Tải bản đầy đủ (.doc) (13 trang)

TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁI QUÁT vài nét về CHỦ NGHĨA xã hội dân CHỦ ở THỤY điển

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (98.83 KB, 13 trang )

KHÁI QUÁT VÀI NÉT VỀ "CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DÂN CHỦ"
THUỴ ĐIỂN
Dưới ảnh hưởng tuyên truyền của Liên Xô, lâu nay chúng ta có thành kiến
rất sâu sắc về phong trào chủ nghĩa xã hội dân chủ Tây Âu. Thực ra, cho tới ngày
Liên xô biến mất, người Liên Xô chưa bao giờ giới thiệu cho chúng ta biết một
cách khách quan, trung thực về tình hình thực sự của phong trào xã hội dân chủ
Tây Âu (kể cả mối quan hệ giữa các đảng cộng sản với các đảng xã hội dân chủ),
không phải là “phủ định nhiều, khẳng định ít”, mà là phủ định toàn bộ. Trước hết,
tôi muốn nói một điều : thật ra phong trào xã hội dân chủ Tây Âu đã phức tạp lại
đa dạng, tình hình các nước không hoàn toàn giống nhau. Thụy-điển không ở vào
vùng đất "trái tim" của thế giới tư bản, mà chỉ là "tứ chi" thôi ("trái tim" và "tứ chi"
là cách nói của Mác), cách khá xa vùng trung tâm giành giật của các thế lực tư bản
cường quyền, do đó cuộc cải cách xã hội của Thụy-điển có thể tiến hành tương đối
tự chủ mà không, hoặc ít chịu sự can thiệp và ảnh hưởng của các thế lực ngoại
quốc. Ở đây cần đặc biệt chỉ ra một điểm: các đảng XHDC, đảng xã hội, đảng công
nhân thuộc "Quốc tế xã hội" thành lập năm 1923 ở châu Âu có cách giải thích về
"chủ nghiã xã hội dân chủ", trên nguyên tắc và trên nhiều mặt, khác với cách giải
thích của chủ nghĩa Mác; nhất là chủ trương “đa nguyên hoá tư tưởng”. Đảng
XHDC Thụy-điển tuy cũng thừa nhận đa nguyên hoá tư tưởng, nhưng họ vẫn kiên
trì lấy học thuyết Mác Ang-ghen làm tư tưởng chỉ đạo chính của mình. Đây là một
đặc điểm và ưu thế của họ.
Tại đây, tôi chỉ xin căn cứ vào Báo cáo Khảo sát, chia nó ra thành đề mục để
trình bày, tức dùng phương pháp “chỉ thuật lại mà không viết thêm” (thuật nhi bất
tác) để giới thiệu về tình hình xã hội XHCN dân chủ ở Thụy-điển mà mọi người rất
muốn tìm hiểu. Tôi xin phép khuyên bạn đọc chịu khó đọc hết phần sau, chớ có bỏ
qua một dịp tìm hiểu về chủ nghĩa xã hội của Thụy-điển.


Về vấn đề tính chất của đảng Xã hội dân chủ Thụy-điển và của xã hội Thụyđiển. Báo cáo khảo sát viết: "Lâu nay, chúng ta luôn cho rằng đảng Xã hội dân chủ
Thụy-điển là một đảng xét lại, xã hội Thụy-điển là một xã hội tư bản như các nước
xã hội phương Tây khác. Do đó, trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã cực kỳ


thẳng thắn hỏi các bạn Thụy-điển : rốt cuộc đảng và xã hội của họ có tính chất như
thế nào ? Họ trả lời rõ ràng : cho tới nay, họ vẫn tự cho rằng đảng XHDC Thụyđiển là một chính đảng xã hội chủ nghĩa, xã hội Thụy-điển là một xã hội xã hội chủ
nghĩa. Lý do chủ yếu là: xét về lịch sử đảng XHDC Thụy-điển, năm 1889, khi
thành lập đảng, họ không có cương lĩnh và điều lệ đảng của riêng mình, mà sử
dụng nguyên xi cương lĩnh và điều lệ của đảng XHDC Đức hồi đó, do Ang-ghen
sáng lập. Khi chúng tôi đến thăm Thụy-điển, tuy họ đang chuẩn bị sửa đổi lần thứ
7 cương lĩnh của đảng, nhưng các tài liệu tuyên truyền phát đi vẫn ghi rõ: cơ sở lý
luận của đảng XHDC Thụy-điển là đa nguyên, song chủ yếu là chủ nghĩa Mác
Ang-ghen; cơ sở giai cấp rộng rãi, nhưng chủ yếu là giai cấp công nhân. Chỉ có
điều là ghi rõ: giai cấp công nhân không những chỉ bao gồm công nhân cổ xanh mà
còn gồm cả công nhân cổ trắng... Nhân vấn đề này, họ đặc biệt mời chúng tôi tới
thăm Nhà Trưng bày lịch sử đảng XHDC Thụy-điển. Nhìn thứ tự các bức ảnh được
treo ở đây, có thể thấy rõ: vị trí thứ nhất là Các Mác, thứ hai là Ang-ghen, thứ ba là
Lát-xan [7], thứ tư là Bran-hân, nhà lãnh đạo đầu tiên của đảng XHDC Thụyđiển ... Khi trao đổi ý kiến với một số nhà nghiên cứu lý luận của đảng XHDC
Thụy-điển, họ đặc biệt nhấn mạnh : chủ nghĩa xã hội mà họ nói là có điều kiện, tức
là trước đó phải thêm từ "dân chủ", nói hoàn chỉnh phải là xã hội "chủ nghĩa xã hội
dân chủ". Nếu không thêm từ "dân chủ", thì họ thà để người ta nói xã hội của họ là
xã hội tư bản, còn hơn là để nói là xã hội XHCN. Bởi lẽ, loại xã hội XHCN ấy đại
biểu cho xã hội XHCN kiểu Liên Xô, không có sức thu hút quần chúng, nghĩa là
không nhận được phiếu bầu của quần chúng, cũng tức là không thể nắm chính
quyền và thực thi các chính sách XHCN.


Về tính chất nền kinh tế Thụy-điển. "Báo cáo Khảo sát" viết : "Theo cách
nói của các bạn Thụy-điển, tính chất của kinh tế Thụy-điển vừa không hoàn toàn là
kinh tế tư bản, vừa cũng không phải hoàn toàn là kinh tế XHCN, mà là một loại
kinh tế hỗn hợp [8]. Kinh tế hỗn hợp nghĩa là: - về chế độ sở hữu thì thực hành pha
trộn chế độ sở hữu công cộng và chế độ tư hữu; - về chế độ phân phối thì thực
hành phân phối theo lao động kết hợp với phân phối theo vốn (tư bản); - về
phương thức vận hành kinh tế thì thực hành nhà nước điều hành vĩ mô kết hợp với

kinh tế thị trường. Trong đó, cốt lõi nhất là sự hỗn hợp về chế độ sở hữu, vì chỉ có
làm được như thế thì mới có thể thực hiện được sự hỗn hợp về chế độ phân phối và
về phương thức vận hành kinh tế. Tại sao chủ nghĩa xã hội phải thực hành kinh tế
hỗn hợp ? Về vấn đề này, các bạn Thụy-điển đã dùng kinh nghiệm tự thân của
đảng mình để giới thiệu cho chúng tôi biết một bài học lịch sử rất sâu sắc của họ.
"Theo giới thiệu, khi đảng XHDC Thuỵ- Điển thành lập năm 1889, lúc đó
Thuỵ- Điển hãy còn là một trong những nước lạc hậu nhất châu Âu, thậm chí dân
chúng còn chưa có quyền tối thiểu là quyền bầu cử phổ thông. Vì sức sản xuất còn
kém và trình độ của đảng còn thấp, nên khi đảng thành lập, họ không đưa ra được
cương lĩnh của đảng, đành phải sử dụng nguyên xi cương lĩnh của đảng XHDC
Đức hồi đó, do Ang-ghen lãnh đạo soạn thảo. Cương lĩnh này quy định rõ ràng: về
chính trị, phải thông qua bầu cử dân chủ để quá độ hoà bình giành lấy chính quyền;
về kinh tế, phải thực hiện chế độ sở hữu công cộng, phân phối theo lao động và
quản lý có kế hoạch. Sau hơn 30 năm phấn đấu, về cách đề xuất phương thức mục
tiêu đấu tranh chính trị tuy có mấy lần thay đổi, như ban đầu đề khẩu hiệu phấn
đấu là "đấu tranh giành quyền bầu cử"; sau khi đã có quyền bầu cử thì sửa là "đấu
tranh vì tham gia nghị viện"; sau khi đảng đã có chân trong Quốc hội rồi, lại đề
xuất "đấu tranh giành đa số trong Quốc hội". Thế nhưng, các mục tiêu kinh tế nói
trên trong cương lĩnh lại không hề thay đổi. Trong cuộc bầu cử năm 1920, số nghị
sĩ của hai đảng XHDC và đảng Nhân dân (thuộc phái bảo thủ) cộng lại đã vượt quá
đa số trong Quốc hội (phe đối lập chủ yếu là các nghị sĩ có liên quan tới Hoàng gia


Thuỵ- điển), số ghế nghị sĩ của đảng XHDC nhiều hơn của đảng Nhân dân, hai
đảng này đã lập chính phủ liên hợp cùng nắm chính quyền, người lãnh đạo của
đảng XHDC làm Thủ tướng. Do đảng XHDC là lực lượng chính trong chính phủ,
nên đảng này có điều kiện thực thi cương lĩnh kinh tế quy định trong Cương lĩnh
của đảng, bắt đầu dùng biện pháp thu mua và chuộc lại để xây dựng trên cả nước
một số lượng lớn các doanh nghiệp sở hữu công cộng, trong đó sở hữu nhà nước là
chính. Nhưng vì chưa thể giải quyết tốt vấn đề quản lý các doanh nghiệp nên chẳng

bao lâu sau, sức sống của các doanh nghiệp đó bị giảm sút, hiệu quả và lợi ích
không cao, trong nền kinh tế xuất hiện những khó khăn không đáng có. Trong cuộc
bầu cử năm 1924, số phiếu bầu cho đảng XHDC bị giảm mạnh, kết quả là đảng bị
bật ra khỏi chính phủ, đảng Nhân dân có tính bảo thủ lên nắm chính quyền. Theo
cách nói của các bạn Thuỵ-điển thì đảng đã đánh mất quyền lãnh đạo chính phủ.
"Trong tình hình đó, đảng XHDC Thụy-điển mới bình tĩnh tổng kết bài học
kinh nghiệm; qua thảo luận trong toàn đảng, họ rút ra được một kết luận rất quan
trọng. Đó là: đảng XHDC Thụy-điển là một chính đảng XHCN, do vậy phải kiên
trì thực hiện CNXH; nhưng trong việc thực hiện CNXH thì xã hội hoá quyền sở
hữu không phải là một vấn đề căn bản; xã hội hoá phân phối mới là vấn đề căn
bản, tức thực thi phân phối công bằng của cải xã hội như thế nào để bảo đảm
quyền lợi của giai cấp công nhân và người lao động. Lập thật nhiều doanh nghiệp
sở hữu công cộng, nhà nước phải đầu tư rất lớn, tốn nhiều công sức nhưng hiệu
suất và lợi ích đều nói chung không cao, không làm ra được nhiều của cải, nếu
muốn phân phối một cách công bằng thì cũng chẳng có cơ sở vật chất kinh tế lớn
mạnh để làm chỗ dựa mà phân phối. Như vậy thì không có lợi bằng biện pháp: không lập nhiều doanh nghiệp sở hữu công cộng (trừ các lĩnh vực bắt buộc phải do
nhà nước làm), - khuyến khích ủng hộ sự phát triển kinh tế sở hữu phi công cộng,
để cho các doanh nghiệp tư nhân làm ra càng nhiều của cải càng tốt, - chính phủ
thực hiện phân phối các của cải đó một cách hợp lý nhằm đáp ứng nhu cầu của
người lao động.


Có thể giải quyết những vấn đề và tệ nạn phát sinh trong quá trình phát triển
các doanh nghiệp tư nhân trên hai mặt sau: - sử dụng thế lực của công đoàn ở tổ
chức cơ sở tiến hành đấu tranh cần thiết; - sử dụng quyền lập pháp của Quốc hội để
hạn chế các tệ nạn đó ngay từ trên thượng tầng. Đảng XHDC Thụy-điển đã dựa
vào kết luận này để sửa đổi lại cương lĩnh và điều lệ ban đầu của đảng, qua đó
giành được sự ủng hộ của quần chúng rộng rãi. Trong cuộc bầu cử năm 1932, đảng
lại giành được đa số trong Quốc hội và lại lên nắm chính quyền liên tục 44 năm
liền, cho tới năm 1976 mới bị đảng Nhân dân thay thế một thời gian. Trong mấy

chục năm đó, đảng XHDC đã xây dựng Thụy-điển từ một nước kinh tế lạc hậu
nhất châu Âu trở thành nước kinh tế phát triển, đứng thứ 2 trên thế giới về GDP
đầu người (thứ nhất là Thụy sĩ). Mặc dù có vài lần bị đảng Nhân dân thay thế
nhưng trong phần lớn thời gian từ 1976 tới nay, đảng XHDC vẫn nắm chính
quyền. Đến cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX, phần phân phối đã được xã
hội hoá trong toàn bộ của cải quốc dân, tính theo tỷ lệ của thu nhập tài chính của
nhà nước so với GDP, đã đạt 57 58%. Nhờ đó đã có điều kiện xây dựng Thụy-điển
thành nước có phúc lợi xã hội nhiều nhất thế giới, khiến cho lý thuyết xã hội hoá
phân phối được vận dụng triệt để vào trong thực tiễn."
Về nguyên tắc phân phối thực hành tại Thụy-điển. Báo cáo Khảo sát viết:
"Theo các bạn Thụy-điển giới thiệu, nguyên tắc phân phối của họ là: phải vừa có
lợi cho việc huy động, phát huy đầy đủ tính tích cực về mọi mặt, và nâng cao năng
suất lao động, lại vừa không để xuất hiện chênh lệch phân phối quá lớn (ý nghĩa có
chút giống như khẩu hiệu "ưu tiên năng suất, chiếu cố công bằng" mà Trung Quốc
mấy năm nay luôn nhấn mạnh). Biện pháp chủ yếu là: trong lần phân phối đầu tiên
phải kiên trì nguyên tắc ưu tiên hiệu suất, nghĩa là người làm nhiều, cống hiến
nhiều thì phải được phân phối nhiều; ngược lại thì chỉ được phân phối ít. Nhưng
khi tái phân phối thì phải có sự điều tiết hợp lý, sao cho mức hơn kém trong phân
phối cuối cùng không quá lớn. Bởi thế, cho tới nay trong cả nước Thụy-điển, chỉ


có một số cực ít các nhà doanh nghiệp xuất sắc, thí dụ những người như Tổng
Giám đốc hãng ô tô Volvo, mới được hưởng mức thu nhập trên 1 triệu cuaron mỗi
năm; còn nhìn chung chênh lệch về thu nhập thực tế của tuyệt đại đa số là không
lớn lắm [9]. Thí dụ, lương của người lãnh đạo cao nhất trong chính phủ so với
lương của công chức nói chung, trước khi nộp thuế chênh lệch có thể tới gấp 4-5
lần, nhưng sau khi nộp thuế, tỷ lệ chênh lệch chỉ còn bằng 2-3 lần . Điều đặc biệt
là, ngoài lương ra, họ không có bất kỳ phụ cấp cấp bậc và phụ cấp chức vụ nào
khác; cho nên tỷ lệ chênh lệch nói trên là rất nhỏ. Khi giới thiệu với chúng tôi, các
bạn Thụy-điển nói chênh lệch thu nhập ở Thụy-điển có lẽ là nhỏ nhất thế giới. Tại

Thụy-điển, cơ bản đã thanh toán xong cái gọi là sự cách biệt giữa thành thị với
nông thôn, giữa công nhân với nông dân, giữa lao động trí óc với lao động chân
tay. Về vấn đề này, mới đầu chúng tôi còn nửa tin nửa ngờ; nhưng sau khi quan sát
thực địa một số gia đình thuộc các diện khác nhau, chúng tôi cảm thấy đúng là về
đại thể là như vậy."
Về chế độ phúc lợi ở Thụy-điển. Báo cáo khảo sát viết: "Mọi người đều biết,
phúc lợi xã hội ở Thụy-điển ở mức nhiều nhất thế giới. Ngoài 4 loại bảo hiểm lớn
được pháp luật qui định (như các nước Tây Bắc Âu khác): bảo hiểm hưu trí dưỡng
lão, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, còn có nhiều
loại hình phúc lợi xã hội khác, nhiều đến mức người ta hình dung Thụy-điển là
nước mà người dân "từ khi lọt lòng đến khi chết" đều được hưởng phúc lợi. Căn cứ
theo kết quả khảo sát của chúng tôi thì câu nói trên đúng là "danh bất hư truyền".
Thí dụ: (1) Chế độ dưỡng lão: người lao động về hưu được định kỳ lĩnh lương hưu
đủ sống, người già yếu không tự lo liệu cuộc sống được thì có thể vào ở trong viện
dưỡng lão của nhà nước, được hưởng sự chăm sóc y tế miễn phí, điều kiện sống tại
đây tương đương với khách sạn 3 sao. (2) Chế độ bảo hiểm thất nghiệp : nếu người
lao động thất nghiệp, họ được định kỳ lĩnh tiền cứu tế thất nghiệp, được các trung
tâm giới thiệu việc làm của nhà nước miễn phí giới thiệu việc làm trong phạm vi
toàn quốc. Nếu nơi làm việc mới cách xa chỗ ở hiện nay, nhà nước có thể giúp một


phần kinh phí dọn nhà. (3) Chế độ giáo dục: không những tất cả mọi người đều
được đi học không mất tiền suốt đời mà luật pháp còn qui định, từ nhà trẻ cho đến
bậc trung học, nếu trong lớp có một học sinh người nước ngoài, thì nhà trường phải
bố trí một giáo viên biết tiếng mẹ đẻ của em đó (dĩ nhiên đều là giáo viên kiêm
nhiệm), mỗi tháng phải lên lớp một số giờ nhất định bằng tiếng mẹ đẻ cho em này.
Ở bậc đại học, từ lúc vào học cho đến lúc tốt nghiệp, tuy có qui ước số năm học
nhất định nhưng pháp luật qui định, nếu học sinh nào tốt nghiệp rồi mà chưa tìm
được công việc thích hợp và không muốn rời nhà trường thì có thể tiếp tục học tập
miễn phí. Các bạn Thụy-điển cho biết, hiện nay hầu như ở trường nào cũng có

những sinh viên lớn tuổi đã học 7-8 năm hoặc hơn trong trường. (4) Chế độ sinh
đẻ: phụ nữ sinh con được nghỉ đẻ 18 tháng có lương (12 tháng đầu hưởng 100%
lương, 6 tháng cuối hưởng 90%). Nếu đến tháng thứ 18 lại có thai, sẽ tiếp tục được
nghỉ tiếp hưởng 90% lương cho đến khi đứa trẻ ra đời lại được hưởng chế độ nghỉ
đẻ 18 tháng. Ngoài ra, nếu người vợ làm công việc tương đối quan trọng không thể
hoặc không muốn nghỉ ở nhà quá lâu như vậy, thì haivợ chồng có thể bàn bạc để
chồng có thể nghỉ thay vợ. (5) Chế độ nhà tù: người bị giam giữ hoặc tội phạm
đang lĩnh án được nhà nước nuôi ăn ở không mất tiền, ngoài ra, mỗi tháng còn
được lĩnh một khoản tiền mặt trợ cấp tuy không lớn nhưng cũng không phải là nhỏ
lắm. Nhờ các khoản phúc lợi xã hội nói trên, đời sống cơ bản của mỗi người dân
trong bất kỳ tình huống nào đều có sự bảo đảm cần thiết. Vì thế bộ mặt xã hội nói
chung là tốt đẹp, cuộc sống yên bình, trật tự nền nếp, thực là có cái cảnh "ra đường
không sợ mất cắp, đêm nằm không phải đóng cửa". Các cán bộ sứ quán Trung
quốc ở đây cho biết, mấy chục năm qua họ rất ít khi bị mất cắp .
"Dĩ nhiên sự việc nào cũng có hai mặt. Qua một số điều chúng tôi đã tiếp
xúc hoặc nghe kể, chế độ phúc lợi suốt đời nói trên của Thụy-điển ít nhất cũng tồn
tại các vấn đề và mâu thuẫn trên hai mặt sau. Thứ nhất, chế độ phúc lợi cao này là
dựa vào chế độ thu thuế cao. Do thu thuế cao nên thu nhập tài chính nhà nước của
Thụy-điển chiếm gần 60% GDP, mức cao nhất thế giới. Nghĩa là gần 3/5 của cải


toàn xã hội bị nhà nước tập trung vào tay mình, tỷ lệ để lại cho các doanh nghiệp
và người dân quá nhỏ, trên mức độ nhất định tất sẽ ảnh hưởng tới tính tích cực của
doanh nghiệp và người lao động. Đặc biệt là thuế suất luỹ tiến của thuế thu nhập,
bậc cao nhất từng dùng thuế suất trên 80% (nay vẫn trên 70%), nghĩa là gần hết số
tiền mà người lao động vất vả kiếm được lại không được hưởng. Điều đó dẫn đến
trường hợp khi doanh nghiệp hoặc đơn vị cần hoàn thành một công việc cần kíp thì
ngoài 8 giờ làm việc ra, người lao động nói chung đều không muốn làm ngoài giờ,
vì thu nhập làm thêm mình chẳng được hưởng bao nhiêu. Bất mãn nhất là những
người có thu nhập cao. Thập kỷ 80, một danh thủ quần vợt nổi tiếng thế giới người

Thụy-điển chỉ vì bất mãn với thuế suất quá cao của nước này mà bỏ sang Anh định
cư. Thứ hai, chế độ phúc lợi cao rất dễ bị một số người lợi dụng kiếm chác những
khoản lợi ích họ không đáng được hưởng. Trong thời gian thăm Thụy-điển, khi
đến một gia đình công nhân được gọi là có thu nhập thấp nhất, chúng tôi đã phát
hiện vấn đề đó. Gia đình này có 4 cô con gái rồi, nhưng bà chủ lại có thai tiếp.
Cảm thấy rất kỳ lạ, chúng tôi hỏi ông chủ tại sao đẻ nhiều như vậy. Ông trả lời: tôi
đã tính toán từ lâu, thấy để vợ ở nhà đẻ con là có lợi nhất. Chẳng những bà ấy được
nghỉ 1 năm rưỡi có lương, mà khi hết thời hạn đó lại có thai nữa thì tiếp tục được
nghỉ ở nhà vẫn có lương, nghĩa là bà ấy được nghỉ phép dài hạn ở nhà cai quản
công việc nội trợ phức tạp. Hơn nữa, chính phủ còn khuyến khích sinh đẻ, ai có
nhiều con thì được hưởng chế độ trợ cấp luỹ tiến; cứ thêm một con thì hàng tháng
được trợ cấp thêm ít nhất 1000 cuaron, lại không phải đóng thuế thu nhập, như thế
rõ ràng làm tăng thu nhập của nhà tôi. Khi chúng tôi hỏi: như thế, ông có bị thiệt
hại gì không ? Mới đầu ông ta bảo không, nhưng sau một lúc suy nghĩ, lại bảo là
cũng có thiệt ở chỗ không thể đi du lịch xa, vì vợ con lóc nhóc đông quá đi xa rất
bất tiện ... Câu chuyện này cho thấy, chế độ phúc lợi xã hội quá cao quá nhiều của
Thụy-điển cũng cần thiết phải điều chỉnh, cải tiến hợp lý.
Về công bằng xã hội ở Thụy-điển. Báo cáo Khảo sát viết: "Qua nhiều thực tế
chúng tôi đã tìm hiểu và tiếp xúc trong quá trình khảo sát, có thể nói xã hội Thụy-


điển tương đối công bằng. Tuy không thể nói Thụy-điển hoàn toàn không có chế
độ đặc quyền đẳng cấp, lối sống không lành mạnh và hiện tượng tham nhũng
thường thấy ở nhiều nước khác, nhưng qua tai nghe mắt thấy thì các hiện tượng đó
đúng là không nhiều. Tại sao xã hội Thụy-điển có thể thực hiện được tương đối
công bằng ? Chủ yếu là do:
"(1). Có chế độ pháp luật hoàn thiện, có thể hạn chế một cách hữu hiệu sự
nảy sinh các hiện tượng bất công xã hội. Thí dụ, pháp luật quy định rõ: trừ Quốc
vương ra, bất cứ ai, kể cả Thủ tướng, khi ra ngoài đều không được mang theo nhân
viên bảo vệ. Chính vì thế mà Thủ tướng Thụy-điển kiêm Chủ tịch đảng XHDC

nước này là ông Ô-lôp Pan-mơ đã bị ám sát. Hôm đó, vào cuối năm 1988 (không
lâu trước ngày chúng tôi thăm Thụy-điển), sau giờ làm việc, ông Pan-mơ cùng vợ
đi tầu điện ngầm đến xem phim ở một rạp chiếu bóng trong khu phố đông vui nhất
thủ đô Xtốc-khôm. Xem phim xong, hai người ra về, khi đang đi bộ trên đường
phố, sắp đến một ga tầu điện ngầm thì ông Pan-mơ bị một kẻ lạ mặt bắn chết; nghe
nói cho tới nay vẫn chưa tìm ra hung thủ. Sau vụ này, Thụy-điển mới sửa đổi luật,
quy định Thủ tướng khi ra ngoài cũng có thể mang theo nhân viên bảo vệ. Khi
chúng tôi đến thăm chỗ ông bị ám sát, vẫn còn thấy vết máu trên đường, thỉnh
thoảng có người mang hoa đến đặt lên chỗ có vết máu tỏ lòng thương tiếc.
"Luật pháp cũng ghi rõ: trong cả nước, chỉ một số rất ít cấp lãnh đạo như
Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ trưởng Quốc phòng mới
được nhà nước cấp ô tô công vụ, còn tất cả các quan chức khác chỉ được đi lại
bằng các phương tiện giao thông công cộng hoặc xe tư của mình. Quy định trên
không những giảm rõ rệt biên chế nhân viên cơ quan nhà nước và chi phí, mà còn
ngăn chặn được tình trạng lợi dụng xe công làm việc tư, cũng như các tác phong
không lành mạnh khác. "Pháp luật còn quy định rõ: trong công việc giao thiệp với
khách nước ngoài, người lãnh đạo ở cấp nào thì được nhận quà tặng trị giá bao
nhiêu. Chúng tôi đã có một lần tự mình thấy rõ điều này. Năm 1985, lần đầu tiên


tôi theo Đoàn Cải cách cơ chế đến Thụy-điển khảo sát, đơn vị đón tiếp chính về
phía bạn là Bộ Công nghiệp. Trong buổi làm việc với bà Bộ trưởng Bộ này, chúng
tôi có tặng bà một đôi bình hoa nhỏ Cảnh-Thái-Lam cao khoảng 7-8 tấc Anh, sản
xuất tại Bắc Kinh, để làm kỷ niệm. Sau khi mở hộp giấy bọc và xem món quà, bà
kinh ngạc khen: Đẹp quá ! Nhưng rồi bà lại thở dài: Rất tiếc là tôi không được
mang món quà này về nhà. Lúc đó chúng tôi đều không hiểu tại sao bà lại nói thế.
Khi ra về, tôi có hỏi một cán bộ Sứ quán Trung quốc cùng dự buổi tiếp hôm ấy,
mới biết luật pháp Thụy-điển có quy định, lãnh đạo cấp Bộ trưởng trong hoạt động
ngoại giao chỉ được nhận quà biếu có giá trị lớn nhất không quá 1500 cuaron
(khoảng 180 đôla Mỹ). Loại bình hoa chúng tôi biếu, ở Bắc kinh thì không đáng

bao nhiêu tiền, nhưng ở Thụy-điển thì ước tính có thể hơn 1500 cuaron. Do đó bà
Bộ trưởng không thể mang về nhà, mà chỉ có thể để ở phòng làm việc. Bao giờ
mãn nhiệm, giả thử Bộ trưởng mới đến có nói món quà này nếu bà thích thì lấy đi;
lúc đó mới có thể đem về nhà mình.
"(2). Dư luận giám sát công khai, là biện pháp hạn chế mạnh mẽ sự phát sinh
và lan tràn các hiện tượng bất công xã hội. Về mặt này, năm 1988, khi chúng tôi
đến Thụy-điển và Áo khảo sát, ở cả hai nước đều gặp những chuyện cụ thể. Chúng
tôi tới Thụy-điển đúng vào lúc cô con gái của một vị Uỷ viên Ban Chấp hành
Trung ương đảng XHDC Thụy-điển (tương đương Uỷ viên Bộ Chính trị đảng
CSTQ) và là Chủ tịch Công đoàn toàn quốc, có chuyện rắc rối: báo chí tố giác cô
này chưa đủ tiêu chuẩn được phân phối nhà nhưng vẫn được chia nhà, và phê phán
ông Chủ tịch Công đoàn lợi dụng đặc quyền đảng XHDC đang nắm chính quyền
để kiếm chác lợi riêng. Vì vấn đề này, đảng XHDC đã tổ chức một cuộc họp báo
để công khai giải thích và tỏ thái độ. Trong họp báo, ông Chủ tịch Công đoàn
tuyên bố: việc này ông không được biết trước, là do con gái ông tự làm; dĩ nhiên,
ông có trách nhiệm là giáo dục con chưa nghiêm, ông nhất định sẽ đôn đốc con gái
trả lại nhà nước căn nhà này, và sẵn sàng nhận sự phán xử của luật pháp. Sau đó,
vụ tai tiếng này mới chìm xuống."


Về vấn đề địa vị trong xã hội của chính đảng và của người lãnh đạo. Vấn đề
này được Báo cáo Khảo sát dành riêng một đoạn viết về những gì đã tìm hiểu khảo
sát được : "Cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các chính đảng và nguy cơ sống còn của
đảng đã buộc lãnh đạo các cấp và tầng lớp công chức phải đối xử với quần chúng
nhân dân bằng một thái độ bình đẳng và giải quyết các công việc xã hội theo
nguyên tắc công bằng. Về chính trị, Thụy-điển thực hành cái gọi là chế độ dân chủ
kiểu phương Tây, các chính đảng cạnh tranh với nhau rất gay gắt, lá phiếu bầu của
quần chúng quyết định đảng nào có được lên vũ đài chính trị nắm chính quyền hay
không, sự sống còn của đảng trên một mức độ lớn cũng phụ thuộc vào lá phiếu bầu
cử của nhân dân. Nhà nước không cấp kinh phí vô điều kiện cho các chính đảng,

nguồn kinh phí hoạt động của các đảng phải trông vào đảng phí của đảng viên nộp
và các nguồn tự gây quỹ, phần khá lớn nữa là kinh phí chính phủ cấp dựa vào số
lượng nghị sĩ của đảng trong Quốc hội. Đảng nào không nhận được nhiều phiếu
bầu của quần chúng thì không vào được Quốc hội, do đó không có khoản kinh phí
nói trên, như vậy sẽ rất khó tồn tại lâu dài. Bởi lẽ đó, dù là nguyện vọng chủ quan
thế nào đi nữa, trong mọi hoạt động, đảng XHDC Thụy-điển đều bắt buộc phải
luôn giữ cho mình một hình ảnh giầu mà không xa xỉ, bình đẳng đối xử với quần
chúng, bảo đảm công bằng xã hội. Thí dụ: tuy đảng XHDC Thụy-điển đã nhiều lần
nắm chính quyền và một lần nắm chính quyền liền 44 năm, nhưng vào cuối thập kỷ
80 khi chúng tôi đến đây khảo sát, cơ quan trung ương đảng của họ vẫn chỉ có 5060 nhân viên công tác. Tỉnh uỷ tỉnh Gotteborg chỉ có 5 6 người. Khi chúng tôi đến
làm việc với họ, chỉ thấy một cán bộ làm tất cả mọi việc, từ giới thiệu tình hình,
toạ đàm trao đổi ý kiến, dẫn đi tham quan các nơi, hướng dẫn du lịch, và cả việc lái
xe nữa. Họ cho biết, tỉnh uỷ Gotteborg có 3 400 chi bộ phân tán trong các cộng
đồng phường xã (vì pháp luật quy định không được tổ chức chi bộ đảng trong các
doanh nghiệp và cơ quan đơn vị), mỗi tháng ít nhất tỉnh uỷ phải đến mỗi cơ sở 1
lần để tìm hiểu nắm tình hình, chỉ đạo công tác và truyền đạt chỉ thị của cấp trên;
do đó công tác của họ rất bận. Năm 1985, khi tôi theo Đoàn Cải cách cơ chế thăm


Thụy-điển lần đầu, hôm đến Gotteborg đúng vào Chủ nhật, Chủ tịch tỉnh và Chủ
tịch Hội đồng nhân dân tỉnh cùng tổ chức chiêu đãi chúng tôi trong một pháo đài
trên núi gần biên giới với Na-uy. Phòng tiệc bày biện sang trọng nhưng ăn uống rất
đơn giản. Sau bữa ăn, họ mời ra quảng trường ngoài pháo đài nghe một đoàn nhạc
giao hưởng vừa từ Moskva trở về biểu diễn. Khách nghe nhạc, từ toàn đoàn chúng
tôi cho tới Chủ tịch tỉnh và Chủ tịch HĐND tỉnh, tất cả đều không có chỗ ngồi, mà
cùng đứng chung với khách du lịch suốt hơn một giờ. Trên đường về thành phố,
khi ô tô chúng tôi sắp lên phà qua sông, bỗng một chiếc xe phía trước không nổ
được máy. Lúc đó, Chủ tịch HĐND ngồi bên cửa xe (ông này thọt chân) và Chủ
tịch tỉnh lẳng lặng xuống xe trước tiên, cùng mọi người đẩy xe cho tới lúc xe nổ
máy được mới thôi. Cảnh này thật làm mọi người cảm động.

"Nguyên tắc công bằng xã hội nói trên của các bạn Thụy-điển không những
chỉ thể hiện trong việc giải quyết các công việc trong nước, mà đối với các bạn
nước ngoài cũng vậy. Lần đi Thụy-điển năm 1988, hôm tới Xtốc-khôm đúng vào
hai ngày nghỉ cuối tuần, vì không bố trí được phòng trọ cho chúng tôi trong thành
phố, họ đưa chúng tôi đến trọ tại nhà nghỉ của một công đoàn trên hòn đảo ngoài
biển gần đấy. Xung quanh nhà nghỉ là cánh đồng tuyết, không có tường bao cũng
chẳng có người bảo vệ, rất ít nhân viên phục vụ. Mỗi người chúng tôi được bố trí ở
trong một căn phòng khoảng chục mét vuông, kể cả trưởng đoàn cũng vậy, tuy có
được thêm một phòng khách cũng nhỏ như thế, chỉ vừa đủ chỗ kê mấy chiếc ghế
xô pha. Nghe nói đây là căn phòng ông Các-xơn (Carlsson), đương kim Chủ tịch
đảng XHDC và Thủ tướng chính phủ Thụy-điển, thường đến nghỉ. Hết hai ngày
cuối tuần, họ đưa chúng tôi về thành phố, bố trí trọ tại một khách sạn vừa không đồ
sộ, thiết bị lại vừa chưa đạt tiêu chuẩn khách sạn ba sao ở Trung quốc. Trưởng
đoàn chúng tôi cũng không được đặc cách ở phòng sang hơn, mà cũng chỉ ở một
phòng tiêu chuẩn như mọi đoàn viên.


"Những người lãnh đạo Thụy-điển rất chú ý giữ gìn hình ảnh công bằng xã
hội tốt đẹp nói trên, khi họ còn sống cũng như khi giải quyết việc tang lễ cho người
lãnh đạo. Như ông Pan-mơ bị ám sát năm 1988, sinh thời ông vừa là Thủ tướng và
Chủ tịch đảng XHDC Thụy-điển, mà còn là Chủ tịch Quốc tế của các đảng Xã hội,
có ảnh hưởng lớn trên thế giới và ở châu Âu, có uy tín cao trong nước, cống hiến
đối với đảng và với nước đều không nhỏ. Nhưng sau khi ông qua đời, người ta
không dựng nhà kỷ niệm hoặc bia kỷ niệm ông, cũng không xây cất cho ông một
ngôi mộ sang trọng, mà chỉ mai táng tro xương ông trong một nghĩa trang công
cộng phía sau nhà thờ gần dãy phố nơi ông bị ám sát. Ngôi mộ ông là một khối
hình hộp bằng đá cẩm thạch mầu đen, diện tích khoảng 4 mét vuông, trên dựng
một phiến đá cao chừng 1 mét có chữ ký của Pan-mơ. Nghe nói phiến đá này trước
đây ở quê ông, mỗi lần về quê vận động tranh cử, Pan-mơ đều đứng trên phiến đá
này để diễn thuyết, nên người ta mang nó về đây để làm kỷ niệm. "

Phần trích dẫn Báo cáo khảo sát đến đây xin dừng lại, chủ yếu dùng cách
sao chép. Theo tôi nghĩ, phần trích dẫn trên đã đưa ra một phác thảo khái quát để
bạn đọc có thể hiểu được tình phong trào xã hội dân chủ Thụy-điển cùng các thành
tựu đạt được .



×