân chủ, tập dượt chuẩn bị tiến
dần lên đấu tranh chính trị sau này.
Thời kỳ 1939-1945, khi chiến tranh thế giới nổ ra, tình thế cách mạng
xuất hiện, Đảng ta đã kịp thời vạch đường lối chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Đây là sự chuyển hướng
quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược của Đảng ta trong lãnh đạo đấu tranh
giành chính quyền. Để thực hiện mục tiêu trước mắt của cách mạng Đông
Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc, làm cho Đông
Dương hoàn toàn độc lập, Đảng ta cũng có sự phát triển về sử dụng phương
pháp bạo lực cách mạng. Sự phát triển về sử dụng phương pháp bạo lực cách
mạng của Đảng được thể hiện cụ thể trong các Nghị quyết trung ương 6
(11/1939); Nghị quyết trung ương 7 (11/1940), Nghị quyết trung ương 8
(5/1941) và đặc biệt là trong Chỉ thị “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của
chúng ta” của Ban thường vụ Trung ương Đảng (12/03/1945).
Nghị quyết của Hội nghị trung ương 6 là văn kiện đầu tiên của Đảng
xác định rõ ràng, dứt khoát con đường giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm
vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam lúc này là chống đế quốc và phong
kiến, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Do vậy, về phương pháp
cách mạng là chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang trực tiếp
đấu tranh đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; chuyển các hoạt động
hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp, “dự bị những
điều kiện bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc”7. Để bảo
đảm cho khởi nghĩa thắng lợi, Nghị quyết cũng đã thể hiện sự tập trung coi
trọng công tác tổ chức khi đề cập vấn đề xây dựng, tổ chức, lãnh đạo quần
chúng: “Một đội quân thao luyện, có tổ chức, có chỉ huy thống nhất thì sức
Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t6, tr546.
7
9
mạnh gấp trăm ngàn một đám đông ô hợp, dù đám người này trăm ngàn lần
đông hơn. Tổ chức là cái khí giới sắc bén duy nhất của những người bị áp
bức, bóc lột chống bọn áp bức bóc lột. Vì vậy, chỉ giác ngộ tuyên truyền dân
chúng chưa đủ, cần phải biết kết hợp họ thành đoàn, thành ngũ”8. Để tập hợp
các lực lượng của toàn dân tộc vào nhiệm vụ chủ yếu là chống chiến tranh đế
quốc và ách thống trị của phát xít Nhật- Pháp, Đảng ta chủ trương thành lập
Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ
đã không còn phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Nghị quyết trung ương
6 đã đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng, kịp thời của Đảng trong chỉ
đạo tiến hành phương pháp cách mạng đáp ứng với sự chuyển biến của thực
tiễn lịch sử.
Từ giữa năm 1940, chiến tranh thế giới II diễn biến nhanh chóng và tác
động mạnh đến tình hình Đông Dương. Đức chiếm đóng Pháp, Nhật xâm lược
Đông Dương. Phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam có bước phát
triển, trong 3 tháng từ 9/1940 đến 11/1941 đã có 3 cuộc khởi nghĩa nổ ra trên
khắp 3 miền Bắc- Trung- Nam. Điều đó báo hiệu thời kỳ đấu tranh vũ trang
giành độc lập tự do ở Đông Dương. Trước sự biến đổi nhanh chóng của tình
hình, Đảng đã tiến hành họp Hội nghị trung ương 7 vào tháng 11/1940. Hội nghị
trung ương 7 đã khẳng định sự đúng đắn của chủ trương chuyển hướng chỉ đạo
chiến lược của Hội nghị trung ương 6. Trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình
cách mạng Đông Dương, chỉ ra mâu thuẫn chủ yếu giữa Pháp - Nhật với nhân
dân Đông Dương càng trở nên sâu sắc, Hội nghị nhận định: một cao trào cách
mạng nhất định sẽ nổi dậy, Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh lịch sử
thiêng liêng lãnh đạo các dân tộc bị áp bức Đông Dương vũ trang bạo động
giành quyền độc lập, tự do. Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng chủ trương tập hợp
mọi lực lượng thành một mặt trận dân tộc thống nhất phản đế đánh đổ bọn đế
Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t6, tr 547.
8
10
quốc và tay sai của chúng. Theo quan điểm của Đảng, mặt trận này là sự liên
minh các lực lượng cách mạng phản đế, không phân biệt giai cấp, đẳng cấp, tôn
giáo, dân tộc, mục đích là thực hiện việc thống nhất hành động giữa các lực
lượng để đấu tranh tiến lên vũ trang bạo động đánh đuổi đế quốc Pháp- Nhật
xâm lược và các lực lượng phản động làm cho Đông Dương hoàn toàn giải
phóng. Hội nghị đã quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn để khi cần thì
sử dụng chống khủng bố, nhưng chủ yếu dùng hình thức vũ trang công tác, xây
dựng cơ sở cách mạng, tiến tới thành lập căn cứ du kích, lấy vùng Vũ Nhai- Bắc
Sơn làm trung tâm. Hội nghị cũng quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa Nam kỳ vì
chưa đủ điều kiện bảo đảm cho thắng lợi. Chủ trương xây dựng lực lượng mọi
mặt, thành lập khu căn cứ địa cách mạng để tiến tới vũ trang khởi nghĩa giành
chính quyền là một bước phát triển của Đảng về sử dụng phương pháp bạo lực
cách mạng trong thời kỳ 1930- 1945.
Bước sang năm 1941, cuộc chiến tranh thế giới II diễn biến nhanh
chóng với thế chắc thắng thuộc về Liên Xô và Đồng minh làm cho thời cơ
cách mạng xuất hiện. Kịp thời nắm bắt tình hình, sau khi về nước đồng chí
Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị 8 Ban Chấp hành trung ương
Đảng vạch ra đường lối chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Hội nghị đã phân tích
nguồn gốc, đặc điểm, tính chất của cuộc chiến tranh thế giới II, từ đó nhận
định kết quả chiến bại sẽ thuộc về phe phát xít, chủ nghĩa đế quốc sẽ suy yếu
và phong trào cách mạng sẽ phát triển mạnh mẽ. Về nhận định tình hình Đông
Dương, Hội nghị khẳng định, nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật không phải là
nhiệm vụ riêng của giai cấp công nhân và nông dân mà là nhiệm vụ chung của
toàn thể nhân dân Đông Dương. Hội nghị xác định nhiệm vụ của cách mạng
đông Dương lúc này là giải phóng dân tộc. Để thực hiện nhiệm vụ chung đó,
theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị chủ trương thành lập
mặt trận dân tộc thống nhất riêng cho mỗi nước và xúc tiến công tác chuẩn bị
11
khởi nghĩa vũ trang. Trong quá trình chuẩn bị, lực lượng cách mạng phải luôn
chủ động, sẵn sàng để khi có thời cơ “ta phải luôn chuẩn bị một lực lượng
sẵn sàng nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù, nghĩa là
nay mai đây cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và cuộc kháng chiến của
nhân dân Tàu xoay ra hoàn toàn cho cuộc cách mạng Đông Dương thắng lợi,
thì lúc đó với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng
phần trong từng địa phương cũng có thể thắng lợi mà mở đường cho một
cuộc khởi nghĩa to lớn”9.
Đến cuối năm 1944 sang đầu năm 1945, chiến tranh thế giới bước vào
giai đoạn kết thúc, một loạt nước ở Châu Âu được giải phóng. Ở Đông
Dương, ngày 09/03/1945, Nhật đảo chính Pháp, thực dân Pháp nhanh chóng
đầu hàng. Ngày 12/03/1945, Ban Thường vụ trung ương Đảng ra chỉ thị;
“Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị đã xác định kẻ
thù của nhân dân Đông Dương lúc này là phát xít Nhật và chỉ đạo phát động
phong trào kháng Nhật. Hội nghị nhấn mạnh về thời cơ cách mạng và việc
nắm thời cơ cách mạng: “Khi quân Đồng minh kéo vào Đông Dương đánh
Nhật, không phải ta có thể phát động tổng khởi nghĩa ngay tức khắc. Phải đợi
cho quân Đồng minh không ngừng bám chắc mà còn tiến được trên đất ta.
Đồng thời phải chờ quân Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng minh để
phía Nam tương đối sơ hở; lúc đó phát động tổng khởi nghĩa mới có lợi”10.
Phương pháp bạo lực cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính
quyền được hình thành từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Qua quá trình chỉ đạo
các phong trào cách mạng là quá trình phát triển, từng bước hoàn thiện cho đến
nội dung Chỉ thị “ Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Ban
thường vụ trung ương Đảng. Nội dung của phương pháp bạo lực cách mạng là:
sử dụng bạo lực cách mạng với sự kết hợp của hai hình thức đấu tranh chính trị
Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t7, tr132.
Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t7, tr372.
9
10
12
và đấu tranh quân sự của hai lực lượng: lực lượng chính trị và lực lượng quân sự;
tăng cường xây dựng lực lượng, căn cứ địa để duy trì các hình thức đấu tranh tạo
thời cơ cách mạng; phải chủ động nắm thời cơ, khi thời cơ chín muồi, tiến hành
khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.
Bạo lực cách mạng là tư tưởng xuyên suốt của cách mạng dân tộc dân chủ, đó là
chủ trương đúng đắn sáng tạo của Đảng và là một trong những nguyên nhân trực
tiếp quyết định đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Thực tiễn chỉ đạo sử dụng phương pháp bạo lực cách mạng của
Đảng trong thời kỳ 1930 - 1945.
Đảng ta chỉ ra quan điểm về bạo lực cách mạng là việc sử dụng hai lực
lượng chính trị và quân sự, sự kết hợp của hai hình thức đấu tranh chính trị và
đấu tranh quân sự tạo nên sức mạnh tổng hợp để đánh đổ đế quốc và phong
kiến tay sai giành chính quyền. Do vậy, trong thực tiễn chỉ đạo sử dụng
phương pháp bạo lực cách mạng, cùng với việc chỉ đạo xây dựng lực lượng
chính trị, Đảng ta cũng tích cực tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang. Việc kết
hợp hai hình thức đấu tranh trong thực hiện phương pháp bạo lực cách mạng
cũng được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định sớm, theo Người: cách
mạng Việt Nam phải được tiến hành bằng phương pháp bạo lực với hai hình
thức đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Lực lượng chính trị quần chúng
là cơ sở để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng.
Thực tiễn sử dụng phương pháp bạo lực cách mạng qua các thời kỳ, trong
cao trào 1930-1931, Đảng đã lãnh đạo quần chúng đi từ cuộc đấu tranh đòi
quyền lợi dân sinh, dân chủ tiến lên đấu tranh chính trị, nhiều cuộc biểu tình có
sự bảo vệ của lực lượng vũ trang. Tiêu biểu của sử dụng phương pháp bạo lực
cách mạng thời kỳ này là cao trào đầu tranh của nhân dân hai tỉnh Nghệ An và
Hà Tĩnh. Kết quả của phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh là đã làm cho kẻ thù sợ hãi
trước sức mạnh to lớn còn tiềm ẩn của những người dân cần lao Việt Nam.
13
Thời kỳ 1936-1939, thông qua việc tập hợp quần chúng tổ chức đấu
tranh đòi các quyền lợi tự do, dân chủ, chế độ làm việc, cơm áo… ta đã thành
lập được Mặt trận dân chủ. Đây là chủ trương thể hiện sự nhạy bén của Đảng
trong tập hợp lực lượng quần chúng để đòi quyền dân sinh, dân chủ. Thông
qua đấu tranh đòi các quyền lợi kinh tế giản đơn để Đảng tập hợp và rèn
luyện quần chúng chuẩn bị cho đấu tranh chính trị sau này.
Thời kỳ 1939-1945, khi tình thế cách mạng xuất hiện, Đảng ta đã nhanh
chóng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng với chủ trương đặt nhiệm
vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và từng bước giải quyết vấn đề ruộng đất
thì nhiệm vụ xây dựng lực lượng, căn cứ cách mạng chuẩn bị cho tổng khởi
nghĩa giành chính quyền càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Trước tình
hình đó, Đảng tiến hành họp Hội nghị trung ương 8, từ ngày 10 đến
19/05/1945. Hội nghị khẳng định: “Muốn làm tròn nhiệm vụ ấy, trước hết
phải tập trung cho được lực lượng toàn cõi đông Dương, không phân biệt thợ
thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước
thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra
giành độc lập, tự do dân tộc, đánh đuổi giặc Pháp- Nhật xâm lược nước ta.
Sự liên minh tất cả các giai cấp, đảng phái, các nhóm cách mạng cứu nước,
các tôn giáo, các dân tộc kháng Nhật, đó là công việc cốt yếu của Đảng ta”11.
Theo chủ trương đó, Hội nghị quyết định thành lập mặt trận mới: Mặt trận
Việt Nam độc lập đồng minh ( gọi tắt là Việt Minh) thay cho Mặt trận dân
chủ đã không còn phù hợp với yêu cầu mới của tình hình cách mạng. Tôn chỉ,
mục đích của Mặt trận Việt Minh là: liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân,
các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, cùng nhau đánh
đuổi giặc Pháp - Nhật làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một
nước cộng hoà. Mặt trận quy định điều kiện gia nhập: “không phân biệt giai
Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t7, tr 113.
11
14
cấp, tôn giáo và xu hướng chính trị, hễ thừa nhận mục đích tôn chỉ và chương
trình hành động của Việt Minh và được Tổng bộ Việt Minh thông qua, thời
được gia nhập Việt Minh” 12. Với mục đích tập hợp lực lượng một cách cao
nhất, đông đảo nhất, Việt Minh đã sáng tạo đa dạng các hình thức tổ chức, đó
là các loại “Hội”. Ngoài các đoàn thể có tính chất chính trị rõ ràng như: Hội
thanh niên cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc..., còn có những đoàn thể không có
điều lệ, hoạt động công khai và bán công khai như: Hội cấy, Hội cày, Hội lợp
nhà, Hội cứu tế thất nghiệp... Đây là những “tổ chức trung gian” thích hợp để
Đảng tập hợp và từng bước tuyên truyền giáo dục ý thức tinh thần cách mạng
cho quần chúng và dần từng bước đưa quần chúng vào các tổ chức cứu quốc.
Phương pháp tổ chức này cũng là một điều “đặc biệt”, thể hiện tư duy sáng
suốt của Đảng trong tập hợp lực lượng. Với chủ trương và thực hiện như vậy,
Đảng đã tập hợp được một lực lượng chính trị đông đảo nhất với sức mạnh
của cả một dân tộc để làm nên Cách mạng Tháng Tám (1945).
Sự phát triển hoàn thiện phương pháp bạo lực cách mạng của Đảng còn
được thể hiện là đi đôi với chỉ đạo xây dựng phát triển lực lượng chính trị,
Đảng ta cũng chỉ đạo tăng cường xây dựng lực lượng quân sự và các căn cứ
địa cách mạng. Từ Đại hội lần thứ nhất (03/1935), Đảng đã rất quan tâm đến
vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, thể hiện cụ thể bằng việc ra
một nghị quyết mang tính chuyên đề về quân sự, đó là “ Nghị quyết về Đội tự
vệ”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng đã chỉ đạo phát triển của các
hình thức tổ chức vũ trang từ đội tự vệ đỏ (trong Xô viết Nghệ Tĩnh)- đội du
kích (ở Bắc Sơn, Nam Kỳ)- đội cứu quốc quân (I- II -III), đội Việt Nam
Tuyên truyền giải phóng quân cho đến sự ra đời của Việt Nam giải phóng
quân vào tháng 5/1945. Việc xây dựng các căn cứ địa cách mạng cũng luôn
12
Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t7, tr 473.
15
được chú trọng, từ căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai tháng 8/1943 đến trước tổng
khởi nghĩa ta đã xây dựng được 7 chiến khu trong cả nước.
Sử dụng phương pháp bạo lực cách mạng một cách sáng tạo, đúng đắn,
khi tình hình thế giới và trong nước thay đổi có lợi cho cách mạng, Đảng ta đã
phát huy một cách hiệu quả sức mạnh của lực lượng chính trị và lực lượng vũ
trang cũng như sự kết hợp hai hình thức đấu tranh chính trị và quân sự. Từ
cuối năm 1944 sang đầu năm 1945, chiến tranh thế giới II bước vào giai đoạn
kết thúc với thế chắc thắng về quân Đồng minh. Đúng theo dự đoán của
Đảng, ngày 09/03/1945, Nhật đảo chính Pháp. Để bắt kịp sự phát triển của
tình hình và chỉ đạo phong trào cách mạng, ngày 12/03/1945, Ban thường vụ
trung ương Đảng ra chỉ thị: “Nhật- Pháp bắn nhau và hành động của chúng
ta”. Chỉ thị xác định kẻ thù của cách mạng Việt Nam lúc này là phát xít Nhật
và phải tập trung chĩa mũi nhọn vào đó. Do vậy Đảng đã chỉ đạo thay đổi các
hình thức đấu tranh, tuyên truyền, cổ động, tổ chức đấu tranh cho phù hợp
thời kỳ tiền khởi nghĩa, sẵn sàng chuyển sang tổng khởi nghĩa khi có đủ điều
kiện. Cao trào kháng Nhật cứu nước được phát động. Phong trào đấu tranh vũ
trang kết hợp với đấu tranh chính trị và khởi nghĩa từng phần đã diễn ra nhiều
nơi trong cả nước. Một số xã, huyện, châu thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn,
Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang đã được giải phóng.
Nhận thức được vai trò to lớn của công tác quân sự phục vụ cho khởi
nghĩa, ngày 15/04/1945, Ban thường vụ trung ương Đảng triệu tập Hội nghị
quân sự Bắc kỳ tại Hiệp Hoà (Bắc Giang). Hội nghị quyết định đặt nhiệm vụ
quân sự lên hàng đầu, gấp rút chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Khi phát xít Nhật đầu
hàng quân Đồng minh vào giữa tháng 8/1945 và cao trào kháng Nhật cứu nước
đã phát triển đến đỉnh cao, Đảng đã triệu tập Hội nghị toàn quốc quyết định phải
kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
16
Đêm 13/08/1945, Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh số 1, hạ lệnh tổng
khởi nghĩa.
Việc dự đoán thời cơ, tạo thời cơ, nhạy bén kịp thời chớp thời cơ phát
động toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền và xác định hình thái khởi
nghĩa cũng là một nghệ thuật và là một bước phát triển cao trong sử dụng
phương pháp bạo lực cách mạng của Đảng.
Thời cơ cách mạng là sự kết hợp hàng loạt các nhân tố chủ quan và khách
quan đã đến độ chín muồi, hội đủ các điều kiện cho phép cách mạng nổ ra giành
thắng lợi. Thời cơ không tự đến, phần quan trọng là phải do ta chuẩn bị và thúc đẩy
nó phát triển đến chín muồi. Trong suốt 15 năm, Đảng ta đã ra sức tập hợp và phát
triển lực lượng về các mặt: xây dựng và mở rộng mặt trận, xây dựng khối đoàn kết
toàn dân, xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn
cứ địa cách mạng... Đồng thời, Đảng ta thường xuyên quan tâm theo dõi sự phát triển
của tình hình, diễn biến của chiến tranh thế giới lần thứ II, dự đoán các khả năng,
phân tích mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù để có những quyết sách kịp thời, đúng
đắn.
Thời cơ “ngàn năm có một” của Cách mạng Tháng Tám được lựa chọn
chính xác, nổ ra đúng lúc. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhạy bén
chính trị đặc biệt đã lựa chọn đúng thời cơ để phát động toàn dân khởi nghĩa giành
chính quyền trên cả nước, trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Đó là khi
chiến tranh thế giới II vào thời điểm kết thúc, Nhật đầu hàng, chính quyền tay sai
hoang mang, suy sụp, nhân dân ta không thể sống cực khổ như trước được nữa nhất
tề vùng lên đấu tranh, Đảng ta đã có sự chuẩn bị đầy đủ để lãnh đạo toàn dân đứng
lên giành lấy chính quyền. Việc chớp thời cơ được thể hiện trong nội dung Thư của
Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước ngay sau Đại hội quốc
dân ngày 16/08/1945: “Giờ quyết định cho vận mệnh mệnh dân tộc đã đến. Toàn
quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta”.
17
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về lựa
chọn phương pháp bạo lực cách mạng, về nghệ thuật chỉ đạo tạo thời cơ và chớp
thời cơ, hơn 20 triệu đồng bào ta đã nhất tề đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính
quyền. Chỉ trong vòng nửa tháng (14/08 đến 25/08/1945), cuộc Tổng khởi nghĩa
đã thành công trong cả nước. Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thắng lợi là cuộc khởi
nghĩa nhanh chóng, ít đổ máu, tiêu biểu cho việc sử dụng phương pháp bạo lực
cách mạng của Đảng ta. Điều mà các Đảng Cộng sản của một số nước Đông Nam
Á có điều kiện giống ta như: In-đô-nê-xia, Ma-lai-xia... đã không thể làm được.
Cách mạng Tháng Tám thành công đã chứng minh việc lựa chọn và sử
dụng phương pháp bạo lực cách mạng của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Đó là
kết hợp chặt chẽ của hai lực lượng chính trị và quân sự; kết hợp của tiến công vũ
trang cách mạng và sự nổi dậy của quần chúng ở cả nông thôn và thành thị. Đó
là kết quả của việc chỉ đạo kết hợp phong phú đa dạng các hình thức đấu tranh
kinh tế và chính trị, hợp pháp và không hợp pháp của quần chúng, từ khởi nghĩa
từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước.
Như vậy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không chỉ bắt nguồn từ
tính đúng đắn sáng tạo của đường lối chiến lược, mà còn là kết quả của quá
trình sử dụng, chỉ đạo hiệu quả phương pháp bạo lực cách mạng của Đảng
trong 15 năm (1930 - 1945) lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh chống phong kiến,
thực dân Pháp, phát xít Nhật giành chính quyền.
Cách mạng Tháng Tám là bước ngoặt vĩ đại, là một trong những trang sử
vẻ vang nhất được ghi vào lịch sử hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước
của dân tộc ta. Cách mạng Tháng Tám đã đập tan ách thống trị của phát xít
Nhật trong 5 năm, xoá bỏ sự thống trị của thực dân Pháp trong 87 năm, lật đổ
chế độ phong kiến tồn tại mấy nghìn năm, đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ
nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do nhân dân làm chủ đất nước. Thắng lợi
của Cách mạng Tháng Tám để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho
18
Đảng ta trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng và nó chứng tỏ rằng:
trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở một
nước thuộc địa, do toàn dân nổi dậy, dưới sự lãnh đạo của một Đảng Mác Lênin, có đường lối đúng đắn thì hoàn toàn có thể giành thắng lợi.
Tóm lại, quá trình hình thành, phát triển và chỉ đạo thực hiện phương
pháp bạo lực cách mạng của Đảng thời kỳ 1930 - 1945. Đặc biệt, thắng lợi
của cao trào 1939-1945, với đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám 1945 là biểu
hiện bước phát triển cao của phương pháp cách mạng bạo lực của Đảng trong
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Trên cơ sở những kinh nghiệm về bạo
lực cách mạng thời kỳ 1930-1945, Đảng ta tiếp tục vận dụng phát triển quan
điểm bạo lực cách mạng đạt đến đỉnh cao trong cuộc kháng chiến chống Pháp
1945 - 1954 và trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước 1954-1975. Với
sự phát triển của hai lực lượng: chính trị, quân sự; hai hình thức đấu tranh:
đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự và sự kết hợp chặt chẽ giữa hai lực
lượng, hai hình thức đó; đánh địch bằng 3 mũi giáp công: chính trị, quân sự,
binh vận; đánh địch ở cả 3 vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng
và thành thị; kết hợp đánh địch trên 3 mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại
giao...Đó là đỉnh cao của phương pháp cách mạng bạo lực của Đảng.
Ngày nay công cuộc đổi mới xây dựng đất nước của nhân dân ta dưới sự
lãnh đạo của Đảng đã và đang thu được nhiều thành tựu to lớn. Việc chúng ta
mở rộng đa dạng các mối quan hệ đối ngoại song phương, đa phương với các
khu vực và nhiều nước trên thế giới, gia nhập các tổ chức là phù hợp với xu thế
của thời đại, và tạo ra nhiều thuận lợi và thời cơ cho cách mạng Việt Nam.
Song, việc đó cũng tạo ra nhiều khó khăn thách thức cho chúng ta về giữ vững
mục tiêu xã hội chủ nghĩa, về bảo vệ những thành quả cách mạng... Nghiên cứu
thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tìm ra những bài học kinh
nghiệm có ý nghĩa rất quan trọng đối với giai đoạn cách mạng hiện nay. Đó là
19
những bài học về giữ vững mục tiêu chiến lược, mềm dẻo, linh hoạt về sách
lược, nắm thời cơ, chớp thời cơ, không thụ động chờ đợi. Bài học về tập hợp
quần chúng, về giáo dục ý thức tinh thần cách mạng cho quần chúng, về thực
hiện xây dựng mọi mặt của lực lượng cách mạng, tạo cho cách mạng có thực
lực, phát huy tinh thần tự lực, tự cường dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời
đại để xây dựng và bảo vệ tổ quốc... Những bài học lịch sử đó đều có thể vận
dụng trong sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay và chắc
chắn sẽ không bao giờ cũ với cách mạng Việt Nam cho đến khi đạt được mục
tiêu cuối cùng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.