ĐỀ TÀI:"TẠI SAO CẬN THỊ HỌC ĐƯỜNG VẪN
CỊN TIẾP DIỄN?"
Nhóm bạn: Nguyễn Vân Khánh và Nguyễn Nguyên Phương
Lớp 6A
C
**********************
uối năm 2014, trường THCS Lý Nhật Quang của chúng em đã có 158
học sinh bị cận, Đầu năm 2015, Trường lại có thêm 31 em, tỉ lệ cận
thị gia tăng nhanh chóng lên 189 em. Đây là điều đáng lo ngại cho sự phát
triển sức khỏe cho các học sinh trong nhà trường. Để cải thiện tình trạng
và hạn chế sự gia tăng của căn bệnh học đường này, chúng em đã đưa ra
những phương pháp để giải quyết vẫn đề này một cách hữu hiệu. Tuy
nhiên, cũng cần có sự hợp tác và kêu gọi cộng đồng trong xã hội của bạn
bè khắp nơi để tuyên truyền nguồn thông tin này. Và sự góp mặt của mọi
người khi học hỏi theo các giải pháp là sự thành công của chúng em.
Ra ngoài đường, trẻ em cận thị chạy đầy đường. Ghé nhà trường, học sinh
THPT cận thị, học sinh THCS cận thị. Ngay cả học sinh tiểu học, vai "vác" ba
lơ, mắt mang cặp kính cận dày cộm!
Vài chục năm gần đây, hiện tượng cận thị ở trẻ em gia tăng "đột biến". Vì trẻ
em ngày nay đều được đi học, nên thay vì nói trẻ em cận thị thì người ta lại
nói: Cận thị học đường? thì khơng thể nói trước được vì căn ệnh này xuất hiện
trong một thời gian dài hoặc có thể là cả đời nếu người bị bệnh khơng biết
chăm sóc mắt đúng.
Trước đây CSVC Nhà trường thậm tệ: ở nông thôn, mái tranh vách nứa,
bàn ghế một cỡ, xiêu vẹo, điện khơng có. Ở thành thị, nhà cấp 4, thấp, tuy có
điện nhưng mà điện 110V, ánh sáng yếu, bàn ghế cũng chỉ một loại. Thế mà
hiện tượng học sinh bị cận rất ít, thậm chí rất hiếm ở nơng thơn?
Ngày nay, khơng nói chi ở thành thị mà ngay cả nông thôn, trường lầu rải
đều khắp tỉnh, vùng cao cũng như đồng bằng. Điện đầy đủ ánh sáng, cửa nẻo
thoáng mát, sử dụng bảng chống lóa, phấn khơng bụi, bàn ghế đúng quy cách
tùy theo lứa tuổi; đổi chỗ sau một học kì.... thế mà hiện tượng cận thị lại "phát
triển" không những cao tại thành thị mà cũng ở ngay nông thôn?
Để giải quyết tốt tình huống này, chúng em đã vận dụng kiến thức của các
môn học để áp dụng trong thực tế:
- Mơn Vật Lí: nghiên cứu và đưa ra giải pháp giải quyết.
- Môn Sinh Học: chế độ dinh dưỡng.
- Mơn Ngữ Văn: cách trình bày văn bản hợp lí.
- Mơn Tin Học: dùng để soạn thảo văn bản trên máy tính.
Muốn đơi mắt của con mình ln trong sáng thì các bậc làm cha mẹ hãy vì
đơi mắt trong sáng của các con mà chú ý đến góc học tập của các cháu đã đủ
ánh sáng chưa?
Điều kiện để chiếu sáng phòng học:
- Phòng học cần đảm bảo độ chiếu sáng đồng đều khơng dưới 100 lux. Riêng
phịng học có học sinh khiếm thị thì độ chiếu sáng khơng dưới 300 lux.
Chỉ số chiếu sáng phòng học: 1/4 - 1/5 = 0,25 - 0,2
- Trong phòng được trang bị đầy đủ các dụng cụ y tế, thuốc men do y tế địa
phương hướng dẫn.
- Nếu trường có học sinh nội trú, bán trú thì phải có phịng cách ly và nhân
viên y tế trực 24/24 giờ.
Bàn ghế đã đúng chưa?
Các chỉ số (cm)
Chiều cao bàn
Chiều cao ghế
Hiệu số chiều cao giữa bàn và ghế
I
46
27
19
II
50
30
20
Cỡ bàn và ghế
III
IV
55
61
33
38
22
23
V
69
44
25
VI
74
46
28
- Loại I dành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,00m đến 1,09m.
- Loại II dành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,10m đến 1,19m.
- Loại III dành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,20m đến 1,29m.
- Loại IV dành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,30m đến 1,39m.
- Loại V dành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,40m đến 1,54m.
- Loại VI dành cho học sinh có chiều cao cơ thể từ 1,55m trở lên
Bàn học thích hợp nhất là loại bàn cho 2 người ngồi, mỗi chỗ ngồi rộng
không dưới 0,5m. Ghế học phải rời với bàn học và có thành dựa.
- Cách kê bàn ghế trong phòng học: bàn đầu đặt cách bảng từ 1,7 đến 2m. Bàn
cuối cùng đặt cách bảng không quá 8m.
* Điều kiện bàn học:
- Bảng cần được chống lóa.
- Kích thước: Chiều dài từ 1,8m đến 2m.
Chiều rộng từ 1,2m đến 1,5m.
- Màu sắc bảng: Màu xanh lá cây hoặc màu đen (nếu viết bằng phấn)
Màu trắng (nếu viết bằng bút dạ đen)
- Cách treo bảng: Treo bảng ở giữa tường, mép dưới bảng cách nền phòng học
từ 0,8m đến 1m.
- Chữ viết trên bảng có chiều cao khơng nhỏ hơn 4cm.
C
Các cháu ngồi học như thế nào? Thời gian các cháu xem ti vi bao
lâu? Có sử dụng các phương tiện điện tử trong ngày học không?
Đừng bắt các cháu ngay từ lớp 1 đã phải đi học thêm để rồi tiếp tục tình trạng
trên cho những năm sau thì chẳng những con mình phải mang theo đơi kính
cận nặng trịch mà cịn có thể bị rối loạn tâm thần, một khi các cháu đã quá
căng thẳng trong quá trình học
tập.
ận thị thường xuất hiện và tiến
triển nhanh ở lứa tuổi thanh thiếu
niên, tuổi đến trường ở Việt Nam.
Trong những năm của thiên niên
kỉ thứ 3 này, cận thị học đường
đang có chiều hướng ngày càng
tăng lên ở lứa ngày càng tăng lên
ở lứa tuổi đi học.
Tỉ lệ học sinh bị cận thị tăng lên
theo các cấp học. Học sinh các
trường chuyên bị cận thị cao hơn
học sinh các trường không
chuyên. Học sinh mới bước vào
lớp 1 đã bị cận. Thậm chí, các cháu ở lứa tuổi mầm non đã xuất hiện các dấu
hiệu của căn bệnh này. Những năm trước, tỉ lệ học sinh bị cận ở các thành
phố, thị xã cao hơn học sinh nông thôn rất rõ. Nhưng nay, sự chênh lệch này
đã không quá lớn. Sau đây là một số nguyên nhân cơ bản có thể gây nên bệnh
cận thị:
• Do mơi trường học tập của học sinh chưa tốt và thể hiện ở các điểm sau:
Chiếu ánh sáng nơi học tập của các em chưa đủ sáng, bàn ghế học tập
không phù hợp với tầm vóc của học sinh...
• Do tư thế khi ngồi học của các em học sinh chưa tốt. Nhất là khi viết bài
hay làm bài tập, các em cúi sát mặt bàn mà không được nhắc nhở hoặc đã
nhắc nhưng chưa có sửa đổi.
• Do các em q "say mê" đọc những cuốn sách truyện có tranh, chữ quá nhỏ
hay vừa đi vừa đọc, vừa nằm vừa đọc là cho mắt chóng mỏi.
• Do chương trình học tập chính khóa q tải so với lứa tuổi của các em như:
thời gian học tại lớp trong 1 ngày, 1 tuần quá dài. Ngồi ra, các em cịn
phải học thêm từ 1 - 3 buổi trong 1 tuần. Do đó, mắt càng căng thẳng thêm.
Hiện nay, học sinh từ nhỏ tuổi đến khi lớn tuổi đang có xu hướng sử dụng
các loại thiết bị điện tử, thiết bị vi tính ngày càng nhiều và càng tăng cho nên
đơi mắt vốn đã mỏi mệt trong q trình học tập nay lại tiếp tục mệt mỏi thêm.
dủy trì chặt chẽ mối quan hệ
Nói tóm lại, đơi mắt của học sinh ngày nay phải sử dụng quá nhiều trong
học tập mà rất ít được nghỉ ngơi, trong lúc nhà trường và bố mẹ lại rất ít quan
tâm hoặc quan tâm khơng đúng cách. Từ đó đơi mắt trong sáng của các em
đang từ tinh nhanh chuyển đần sang mệt mỏi dẫn tới tình trạng "Cận thị giả"
rịi chuyển tới cận thật. Đến lúc đó, e rằng đã muộn và đơi mắt của con cháu
mình phải bắt đầu mang theo "đơi mục kính".
Hiện nay chưa thể chữa khỏi cận thị ở trẻ em. Vì thế nên một trong những
cách hữu hiệu nhất đề ngăn ngừa cận thị hoặc làm giảm sự tiến triển của cận
thị là trở nên có thói quen chăm sóc mắt tốt.
Trước hết, nhà trường cần phải có cán bộ y tế trường hcoj để sớm phát
hiện những học sinh có dấu hiệu suy giảm thị lực qua sự hướng dẫn, các em có
thể tự kiểm tra thị lực của bản thân trên bảng thị lực treo tại phịng học và sớm
có biện pháp đề phịng.
Thực hiện việc chiếu
sáng (chiếu sáng tự
nhiên và chiếu sáng
nhân tạo) đầy đủ tại
các phòng học, đặc biệt
là bảng treo tường phải
đầy đủ ánh sáng. Trang
bị, cải tạo hoặc sắp xếp
lại bàn học và ghế ngồi
tại các phịng học sao
cho kích thước cảu bàn
và ghế phù hợp với
tầm vóc của học sinh
các cấp học.
Nhà trường cần sắp xếp
chương trình học tập cho
từng cấp học sao cho phù
hợp với từng lứa tuổi. Sắp
xếp thời khóa biểu trong
ngày, trong tuần hợp lí và
xen kẽ giữa những môn học cần phải sử dụng mắt trong thời gian dài, ngắn
trong một buổi học và tuần học. Tuyệt đối không tổ chức học thêm hay luyện
thi khi các em đang cịn phải tập trung học những mơn chính khóa.
Ngồi các bệnh phổ biến ở lứa tuổi thanh thiếu niên như các bệnh nhiễm ký
sinh trùng, bệnh ngoài da, bệnh tiêu hóa, bệnh của hệ xương khớp... Học sinh
thường mắc phải một số bệnh tật liên quan đến q trình học tập của các em,
trong đó có cận thị học đường.
Cận thị là tật khúc xạ của mắt làm cho mắt chỉ thấy rõ vật ở gần trước
mắt, không thấy rõ vật ở xa do độ hội tụ của mắt tăng quá mức bình thường.
Cận thị sẽ gây các tác hại đến kết quả học tập của học sinh, ảnh hưởng đến
sự phát triển của các em trong tương lai.
- Nguyên nhân của cận thị thông thường là do sự sai lạc phát triển
xảy ra ở phôi thai và thời kỳ phát triển tích cực.
- Những rối loạn dẫn đến những bất thường của các thành phần cấu tạo khúc
xạ nhãn cầu như: độ cong giác mạc, độ sâu tiền phịng...
- Di truyền đóng một vai trị cao và khá rõ nét trong cận thị bẩm sinh và cận
thị nặng.
Triệu chứng:
Triệu chứng thơng thường nhất là nhìn xa khơng rõ như nhìn khơng rõ
chữ trên bảng. Hiện nay chưa thể chữa khỏi cận thị ở trẻ em. Vì thế một
trong những cách hữu hiệu nhất để ngăn ngừa cận thị hoặc để làm giảm sự tiến
triển cận thị là trẻ nên có thói quen chăm sóc mắt tốt.
n có khuynh hướng chúi
đầu về phía trước.
Học sinh bị cận hay nheo mắt
để cố gắng nhìn rõ vật ở xa,
hay đau đầu nhức mắt sau
mỗi giờ học.
Khi đọc sách, viết phải nhìn
gần: xem ti vi phải ngồi sát
màn hình mới nhìn rõ hình
ảnh.
Phịng bệnh:
- Chỗ ngồi học phải đủ ánh
sáng, ánh sáng được chiếu từ
trái qua phải, không được
chiếu thẳng vào mắt.
- Tư thế ngồi học, khi viết
phải giữ khoảng cách từ mắt tới vở là 30-35cm.
- Bàn ghế phải đúng quy cách, có kích thước phù hợp: đối với học sinh tiểu
học thì hiệu số chiều cao của bàn trừ đi chiều cao của ghế là 20cm.
- Học sinh tiểu học cần thực hiện nguyên tắc 3 thẳng: đầu thẳng, lưng thẳng,
chữ thẳng ( không nên viết chữ nghiêng ).
- Khơng chơi trị chơi điện tử, vi tính, đọc truyện nhiều giờ liền.
L
- Hàng ngày nên có thời gian ở ngồi trời (đi dạo, chơi thể thao, lao động
nhẹ...).
- Về dinh dưỡng: ăn uống phải đủ chất, nên sử dụng các thức ăn có chưa nhiều
Vitamin A, Vitamin B2 có lợi cho thị giác như: cà chua, cà rốt, gấc.... các loại
quả có màu vàng đỏ, các loại rau có màu xanh sẫm, gan động vật...
- Cần đưa trẻ đi khám bác sĩ để chọn kính phù hợp. Khi đã bị cận thị, việc đeo
kính hoặc dừng thuốc đều khơng thể ngăn cản bệnh tiến triển. Tật này chỉ
ngừng hẳn khi tới 25-30 tuổi. Một học sinh bị cận thị lúc mới được phát hiện
phải đeo kính 0,5 đi-ốp, thì đến 30 tuổi có thể phải đeo kính 2,5-5 điốp hoặc
hơn. Vì vậy, việc phịng bệnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Q trình học
tập và giải trí thiếu khoa học ở tuổi học sinh có thể ảnh hưởng xấu đến khả
năng điều tiết của đôi mắt, dẫn tới cận thị học đường. Tật cận thị có 2 biểu
hiện chính: độ hội tụ của mắt tăng và trục trước sau của mắt dài quá giới hạn
bình thường. Hậu quả là thị lực giảm, mắt khơng nhìn rõ vật ở xa, chỉ thấy vật
ở gần. Bệnh cận thị hồn tồn có thể phịng được nếu có sự phối hợp tích cực
giữa học sinh, gia đình và nhà trường. Sau đây là một số chỉ dẫn cần được
tuân thủ trong sinh hoạt và học tập:
1.Giữ đúng tư thế ngồi khi học: ngồi thẳng lưng, hai chân khép, hai bàn chân
để ngay ngắn sát nền nhà, đầu cúi 10-15 độ. Khoảng cách từ mắt đến sách vở
trên bàn học là 25cm đối với học sinh tiểu học, 30cm với học sinh trung học
cơ sở, 35cm với học sinh trung học phổ thông và người lớn. Thầy cô giáo và
cha mẹ học sinh phải thường xuyên nhắc nhở, không để các em cúi gằm mặt,
nghiêng đầu, áp mà lên bàn học khi đọc hoặc viết.
2. Lớp học, góc học phải đủ những điều kiện cần thiết: kích thước phịng học,
cách sắp xếp bàn ghế, bảng viết phải phù hợp với lứa tuổi để học sinh có thể
ngồi đúng tư thế và giữ đúng khoảng cách từ mắt đến sách vở. Đảm bảo đủ
ánh sáng: nơi tối tốt nhất không dưới 30 lux, nơi sáng nhất không quá 700 lux.
Chữ viết trên bảng và trong sách vở phải rõ nét, chiều cao ít nhất của chữ viết
là 1/200 khoảng cách từ mắt đến chữ.
Ví dụ: Khoảng cách từ bảng tới học sinh là 8m thì chiều cao tối thiểu của cỡ
chữ viết trên bảng phải là 4cm. Chữ trong vở phải có chiều cao ít nhất 1,75mm
cho khoảng cách từ mắt đến vở là 35cm.
Khi đọc sách buổi tối, cần đèn đủ sáng và có chụp phản chiếu. Khơng dùng
đèn ống neon, nên dùng bóng đèn bàn có ánh sáng vàng dịu để chống lóa mắt.
Khơng viết mực đỏ, mực xanh lá cây. Không đọc sách có chữ quá nhỏ in tên
giấy vàng hoặc giấy đen, vì tỉ lệ tương phản giữa chữ và nền quá nhỏ, khiến
mắt bị mệt.
Duy trì mỗi tiết học 45 phút, sau đó nghỉ giải lao, đưa mắt nhìn xa, hết co thắt
thị giác rồi với bước vào giờ học tiếp theo.
3. Bỏ những thói quen có hại cho mắt như: không nằm, quỳ để đọc sách hoặc
viết bàn, không đọc sách báo, tài liệu khi đang đi trên các phương tiện giao
thông, khi xem ti vi, video phải ngồi cách xa màn hình tối thiểu 2,5m, nơi ánh
sáng phịng phù hợp.
Thời gian xem cần ngắt quãng, không quá 45-60 phút mỗi lần xem.
Khơng tự ý dùng kính đeo mắt khơng đũng tiêu chuẩn.
Khi đeo kính cần tuân thủ hướng dẫn của nhà chun mơn.
Khi trẻ có các biểu hiện cận thị, cần đi khám mắt càng sớm càng tốt. Khám
mắt ở địa chị uy tín, đo thị lực và đeo kính hợp lí. Hướng dẫn các em học tập
và giải trí đúng cách: ngồi học đúng tư thế, nơi có đủ ánh sáng, giữ đúng
khoảng cách khi xem ti vi, chơi vi tính...
- Chăm sóc mắt hàng ngày bằng cách sử dụng thuốc nhỏ mắt nhằm bổ sung
các Vitamin, Acid amin cho mắt để phòng bệnh cận thị học đường.
Bạn cũng nên tăng cường các hoạt động thể thao ngoài trời giúp mắt khỏe
mạnh và có sự linh hoạt. Đặc biệt, đi khám mắt định kì sẽ giúp chúng ta chỉnh
tật khúc xạ và được bác sĩ tư vấn cụ thể khi gặp những vấn đề về mắt.
Xã hộ càng phát triển, trẻ em sớm được tiếp cận với những phương tiện máy
móc tiện ích phục vụ việc học tập và nhu cầu giải trí thì số lượng người cận thị
ngày càng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt gần đây tỉ lệ trẻ em bị cận thị tăng
cao, có những em còn rất nhỏ. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng trên
800 triệu người bị cận thị.
Cận thị làm giảm sức nhìn cho con người, gây cản trở, khó khăn trong cơng
việc hàng ngày. Các em học sinh 7-16 tuổi rất dễ mắc chứng cận thị, mà độ
cận thị tiến triển nhanh do mức làm việc nhìn gần bằng mắt nhiều đây là 1 số
điều nguy hiểm vì cận thị xuất hiện càng sớm thì mức độ tăng số kính càng
nhanh.
"VÌ ĐƠI MẮT CỦA BẠN!"
Nhóm trưởng
(kí tên)
Thành viên
(kí tên)