Chủ biên
TS. Phạm Mạnh Hùng
Tập thể tác giả
TS. Phạm Mạnh Hùng: Chương 1, 3, 4, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14
TS. Mai Đắc Biên:
Chương 2, 5
TS. Nguyễn Tiến Sơn: Chương 6
TS. Cao Thị Oanh:
Chương 15
TS. Nguyễn Quốc Việt: Chương 16
ThS. Hoàng Hải Yến:
Chương 13
1
Chương 11
NHỮNG TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH CHẤT NGUY HIỂM
CHO XÃ HỘI CỦA HÀNH VI
1. Khái niệm những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội
của hành vi
Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
thiệt hại cho những quan hệ pháp luật được pháp luật bảo vệ. Những hành vi
nguy hiểm đáng kể cho xã hội đã được nhà làm luật cân nhắc trong quá trình
làm luật để quy định là tội phạm. Theo quy định tại Điều 8 BLHS, tội phạm là
hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định, do người có năng lực
trách nhiệm thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quan hệ xã hội
được luật hình sự bảo vệ.
Trên thực tế, có một số loại hành vi, về hình thức gây thiệt hại cho các
quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng không bị coi là tội phạm vì trong
những trường hợp đó, việc gây thiệt hại được coi là cần thiết, có ích cho xã
hội. BLHS nước ta đã quy định về hai trường hợp là trường hợp gây thiệt hại
do phòng vệ chính đáng và trường hợp gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết.
Khoa học luật hình sự gọi phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiệt là những
tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
Ngoài hai tình tiết, phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết quy định
tại Điều 15 và Điều 16 BLHS, khoa học luật hình sự cũng thừa nhận một số
trường hợp sau đây cũng thuộc những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi:
- Bắt người phạm pháp;
- Thi hành lệnh cấp trên;
- Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ
thuật và công nghệ.
Việc thừa nhận những tình tiết trên là những tình tiết loại trừ tính chất
nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nghĩa là thừa nhận các hành vi trên là hợp
pháp là có ý nghĩa quan trọng. Trước hết, việc thừa nhận này bảo đảm cho mọi
2
công dân có điều kiện để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình, bảo vệ
những lợi ích chính đáng của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích
chính đáng của người khác, phát huy quyền con người, quyền công dân trong
quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Đồng thời việc thừa nhận những tình tiết
loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng là căn cứ pháp lý
quan trọng để thu hút đông đảo mọi người tham gia tích cực vào các hoạt động
đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị
và trật tự, an toàn xã hội.
2. Phòng vệ chính đáng
2.1. Khái niệm
Khoản 1 Điều 15 BLHS quy định:
"Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình hoặc của người
khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm
các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm"
Theo quy định trên, phòng vệ chính đáng là hành vi phòng vệ, chống trả
sự xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp
của người có hành vi phòng vệ hoặc của người khác.
Mục đích của phòng vệ chính đáng là bảo vệ lợi ích hợp pháp nên mặc
dù người có hành vi phòng vệ gây nên thiệt hại cho người có hành vi xâm hại
nhưng không bị coi là tội phạm.
Phòng vệ chính đáng là quyền của công dân. Nhà nước quy định cho
công dân được thực hiện quyền phòng vệ để bảo vệ lợi ích hợp pháp khi có
hành vi xâm hại các lợi ích hợp pháp. Quyền phòng vệ chính đáng được thực
hiện cả khi người phòng vệ có khả năng bảo vệ lợi ích hợp pháp bằng các biện
pháp khác.
Phòng vệ chính đáng là quyền nhưng không phải là nghĩa vụ pháp lý
của công dân. Do vậy, khi phát sinh sự xâm hại đến các lợi ích hợp pháp, công
dân có quyền lựa chọn cách ứng xử của mình: Thực hiện quyền phòng vệ
chính đáng để chống trả lại người có hành vi xâm hại, bảo vệ các lợi ích hợp
pháp hoặc từ chối không thực hiện quyền này. Trong trường hợp họ không
thực hiện biện pháp chống trả thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm pháp
lý. Việc thực hiện hành vi chống trả người có hành vi xâm hại để bảo vệ lợi
3
ích hợp pháp chỉ là nghĩa vụ đạo đức của công dân. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp, do tính chất nghề nghiệp hoặc do trách nhiệm được giao mà một
số người phải có nghĩa vụ pháp lý thực hiện nghĩa vụ chống trả lại hành vi
xâm hại bảo vệ lợi ích hợp pháp. Ví dụ: cán bộ công an làm nhiệm vụ bảo vệ
trật tự an toàn xã hội đường phố, nhân viên bảo vệ....thì phải có nghĩa vụ pháp
lý chống trả hành vi xâm hại, bảo vệ lợi ích hợp pháp, nếu không thực hiện
nghĩa vụ này họ phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Việc quy định chế định phòng vệ chính đáng trong luật hình sự, thể hiện
chính sách hình sự của Nhà nước ta nhằm động viên, khuyến khích nhân dân
tham gia vào việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
2.2. Điều kiện của phòng vệ chính đáng
2.2.1. Điều kiện thuộc về hành vi xâm hại (hành vi tấn công)
Trước hết, để có cơ sở thực hiện quyền phòng vệ chính đáng của một
người thì phải có hành vi xâm hại của người khác đến các lợi ích của Nhà
nước, của tổ chức, quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân. Hành vi xâm hại
phải rõ ràng có tính nguy hiểm cho xã hội.
Hành vi xâm hại có thể là hành vi phạm tội, nghĩa là hành vi thỏa mãn
các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS, như hành vi
giết người (Điều 93 BLHS), hiếp dâm (Điều 111 BLHS), cướp tài sản (Điều
133 BLHS).
Hành vi xâm hại cũng có thể là hành vi không phải tội phạm nhưng có
tính nguy hiểm cho xã hội đáng kể. Ví dụ, hành vi tấn công của người chưa
đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS; hành vi
tấn công của người mắc bệnh tâm thần mất hết khả năng nhận thức và khả
năng điều khiển hành vi của mình...
Nếu hành vi xâm hại nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không
phát sinh quyền phòng vệ chính đáng. Ví dụ: hành vi trộm cắp tài sản giá trị
nhỏ mà người trộm cắp tài sản chưa có tiền án, tiền sự..
Hành vi xâm hại phải là hành vi đang gây thiệt hại hoặc đang đe dọa
gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần bảo vệ.
Hành vi xâm hại là cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng phải
là hành vi đang gây thiệt hại hoặc đang đe dọa thực tế gây thiệt hại ngay tức
4
khắc cho những lợi ích được luật hình sự bảo vệ nếu không được ngăn chặn
kịp thời.
Hành vi xâm hại chưa xảy ra hoặc chưa đe dọa xảy ra ngay tức khắc
cho những lợi ích hợp pháp không làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng.
Trong trường hợp một người gây thiệt hại đối với người khác đe dọa sẽ gây
thiệt hại trong tương lai được gọi là "phòng vệ quá sớm". Ví dụ: nghe tin A đã
chuẩn bị, sắp đến đánh mình, B đã rủ người đến đánh trước, gây thương tích
cho A. Hành vi này không được coi là phòng vệ chính đáng.
Hành vi xâm hại đã kết thúc thì cũng không còn cơ sở để phát sinh
quyền phòng vệ. Người có hành vi chống trả gây thiệt hại cho người có hành
vi xâm hại các lợi ích hợp pháp khi sự xâm hại đã kết thúc không được coi là
chống trả trong khi thực hiện quyền phòng vệ chính đáng. Đây được coi là
trường hợp "phòng vệ quá muộn". Ví dụ: A đã trộm cắp tài sản và bỏ đi, B
đuổi theo đánh gây thương tích nặng cho A để lấy lại tài sản mặc dù A chưa
có biểu hiện của việc đánh trả .
Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong trường hợp "phòng vệ quá
sớm" hoặc "phòng vệ quá muộn", về nguyên tắc , phải chịu trách nhiệm hình
sự về việc gây thiệt hại của mình như những trường hợp bình thường khác.
Hành vi xâm hại có thể chưa gây thiệt hại nhưng đang đe dọa gây thiệt
hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần bảo vệ cũng là cơ sở phát
sinh quyền phòng vệ chính đáng. Hành vi đe dọa gây thiệt hại thực sự và ngay
tức khắc nghĩa là hành vi đe dọa, có thể sử dụng công cụ, phương tiện hoặc
không sử dụng công cụ, phương tiện, làm cho người khác có căn cứ để tin
rằng nếu không chống trả thì liền ngay sự đe dọa, người đe dọa sẽ thực hiện
ngay lời đe dọa của mình. Ví dụ: A cầm dao tấn công, dơ súng lên định bắn
B....
Được coi là đe dọa gây thiệt hại thực sự cả trong trường hợp người đe
dọa sử dụng lựu đạn giả, súng giả với ý thức làm cho người bị đe dọa tin rằng
đó là lựu đạn thật, súng thật.
2.2.2. Điều kiện thuộc về hành vi phòng vệ
Hành vi phòng vệ chính đáng không chỉ giới hạn ở việc gạt bỏ sự đe
dọa, đẩy lùi sự tấn công mà còn có thể chủ động tích cực chống lại sự xâm hại
5
từ phía người có hành vi xâm hại. Hành vi phòng vệ chính đáng chỉ có thể
chống trả, gây thiệt hại cho chính người xâm hại
Trong phòng vệ chính đáng, khi có cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ
chính đáng, người phòng vệ có quyền chống trả hành vi xâm hại ngay cả khi
họ có khả năng lựa chọn biện pháp khác để tránh được thiệt hại do hành vi
xâm hại gây ra. Tuy nhiên, đối với trường hợp người tấn công là người chưa
đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc người không có năng lực trách nhiệm
hình sự, thì hành vi chống trả, gây thiệt hại cho người tấn công của người
phòng vệ chỉ được coi là phòng vệ chính đáng nếu đó là biện pháp duy nhất để
ngăn chặn sự tấn công gây thiệt hại cho các lợi ích được pháp luật bảo vệ.
Hành vi chống trả trong phòng vệ chính đáng phải là chống trả, gây
thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại. Điều kiện này xuất phát từ mục
đích của phòng vệ chính đáng là ngăn chặn được sự xâm hại, bảo vệ được lợi
ích hợp pháp khỏi sự xâm hại của người có hành vi xâm hại nên người có
hành vi phòng vệ phải chống trả gây thiệt hại cho người có hành vi xâm hại.
Hành vi chống trả gây thiệt hại người khác không phải của người đang có
hành vi xâm hại sẽ không được coi là phòng vệ chính đáng.
Hành vi chống trả của người phòng vệ chính đáng phải là hành vi
chống trả lại một cách cần thiết, nghĩa là hành vi chống trả phải phù hợp với
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Để xem xét hành vi chống trả có phải là chống trả một cách cần thiết
hay không, có phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi xâm hại hay không, thì "phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên
quan đến hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ như: khách thể cần bảo vệ (thí
dụ: bảo vệ địa điểm thuộc bí mật quốc gia, bảo vệ tính mạng); mức độ thiệt
hại do hành vi xâm hại có thể gây ra hoặc đã gây ra và do hành vi phòng vệ
gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp mà hai bên đã sử dụng; nhân thân
của người xâm hại (nam, nữ; tuổi; người xâm hại là côn đồ, lưu manh…);
cường độ của sự tấn công và của sự phòng vệ; hoàn cảnh và nơi xảy ra sự
việc (nơi vắng người, nơi đông người, đêm khuya) v.v… Đồng thời cũng cần
phải chú ý đến yếu tố tâm lý của người phải phòng vệ có khi không thể có điều
kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chống
trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ."1
1
- Xem: Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 5/1/1986 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC
6
Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên
mà nhận thấy là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã chống trả
lại một cách cần thiết, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi xâm hại thì coi đó là phòng vệ chính đáng.
3. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Khoản 2 Điều 15 BLHS quy định:
"Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng
quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã
hội của hành vi xâm hại".
Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là trường hợp "trong hoàn cảnh
sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụng những phương tiện, phương pháp
rõ ràng quá đáng và gây thiệt hại rõ ràng quá mức"2 đối với người có hành vi
xâm hại
Theo quy định tại khoản 2 Điều 15 BLHS, "Người có hành vi vượt quá
giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu TNHS".
Luật hình sự Việt Nam đã quy định một số tội phạm do vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng là: Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng (Điều 96 BLHS); Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 105 BLHS).
4. Phòng vệ tưởng tượng
Phòng vệ tưởng tượng là trường hợp một người do nhận thức sai lầm
nên lầm tưởng là có sự tấn công của người khác nên đã thực hiện hành vi
chống trả, gây thiệt hại cho người đó.
Phòng vệ tưởng tượng không được coi là phòng vệ chính đáng. Phòng
vệ tưởng tượng là một dạng sai lầm về sự việc. Vấn đề trách nhiệm hình sự
đối với người phòng vệ tưởng tượng được giải quyết theo nguyên tắc sai lầm
về sự việc. Cụ thể như sau:
- Trong trường hợp người phòng vệ tượng tượng không biết và không
thể biết có sự sai lầm trong đánh giá là về không có sự tấn công của người
khác thì người phòng vệ không bị coi là có lỗi và không phải chịu trách nhiệm
hình sự. Ví dụ: do mang tài sản lớn trong người, phải đi qua đoạn đường rừng
2
- Xem: Nghị quyết số 02/HĐTP... đã dẫn.
7
thường xảy ra các vụ cướp, lo sợ bị cướp tài sản nên A đã mang dao nhọn đi
đề phòng. Bạn của A là B muốn trêu đùa A nên giả làm cướp nhảy ra, dơ dao
dọa. Trong tình thế đó, A tưởng B là cướp thật nên đã vung dao chém gây
thương tích cho B. trong trường hợp này A không có lỗi, không phải chịu
trách nhiệm hình sự.
- Trường hợp phòng vệ tưởng tượng trong trường hợp người phòng vệ
tưởng tượng có khả năng nhận biết sự sai lầm của mình nếu có sự chú ý, quan
tâm cần thiết đến những lợi ích hợp pháp thì người phòng vệ tưởng tượng gây
thiệt hại sẽ bị coi là có lỗi, phải chịu trách nhiệm hình sự. Ví dụ: A mang tài
sản có giá trị đang ngồi trong công viên chờ bạn. B đến xin lửa hút thuốc. Do
bán tín bán nghi, cho rằng B giả vờ xin lửa để cướp tài sản nên đã A đã cầm
dao đâm B gây thương tích. Trong trường hợp này A bị coi là có lỗi và phải
chịu trách nhiệm hình sự về hành vi gây thương tích của mình
3.Tình thế cấp thiết
3.1. Khái niệm
Khoản 1 Điều 16 BLHS quy định:
" Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ
đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính
đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây
một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.
Theo quy định trên, người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong tình thế
cấp thiết là người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong tình thế có hai khả
năng cùng song song tồn tại:
Một là, khả năng các lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích
chính đáng của mình hoặc của người khác sẽ bị thiệt hại do nguồn nguy hiểm
bên ngoài gây ra.
Hai là, khả năng thiệt hại cho các lợi ích của Nhà nước, của tổ chức,
quyền và lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác sẽ không xảy ra
nếu có sự ngăn chặn của mình bằng cách gây ra một thiệt hại khác cũng cho
một lợi ích hợp pháp.
8
Trong tình thế đó, một người đã chọn phương án ngăn chặn thiệt hại do
nguồn nguy hiểm khác gây ra cho lợi ích hợp pháp bằng cách thực hiện hành
vi gây ra một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Việc gây ra thiệt hại
nhỏ hơn để ngăn chặn một thiệt hại lớn hơn khi không còn cách nào khác
tránh khỏi thiệt hại đó là có ích cho xã hội và được Nhà nước, xã hội khuyến
khích. Hành vi gây thiệt hại trong tình thế đó được coi là gây thiệt hại trong
tình thế cấp thiết. Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là
tội phạm và người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải chịu trách
nhiệm hình sự về hành vi gây thiệt hại của mình.
3.2. Điều kiện của tình thế cấp thiết
Một hành vi được coi là thực hiện trong tình thế cấp thiết phải có những
điều kiện sau:
Về tính chất của sự nguy hiểm
Cơ sở làm phát sinh quyền thực hiện hành vi gây thiệt hại trong tình thế
cấp thiết là phải có sự nguy hiểm. Sự nguy hiểm phải đang gây thiệt hại hoặc
đang đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích
chính đáng của công dân.
- Nguồn nguy hiểm làm phát sinh quyền thực hiện hành vi trong tình thế
cấp thiết có thể do nhiều nguồn khác nhau: Do hành vi của con người, do sự
tấn công của động vật, sự hỏng hóc của xe cộ, máy móc, sự tác động của các
hiện tượng thiên nhiên, như lũ lụt, hỏa hoản. Đây là điểm khác biệt với trường
hợp thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng, trong đó cơ sở làm phát sinh
quyền phòng vệ chính đáng chỉ có thể là hành vi của con người..
- Nguồn nguy hiểm làm phát sinh quyền thực hiện hành vi trong tình thế
cấp thiết phải có thật, không phải do tưởng tượng, suy đoán.
- Sự nguy hiểm phải đang gây thiệt hại, nghĩa là đã bắt đầu và chưa kết
thúc việc gây thiệt hại hoặc chưa gây thiệt hại nhưng đe dọa gây thiệt hại ngay
cho các lợi ích hợp pháp nếu không được ngăn chặn kịp thời.
Như vậy, những trường hợp không có cơ sở phát sinh quyền thực hiện
hành vi trong tình thế cấp thiết bao gồm:
- Sự nguy hiểm không có thật mà do suy đoán, tưởng tượng;
9
- Sự nguy hiểm chưa có nguy cơ thực tế gây thiệt hại ngay cho cho
những lợi ích hợp pháp cần được bảo vệ mà mới chỉ có khả năng gây thiệt hại
trong tương lai;
- Sự nguy hiểm đã kết thúc, nghĩa là không còn đe dọa gây thiệt hại thực
tế cho các lợi ích hợp pháp .
Trong những trường hợp trên, hành vi gây thiệt hại sẽ không được coi là
thực hiện hành vi trong tình thế cấp thiết.
Về tính chất của hành vi khắc phục sự nguy hiểm
- Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết phải là biện pháp duy nhất
để ngăn ngừa sự gây thiệt hại do sự nguy hiểm khác gây ra.
Đây là cũng điểm khác biệt so với hành vi phòng vệ chính đáng. Trong
phòng vệ chính đáng, người phòng vệ thực hiện hành vi chống trả gây thiệt hại
cho người tấn công cả trong khi họ có thể tránh khỏi thiệt hại bằng các biện
pháp khác như chạy trốn, nhờ cậy sự giúp đỡ của người khác. Còn trong tình
thế cấp thiết, biện pháp gây thiệt hại một lợi ích hợp pháp để tránh một thiệt
hại khác phải là biện pháp duy nhất. Nếu còn biện pháp khác để tránh khỏi
thiệt hại do nguồn nguy hiểm gây ra thì phải lựa chọn biện pháp khác đó. Gây
thiệt hại cho một lợi ích hợp pháp để tránh khỏi một thiệt hại khác trong khi
còn khả năng khác để tránh thiệt hại đó không được coi là gây thiệt hại trong
tình thế cấp thiết. Người gây thiệt hại trong trường hợp đó phải chịu trách
nhiệm hình sự về việc gây thiệt hại của mình.
- Thiệt hại gây ra trong tình thế cấp thiết phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn
ngừa.
Việc gây ra một thiệt hại để tránh một thiệt hại chỉ có ích khi thiệt hại
gây ra nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Do vậy, trong tình thế cấp thiết, thiệt
hại của người thực hiện hành vi phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Việc
gây thiệt hại lớn hơn hoặc bằng thiệt hại cần ngăn ngừa là không cần thiết. Do
vậy, gây thiệt hại trong trường hợp đó không được coi là gây thiệt hại trong
tình thế cấp thiết.
Trên thực tế, không phải trong trường hợp nào người thực hiện hành vi
gây thiệt hại cũng đánh giá được chính xác mức độ gây thiệt hại của hành vi
của mình với mức độ thiệt hại mà nguồn nguy hiểm có thể gây ra nên có thể
gây thiệt hại bằng hoặc lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa. Trong những trường
10
hợp cụ thể phải đánh giá toàn diện các tình tiết có liên quan để xác định người
gây thiệt hại lớn hơn thiệt hại cần nfawn ngừa có lỗi đối với việc gây thiệt hại
đó hay không, nếu người gây thiệt hại không thấy trước và không thể thấy
trước được sự thiệt hại mà mình gây ra lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa thì
người đó không bị coi là có lỗi và không phải chịu trách hiệm hình sự. Nếu
người gây thiệt hại có khả năng thấy trước thiệt hại mà mình gây ra lớn hơn
thiệt hại cần ngăn ngừa nà trạng thá của người đó là để mặc hoặc cho rằng
thiệt hại lớn hơn không xảy ra hoặc không thấy trước thiệt hại lớn hơn đó
nhưng nếu có sự chú ý cần thiết họ có thể thấy trước để phòng tránh thì người
gây thiệt hại lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa bị coi là có lỗi và họ có thể phải
chịu trách nhiệm hình sự.
Khoản 2 Điều 16 BLHS quy định:
"Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế
cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự"
4. Một số tình tiết khác được loại trừ trách nhiệm hình sự khác
4.1. Bắt giữ người phạm pháp
Bắt người phạm pháp là một trong các biện pháp ngăn chặn nhằm kịp
thời ngăn chặn người phạm pháp hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người phạm
pháp sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm
pháp. Theo các quy định của pháp luật thì người phạm tội quả tang hoặc đang
bị truy nã thì mọi người đều có quyền bắt người phạm tội. Tuy nhiên, vấn đề
đặt ra là khi thực hiện việc bắt người phạm tội thì công dân có quyền dùng vũ
lực để bắt không? có được gây thiệt hại cho người bị bắt hay không thì lại
thuộc vấn đề của luật hình sự.
Căn cứ yêu cầu đấu tranh chống tội phạm và nguyên tắc "mọi công dân
có nghĩa vụ tích cực đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm" (khoản 3 Điều
4 BLHS) thì việc công dân dùng vũ lực bắt người phạm pháp quả tang và
người có lệnh truy nã là cần thiết. Trong quá trình bắt giữ người phạm pháp,
người bắt giữ có thể dùng vũ lực, gây thiệt hại về sức khỏe cho người bị bắt.
Căn cứ vào các tình tiết có liên quan đến việc bắt, như tính chất, mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm pháp, tính chất, mức độ chống trả của
người bị bắt, nhân thân người phạm pháp, hoàn cảnh lúc và nơi xảy ra việc bắt
giữ, trạng thái tâm lý của người bắt giữ..., nếu thấy trong quá trình bắt giữ
người phạm pháp, mặc dù người bắt giữ dùng vũ lực, gây thiệt hại cho người
11
bắt giữ nhưng việc dùng vũ lực, gây thiệt hại đó là cần thiết để bắt giữ người
phạm pháp thì người bắt giữ không bị coi là có lỗi và không phải chịu trách
nhiệm hình sự.
4.2. Thi hành lệnh của cấp trên
Trong quá trình thi hành nhiệm vụ, công vụ, việc nghiêm chỉnh chấp
hành mệnh lệnh của cấp trên là một trong những quy tắc ứng xử của người thi
hành công vụ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là hành vi thi hành lệnh cấp trên mà
gây thiệt hại cho các lợi ích hợp pháp thì người thi hành lệnh đó có phải chịu
trách nhiệm hình sự không. Để giải quyết vấn đề này, cần phân biệt hai trường
hợp:
- Lệnh của cấp trên hoàn toàn hợp pháp, nghĩa là đúng thẩm quyền và
đúng quy định của pháp luật thì người thi hành mệnh lệnh cấp trên không phải
chịu trách nhiệm hình sự.
- Lệnh của cấp trên là không hợp pháp và người thi hành lệnh gây thiệt
hại cho những lợi ích hợp pháp. Có thể xảy ra các tình huống sau:
- Người thi hành lệnh đó không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội
của việc thi hành lệnh đó không thể và không buộc phải thấy trước hậu quả đó
thì người thi hành lệnh không bị coi là có lỗi và không phải chịu trách nhiệm
hình sự.
+ Người thi hành lệnh đó thấy trước việc thi hành lệnh đó sẽ gây thiệt hại
cho lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn mong muốn gây thiệt
hại đó, hoặc để mặc cho thiệt hại đó xảy ra thì người thi hành lệnh có lỗi cố ý
đối với hành vi gây thiệt hại của mình và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
tương ứng do cố ý.
+ Người thi hành lệnh thấy trước khả năng gây thiệt hại của hành vi của
mình nhưng tin rằng thiệt hại đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được
hoặc người đó không thấy trước thiệt hại do hành vi của mình gây ra nhưng
nếu có sự chú ý cần thiết thì họ có thể thấy trước thiệt hại đó. Trong trường
hợp này, người thi hành lệnh cấp trên bị coi là có lỗi và họ có thể phải chịu
trách nhiệm hình sự về hành vi gây thiệt hại.
4.3. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học,
kỹ thuật và công nghệ
12
Trong sản xuất cũng như trong nghiên cứu khoa học cần có những thí
nghiệm, thử nghiệm để áp dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật, công nghệ tiên
tiến trong sản xuất, nghiên cứu khoa học, hoạt động nghề nghiệp. Quá trình
nghiên cứu, thử nghiệm để áp dụng vào thực tế không tránh khỏi các trường
hợp rủi ro có thể xảy ra gây thiệt hại mặc dù chủ thể đã áp dụng tất cả các biện
pháp cần thiết. Để có thể có được những thành quả trong sản xuất và nghiên
cứu khoa học thì không tránh khỏi những rủi ro, gây ra những thiệt hại nhất
định cho những lợi ích hợp pháp. Việc gây thiệt hại trong những trường hợp
nhất định cần được coi là có lợi cho xã hội và người gây thiệt hại không phải
chịu trách nhiệm hình sự.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- PGS.TSKH. Lê Văn Cảm, Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật
hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006
- Nguyễn Ngọc Hòa, Mô hình Luật hình sự Việt Nam, Nxb. Công an
nhân dân, Hà Nội, 2006.
- Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Công an
nhân dân, Hà Nội, 2008.
- Đào Trí Úc, Luật hình sự Việt Nam (Quyển I), Nxb. Khoa học xã hội,
Hà Nội, 2000.
- Giang Sơn, Các yếu tố loại trừ tính tội phạm của hành vi theo luật hình
sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, năm 2002
- Đinh Văn Quế, Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong
luật hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, năm 1998.
- Nguyễn Đức Mai, Phòng vệ chính đáng theo quy định của Bộ luật
Hình sự năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6 - 2000.
- Giang Sơn, Quy định về chế định phòng vệ chính đáng theo Bộ luật
Hình sự năm 1999, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8 - 2001.
13
Chương 12
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ HÌNH PHẠT
1. Trách nhiệm hình sự
1.1. Khái niệm, đặc điểm và cơ sở của trách nhiệm hình sự
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm hình sự
Trong sách báo cũng như thực tiễn chính trị, pháp lý, thuật ngữ "trách
nhiệm" thường được hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ,
bổn phận của một người trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước. Ví dụ,
trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường sống; trách nhiệm của
bố mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái v.v... Thứ hai, trách nhiệm là hậu
quả bất lợi mà một người phải gánh chịu trước người khác, trước xã hội hoặc
Nhà nước do đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó.
Trách nhiệm pháp lý, trong đó có trách nhiệm hình sự, được dùng theo
nghĩa thứ hai. Tuy nhiên, cho đến nay, xung quanh khái niệm trách nhiệm
hình sự vẫn còn những quan điểm khác nhau.
Trách nhiệm hình sự, với tính cách là một dạng của trách nhiệm pháp lý
là việc phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của người phạm tội trước Nhà nước
trong tình trạng bị cưỡng chế do việc người đó đã thực hiện tội phạm.
Thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm là thời điểm bắt đầu phát
sinh mối quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người phạm tội. Từ khi
đó, Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết, có quyền
buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Người phạm tội có nghĩa
vụ phải chịu các biện pháp cưỡng chế, chịu trách nhiệm hình sự do Nhà nước
áp dụng. Nhưng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm hình sự của người phạm tội sẽ
không được thực hiện trên thực tế nếu tội phạm không bị phát hiện, tội phạm
đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người phạm tội được miễn
trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự.
Người phạm tội có thể phải chịu trách nhiệm hình sự và có thể được
miễn trách nhiệm hình sự. Giống với người phải chịu trách nhiệm hình sự,
người được miễn trách nhiệm hình sự là người đã thực hiện tội phạm, nghĩa là
14
đã thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được
luật hình sự quy định. Từ thời điểm thực hiện tội phạm, người phạm tội có
nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi là trách nhiệm hình sự, nhưng vì có
những căn cứ để được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình
sự, người đó lại được miễn trách nhiệm hình sự. Đối với người được miễn
trách nhiệm hình sự, nghĩa vụ phải chịu hậu quả bất lợi đã không trở thành
hậu quả bất lợi thực tế mà người đó phải chịu.
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta, trước khi bị kết
tội, một người có thể đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng những biện
pháp ngăn chặn như: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh,
đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Những biện pháp này được áp dụng
nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo
sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội,
cũng như khi cần bảo đảm thi hành án. Về bản chất, các biện pháp ngăn chặn
không phải là sự thể hiện của trách nhiệm hình sự mà chỉ là các biện pháp
cưỡng chế có tính chất tố tụng hình sự để ngăn chặn tội phạm, bảo đảm hiệu
quả của việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc bảo đảm cho việc thực hiện trách
nhiệm hình sự sau này (bảo đảm thi hành án). Mặc dù các biện pháp ngăn
chặn chỉ có thể được áp dụng đối với người phạm tội, nhưng chúng không
phải là hậu quả tất yếu của việc phạm tội. Việc các cơ quan tiến hành tố tụng
có áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với một người hay không, không phải là
do đã xác định được người đó phạm tội hay không phạm tội mà là ở chỗ có
căn cứ để chứng tỏ, nếu không áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì người đó
có thể sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục
phạm tội hoặc sau này việc thi hành án sẽ gặp khó khăn. Một người đã bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn vẫn có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu sau
đó xác định được có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự đối với người đó.
Ngược lại, một người có thể không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nhưng vẫn
có thể phải chịu trách nhiệm hình sự, nếu sau đó Tòa án tuyên bản án kết tội
đối với người đó và bản án đó có hiệu lực pháp luật. Bản thân thuật ngữ " các
biện pháp ngăn chặn" đã nói lên tính chất phòng ngừa của các biện pháp này.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các biện pháp ngăn chặn mà các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với người
phạm tội trước khi có bản án kết tội của Tòa án không có ảnh hưởng gì đến
trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu sau đó. Một số biện pháp
15
ngăn chặn áp dụng đối với người phạm tội cũng có thể chuyển thành bộ phận
cấu thành của việc thực hiện trách nhiệm hình sự nếu người đã bị áp dụng các
biện pháp ngăn chặn sau đó đã bị Tòa án kết án bằng bản án kết tội có kèm
theo việc quyết định một số loại hình phạt nhất định. Theo Điều 31 BLHS,
nếu người bị kết án cải tạo không giam giữ đã bị tạm giữ, tạm giam trước khi
chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thì thời gian tạm giữ, tạm giam
được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một
ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ. Còn theo Điều
33 BLHS, nếu người bị kết án phạt tù có thời hạn đã bị tạm giữ, tạm giam
trước khi chấp hành hình phạt tù thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào
thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một
ngày tù.
Như vậy, khi người phạm tội bị Tòa án kết tội bằng bản án kết tội có
hiệu lực pháp luật thì các biện pháp tạm giữ, tạm giam đã áp dụng đối với
người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn được
chuyển thành một bộ phận cấu thành của việc chấp hành hình phạt, nghĩa là
chuyển thành một bộ phận của việc thực hiện trách nhiệm hình sự.
Cũng giống các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp tư pháp cũng có thể
được áp dụng đối với người phạm tội trước khi có bản án kết tội của Tòa án có
hiệu lực pháp luật. Nhưng bản thân việc áp dụng các biện pháp tư pháp không
phải bao giờ cũng gắn với việc thực hiện trách nhiệm hình sự. Người bị áp
dụng biện pháp tư pháp vẫn có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu có căn
cứ để miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự. Thậm chí, biện
pháp tư pháp có thể áp dụng cả đối với người không có năng lực trách nhiệm
hình sự. Ví dụ: theo quy định tại khoản 1 Điều 13 BLHS, biện pháp tư pháp
bắt buộc chữa bệnh được áp dụng cả đối với người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy
nhiên, theo quy định tại Điều 44 BLHS, nếu người phạm tội đã bị áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh mà sau đó bị kết án phạt tù thì "thời
gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù". Điều
này chứng tỏ việc thực hiện biện pháp bắt buộc chữa bệnh của người phạm tội
trước khi bị kết án, giống như biện pháp tạm giữ, tạm giam, cũng có thể được
chuyển thành một bộ phận của việc thực hiện trách nhiệm hình sự.
Trách nhiệm hình sự và hình phạt là những khái niệm không đồng nhất.
Trách nhiệm hình sự là một chế định pháp lý, còn hình phạt chỉ là một trong
16
những biện pháp để thực hiện, để cụ thể hóa trách nhiệm hình sự. Trong
BLHS nước ta, thuật ngữ "trách nhiệm hình sự" và "hình phạt" cũng đã được
phân biệt qua một số quy định cụ thể. Điều 2 BLHS quy định: "Chỉ người nào
phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự".
Đoạn cuối Điều 26 BLHS quy định: "Hình phạt... do Tòa án quyết định". Điều
25 BLHS quy định về "miễn trách nhiệm hình sự", Điều 54 BLHS quy định về
"miễn hình phạt". Sự tồn tại của thuật ngữ "miễn hình phạt" cùng với thuật
ngữ "miễn trách nhiệm hình sự" trong BLHS cũng đã phản ánh sự không đồng
nhất của hai khái niệm trách nhiệm hình sự và hình phạt trong luật hình sự
nước ta.
Khái niệm trách nhiệm hình sự là khái niệm rộng hơn khái niệm hình
phạt. Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội được áp dụng
đối với người thực hiện hành vi phạm tội, còn hình phạt chỉ là một trong
những biện pháp cưỡng chế chủ yếu của trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm
hình sự, theo luật hình sự Việt Nam, đã được phân ra thành hai loại: loại có
hình phạt và loại không có hình phạt (miễn hình phạt). Trong trường hợp có
hình phạt, trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu trước hết thể hiện
ở bản án kết tội kèm theo việc quyết định hình phạt của Tòa án đối với người
phạm tội. Người phạm tội không chỉ bị kết tội, "bị coi là có tội" mà còn phải
chịu hình phạt do Tòa án quyết định trong bản án kết tội đó. Trong trường hợp
miễn hình phạt, trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án
mà không có quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Người phạm tội bị
Tòa án, nhân danh Nhà nước, kết án vì đã thực hiện hành vi phạm tội. Với bản
án kết tội có hiệu lực pháp luật, người phạm tội chính thức "bị coi là có tội"
nhưng người đó không bị Tòa án quyết định hình phạt mà được miễn hình
phạt.
Từ những phân tích trên, có thể xác định khái niệm trách nhiệm hình sự
như sau: Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả
pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước do việc người đó
thực hiện tội phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật
hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình
phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định.
1.1.2. Đặc điểm của trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự có các đặc điểm sau:
17
Đặc điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc
thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm.
Trách nhiệm hình sự là một loại trách nhiệm pháp lý chỉ có thể được áp
dụng đối với người thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm, nghĩa là
việc thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được
quy định trong luật hình sự. Không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự
coi là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự.
Trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự, để quy kết hành vi nào đó là
tội phạm và buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự,
người áp dụng pháp luật phải trên cơ sở đối chiếu hành vi đã thực hiện với các
dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự, chứ
không được áp đặt theo ý thức chủ quan, bất chấp những quy định của pháp
luật. Nếu trong quá trình áp dụng pháp luật, người áp dụng pháp luật xác định
được hành vi của một người thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm
được Bộ luật hình sự quy định thì mới có thể kết luận hành vi đó là tội phạm
và mới có thể buộc người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự.
Theo luật hình sự nước ta, Bộ luật hình sự là văn bản pháp lý duy nhất
quy định hành vi nào đó là tội phạm. Nếu không được quy định trong Bộ luật
hình sự thì một hành vi dù nguy hiểm cho xã hội đến đâu cũng không thể bị
coi là tội phạm và người thực hiện hành vi không thể phải chịu trách nhiệm
hình sự.
Tội phạm là hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự. Điều này có
nghĩa là các dấu hiệu pháp lý của từng tội phạm cụ thể được quy định ở cả
Phần chung và Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Phần chung Bộ luật
hình sự không chỉ quy định khái niệm tội phạm mà còn quy định các dấu hiệu
có ý nghĩa xác định chung đối với mọi tội phạm như: nội dung của lỗi cố ý và
lỗi vô ý, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, vấn đề năng lực trách nhiệm hình sự,
các dấu hiệu của chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và trách nhiệm hình sự
của người chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, các dấu hiệu đồng phạm và
các loại người đồng phạm, v.v... Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự quy
định về các cấu thành tội phạm cụ thể, trong đó xác định các dấu hiệu pháp lý
của từng tội phạm cũng như loại và mức hình phạt áp dụng đối với người
phạm tội đó.
18
Đặc điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của cá nhân
người phạm tội.
Theo luật hình sự Việt Nam, trách nhiệm hình sự chỉ có thể là trách
nhiệm của cá nhân người đã thực hiện hành vi mà luật hình sự coi là tội phạm.
Về nguyên tắc, trách nhiệm hình sự phải tương xứng với tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm do người phạm tội thực hiện. Mác đã viết:
"Nếu như khái niệm tội phạm giả định phải có sự trừng phạt, thì tội
phạm thực tế lại giả định phải có một mức độ trừng phạt nhất định. Tội phạm
thực tế là có giới hạn. Vì vậy, cả sự trừng phạt phải có giới hạn, dầu chỉ là để
cho nó có tính chất thực tế, - nó phải được hạn chế bởi nguyên tắc của pháp
luật để trở thành hợp pháp. Vấn đề là ở chỗ làm cho sự trừng phạt trở thành
hậu quả thực tế của việc phạm tội. Dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng
phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi của chính người đó - do đó phải là
hành vi của chính người đó. Giới hạn của hành vi của y phải là giới hạn của
sự trừng phạt" (C. Mác - Ph. Ăngghen Toàn tập, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1978, tr.169).
Người phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ có thể là người phạm tội, nghĩa
là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự coi là tội
phạm khi đã đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm
hình sự và có lỗi (cố ý hoặc vô ý). Trong trường hợp tội phạm được thực hiện
dưới hình thức đồng phạm thì từng người đồng phạm cũng phải chịu trách
nhiệm hình sự độc lập. Hình phạt quyết định đối với từng người đồng phạm
được quyết định căn cứ vào tính chất đồng phạm, tính chất và mức độ tham
gia phạm tội của từng người đồng phạm.
Cùng với trách nhiệm hình sự của cá nhân, pháp luật hình sự nhiều
nước cũng đã quy định cả trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Việc quy định hay
không quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự của
các nước phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, chính trị - xã hội và yêu
cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật của từng
nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, pháp luật hình sự nước ta mới chỉ
thừa nhận trách nhiệm hình sự của cá nhân mà chưa coi pháp nhân là chủ thể
của tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp tội phạm do
người đại diện pháp nhân thực hiện không chỉ vì lợi ích của cá nhân người đó
19
mà còn vì lợi ích của cả pháp nhân thì trách nhiệm hình sự cũng chỉ có thể áp
dụng đối với cá nhân người phạm tội.
Đặc điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội
của Tòa án có hiệu lực pháp luật và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác
do luật hình sự quy định.
Trách nhiệm hình sự thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước (thông qua
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) và người phạm tội. Trách nhiệm hình sự
là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện trước hết ở việc Tòa án, nhân
danh Nhà nước, kết án người phạm tội. Nếu không có bản án kết tội của Tòa
án thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một người. Điều 31 Hiến
pháp nước ta (sửa đổi, bổ sung năm 2013) một trong những nguyên tắc quan
trọng nhằm bảo vệ các quyền của con người trong hoạt động tư pháp hình sự nguyên tắc suy đoán vô tội, với nội dung như sau: "Người bị buộc tội được coi
là không có tội cho đến khi chứng minh theo trình tự luật định và có bản án
kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Bản án kết tội của Tòa án có hiệu
lực pháp luật là cơ sở pháp lý xác nhận người phạm tội chính thức "bị coi là
có tội". Đó chính là hậu quả pháp lý thể hiện một trong những nội dung quan
trọng của trách nhiệm hình sự mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước.
Đa số các trường hợp bản án kết tội của Tòa án đối với người phạm tội
đi kèm với việc Tòa án quyết định hình phạt đối với người đó. Trong trường
hợp này, trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội và hình phạt.
Trong trường hợp khác, bản án kết tội của Tòa án áp dụng đối với người phạm
tội không gắn với việc Tòa án quyết định hình phạt mà gắn với việc Tòa án
quyết định miễn hình phạt đối với người đó.
Như vậy, trách nhiệm hình sự có thể có hình phạt và cũng có thể không
có hình phạt. Trong trường hợp bản án kết tội của Tòa án có kèm theo quyết
định miễn hình phạt đối với người phạm tội thì trách nhiệm hình sự của người
phạm tội thể hiện ở việc người phạm tội bị Tòa án, nhân danh Nhà nước kết án
bằng bản án kết tội mà không được thể hiện bằng việc người đó phải chịu hình
phạt. Trong trường hợp bản án kết tội của Tòa án có kèm theo quyết định hình
phạt thì trách nhiệm hình sự không chỉ thể hiện ở bản án kết tội mà còn thể
hiện ở loại và mức hình phạt cụ thể mà Tòa án quyết định đối với người phạm
tội và dấu hiệu án tích của người đó.
20
Cơ sở phát sinh trách nhiệm hình sự bắt đầu từ thời điểm người phạm tội
thực hiện tội phạm. Từ khi đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
hoạt động tố tụng có quyền và nghĩa vụ áp dụng các biện pháp do pháp luật tố
tụng hình sự quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tố tụng
hình sự được thể hiện ở quyết định khởi tố bị can (Điều 126 Bộ luật tố tụng
hình sự), kết luận điều tra và đề nghị truy tố (Điều 163 Bộ luật tố tụng hình
sự), quyết định truy tố bằng bản cáo trạng (Điều 166 Bộ luật tố tụng hình sự).
Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nhất với việc thực
hiện trách nhiệm hình sự. Hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự của các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền trong tố tụng hình sự chỉ là hoạt động tố tụng
nhằm xác định các căn cứ để truy tố người phạm tội ra xét xử tại Tòa án. Thực
chất hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự là hoạt động công tố, trong đó vai
trò quyết định việc truy tố thuộc về Viện kiểm sát. Còn chức năng xét xử, kết
tội người bị truy tố lại thuộc về Tòa án. Trên cơ sở quyết định truy tố của Viện
kiểm sát, Tòa án sẽ ra quyết định kết tội hay không kết tội người bị truy tố.
Nếu một người không bị Tòa án kết tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp
luật thì người đó không thể "bị coi là có tội". Trong trường hợp Tòa án xác
định người bị truy tố đã thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu
thành tội phạm được luật hình sự quy định nhưng lại có căn cứ để miễn trách
nhiệm hình sự cho người đó theo quy định của Bộ luật hình sự, thì Tòa án sẽ
không ra bản án kết tội mà tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với người
phạm tội. Trong trường hợp xét thấy có đủ căn cứ để buộc người phạm tội
phải chịu sự lên án của Nhà nước về hành vi phạm tội của mình, Tòa án sẽ ra
bản án kết tội đối với người đó. Bản án kết tội của Tòa án đối với một người là
kết quả của cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia giải quyết vụ án hình sự. Bản án kết tội
của Tòa án thể hiện sự lên án có tính chất phủ định của Nhà nước, mà Tòa án
là người đại diện, đối với hành vi phạm tội và người phạm tội.
Trong trường hợp bản án kết tội của Tòa án có quyết định hình phạt đối
với người phạm tội thì nội dung của trách nhiệm hình sự mà người phạm tội
phải chịu không chỉ thể hiện ở việc người đó bị kết án, bị coi là có tội mà còn
thể hiện ở việc người đó bị áp dụng loại hình phạt cụ thể và bị coi là có án tích
từ thời điểm bản án kết tội của Tòa án đối với người đó có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, trong trường hợp này, mức độ trách nhiệm hình sự mà người phạm
21
tội phải chịu đã được cá thể hóa bằng loại và mức hình phạt cụ thể mà Tòa án
quyết định đối với người đó, mức độ nặng, nhẹ của trách nhiệm hình sự được
thể hiện ở mức độ nặng, nhẹ của loại hình phạt mà Tòa án áp dụng đối với
người bị kết án.
Cùng với bản án kết tội của Tòa án và hình phạt mà Tòa án quyết định
đối với người phạm tội, án tích đối với người bị kết án cũng là một trong
những hình thức thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình
sự và các dạng trách nhiệm pháp lý khác có thể có những điểm gần giống
nhau về hình thức thể hiện. Ví dụ, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hành
chính đều có hình thức xử lý là cảnh cáo, phạt tiền. Nhưng cảnh cáo, phạt tiền
với tính cách là hình phạt hình sự, khác với cảnh cáo, phạt tiền với tính cách là
hình thức xử phạt vi phạm hành chính ở chỗ, người bị phạt cảnh cáo, phạt tiền
với tính cách là hình phạt hình sự luôn gắn với hậu quả pháp lý là người đó bị
coi là có án tích. án tích chỉ có thể được xóa khi đáp ứng những điều kiện do
luật định (từ Điều 63 đến Điều 67 Bộ luật hình sự). Án tích gắn liền với bản
án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Một người bị coi là còn án tích
nghĩa là bản án kết tội đối với người đó vẫn còn hiệu lực pháp luật. Trong
trường hợp người bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới thì dấu
hiệu án tích có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vấn
đề trách nhiệm hình sự của người đó. Người chưa được xóa án tích lại phạm
tội mới có thể bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (Điều 49 Bộ luật
hình sự) và gắn với việc bị coi là tái phạm, tái phạm nguy hiểm, người phạm
tội phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn những người không có án tích mà
phạm tội khi các điều kiện khác giống nhau (người tái phạm hoặc tái phạm
nguy hiểm có thể bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng của tội phạm đã thực
hiện hoặc bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 47
Bộ luật hình sự). Án tích luôn tồn tại cùng với bản án kết tội của Tòa án có
hiệu lực pháp luật, thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với người phạm tội.
Nói cách khác, án tích chính là một trong những hình thức thể hiện hậu quả
pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu, một trong những hình thức
thể hiện tính nghiêm khắc của trách nhiệm hình sự so với các dạng trách
nhiệm pháp lý khác.
Như vậy, bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp
lý chính thức xác nhận người phạm tội bị coi là có tội. Cùng với bản án kết
tội, Tòa án có thể quyết định hình phạt hoặc quyết định miễn hình phạt đối với
22
người phạm tội. Bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật gắn liền với
dấu hiệu án tích của người bị kết án (trừ trường hợp người chưa thành niên
phạm tội bị Tòa án áp dụng biện pháp tư pháp thay thế hình phạt). Trách
nhiệm hình sự luôn gắn liền với bản án kết tội của Tòa án đối với người phạm
tội. Trong trường hợp bản án kết tội của Tòa án có kèm theo việc Tòa án quyết
định hình phạt đối với người phạm tội thì trách nhiệm hình sự mà một người
phải chịu không chỉ thể hiện ở việc bị kết tội, bị coi là có tội, mà còn thể hiện
ở việc người đó bị coi là có án tích, án tích chỉ được xóa khi có những điều
kiện do luật định.
Các biện pháp cưỡng chế mà các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối
với người phạm tội trong quá trình giải quyết vụ án như các biện pháp ngăn
chặn: tạm giữ, tạm giam hoặc các biện pháp tư pháp: bắt buộc chữa bệnh, giáo
dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng, nếu được áp dụng đối
với người phạm tội mà người đó bị Tòa án kết tội bằng bản án kết tội có hiệu
lực pháp luật thì cũng được chuyển thành một bộ phận của việc thực hiện
trách nhiệm hình sự nếu chúng được tính trừ vào thời gian chấp hành hình
phạt của người bị kết án hoặc được áp dụng thay thế hình phạt (biện pháp giáo
dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng).
Đặc điểm thứ tư: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm trước Nhà nước,
kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được xác định và
thực hiện theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy
định.
Việc xác định các căn cứ để có thể áp dụng trách nhiệm hình sự là kết
quả của cả một quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan có thẩm
quyền trong tố tụng hình sự. Song trách nhiệm hình sự chỉ có thể do Tòa án,
nhân danh Nhà nước, áp dụng đối với người phạm tội.
Theo BLTTHS nước ta, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi xác
định có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố vụ án, khi có đủ căn cứ để xác định một
người đã thực hiện tội phạm thì khởi tố bị can. Trong quá trình giải quyết vụ
án, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp ngăn
chặn do BLTTHS quy định như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư
trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Các biện pháp ngăn
chặn trong tố tụng hình sự nhằm ngăn chặn việc bị can, bị cáo có thể gây khó
khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; ngăn chặn việc bị can, bị cáo có thể
23
phạm tội mới hoặc ngăn chặn việc bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc có hành vi khác
gây cản trở cho việc việc thi hành án. Người đã bị áp dụng biện pháp ngăn
chặn vẫn có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu sau đó Cơ quan điều
tra quyết định đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án đình chỉ vụ án
hoặc tại phiên tòa, Tòa án không kết tội mà tuyên miễn trách nhiệm hình sự
đối với bị cáo. Các biện pháp ngăn chặn không phải là hậu quả pháp lý tất yếu
của việc phạm tội, không phải người phạm tội nào cũng bị áp dụng biện pháp
ngăn chặn. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án gắn với các quyết định tố tụng
như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, quyết
định truy tố bị can. Song quá trình giải quyết vụ án cùng với việc áp dụng các
biện pháp đó của các cơ quan tiến hành tố tụng không phải là quá trình thực
hiện trách nhiệm hình sự mà chỉ là quá trình xác định những điều kiện cần và
đủ để có thể truy tố người phạm tội và buộc tội họ trước Tòa án. Chức năng
xét xử, kết tội người phạm tội thuộc về Tòa án. Căn cứ vào kết quả của quá
trình điều tra và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án sẽ ra phán quyết về
việc có kết tội người đã bị truy tố hay không. Nếu có đủ cơ sở để kết án người
phạm tội, Tòa án sẽ ra bản án kết tội đối với người đó, bản án kết tội của Tòa
án chính là sự thể hiện của trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người phạm
tội. Việc thực hiện trách nhiệm hình sự từ phía Nhà nước và việc phải chịu
trách nhiệm hình sự từ phía người phạm tội chỉ bắt đầu khi bản án kết tội của
Tòa án đối với bị cáo có hiệu lực pháp luật.
Thời điểm bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật là thời điểm
bắt đầu thực hiện trách nhiệm hình sự, người phạm tội chính thức phải chịu
trách nhiệm hình sự trước Nhà nước, chính thức "bị coi là có tội". Nếu không
có những lý do đặc biệt, người phạm tội sẽ phải chấp hành toàn bộ hình phạt
do Tòa án quyết định trong bản án kết tội.
Thông thường, bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật sẽ được
đem ra thi hành. Song có thể xảy ra trường hợp việc thi hành án không được
thực hiện vì hết thời hiệu thi hành bản án do những nguyên nhân khác nhau,
như cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thi hành án vì sơ suất đã không ra
quyết định thi hành án hoặc mặc dù đã có quyết định thi hành án nhưng quyết
định đó bị thất lạc hoặc cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành án đã quên
không thi hành án và thời hiệu thi hành bản án đã hết. Trong những trường
hợp này, người bị kết án không phải chấp hành bản án mà Tòa án đã tuyên.
24
Trong những trường hợp hết thời hiệu thi hành bản án, mặc dù bản án
kết tội của Tòa án có kèm theo việc quyết định hình phạt đối với người bị kết
án, nhưng trách nhiệm hình sự của người bị kết án sẽ không được thể hiện ở
việc người đó phải chấp hành bản án của Tòa án. Tuy nhiên, việc hết thời hiệu
thi hành bản án không có nghĩa là trách nhiệm hình sự đối với người bị kết án
đã chấm dứt. Trong trường hợp này, người bị kết án vẫn còn án tích, nghĩa là
trách nhiệm hình sự của người đó vẫn còn. Án tích đối với người đó chỉ được
xóa sau một khoảng thời gian nhất định kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án.
Thông thường, sau khi bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật
có kèm theo quyết định hình phạt tù đối với người bị kết án, người bị kết án sẽ
phải chấp hành hình phạt khi có quyết định thi hành án của cơ quan có thẩm
quyền. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc thi hành án phạt tù có thể bị
hoãn nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc tạm đình chỉ chấp
hành hình phạt tù khi có những điều kiện được quy định tại Điều 61 BLHS.
Việc hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù không có nghĩa là hoãn
hoặc tạm đình chỉ việc thực hiện trách nhiệm hình sự của người bị kết án. Vì
án tích của người bị kết án được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt
tù vẫn đang tồn tại.
Bản án kết tội là hình thức thể hiện nội dung của trách nhiệm hình sự,
song việc người bị kết án chấp hành xong bản án chưa phải là sự kiện kết thúc
việc thực hiện trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự của một người chỉ
kết thúc khi án tích đối với người ấy được xóa.
1.3. Cơ sở của trách nhiệm hình sự
1.3.1. Cơ sở triết học của trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm nói chung và trách nhiệm hình sự nói riêng chỉ có thể được
đặt ra đối với hành vi của con người. Các quy định của pháp luật được đặt ra
là nhằm điều chỉnh hành vi của con người. Những tư tưởng, ý nghĩ, đặc điểm
riêng biệt của con người không thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật nếu chúng
chưa được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành vi cụ thể.
Vấn đề đặt ra là vì sao Nhà nước, xã hội lại buộc một người lại phải
chịu trách nhiệm về hành vi của mình? Trả lời câu hỏi này liên quan đến việc
giải quyết vấn đề triết học về tự do ý chí, về mối quan hệ giữa tất yếu và tự do,
hai phạm trù triết học biểu hiện mối quan hệ qua lại giữa hoạt động của con
người và các quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội.
25