NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
Quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường:
Thực trạng và Giải pháp (nghiên cứu tại huyện
Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông).
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1:
6
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƢỜNG VÀ
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI
TRƢỜNG
1.1. Một số vấn đề chung về tài nguyên, môi trƣờng và quản lý nhà
6
nƣớc về tài nguyên và môi trƣờng
1.1.1. Một số vấn đề chung về tài nguyên
6
1.1.2. Một số vấn đề chung về môi trường
9
1.1.3. Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước về tài nguyên và môi
14
trường
1.1.4. Cơ sở của quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
18
1.2. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và một số địa
21
phƣơng trong nƣớc trong hoạt động quản lý tài nguyên và môi trƣờng
1.2.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong hoạt động quản
22
lý tài nguyên và môi trường
1.2.2. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước trong hoạt động
28
quản lý tài nguyên và môi trường
CHƢƠNG 2:
34
THỰC TRẠNG TÀI NGUYÊN MÔI TRƢỜNG VÀ HOẠT ĐỘNG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TÀI NGUYÊN MÔI TRƢỜNG TẠI
HUYỆN ĐĂK MIL, TỈNH ĐĂK NÔNG
2.1. Tổng quan về huyện Đăk Mil
34
2.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
34
2.1.2. Tình hình kinh tế xã hội
35
2.2. Thực trạng tài nguyên môi trƣờng huyện Đăk Mil
41
2.2.1. Tài nguyên rừng - nguồn nhân tố cơ bản nhất quyết định chất lượng
41
môi trường đang bị suy giảm
2.2.2. Tài nguyên sinh học
44
2.2.3. Tài nguyên đất
45
2.2.4. Tài nguyên nước
48
2.2.5. Tài nguyên khoáng sản
48
2.2.6. Thực trạng môi trường địa bàn huyện Đăk Mil
49
2.3. Hoạt động quản lý nhà nƣớc về tài nguyên và môi trƣờng trên địa
53
bàn huyện Đăk Mil
2.3.1. Tổ chức bộ máy
54
2.3.2. Cơ chế quản lý
57
2.3.3. Hoạt động quản lý trên từng lĩnh vực
59
2.4. Những kết quả đạt đƣợc và hạn chế còn tồn tại trong hoạt động
74
quản lý nhà nƣớc về tài nguyên môi trƣờng trên địa bàn huyện Đăk
Mil
CHƢƠNG 3:
79
MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ MÔI TRƢỜNG TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN ĐĂK MIL
3.1. Định hƣớng xây dựng và phát triển kinh tế xã hội huyện Đăk Mil
79
đến năm 2020
3.1.1. Quan điểm phát triển
79
3.1.2. Mục tiêu phát triển
80
3.1.3. Một số định hướng phát triển cơ bản trong công tác quản lý tài
80
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động Quản lý Nhà nƣớc
về Tài nguyên và Môi trƣờng huyện Đăk Mil
86
3.2.1. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống trong quản lý
86
tài nguyên, môi trường
3.2.2. Kiểm soát sự gia tăng dân số, nhất là tình trạng di dân di cư tự do
88
3.2.3. Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với
89
bảo vệ tài nguyên môi trường nói chung, nhất là với tài nguyên thiên nhiên
3.2.4. Phát huy hơn nữa vai trò của cộng đồng trong hoạt động bảo vệ
92
nguồn tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn suy giảm môi trường
3.2.5. Kiện toàn, củng cố bộ máy cơ quan quản lý tài nguyên và môi
98
trường huyện, tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa các cấp các ngành, các
địa phương.
3.2.6. Đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về tài nguyên môi trường
99
3.3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nƣớc
103
về tài nguyên và môi trƣờng huyện Đăk Mil
KẾT LUẬN
106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
108
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, bảo vệ tài nguyên và môi trường đã trở thành vấn đề trọng
yếu, mang tính toàn cầu. Ở nước ta, vấn đề này đã trở thành sự nghiệp
không chỉ của toàn Đảng, toàn dân mà còn là nội dung cơ bản không thể
tách rời trong đường lối chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của
đất nước.
Thời gian gần đây, Tây Nguyên nói chung và Đăk Nông nói riêng
đang nổi lên vấn đề được quan tâm – khai thác quặng Bôxit trên địa bàn
Đăk Nông. Những vấn đề này đã đặt ra những yêu cầu trong công tác quản
lý tài nguyên trên địa bàn tỉnh. Việc khai thác tài nguyên này đòi hỏi phải
được quản lý chặt chẽ bởi lẽ: bôxit là một loại tài nguyên quý giá của quốc
gia, hoạt động khai thác bôxit kéo theo những ảnh hưởng nghiêm trọng đến
các nguồn tài nguyên khác (rừng – nguồn tài nguyên lớn của toàn tỉnh sẽ bị
ảnh hưởng, một diện tích lớn đất đai bị san ủi phục vụ việc khai thác và xây
dựng cơ sở hạ tầng, tài nguyên nước bị ảnh hưởng…) và ảnh hưởng lớn đến
môi trường của vùng. Trước các vấn đề nêu trên, nâng cao hoạt động
QLNN về Tài nguyên và Môi trường trên địa bàn tỉnh Đăk Nông là yêu cầu
cần thiết trước yêu cầu của tình hình thực tế.
Đối với huyện Đăk Mil, vốn là một huyện thuộc tỉnh Đăk Nông
(thành lập từ 01/01/2004), có nguồn tài nguyên thiên nhiên khá phong phú,
nhất là nguồn tài nguyên rừng và đất đai. Những đặc điểm đó đóng vai trò
quan trọng trong việc phát triển KT-XH, đảm bảo an ninh quốc phòng cũng
như bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy vậy, vấn đề bảo vệ nguồn tài nguyên
thiên nhiên và ngăn chặn ô nhiễm môi trường của địa phương hiện vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển. Tài nguyên đang bị suy thoái so
việc khai thác và sử dụng thiếu hợp lý, rừng tự nhiên tiếp tục bị tàn phá, đất
đai bị xói mòn và thoái hóa, đa dạng sinh học bị suy giảm, nguồn nước mặt
và nước ngầm đang bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hóa học, chất thải chưa
được thu gom và xử lý triệt để, công tác vệ sinh môi trường còn nhiều yếu
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
1
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
kém... Việc gia tăng dân số, nhất là việc di dân tự do là những sức ép lớn
đối với tài nguyên môi trường. Việc thi hành pháp luật về bảo vệ nguồn tài
nguyên môi trường còn gặp nhiều khó khăn, ý thức tự giác bảo vệ môi
trường chưa trở thành thói quen trong cộng đồng dân cư... đang trở thành
những vấn đề lớn đòi hỏi phải được giải quyết.
Thực tế cũng đã có những đề tài nghiên cứu, những báo cáo, bài viết
bàn về vấn đề tài nguyên môi trường trên địa bàn Đăk Nông nói riêng và
Tây Nguyên nói chung. Một số nghiên cứu có thể kể đến đó là:
- “Xây dựng bản đồ nguy cơ, phân vùng lũ quét, lũ ống, ngập lụt,
hạn hán và đề xuất các giải pháp phòng tránh” và “Nghiên cứu một số giải
pháp khoa học và công nghệ nhằm phát triển nông nghiệp bền vững trên đất
dốc tỉnh Đắk Nông” của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Nông;
- “Nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất hướng giải quyết đất
sản xuất cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ vùng Tây Nguyên” của
Viện Nghiên cứu Địa chính;
- Nghiên cứu “Quản lý sử dụng nước ngầm ở Tây Nguyên, Việt
Nam” của TS. Nguyễn Tấn Vui cùng với sự tham gia của ThS. Trần Ngọc
Kham, ThS. Y Trou Aleo, KS. Lê Thụy Vân Nhi, CN. Phan Thị Lân…
Tuy nhiên, những nghiên cứu, bài viết đó cũng chỉ mới dừng lại trên
cơ sở báo cáo thống kê hoặc giải quyết một số nội dung nhất định. “Nghiên
cứu đánh giá thực trạng và đề xuất hướng giải quyết đất sản xuất cho đồng
bào các dân tộc thiểu số tại chỗ vùng Tây Nguyên” là một trong những cơ
sở cho việc giải quyết đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ
vùng Tây Nguyên, “Quản lý sử dụng nước ngầm ở Tây Nguyên, Việt Nam”
báo cáo khoa học về hiệu quả sử dụng nước cho cây trồng và đề xuất chính
sách quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước ngầm cho cây trồng…
Bên cạnh đó, dự án điều chỉnh bổ sung phát triển KT-XH huyện đến năm
2020 đã dần đi vào thực hiện kéo theo những yêu cầu thiết thực đối với
công tác quản lý nguồn tài nguyên môi trường một cách hợp lý để phát triển
một cách bền vững. Trước những vấn đề này, tôi quyết định chọn đề tài
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
“Quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Thực trạng và Giải
pháp (nghiên cứu tại huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông)” làm khóa luận tốt
nghiệp. Thông qua các vấn đề được trình bày trong khóa luận, người viết
đưa ra cái nhìn tổng thể về tài nguyên thiên nhiên, môi trường trên địa bàn
huyện Đăk Mil, hiện trạng, những thành tựu và hạn chế của hoạt động
QLNN về tài nguyên môi trường ở địa phương; từ đó người viết đề ra một
số giải pháp nhằm giải quyết những khó khăn trong công tác quản lý tài
nguyên môi trường huyện trong thời điểm hiện tại và giai đoạn đến năm
2020.
2. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài tập trung tìm hiểu các nội dung chính sau:
- Thực trạng tài nguyên môi trường trên địa bàn huyện Đăk Mil, hoạt
động quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
- Các giải pháp thiết thực nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý
nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường huyện xuất phát từ
những thực trạng đã nghiên cứu.
Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích nêu trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm
vụ chủ yếu:
- Nghiên cứu thực trạng tài nguyên môi trường và hoạt động quản lý
tài nguyên thiên nhiên và môi trường trên địa bàn huyện Đăk Mil.
- Từ thực trạng tài nguyên môi trường và hoạt động quản lý tài
nguyên môi trường, đề tài đi sâu tìm hiểu những kết quả đã đạt được và
những hạn chế đang còn tồn tại trong công tác quản lý tài nguyên môi
trường trên địa bàn huyện Đăk Mil.
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
3
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
- Đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động
quản lý tài nguyên môi trường huyện Đăk Mil.
- Những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý
nhà nước về tài nguyên môi trường huyện Đăk Mil.
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu về thực trạng tài nguyên môi trường trên địa bàn huyện
Đăk Mil, tỉnh Đăk Nông và công tác quản lý nhà nước về tài nguyên môi
trường trên địa bàn huyện.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài này sử dụng các phương pháp nhận thức khoa học cụ thể như:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, tổng hợp;
- Phương pháp so sánh;
- Phương pháp phân tích, đánh giá…
4. Kết cấu của luận văn:
Khóa luận tốt nghiệp có kết cấu gồm 3 phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: gồm 3 chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về tài nguyên, môi trường và
hoạt động quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường
Chương 2: Thực trạng tài nguyên môi trường và hoạt động quản
lý nhà nước về tài nguyên và môi trường tại huyện Đăk Mil, tỉnh Đăk
Nông
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
4
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt
động quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường huyện Đăk Mil
- Phần kết luận
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
5
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG VÀ
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
1.1. Một số vấn đề chung về tài nguyên, môi trường và quản lý
nhà nước về tài nguyên và môi trường:
1.1.1. Một số vấn đề chung về tài nguyên:
Khái niệm về tài nguyên (resource): Hiện nay, còn nhiều cách hiểu
khác nhau về khái niệm tài nguyên. Theo nghĩa hẹp, “tài nguyên là các
nguồn vật chất tự nhiên mà con người dùng nó làm nguyên, nhiên liệu cho
các hoạt động chế tác của mình để có được vật dụng”. Theo nghĩa rộng, “tài
nguyên là toàn bộ các yếu tố tự nhiên có giá trị, là nguồn vật chất để con
người có thể sử dụng phục vụ cuộc sống và phát triển của mình”.
Ngoài cách hiểu trên, tài nguyên còn có thể được hiểu là tất cả các
dạng vật chất, văn hoá và tri thức được sử dụng để tạo ra của cải vật chất,
hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới cho con người. Tài nguyên bao gồm các
nguồn vật liệu (đất, nước, rừng, khoáng sản), năng lượng (năng lượng dầu
mỏ, gió, mặt trời...), thông tin có trên Trái đất và trong vũ trụ mà con người
có thể sử dụng phục vụ sự sống và phát triển của mình.
Hiện nay việc phân loại tài nguyên được dựa theo nhiều phương thức
khác nhau như theo trữ lượng, chất lượng, công dụng, khả năng tái tạo và
nguồn gốc phát sinh. Tùy từng trường hợp nghiên cứu cụ thể mà có thể sử
dụng một hoặc tổ hợp nhiều phương pháp phân loại tài nguyên. Sự phân
loại có tính chất tương đối vì tính đa dạng và đa dụng của tài nguyên và tùy
theo mục tiêu sử dụng khác nhau. Các cách phân loại phổ biến:
- Theo quan hệ với con người: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên
xã hội.
- Theo phương thức và khả năng tái tạo: tài nguyên tái tạo và tài
nguyên không tái tạo.
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
6
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
- Theo bản chất tự nhiên: tài nguyên đất, nước, rừng, biển, khoáng
sản, khí hậu, năng lượng, di sản văn hoá kiến trúc, tri thức khoa học và
thông tin.
Vai trò của tài nguyên thiên nhiên:
Vai trò của tài nguyên thiên nhiên trong phát triển kinh tế xã
hội:
- Tài nguyên thiên nhiên là một nguồn lực cơ bản để phát triển kinh
tế:
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế được biểu thị bằng hàm sản xuất
Cobb-Douglass cho rằng: “Tổng mức cung của nền kinh tế được xác định
bởi các yếu tố đầu vào của sản xuất là nguồn lao động, vốn sản xuất, tài
nguyên thiên nhiên và khoa học công nghệ”.
Y = f(L, K, R, T)
Trong đó:
- Y: Tổng mức cung của nền kinh tế (GDP),
- L: Lao động,
- K: Vốn sản xuất,
- R: Tài nguyên thiên nhiên,
- T: Khoa học công nghệ.
Theo công thức Cobb-Douglass thì tài nguyên thiên nhiên là một
trong bốn nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế, với vai trò là một yếu tố
cấu thành lực lượng sản xuất.
- Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển:
Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển nông nghiệp và công
nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. Điều này
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
7
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
thực sự quan trọng với các nước đang phát triển ở thời kỳ đầu công nghiệp
hóa như Việt Nam. Tuy vậy, cần hạn chế tình trạng khai thác quá mức tài
nguyên thiên nhiên để xuất khẩu nguyên liệu thô.
- Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố quan trọng cho tích lũy để phát
triển:
Ở các nước kém phát triển, khai thác tài nguyên thiên nhiên để xuất
khẩu lấy vốn tích luỹ ban đầu phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá xây dựng
cơ sở hạ tầng và góp phần cải thiện điều kiện sống.
Sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể cung cấp ổn định
nguồn nguyên vật liệu cho nhiều ngành công nghiệp chế biến và sản xuất
trong nước, góp phần giảm nhẹ ảnh hưởng của khủng hoảng năng lượng và
nguyên liệu bên ngoài.
Vai trò của tài nguyên thiên nhiên trong nền kinh tế toàn cầu và
kinh tế tri thức:
Kinh tế toàn cầu và kinh tế trí thức là xu thế phát triển tất yếu, nhưng
trong quá trình phát triển đó, các nước kém phát triển có nhiều bất lợi và
thách thức.
Các nước phát triển đang lợi dụng ưu thế kinh tế và công nghệ để
hưởng địa tô tài nguyên bằng cách mua rẻ và tăng thuế nhập khẩu nguyên
liệu và bán đắt hoặc đánh thuế tiêu thụ cao đối với các sản phẩm được sản
xuất từ tài nguyên thiên nhiên. Đây chính là lý do của những cuộc đấu tranh
ở nhiều diễn đàn kinh tế khu vực và thế giới, những cuộc biểu tình ở
Seattle, Mellbourn, Praha... để phản đối chiêu bài toàn cầu hoá chỉ vì lợi ích
của các nước phát triển và đòi xoá nợ cho các nước nghèo, nơi đã cung cấp
phần lớn nguồn tài nguyên cho các nước phát triển.
Gần đây, các Hiệp hội quốc tế khai thác, sản xuất các sản phẩm tài
nguyên thiên nhiên như dầu - khí, kim loại, nông - lâm - thuỷ sản... đã và
đang sử dụng quy luật cung cầu, giá cả... của cơ chế thị trường để đấu tranh
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
8
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
đòi lại sự công bằng mà thực chất là yêu cầu phân chia hợp lý địa tô trong
chế biến, kinh doanh, tiêu thụ và sử dụng tài nguyên mà các nước phát triển
đang độc quyền sử dụng.
Như vậy, đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cần
phải khôn khéo lựa chọn con đường phát triển và hội nhập hợp lý để có thể
“tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức của xu thế toàn cầu hoá, hướng tới
nền kinh tế tri thức ngay trong chiến lược và chương trình phát triển hợp lý
tài nguyên thiên nhiên”.
1.1.2. Một số vấn đề chung về môi trường:
Khái niệm về Môi trường (Environment): “Môi trường bao gồm
các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng
đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh
vật”(Mục 1, điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước
cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày
29 tháng 11 năm 2005).
Khái niệm môi trường chung này tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà
được phân chia một cách chi tiết hơn. Theo cách phân chia tương đối theo
nguồn gốc thì môi trường được quan niệm thành 3 dạng là môi trường tự
nhiên, xã hội và nhân tạo:
- Môi trường tự nhiên: bao gồm các nhân tố vật lý, hoá học, còn
được gọi là môi trường vật lý, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con
người.
+ Môi trường vật lý (Physical environment): để chỉ các yếu tố nhiệt
độ, bức xạ, áp suất khí quyển, màu, mùi, vị...
+ Môi trường hoá học (Chemical environment) : chỉ những nguyên tố
và các hợp chất hoá học. Đây là dạng môi trường “vô sinh” (abiotic).
+ Môi trường sinh học (Biological environment): gồm động vật, thực
vật, vi sinh vật. Đây là dạng “biotic”.
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
9
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
Khái niệm “môi trường sinh thái” được sử dụng nhiều vì suy cho
cùng mọi vấn đề môi trường đều do nguyên nhân suy giảm sinh thái.
- Môi trường xã hội: phản ánh mối quan hệ giữa con người và con
người tạo nên sự thuận lợi hay cản trở cho sự phát triển xã hội.
- Môi trường nhân tạo: môi trường của tất cả các yếu tố vât lý - hoá
học - sinh học và xã hội, chịu sự chi phối của con người và sự biến đổi do
hoạt động của con người. Ví dụ: những toà nhà - những khối bê tông khổng
lồ đặc biệt ở các “trade center” ở các nước phát triển.
Ngoài cách phân loại dựa trên nguồn gốc ở trên, môi trường còn có
thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
- Theo nghĩa rộng: môi trường bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên, xã
hội có ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của con người và các nguồn tài
nguyên phục vụ cho đời sống con người. Theo nghĩa này khái niệm môi
trường bao gồm cả nghĩa tài nguyên.
- Theo nghĩa hẹp: môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và xã hội,
ảnh hưởng tới chất lượng sống của con người mà không xem xét đến vấn đề
tài nguyên. Theo nghĩa này thì môi trường chỉ “chất liệu môi trường”.
Tuy nhiên, sự phân chia các khái niệm này chỉ là tương đối, phục vụ
cho các mục tiêu nghiên cứu chuyên ngành. Các hợp phần và yếu tố của
môi trường luôn có mối liên hệ và quy ước với nhau.
Các chức năng cơ bản của môi trường:
1. Môi trường tạo ra không gian sinh sống:
- Mỗi một con người đều có yêu cầu về lượng không gian cần thiết
cho hoạt động sống như: diện tích đất ở, hàm lượng không khí... Trung bình
một ngày, một người cần khoảng 4m3 không khí sạch, 2,5l nước uống, một
lượng lương thực, thực phẩm đáp ứng hàm lượng calo từ 2.000 – 2.500
calo... Cộng đồng loài người tồn tại trên Trái đất không chỉ đòi hỏi ở môi
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
10
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
trường về phạm vi không gian sống mà cả về chất lượng của không gian
sống đó. Chất lượng không gian sống phải đảm bảo được các yêu cầu bền
vững về sinh thái - kinh tế - môi trường, thể hiện ở môi trường sạch sẽ, tinh
khiết, giàu O2, không chứa các chất cặn bẩn, độc hại đối với sức khoẻ của
con người.
- Môi trường chính là khoảng không gian sinh sống của con người.
Hệ số sử dụng đất của con người ngày một giảm: nếu trước đây, trung bình
diện tích đất ở của một người vào năm 1650 là khoảng 27,5 ha/người thì
đến nay chỉ còn khoảng 1,5-1,8 ha/người. Diện tích không gian sống bình
quân trên trái đất ngày càng bị thu giảm, mức độ giảm ngày càng tăng
nhanh. Điều này thể hiện rõ thông qua biểu đồ dưới đây:
Năm
Dân số
(triệu người)
Diện tích đất ở
(ha/người)
1650
1840
1930
1994
2010
(dự báo)
545
1.000
2.000
5.000
7.000
27,5
15,0
7,5
3,0
1,8
(Nguồn: Cơ sở Khoa học Môi trường)
2. Môi trường là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc
sống và các hoạt động sản xuất của con người
Môi trường không những chỉ cung cấp “đầu vào” mà còn chứa đựng
“đầu ra” cho các quá trình sản xuất và đời sống. Hoạt động sản xuất là một
quá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy
móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để
tạo ra sản phẩm hàng hóa. Có những nguồn tài nguyên có thể sử dụng trực
tiếp (thuỷ, hải sản...), có dạng phải tác động thì mới sản xuất được của cải
vật chất phục vụ đời sống con người (đất đai...). Các hoạt động sống cũng
vậy, con người ta cũng cần có không khí để thở, cần có nhà để ở, cần có
phương tiện để đi lại, cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập nâng cao hiểu
biết... Những dạng vật chất trên chính là các yếu tố môi trường.
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
11
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
Như vậy chính các yếu tố môi trường (yếu tố vật chất kể trên - kể cả
sức lao động) là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của
con người. Hay nói cách khác: môi trường là “đầu vào” của sản xuất và đời
sống. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng môi trường tự nhiên cũng có thể là nơi
gây ra nhiều thảm họa cho con người (thiên tai), và các thảm họa này sẽ
tăng lên nếu con người gia tăng các hoạt động mang tính tàn phá môi
trường, gây mất cân bằng tự nhiên.
3. Môi trường là nơi chứa đựng và hoá giải các chất thải do con
người tạo ra trong quá trình sinh hoạt và sản xuất
Bên cạnh vai trò “đầu vào”, môi trường tự nhiên cũng lại là nơi chứa
đựng, đồng hóa “đầu ra” các chất thải của các quá trình hoạt động sản xuất
và đời sống. Quá trình sản xuất thải ra môi trường rất nhiều chất thải (cả khí
thải, nước thải, chất thải rắn). Trong các chất thải này có thể có rất nhiều
loại độc hại làm ô nhiễm, suy thoái, hoặc gây ra các sự cố về môi trường.
Quá trình sinh hoạt, tiêu dùng của xã hội loài người cũng thải ra môi trường
rất nhiều chất thải. Những chất thải này nếu không được xử lý tốt cũng sẽ
gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Vấn đề ở đây là phải làm thế nào để
hạn chế được nhiều nhất các chất thải, đặc biệt là chất thải gây ô nhiễm, tác
động tiêu cực đối với môi trường.
Hiện nay vấn đề chất thải đô thị và công nghiệp là cực kỳ quan trọng.
Có quan điểm cho rằng “chất thải là một dạng tài nguyên” do đã có công
nghệ chế biến chất thải thành phân bón. Đó là một dạng “công nghệ thân
thiện với môi trường”. Tuy nhiên mặc dù điều kiện phát triển đến đâu thì
các nhu cầu tự nhiên của con người như ăn, uống, thở cũng đều yêu cầu môi
trường trong sạch.
4. Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên
đến con người và các vi sinh vật trên trái đất, ví dụ như:
- Tầng khí quyển: Khí quyển giữ cho nhiệt độ Trái đất tránh được các
bức xạ quá cao, chênh lệch nhiệt độ lớn, ổn định nhiệt độ trong khả năng
chịu đựng của con người…
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
- Thủy quyển thực hiện chu trình tuần hoàn nước, giữ cân bằng nhiệt
độ, các chất khí, giảm nhẹ tác động có hại của thiên nhiên đến con người và
các sinh vật…
- Thạch quyển liên tục cung cấp năng lượng, vật chất cho các quyển
khác của Trái đất, giảm tác động tiêu cực của thiên tai tới con người và sinh
vật…
5. Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin
Môi trường cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử
tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện và phát triển văn hoá của
loài người. Bên cạnh đó, môi trường sống cung cấp các chỉ thị không gian
và tạm thời mang tính chất báo động sớm các nguy hiểm đối với con người
và sinh vật sống trên trái đất như các phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước
khi xảy ra các tai biến thiên nhiên và hiện tượng thiên nhiên đặc biệt như
bão, động đất, v.v.
Môi trường còn lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các
nguồn gien, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo,
các vẻ đẹp và cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, tôn giáo và văn hoá khác.
Ô nhiễm môi trường (Environmental Pollution): Theo Luật Bảo
vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, “Ô
nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù
hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh
vật”.
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất
thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức
khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng
môi trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí
thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật
lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ. Tình trạng môi
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
13
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học... gây ảnh hưởng đến sức
khỏe con người, các cơ thể sống khác. Ô nhiễm môi trường là do con người
và cách quản lý của con người.
1.1.3. Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước về tài nguyên và
môi trường:
Quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: QLNN về tài
nguyên và môi trường là tổng hợp các giải pháp luật pháp, chính sách, kinh
tế, kỹ thuật... nhằm hạn chế tác động có hại của phát triển kinh tế xã hội đến
môi trường.
Nội dung QLNN về tài nguyên và môi trường thể hiện cụ thể trong
từng vấn đề tài nguyên cũng như môi trường: chính sách tài nguyên môi
trường, tiêu chuẩn môi trường, đánh giá môi trường chiến lược; bảo tồn và
sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, bảo vệ môi trường đô thị và khu dân cư, bảo vệ môi trường
biển… Về cơ bản, nội dung QLNN về môi trường bao gồm các nội dung
sau:
- Ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường;
- Ban hành hệ thống tiêu chuẩn và bộ chỉ thị về môi trường; thẩm
định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM);
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch quốc gia về
bảo vệ môi trường;
- Xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường; đánh giá hiện
trạng, dự báo diễn biến môi trường và quản lý thống nhất thông tin, dữ liệu
về môi trường;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách thuế, phí về bảo vệ
môi trường;
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
14
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
- Bảo đảm ngân sách đầu tư cho công tác quản lý nhà nước về bảo vệ
môi trường, các kết cấu hạ tầng quan trọng về môi trường và các dịch vụ
bảo vệ môi trường mà khu vực ngoài nhà nước không thể đầu tư;
- Tổ chức nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ và kinh
nghiệm quản lý trong bảo vệ môi trường;
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về môi trường và đào tạo nguồn
nhân lực cho hoạt động bảo vệ môi trường;
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý vi
phạm pháp luật về môi trường;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, bồi thường thiệt hại về môi
trường.
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi
trường bao gồm:
Mục tiêu chủ yếu của QLMT là phát triển bền vững, đảm bảo sự cân
bằng giữa phát triển KT-XH và bảo vệ môi trường. Phát triển KT-XH tạo
tiềm lực BVMT. Và ngược lại bảo vệ môi trường tạo các tiềm năng tự
nhiên và xã hội mới cho phát triển KT-XH. Tùy thuộc vào điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống chính trị, pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên
của từng quốc gia mà mục tiêu QLMT có thể khác nhau.
Theo Chỉ thị 36/CT-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị Ban chấp
hành Trung ương Đảng, một số mục tiêu cụ thể của công tác QLMT Việt
Nam hiện nay là:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh
trong các hoạt động sống của con người.
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
15
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
GVHD: ThS. NGUYỄN HỮU THU
- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản luật pháp bảo vệ môi trường, ban
hành các chính sách phát triển KT-XH phải gắn với bảo vệ môi trường,
nghiêm chỉnh thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
- Phát triển đất nước theo nguyên tắc phát triển bền vững được Hội
nghị Thượng đỉnh về Môi trường và phát triển bền vững tại Rio de Janneiro
(Braxin) tháng 6/1992 thông qua.
Để xây dựng xã hội phát triển bền vững, các nhà môi trường đế ra 9
nguyên tắc bảo vệ môi trường. Những nguyên tắc này bao gồm:
Tôn trọng và quan tâm đến đời sống cộng đồng
Cải thiện và năng cao chất lượng cuộc sống con người
Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của trái đất
Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm tài nguyên
không tái tạo
Giữ vững trong khả năng chịu đựng của trái đất
Thay đổi thái độ, hành vi và xây dựng đạo đức vì sự phát
triển bền vững
Tạo điều kiện để cộng đồng tự QLMT của mình
Tạo cơ cấu quốc gia thống nhất thuận lợi cho việc phát triển
bền vững
Xây dựng khối liên minh toàn thế giới về bảo vệ và phát
triển bền vững
Tuy nhiên, các nguyên tắc này thực sự khó áp dụng trong thực tế của
một thế giới vốn nhiều biến động về kinh tế, chính trị, văn hóa. Sau RIO92, đã có thêm rất nhiều cố gắng mới trong nghiên cứu các nguyên tắc phát
triển bền vững, nhằm mục tiêu bổ sung hoàn thiện, hoặc chi tiết hóa làm rõ
nghĩa hơn, hoặc giản lược hóa, làm cho nó dễ hiểu và dễ áp dụng hơn. Một
trong những cố gắng theo hướng giản lược các nguyên tắc của phát triển
bền vững đã được thực hiện bới Luc Hens, một giáo sư ngành sinh thái
nhân văn học người Bỉ. Đó là các nguyên tắc:
SVTH: NGUYỄN CẢNH ĐÔNG ĐÔ
16