Chương I: Khái quát chung về Công ty cổ phần nhựa Bình Minh
1. Thông tin cơ bản
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
Tên gọi công ty: CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA BÌNH MINH
Tên giao dịch: Bình Minh Plastics Joint-Stock Company
Tên viết tắt: BMPLASCO
Vốn điều lệ: 454,784,800,000 đồng
Cơ cấu vốn khi thành lập
Địa chỉ: 240 Hậu Giang, Phường 9, Quận 6 Thành phố HCM
Điện thoại: +84-(08)-3969 0973 - Fax: +84-(08)-3960 6814
Fax: ( 84.8) 39606814
E-mail:
Website:
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số
Công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức vào ngày
11/7/2006
• Mã chứng khoán: BMP
• Mã số thuế: 0301464823
• Ngành nghề kinh doanh: Sản xuất các sản phẩm nhựa:
- Ống và phụ tùng HDPE dường kính từ 16mm đến 1.200mm, dùng trong các ngành cấp
thoát nước, điện lực, xây dựng và dân dụng, đặt biệt cho các vùng nước phèn và nước
mặn.
- Ống và phụ tùng uPVC đường kính từ 21mm đến 630mm, dùng trong các ngành cấp
thoát nước, điện lục, bưu chính viễn thông, xây dựng và dân dụng.
- Ống gán HDPE thành đôi và phụ tùng đường kính từ 110mm đến 500mm, đặc biệt
dùng trong ngành thoát nước hạ tầng, điện lực.
- Ống và phụ tùng PP-R đường kính từ 20mm đến 160mm, dùng cho nước nóng và nước
lạnh, chị áp lực cao.
2. Lịch sử hình thành
Năm 1977, Công ty Ống nhựa hóa học Việt Nam (Kepivi) và Công ty nhựa Kiều Tinh
được sáp nhập lấy tên là Nhà máy Công tư hợp doanh Nhựa Bình Minh trực thuộc Tổng
công ty Công nghệ phẩm - Bộ Công nghiệp nhẹ. Sản phẩm chủ yếu trong giai đoạn này là
các sản phẩm gia dụng kế thừa từ đơn vị cũ.
3. Quá trình phát triển
1980 - 1989: Định hướng phát triển
Đầu thập niên 80, trong bối cảnh kinh tế đất nước bị cấm vận, Nhà máy sản xuất cầm
chừng từ nguồn nguyên liệu tồn kho từ trước ngày giải phóng, Ban Lãnh đạo đã xác định
tập trung sản xuất sản phẩm nhựa kỹ thuật đáp ứng cho nhu cầu thiết yếu của xã hội với
chi phí nguyên liệu thấp nhất. Các sản phẩm như dây truyền dịch, bộ điều kinh Karman
cho y tế, phụ tùng nhựa cho ngành dệt, bình xịt phục vụ nông nghiệp, nón bảo hộ lao
động cho công nhân hầm mỏ đã ra đời trong giai đoạn này.
Năm 1986 đánh dấu bước chuyển mình lịch sử của Xí nghiệp khoa học sản xuất Nhựa
Bình Minh. Bằng hợp đồng gia công ống nhựa cho Unicef phục vụ chương trình nước
sạch nông thôn, lần đầu tiên ống nhựa sản xuất tại Việt Nam thay thế ống nhập khẩu ra
đời, chi phí gia công được khách hàng trả bằng nguyên liệu đã tạo tiền đề cho ngành ống
nhựaViệt Nam phát triển.
1990 -1999: Đầu tư khoa học kỹ thuật - Định hướng sản xuất
Công ty Nhựa Bình Minh đã chuyển đổi hoàn toàn từ một nhà máy chuyên sản xuất
hàng gia dụng sang sản xuất nhựa công nghiệp, chủ yếu là ống nhựa theo tiêu chuẩn quốc
tế. Công ty tập trung đầu tư máy móc thiết bị hiện đại trở thành đơn vị đầu tiên ứng dụng
công nghệ Dry-Blend sản xuất ống nhựa đường kính đến 400mm - lớn nhất Việt Nam.
Đầu tư mở rộng mặt bằng Nhà máy tại TP.HCM, đầu tư mới Nhà máy 2 với tổng diện
tích 20.000m2 tại khu Công nghiệp Sóng Thần 1, tỉnh Bình Dương, trang bị hoàn toàn
máy móc hiện đại của các nước Châu Âu.
Thương hiệu Nhựa Bình Minh được đăng ký bảo hộ độc quyền, khởi đầu cho việc xây
dựng và phát triển thương hiệu.
2000 đến nay: Đổi mới để phát triển toàn diện
Xác định tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng, năm 2000 Công ty đã đưa
vào áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9002-1994, đến nay đã
được chuyển đổi sang phiên bản ISO 9001-2008.
Ngày 02/01/2004, Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh chính thức hoạt động với tên
giao dịch là Bình Minh Plastics Joint-Stock Company, viết tắt là BMPLASCO.
Ngày 11/7/2006 đã trở thành ngày có ý nghĩa quan trọng khi cổ phiếu của Công ty
chính thức giao dịch trên Thị trường chứng khoán Việt Nam với mã chứng khoán BMP.
Với chủ trương “Đổi mới để phát triển”, Công ty đã liên tục đầu tư máy móc thiết bị
hiện đại bằng nguồn vốn tự có để nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm. Công ty
mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của thị trường
Hướng tới sự phát triển bền vững, thực hiện cam kết trách nhiệm với cộng đồng và xã
hội, năm 2011 Công ty được cấp chứng nhận Hệ thống Quản lý môi trường ISO 14001:
2004.
Việc xây dựng và phát triển hệ thống phân phối một lần nữa khẳng định hướng đi
đúng đắn của Công ty trong việc phát triển thị phần. Từ 3 cửa hàng đầu tiên của những
năm 90, đến nay hệ thống phân phối của Công ty đã có hơn 600 cửa hàng, đưa sản phẩm
mang thương hiệu Nhựa Bình Minh có mặt khắp mọi miền đất nước và xuất khẩu sang
các nước láng giềng.
Hoạt động marketing được đẩy mạnh. Hiện nay thương hiệu Nhựa Bình Minh được
đánh giá là thương hiệu dẫn đầu ngành nhựa Việt Nam.
4. Định hướng phát triển trong những năm tới
Với định hướng chiến lược luôn trở thành một nhà sản xuất, cung ứng ống và phụ tùng
ống nhựa hàng đầu tại Việt nam, sản phẩm của Nhựa Bình Minh đã có một chỗ đứng
vững chắc trên thị trường, khẳng định ưu thế về chất lượng, phù hợp với các tiêu chuẩn
quốc gia và quốc tế.
Để duy trì vị trí là một trong những nhà sản xuất và cung ứng ống và phụ tùng ống
nhựa hàng đầu tại Việt Nam, Nhựa Bình Minh xác định một chiến lược phát triển nhất
quán, cải tiến không ngừng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000,
đầu tư thích đáng cho con người, liên tục hiện đại hóa thiết bị và nâng cao chất lượng sản
phẩm.
Với những định hướng và cam kết trên, Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh hy vọng
và tin tưởng vào sự phát triển bền vững trong tương lai. Nhựa Bình Minh cam kết thỏa
mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
II. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty nhựa Bình Minh năm
2015
1. Đặc điểm tình hình
a.thuận lợi
- Năm 2015, kinh tế đất nước trên đà phục hồi, dự báo của Chính phủ về tốc độ tăng
trưởng GDP Việt Nam cả năm là 6,68%, cao nhất trong 8 năm trở lại đây. Bất động sản
dần tan băng, lạm phát thấp, đầu tư công tăng. Giá nguyên liệu từ quý 2 bắt đầu giảm,
tuy cách biệt không lớn nhưng đều đặn đến cuối năm, tác động mạnh mẽ đến hiệu quả
kinh doanh do giá bán không thay đổi lớn.
- Nhu cầu thị trường ổn định và tăng cao hơn dự báo nên phải đầu tư bổ sung thêm
thiết bị. Nhà máy Bình Minh Long An được khánh thành vào ngày 18/11/2015 là công
trình chào mừng 38 năm thành lập Công ty, đã giải quyết được phần nào việc thiếu
ống nhựa Bình Minh trên thị trường.
- Hàng loạt chính sách cạnh tranh phải áp dụng trong năm để giữ khách hàng. Nhờ đó,
thị phần của Công ty vẫn được giữ vững.
- Sự quyết tâm ổn định chính trị, an ninh đất nước của Chính phủ sẽ giúp cho kinh tế vĩ
mô của Việt Nam ngày càng sáng sủa, rực rỡ hơn, tạo tiền đề thích hợp cho các doanh
nghiệp sản xuất sản phẩm phục vụ cơ sở hạ tầng như Nhựa Bình Minh. Dự báo tăng
trưởng ngành xây dựng có thể vẫn còn ở mức hai con số, là cơ sở để Công ty tiếp tục
phát triển cao trong năm 2016.
b.Khó khăn
- Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đã hình thành, tạo ra thách thức cạnh tranh với sản
phẩm của các đối thủ đến từ các nước trong AEC.
- Thị trường nội địa có thêm những đối thủ cạnh tranh. Hình thức cạnh tranh có nhiều
dấu hiệu khốc liệt và thiếu lành mạnh.
- Nạn hàng giả, hàng nhái không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế, mà nguy hiểm hơn
có thể làm xói mòn lòng tin của khách hàng và ảnh hưởng đến danh tiếng của Công ty.
Công ty phải bỏ nhiều công sức kết hợp cùng công an để đấu tranh với vấn nạn này
- Do máy móc thiết bị đầu tư về không kịp nên vẫn xảy ra tình trạng thiếu hàng hóa
trầm trọng và kéo dài đến cuối năm dù đã sử dụng hết năng lực sản xuất ở tất cả các
nhà máy.
- Việc truy thu thuế kéo dài chưa dứt điểm gây ảnh hưởng về thời gian và nguồn lực
của Công ty.
- Có mối tương quan chặt chẽ với hiệu quả của Nhựa Bình Minh là giá dầu – cơ sở hình
thành giá nguyên vật liệu nhựa – lại là điều khó tiên đoán dài hạn vì còn phụ thuộc rất
nhiều vào các yếu tố khác trên thế giới chứ không chỉ đơn thuần phản ánh giá trị khai
thác. Do đó, chỉ có thể dự báo ngắn hạn và đòi hỏi sự nhạy bén cao trong đánh giá tình
hình để không ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
2. Một số hoạt động chính của công ty trong năm 2015
- Tháng 10/2015: Trong năm đã tổ chức nhiều hoạt động đào tạo, hội thảo cho khách
hàng.
- Khánh thành Nhà máy Bình Minh Long An, trị giá đầu tư hơn 144 tỷ, với tổng diện
tích xây dựng là 32.400 m2, thiết bị đạt công suất 5.000 tấn sản phẩm phụ tùng /năm.
- Tháng 11/2015: Phối hợp với cơ quan chức năng triệt phá một tổ chức sản xuất ống
nhựa giả nhãn hiệu Nhựa Bình Minh quy mô lớn tại Tp.HCM.
- Ngày 09 – 12/12/2015: Tổ chức Hội nghị khối khách hàng dự án tại Thái Lan với gần
200 khách hàng đại diện cho các đơn vị cấp thoát nước, nhà thầu xây dựng và chủ đầu
tư các công trình lớn trong cả nước.
- Công ty đã thực hiện đầu tư máy móc thiết bị mới, hiện đại và đồng bộ, nhằm tăng
cường năng lực cạnh tranh với tổng vốn đầu tư trên 119 tỷ đồng.
- Trong năm 2015, Công ty tiếp tục triển khai dự án Oracle ERP, đầu tư thiết bị công
nghệ thông tin và bản quyền phần mềm Windows Server tại NBM và Nhà máy Nhựa
Bình Minh Long An với tổng vốn đầu tư là 1,3 tỷ đồng. Đến thời điểm hiện tại, Công ty
đã áp dụng chính thức 5 phân hệ tại 5 địa điểm của Công ty là: Trụ sở chính Công ty,
Nhà máy 1, Nhà máy 2, Nhà máy Bình Minh Long An và NBM.
- Năm 2015, Công ty đưa Nhà máy Bình Minh Long An vào hoạt động nên cơ cấu tổ
chức có thay đổi. Bên cạnh việc bổ nhiệm Giám đốc, Phó Giám đốc Nhà máy Bình Minh
Long An, Công ty đã kiện toàn bộ máy quản lý và bổ nhiệm hàng loạt cán bộ quản lý
cấp trung bao gồm: Giám đốc Nhà máy 1; Trưởng, phó phòng Tiếp thị; Trưởng Phòng
Quản trị Hành chính; Phó phòng Nhân sự; Phó phòng Kinh doanh và Phó phòng Quản
trị hệ thống thông tin.
3. Phân tích tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
a. Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty
Mục tiêu của công tác tổ chức là tạo ra môi trường thuận lợi cho từng cá nhân, từng
bộ phận trong công ty hoạt động có hiệu quả hơn. Nhằm phát huy tối đa năng lực của
mỗi người, góp phần hoàn thành mục tiêu chung của công ty.
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty Nhựa Bình Minh
*Bộ máy quản lý:
•
Ban “ Tổng Giám Đốc” , gồm :
- 1 Tổng Giám đốc: là ông Nguyễn Hoàng Ngân
- 2 Phó Tổng giám đốc :
+ Phó Tổng giám đốc Kinh doanh: là bà Nguyễn Thị Kim Yến
+ Phó Tổng giám đốc Kỹ thuật : là ông Nguyễn Thanh Quan
-1 Kế toán trưởng : là ông Hồng Lê Việt
Ban Tổng Giám đốc là thành viên của Hội đồng Quản trị. Ban Giám đốc là những người
điều hành hoạt động hàng ngày của Công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng Quản
trị về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.
•
-
-
-
-
-
Các Phòng Ban : Đứng đầu mỗi phòng ban là các trưởng phòng
Phòng kinh doanh: trực tiếp chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động tiếp thị bán hàng tới các khách hàng và khách hàng tiềm năng của Doanh nghiệp nhằm
đạt mục tiêu về Doanh số, Thị phần,...
Phòng tiếp thị: Nghiên cứu thị trường, làm tham mưu về các mặt, xác định cơ
cấu các mặt hàng xuất khẩu của Công ty, mở rộng, khai thác và theo dõi thị
trường, phân tích và dự đoán thời gian đặt hàng của khách hàng để tiến hành
các bước thương lượng, đàm phán và ký kết hợp đồng với các nhà cung
ứng,khách hàng đạt hiệu quả.
Phòng quản trị hành chính, có nhiệm vụ thực hiện công tác tổ chức, sắp xếp cán
bộ công nhân viên Công ty như: cập nhật hồ sơ nhân sự, quản lý về số lượng
cũng như chất lượng của cán bộ công nhân viên, tổ chức và nâng cao tay nghề,
trình độ quản lý của cán bộ công nhân viên.
Phòng kế toán tài chính: quản lý việc thu chi tài chính, lập sổ sách,hạch toán,
báo cáo quyết toán chính xác, kịp thời và kiểm tra thường xuyên các hoạt động
kế toán của Công ty:
+Tổ chức thanh toán, quyết toán việc mua bán hàng hóa nhanh chóng và thu
hồi công nợ, tránh tình trạng chiếm dụng vốn làm ảnh hưởng đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của Công ty.
+Lập kế hoạch tài chính, cân đối thu chi tài chính của Công ty, đảm bảo cho việc
hỗ trợ tích cực kế hoạch kinh doanh của Công ty.
+Theo dỗi tình hình kinh doanh và hiệu quả đồng vốn để tham mưu cho Ban
Tổng giám đốc và Hội đồng quản trị có biện pháp nhằm sử dụng vốn kinh
doanh, tăng nhanh vòng quay của vốn, góp phần đem lai lợi nhuận cho Công ty.
+Hướng dẫn thực hiện biểu bảng, chứng từ hạch toán, quyết toán thống kê và
quản lý các chứng từ thanh toán do Nhà nước quy định.
+Chịu trách nhiệm trực tiếp trước Hội đồng quản trị và Ban Tổng giám đốc về
các nghiệp vụ kinh doanh phát sinh trong toàn Công ty, tham mưu cho ban lãnh
đạo về các vấn đề liên quan đến tình hình tài chính của Công ty, đảm bảo tình
hình tài chính của Công ty lành mạnh, phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh
được lien tục và đạt hiệu quả cao.
Phòng nhân sự : có nhiệm vụ hỗ trợ cấp trên quản lý các nghiệp vụ về nhân sự,
tương tác, hỗ trợ các phòng ban khác khi họ có yêu cầu hay gặp khó khăn về
vấn đề nhân sự. Cụ thể, phòng nhân sự gồm 4 chức năng và nhiệm vụ chính là :
-
-
-
-
lập kế hoạch và tuyển dụng, đào tạo và phát triển nhân lực, duy trì và quản lý
nguồn lực, nắm bắt thông tin các nhân sự trong Công ty một cách nhanh chóng
và truyền tin hiệu quả.
Phòng quản trị hệ thống thông tin: Thu thập, nắm bắt thông tin về khách hàng,
cải tiến dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh và tạo đà cho sự phát triển. Đồng thời
tiếp nhận và truyền đạt thông tin giữa các bộ phận và ban lãnh đạo.
Phòng đầu tư nghiên cứu và phát triển: Xây dựng công nghệ chế biến các sản
phẩm mới, nghiên cứu cải tạo đa dạng hóa sản phẩm ( đa dạng về mẫu mã,công
dụng,tính năng,…) đáp ứng nhu cầu thị trường.
Phòng đảm bảo chất lượng : Kiểm soát các hoạt động sản xuất có liên quan đến
chất lượng sản phẩm, xây dựng và thực hiện nghiêm ngặt hệ thống các tiêu
chuẩn chất lượng sản phẩm, hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro, sai lỗi
trong quy trình sản xuất, lập kế hoạch quản lý chất lượng cho Công ty.
Các nhà máy: Thực hiện kế hoạch sản xuất và cung ứng sản phẩm ra thị trường
theo yêu cầu của cấp trên.
2.Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của công ty:
Với chiến lược phát triển đúng hướng của Hội đồng Quản trị, sự nỗ lực cao và tận
dụng được các yếu tố thuận lợi của Ban Tổng giám đốc đã giúp Nhựa Bình Minh hoàn
thành tốt nhiệm vụ được Đại hội đồng cổ đông giao cho năm 2015, cụ thể :
Tình hình thực hiện so với kế hoạch
STT
1
2
CHỈ
TIÊU
ĐVT
THỰC
HIỆN
2014
KẾ
HOẠCH
2015
THỰC
HIỆN
2015
TH/KH
2015
TH/2014
Doanh
thu
Tỷ đồng
2.416
2.700
2.970
110%
119%
Tấn
58.000
62.800
67.857
108%
117%
Sản
lượng
tiêu thụ
3
Lợi
nhuận
trước
thuế
Tỷ đồng
481
482
665
138%
138%
( Nguồn: Báo cáo thường niên công ty cổ phần Bình Minh năm 2015)
Biểu đồ 1: Sản lượng tiêu thụ thực hiện so với kế hoạch ( năm 2015)
Biểu đồ 2: Doanh thu thực hiện so với kế hoạch ( năm 2015)
Biểu đồ 3: Lợi nhuận trước thuế thực hiện so với kế hoạch ( năm
2015)
Dựa vào bảng số liệu và biểu đồ trên ta thấy:
Nhựa Bình Minh đã có một năm đạt được toàn bộ những chỉ tiêu kế hoạch tốt, Tổng
doanh thu 2.970 tỷ, tăng gần 19% so với năm 2014, vượt chỉ tiêu kế hoạch đặt ra
10%; sản lượng tiêu thụ 67.857 tấn, tăng 17% so với năm 2014, vượt chỉ tiêu kế hoạch
đặt ra 8%; lợi nhuận trước thuế 665 tỷ, tăng gần 38% so với năm 2014, vượt chỉ tiêu
kế hoạch đặt ra 38%.
Có được kết quả như trên, là do Công ty đã tận dụng được các lợi thế trong thị trường
đang cạnh tranh gay gắt, bao gồm:
• Định hướng về chiến lược sản phẩm đúng.
• Giá trị thương hiệu cao, độ nhận biết và bao phủ của thương hiệu rộng khắp.
• Các nguồn lực được sử dụng đúng mức. Năng suất lao động cao, chi phí sản xuất
hợp lý.
• Điều chỉnh một cách linh hoạt chính sách kinh doanh theo sát thị trường nhưng vẫn
đảm bảo tính hiệu quả trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh.
• Xử lý thông tin và sự việc bất lợi một cách bình tĩnh với giải pháp phù hợp.
• Có được tinh thần đồng thuận của tập thể cán bộ công nhân viên và sự tin cậy, chung
thủy của hệ thống khách hàng.
• Có một hệ thống nhà cung cấp cùng sát cánh, chia sẻ và trung thực với Công ty.
Có thể so sánh kết quả của Nhựa Bình Minh với một số đơn vị cùng ngành qua
hai chỉ tiêu quan trọng đã thực hiện năm 2015 sau:
STT
CHỈ TIÊU
ĐVT
TÊN ĐƠN VỊ NHỰA
BÌNH
MINH
TIỀN
PHONG
ĐỒNG
NAI
ĐÀ NẴNG
A
B
C
1
2
3
4
1
Doanh thu
2.970
3.564
911
82
2
Lợi nhuận
trước thuế
Tỷ suất
LN/DT
Tỷ
đồng
Tỷ
đồng
%
665
412
62
02
22,4
11,5
6,8
2,4
3
( Nguồn: Báo cáo thường niên CTCP Bình Minh, năm 2015)
Nhận xét: Qua bảng số liệu trên có thể thấy rằng mặc dù Nhựa Bình Minh chưa phải
là đơn vị có doanh số cao nhất ngành, nhưng vẫn là doanh nghiệp có hiệu quả nhất và
tiếp tục phát triển bền vững.
Chương II: Phân tích các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của công ty
I. Ảnh hưởng của yếu tố môi trường bên trong
Các yếu tố lien quan đến quản trị
Hoạch định
Công tác hoạch định được ban lãnh đạo công ty đề ra một cách phù hợp,có chiến
lược kinh doanh dài hạn, sách lược và giải pháp cụ thể cho từng nội dung hoạt
động
2 Tổ chức
Sơ đồ tổ chức của công ty
1
1
3
Nguồn :hminhplast
ic.com.vn/
Cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp của công ty được hoạch định theo cơ cấu
chức năng kết hợp với mô hình tổ chức hỗn hợp
Doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn lực, năng suất lao động đạt hiệu quả
cao
Bên cạnh đó thì vẫn còn tồn tại một số phòng ban chưa làm hết chức năng của
mình, thiếu sự kết dính với các phòng ban khác
Lãnh đạo
Chủ Tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty - Ông Lê Quang
Doanh
Chức năng lãnh đạo thực hiện khá tốt : quản lý công ty đã có định hướng rõ ràng, chiến
lược xuyên suốt, mục tiêu cụ thể
4
Kiểm tra
Chức năng kiểm tra của công ty thực hiện khá tốt, tạo điều kiện cho công ty hoạt động
có hiệu quả
Nhân sự
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ, đề bạt cán bộ trẻ, áp dụng chính sách đào tạo, quy
hoạch và đãi ngộ một cách hợp lý
2 Chế độ lương, thưởng cho nhân viên
2
1
Trình độ của đội ngũ nhân sự
Ban lãnh đạo công ty là những người có trình độ và năng lực quản lý cao, dày dặn
kinh nghiệm, tận tụy với công việc. Lực lượng lao động phần lớn có kinh nghiệm,
bằng cấp,chứng chỉ chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng công tác sản xuất trực tiếp
cũng như quản lý
3 Sản xuất- tác nghiệp
Hiện tại số lượng đại lý của công ty đã tăng lên đến 260 đại lý ở miền Nam và 40
đại lý ở miền Bắc. Đây là kênh bán hàng chủ lực của Công ty và chiếm tới 90%
tổng doanh thu bán hang, phần còn lại là Công ty bán trực tiếp cho các dự án.
Chính nhờ hệ thống phân phối rộng khắp này mà Công ty có thể kiểm soát được
giá bán và điều chỉnh gía bán kịp thời trước những đợt tăng giá mạnh của NVL
trong thời gian qua.
Việc bố trí các xí nghiệp tại những huyết mạch giao thông đã đem lại nguồn thu
tương đối cho công ty, giúp tiết kiệm chi phí
Đi cùng với đó là việc áp dụng các kỹ thuật, các máy móc mới vào sản xuất cũng
góp phần tiết kiệm, sử dụng nguồn lực hiệu quả
4 Yếu tố marketing
Vấn đề về marketing là vấn đề quan trọng. Công ty chú trọng vào các hoạt động
quảng cáo, tuyên truyền sản phẩm và thương hiệu của công ty đang dần được
khẳng định trên thị trường ( thương hiệu Nhựa Bình Minh được gọi là “Vua
giải thưởng của ngành xây dựng”)
5 Yếu tố nghiên cứu phát triển
Năm 2010, Công ty đã đầu tư thêm trên 94 tỷ đồng mua thiết bị công nghệ hiện
đại để trở thành doanh nghiệp đầu tiên trong cả nước sản xuất ống HDPE có
3
đường kính 1200mm, lớn nhất Việt Nam để kịp đáp ứng nhu cầu phát triển của thị
trường. Việc đầu tư dàn máy lớn vào thời điểm này được đánh giá là 1 trong
những quyết định táo bạo của Lãnh đạo Công ty, đây là một trong những dự án
“đón đầu” thị trường của Nhựa Bình Minh
II. Môi trường bên ngoài
1
Yếu tố kinh tế
Các ảnh hưởng chủ yếu về kinh tế bao gồm: tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, chính sách
tài chính tiền tệ… Tuy nhiên, ở đây ta chỉ xét đến những yếu tố có ảnh hưởng thật sự đến
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Đặc điểm nổi bật của ngành Nhựa Việt Nam là phải nhập khẩu đến 80 – 90% nguyên liệu
đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm. Do đó, tỷ giá hối đoái có ảnh
hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Nếu tỷ giá tăng lên thì chi phí
đầu vào của công ty cũng sẽ tăng theo, trong khi giá bán sản phẩm lại không thể điều
chỉnh tăng tương ứng. Quá trình này kéo dài lâu và công ty không có các biện pháp khắc
phục như dự trữ trước nguyên liệu, sử dụng các nghiệp vụ quyền chọn của ngân hàng thì
sẽ phải chịu những ảnh hưởng lớn đến giá thành sản xuất cũng như lợi nhuận, làm giảm
hiệu quả hoạt động của công ty. Bên cạnh đó, các loại nguyên liệu đầu vào của ngành
Nhựa được tạo ra chủ yếu từ dầu mỏ, nên giá dầu mỏ cũng là yếu tố chính có ảnh hưởng
quyết định đến giá của các loại nguyên liệu nhựa. Giá dầu thế giới tăng mạnh trong năm
qua khiến cho giá nguyên liệu nhựa cũng tăng theo, năm 2007 tăng trung bình là 144
USD/tấn so với năm 2006. Do ngành hoá dầu trong nước vẫn chưa phát triển nên ngành
Nhựa vẫn phải phụ thuộc vào giá dầu và giá nguyên liệu nhựa trên thế giới. Đây là một
trở ngại lớn mà Công ty Nhựa Bình Minh phải giải quyết để có thể thực hiện mục tiêu
đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nhựa. Một nhân tố kinh tế nữa cũng có ảnh hưởng là lãi
suất. Để thực hiện sản xuất, ngoài vốn tự có và vốn huy động qua các hình thức phát hành
chứng khoán, công ty Nhựa BM phải sử dụng đến nguồn vốn tín dụng của ngân hàng.
Mặt khác, khi nền kinh tế xảy ra lạm phát cao, Nhà nước buộc phải thực hiện chính sách
tiền tệ thắt chặt bằng cách tăng lãi suất cho vay thì doanh nghiệp lại càng khó khăn hơn
trong việc tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng. Do đó, nhân tố lãi suất cũng có tác động
không nhỏ đến hoạt động của công ty.
2
Yếu tố chính trị, pháp luật
Sự ổn định của hệ thống chính trị, luật pháp, chính sách của một quốc gia có ảnh hưởng
rất nhiều đến sự ổn định và khả năng phát triển của các ngành kinh tế nói chung. Ngành
Nhựa Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động đó. Trong Quyết định số
11/2004/QĐ-BCN ngày 17/2/2004 về Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Nhựa Việt
Nam đến năm 2010, Chính phủ đặt mục tiêu ưu tiên phát triển ngành Nhựa thành ngành
kinh tế mạnh. Tiếp theo, trong Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục 10
ngành công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn giai đoạn 2007- 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và
một số chính sách khuyến khích phát triển, ngành Nhựa cũng nằm trong danh sách các
ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển. Điều này cho thấy ngành Nhựa sẽ được tạo
nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh hoạt động sản xuất cũng như xuất khẩu. Mặc dù
các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp nhựa đã được xây dựng
và ban hành, nhưng hiện nay ngành Nhựa vẫn còn thiếu quy định của Nhà nước về việc
nhập khẩu phế liệu sản xuất để tái sinh nhằm hạ giá thành đầu vào cho ngành Nhựa. Điều
này cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc chủ động nguyên liệu
đầu vào và giảm chi phí.
3
Yếu tố văn hóa – xã hội
Nhựa ngày càng chứng tỏ được vai trò to lớn trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong
các ngành kinh tế. Các sản phẩm làm bằng nhựa ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong
tiêu dùng hàng ngày cũng như làm nguyên liệu cho các ngành khác. Cuộc sống càng phát
triển, thu nhập càng cao thì yêu cầu của người tiêu dùng đối với chất lượng, mẫu mã của
sản phẩm nhựa cũng tăng lên, kể cả các sản phẩm cao cấp. Không giống như mặt hàng
dệt may, các doanh nghiệp nhựa Việt Nam lại thích thị trường nội địa hơn thị trường xuất
khẩu. Nguyên nhân là do giá bán sản phẩm nhựa trong nước thường cao, do đó bán sản
phẩm trong nước có thể thu được lợi nhuận cao hơn xuất khẩu. Vì vậy, sản phẩm nhựa
Việt Nam đã quen thuộc và được người dân cũng như các doanh nghiệp Việt Nam tin
dùng. Đây là một thuận lợi cho Cty Nhựa BM trong việc chiếm lĩnh và mở rộng thị phần
tại thị trường nội địa. Mặt khác, sản phẩm Nhựa của Việt Nam cũng được các nước nhập
khẩu đánh giá cao và chưa bị áp thuế chống bán phá giá. Do đó tiềm năng xuất khẩu nhựa
cũng rất thuận lợi. Xu hướng của thế giới là sử dụng những sản phẩm nhựa thân thiện với
môi trường, trong khi các sản phẩm nhựa xuất khẩu của Việt Nam hiện nay như túi xốp
đựng hàng siêu thị, túi đựng rác lại chưa đáp ứng được yêu cầu này, làm tăng nguy cơ bị
mất thị trường trên thế giới.
4
Yếu tố công nghệ
Nhân tố công nghệ có một tác động to lớn đến sự phát triển của ngành nhựa. Khoa học
công nghệ phát triển đã giúp cho nhựa trở thành nguyên liệu thay thế cho các sản phẩm
truyền thống như gỗ, kim loại v.v. Bên cạnh đó, công nghệ hiện đại đang góp phần tạo ra
những sản phẩm nhựa có mẫu mã đẹp, chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu thẩm mỹ
cũng như sự an toàn trong sử dụng cho người tiêu dùng. Các doanh nghiệp nhựa Việt
Nam trong những năm qua đã chú ý đến việc đầu tư đổi mới công nghệ. Vì thế các sản
phẩm nhựa Việt Nam được đánh giá là có khả năng cạnh tranh khi xuất khẩu do công
nghệ đã đáp ứng được yêu cầu của thế giới. Tuy nhiên, việc đổi mới công nghệ, máy móc
thiết bị đối với ngành Nhựa hiện nay vẫn đang là một trở ngại lớn do hầu hết các thiết bị
phục vụ cho hoạt động sản xuất của ngành, như máy in, máy ghép, máy thổi v.v. đều phải
nhập khẩu. Nếu ngành cơ khí của Việt Nam có thể phát huy tốt vai trò hỗ trợ thì ngành
Nhựa sẽ có khả năng tiếp cận được với công nghệ hiện đại với chi phí hợp lý, qua đó tăng
hiệu quả hoạt động và doanh thu của ngành.
5
Yếu tố cạnh tranh
a/ Ngoài nước
Giá thành sản xuất của ngành Nhựa cũng bị biến động theo sự biến động của giá cả
nguồn nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là sự biến động về giá của 2 loại nguyên liệu được
sử dụng nhiều trong sản xuất là PP và PE với mức tăng trung bình là 13,7%. Trong khi
đó, giá nhập khẩu các chủng loại nguyên liệu Nhựa luôn có sự biến động theo sự biến
động của giá dầu trên thế giới. Không chủ động được nguyên liệu đầu vào là một hạn chế
lớn đối với ngành Nhựa Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể xoay xở kịp
với sự tăng giảm thất thường của giá đầu vào, đồng thời cũng không thể điều chỉnh ngay
lập tức giá bán sản phẩm khi chi phí đầu vào tăng lên vì mục tiêu duy trì chữ tín với
khách hàng. Đây là một nhiệm vụ rất lớn mà Việt Nam cần phải giải quyết trong thời
gian tới để có thể hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nhựa xuất
khẩu.
b/ Trong nước
Cạnh tranh trên thị trường mảng ống nhựa xây dựng đang ngày càng khốc liệt, đặc biệt
khi một số tên tuổi lớn như Tập đoàn Hoa Sen bắt đầu lấn sân sang lĩnh vực này. Tuy
vậy, hoạt động kinh doanh của CTCP Nhựa Bình Minh (HSX: BMP), “đầu tàu” của thị
trường ống nhựa phía Nam, vẫn có sự tăng trưởng nhảy vọt.
Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2016, BMP tiêu thụ khoảng 40.000 tấn sản phẩm, tương
đương với sản lượng của NTP ở khu vực phía Bắc và gấp đôi sản lượng tiêu thụ của
HSG. Hiệu quả kinh doanh của BMP có phần vượt trội hơn so với các đối thủ cùng
ngành nhờ (1) tỷ lệ chiết khấu thấp (11-17% so với 22-35% của HSG và NTP) và (2)
chính sách tiết kiệm chi phí. Trong 7 tháng đầu năm, doanh thu của BMP ước đạt 2.154
tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ, tương ứng hoàn thành khoảng khoảng 65% kế hoạch
doanh thu cả năm.
Dù chỉ vừa hoàn tất lắp đặt, các dây chuyền sản xuất mới ở nhà máy Long An đã được
khai thác đến gần công suất thiết kế. Tuy hệ số khai thác các máy móc thiết bị trung bình
của BMP hiện đạt trên 90% Công ty vẫn chưa thể đáp ứng hết nhu cầu thị trường. Một
trong những vấn đề BMP đang phải đối mặt là hiện tượng làm giả các sản phẩm ống
Nhựa Bình Minh. Trong tháng 7/2016, BMP đã phát hiện lô sản phẩm nhái tương đối lớn
ở huyện Bình Tân, TP. HCM. Bên cạnh việc tích cực ngăn chặn và xử lý hành vi làm giả
sản phẩm của Công ty, BMP sẽ tiếp tục mở rộng nhà máy Long An để bắt kịp nhu cầu thị
trường. Cụ thể, BMP dự kiến sẽ tăng công suất sản xuất phụ tùng thêm khoảng 10.000
tấn/năm, qua đó nâng tổng công suất toàn hệ thống lên ~125.000 tấn/năm vào cuối năm
2016.
II. Môi trường bên ngoài
1. Yếu tố kinh tế
Các ảnh hưởng chủ yếu về kinh tế bao gồm: tỷ lệ lạm phát, lãi suất ngân hàng, chính sách
tài chính tiền tệ… Tuy nhiên, ở đây ta chỉ xét đến những yếu tố có ảnh hưởng thật sự đến
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Đặc điểm nổi bật của ngành Nhựa Việt Nam là phải nhập khẩu đến 80 – 90% nguyên liệu
đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm. Do đó, tỷ giá hối đoái có ảnh
hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Nếu tỷ giá tăng lên thì chi phí
đầu vào của công ty cũng sẽ tăng theo, trong khi giá bán sản phẩm lại không thể điều
chỉnh tăng tương ứng. Quá trình này kéo dài lâu và công ty không có các biện pháp khắc
phục như dự trữ trước nguyên liệu, sử dụng các nghiệp vụ quyền chọn của ngân hàng thì
sẽ phải chịu những ảnh hưởng lớn đến giá thành sản xuất cũng như lợi nhuận, làm giảm
hiệu quả hoạt động của công ty. Bên cạnh đó, các loại nguyên liệu đầu vào của ngành
Nhựa được tạo ra chủ yếu từ dầu mỏ, nên giá dầu mỏ cũng là yếu tố chính có ảnh hưởng
quyết định đến giá của các loại nguyên liệu nhựa. Giá dầu thế giới tăng mạnh trong năm
qua khiến cho giá nguyên liệu nhựa cũng tăng theo, năm 2007 tăng trung bình là 144
USD/tấn so với năm 2006. Do ngành hoá dầu trong nước vẫn chưa phát triển nên ngành
Nhựa vẫn phải phụ thuộc vào giá dầu và giá nguyên liệu nhựa trên thế giới. Đây là một
trở ngại lớn mà Công ty Nhựa Bình Minh phải giải quyết để có thể thực hiện mục tiêu
đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm nhựa. Một nhân tố kinh tế nữa cũng có ảnh hưởng là lãi
suất. Để thực hiện sản xuất, ngoài vốn tự có và vốn huy động qua các hình thức phát hành
chứng khoán, công ty Nhựa BM phải sử dụng đến nguồn vốn tín dụng của ngân hàng.
Mặt khác, khi nền kinh tế xảy ra lạm phát cao, Nhà nước buộc phải thực hiện chính sách
tiền tệ thắt chặt bằng cách tăng lãi suất cho vay thì doanh nghiệp lại càng khó khăn hơn
trong việc tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng. Do đó, nhân tố lãi suất cũng có tác động
không nhỏ đến hoạt động của công ty.
2. Yếu tố chính trị, pháp luật
Sự ổn định của hệ thống chính trị, luật pháp, chính sách của một quốc gia có ảnh hưởng
rất nhiều đến sự ổn định và khả năng phát triển của các ngành kinh tế nói chung. Ngành
Nhựa Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác động đó. Trong Quyết định số
11/2004/QĐ-BCN ngày 17/2/2004 về Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Nhựa Việt
Nam đến năm 2010, Chính phủ đặt mục tiêu ưu tiên phát triển ngành Nhựa thành ngành
kinh tế mạnh. Tiếp theo, trong Quyết định số 55/2007/QĐ-TTg phê duyệt Danh mục 10
ngành công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn giai đoạn 2007- 2010, tầm nhìn đến năm 2020 và
một số chính sách khuyến khích phát triển, ngành Nhựa cũng nằm trong danh sách các
ngành công nghiệp được ưu tiên phát triển. Điều này cho thấy ngành Nhựa sẽ được tạo
nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh hoạt động sản xuất cũng như xuất khẩu. Mặc dù
các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp nhựa đã được xây dựng
và ban hành, nhưng hiện nay ngành Nhựa vẫn còn thiếu quy định của Nhà nước về việc
nhập khẩu phế liệu sản xuất để tái sinh nhằm hạ giá thành đầu vào cho ngành Nhựa. Điều
này cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc chủ động nguyên liệu
đầu vào và giảm chi phí.
3. Yếu tố văn hóa – xã hội
Nhựa ngày càng chứng tỏ được vai trò to lớn trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong
các ngành kinh tế. Các sản phẩm làm bằng nhựa ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong
tiêu dùng hàng ngày cũng như làm nguyên liệu cho các ngành khác. Cuộc sống càng phát
triển, thu nhập càng cao thì yêu cầu của người tiêu dùng đối với chất lượng, mẫu mã của
sản phẩm nhựa cũng tăng lên, kể cả các sản phẩm cao cấp. Không giống như mặt hàng
dệt may, các doanh nghiệp nhựa Việt Nam lại thích thị trường nội địa hơn thị trường xuất
khẩu. Nguyên nhân là do giá bán sản phẩm nhựa trong nước thường cao, do đó bán sản
phẩm trong nước có thể thu được lợi nhuận cao hơn xuất khẩu. Vì vậy, sản phẩm nhựa
Việt Nam đã quen thuộc và được người dân cũng như các doanh nghiệp Việt Nam tin
dùng. Đây là một thuận lợi cho Cty Nhựa BM trong việc chiếm lĩnh và mở rộng thị phần
tại thị trường nội địa. Mặt khác, sản phẩm Nhựa của Việt Nam cũng được các nước nhập
khẩu đánh giá cao và chưa bị áp thuế chống bán phá giá. Do đó tiềm năng xuất khẩu nhựa
cũng rất thuận lợi. Xu hướng của thế giới là sử dụng những sản phẩm nhựa thân thiện với
môi trường, trong khi các sản phẩm nhựa xuất khẩu của Việt Nam hiện nay như túi xốp
đựng hàng siêu thị, túi đựng rác lại chưa đáp ứng được yêu cầu này, làm tăng nguy cơ bị
mất thị trường trên thế giới.
4. Yếu tố công nghệ
Nhân tố công nghệ có một tác động to lớn đến sự phát triển của ngành nhựa. Khoa học
công nghệ phát triển đã giúp cho nhựa trở thành nguyên liệu thay thế cho các sản phẩm
truyền thống như gỗ, kim loại v.v. Bên cạnh đó, công nghệ hiện đại đang góp phần tạo ra
những sản phẩm nhựa có mẫu mã đẹp, chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu thẩm mỹ
cũng như sự an toàn trong sử dụng cho người tiêu dùng. Các doanh nghiệp nhựa Việt
Nam trong những năm qua đã chú ý đến việc đầu tư đổi mới công nghệ. Vì thế các sản
phẩm nhựa Việt Nam được đánh giá là có khả năng cạnh tranh khi xuất khẩu do công
nghệ đã đáp ứng được yêu cầu của thế giới. Tuy nhiên, việc đổi mới công nghệ, máy móc
thiết bị đối với ngành Nhựa hiện nay vẫn đang là một trở ngại lớn do hầu hết các thiết bị
phục vụ cho hoạt động sản xuất của ngành, như máy in, máy ghép, máy thổi v.v. đều phải
nhập khẩu. Nếu ngành cơ khí của Việt Nam có thể phát huy tốt vai trò hỗ trợ thì ngành
Nhựa sẽ có khả năng tiếp cận được với công nghệ hiện đại với chi phí hợp lý, qua đó tăng
hiệu quả hoạt động và doanh thu của ngành.
5. Yếu tố cạnh tranh
a/ Ngoài nước
Giá thành sản xuất của ngành Nhựa cũng bị biến động theo sự biến động của giá cả
nguồn nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là sự biến động về giá của 2 loại nguyên liệu được
sử dụng nhiều trong sản xuất là PP và PE với mức tăng trung bình là 13,7%. Trong khi
đó, giá nhập khẩu các chủng loại nguyên liệu Nhựa luôn có sự biến động theo sự biến
động của giá dầu trên thế giới. Không chủ động được nguyên liệu đầu vào là một hạn chế
lớn đối với ngành Nhựa Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể xoay xở kịp
với sự tăng giảm thất thường của giá đầu vào, đồng thời cũng không thể điều chỉnh ngay
lập tức giá bán sản phẩm khi chi phí đầu vào tăng lên vì mục tiêu duy trì chữ tín với
khách hàng. Đây là một nhiệm vụ rất lớn mà Việt Nam cần phải giải quyết trong thời
gian tới để có thể hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nhựa xuất
khẩu.
b/ Trong nước
Cạnh tranh trên thị trường mảng ống nhựa xây dựng đang ngày càng khốc liệt, đặc biệt
khi một số tên tuổi lớn như Tập đoàn Hoa Sen bắt đầu lấn sân sang lĩnh vực này. Tuy
vậy, hoạt động kinh doanh của CTCP Nhựa Bình Minh (HSX: BMP), “đầu tàu” của thị
trường ống nhựa phía Nam, vẫn có sự tăng trưởng nhảy vọt.
Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2016, BMP tiêu thụ khoảng 40.000 tấn sản phẩm, tương
đương với sản lượng của NTP ở khu vực phía Bắc và gấp đôi sản lượng tiêu thụ của
HSG. Hiệu quả kinh doanh của BMP có phần vượt trội hơn so với các đối thủ cùng
ngành nhờ (1) tỷ lệ chiết khấu thấp (11-17% so với 22-35% của HSG và NTP) và (2)
chính sách tiết kiệm chi phí. Trong 7 tháng đầu năm, doanh thu của BMP ước đạt 2.154
tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ, tương ứng hoàn thành khoảng khoảng 65% kế hoạch
doanh thu cả năm.
Dù chỉ vừa hoàn tất lắp đặt, các dây chuyền sản xuất mới ở nhà máy Long An đã được
khai thác đến gần công suất thiết kế. Tuy hệ số khai thác các máy móc thiết bị trung bình
của BMP hiện đạt trên 90% Công ty vẫn chưa thể đáp ứng hết nhu cầu thị trường. Một
trong những vấn đề BMP đang phải đối mặt là hiện tượng làm giả các sản phẩm ống
Nhựa Bình Minh. Trong tháng 7/2016, BMP đã phát hiện lô sản phẩm nhái tương đối lớn
ở huyện Bình Tân, TP. HCM. Bên cạnh việc tích cực ngăn chặn và xử lý hành vi làm giả
sản phẩm của Công ty, BMP sẽ tiếp tục mở rộng nhà máy Long An để bắt kịp nhu cầu thị
trường. Cụ thể, BMP dự kiến sẽ tăng công suất sản xuất phụ tùng thêm khoảng 10.000
tấn/năm, qua đó nâng tổng công suất toàn hệ thống lên ~125.000 tấn/năm vào cuối năm
2016.
Chương 3: Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh cho công ty nhựa bình minh
(Kế hoạch chi phí, doanh thu, lợi nhuận)
I, Kế hoạch sản xuất:
- Khối lượng sản xuất phải đủ cung cấp cho nhu cầu sản phẩm bán ra dự kiến và nhu cầu
dự trữ thành phẩm dự kiến.mức dự trữ sản phẩm đầu kì và cuối kì căn cứ vào chính sách
tồn kho của công ty
-Đối với sản phẩm ống dẫn nước : tồn kho đầu kì =30%sản lượng tiêu thụ của quý , tồn
kho cuối kì = 30%sản lượng tiêu thụ quý sau.
Đối với sản phẩm phụ tùng : tồn kho đầu kì = 20 % sản lượng tiêu thụ của quý, tồn kho
cuối kì = 20 % sản lượng tiêu thụ quý sau .
-Sản phẩm khác : tồn kho đầu kì = 20% sản lượng tiêu thụ của quý , tồn khi cuối kì = 20
% sản lượng tiêu thụ quý sau .
Cụ thể :
-Kế hoạch sản xuất ống dẫn nước.
Chỉ tiêu
Đơ
n vị
Tấn
Quý 1
Quý 2
Quý 3
Quý 4
Cả năm
8200
8400
9350
10050
36000
Tấn
2460
2520
2805
3015
9800
Tồn kho cuối kì Tấn
2520
2805
3015
2445
10785
Khối lượng SP
sản xuất
8378
8560
9430
11340
37708
Khối lượng SP
tiêu thụ
Tồn kho đầu kì
Tấn
Tồn kho đầu kì = 30% sản lượng tiêu thụ của quý.
Tồn kho cuối kì = 30% sản luongj tiêu thụ quý sau.
- Kế hoạch sản xuất phụ tùng .
•
•
Chỉ tiêu
Khối
lượng SP
tiêu thụ
Tồn kho
đầu kì
Tồn kho
cuối kì
Khối
lượng SP
sản xuất
Đơn vị
Tấn
Quý 1
4790
Quý 2
4980
Quý 3
5690
Quý 4
6140
Cả năm
21600
Tấn
958
996
1138
1228
4320
Tấn
996
1138
1228
930
4292
Tấn
4872
5086
5870
6210
22038
Tồn kho đầu kì = 20% sản lượng tiêu thụ của quý.
Tồn kho cuối kì = 20% sản lượng tiêu thụ quý sau.
- Kế hoạch sản xuất sản phẩm khác :
•
•
Chỉ tiêu
Khối
lượng SP
tiêu thụ
Tồn kho
đầu kì
Tồn kho
cuối kì
Khối
lượng SP
Đơn vị
Tấn
Quý 1
3370
Quý 2
3490
Quý 3
3790
Quý 4
3750
Cả năm
14400
Tấn
674
698
758
750
2880
Tấn
698
758
750
640
2846
Tấn
3467
3570
3903
3990
14930
sản xuất
Tồn kho đầu kì = 20% sản lượng tiêu thụ của quý.
Tồn kho cuối kì = 20% sản lượng tiêu thụ quý sau.
Tổng khối lượng sản lượng tiêu dùng dự đoán là : 72000 ( tấn )
•
•
II, Dự đoán sản lượng doanh thu
Kết quả kinh doanh từ năm 2012 đến năm 2015
Năm 2012 được đánh giá là một năm đầy khó khăn đối với các doanh nghiệp sản xuất
trong nước. Sự bất ổn của kinh tế thế giới (khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ
công ở Châu Âu, tăng trưởng của các nền kình tế đầu tàu như Mỹ, Nhật Bản ... đều sụt
giảm, giá cả hàng hóa diễn biến phức tạp ...) đã tác động rất mạnh đến hoạt động sản xuất
kinh doanh nội địa cũng như thu hẹp thị trường và nhu cầu tiêu thụ. Để vượt qua giai
đoạn khó khăn này, BMP đã cố gắng để cân bằng nguồn lực bằng nhiều cách: tăng thêm
30% các cửa hàng trên toàn quốc nhằm giúp các sản phẩm của Công ty đến gần người
tiêu dùng hơn; gia tăng tham gia vào các dự án và công trình cấp thoát nước nhằm duy trì
doanh số bán hàng trong năm, chính sách dự trữ nguyên liệu thích hợp với nguồn vốn có
sẵn của Công ty nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định, hạn chế phế liệu phát sinh... Nhờ đó,
kết quả kinh doanh của Nhựa Bình Minh trong năm này đã vượt qua mong đợi. Tuy sản
lượng tiêu thụ trong năm 2012 là 45.992 tấn, thấp hơn một chút so với năm 2011, nhưng
doanh thu thuần ghi nhận được của BMP lại cao hơn 3,5% yoy, đạt 1.890,7 tỷ đồng. Đặc
biệt, lợi nhuận ròng của Công ty lại tăng khá tốt với tỷ lệ tăng trưởng là 22,4% yoy,
tương ứng 360,5 tỷ đồng. Biên lợi nhuận gộp của BMP đạt một mức khá cao 31,2%, biên
lợi nhuận ròng là 19,1%. Năm 2013, do các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế đã bắt đầu ổn
định trở lại khiến sản lượng ngành xây dựng có xu hướng tăng. Tuy nhiên do thị trường
bất động sản vẫn chưa thực sự tích cực cùng yếu tố thời tiết thất thường ảnh hưởng đến
tốc độ thi công công trình nên sức mua của thị trường vẫn chưa phục hồi rõ ràng. Với
những sách lược phù hợp như: phát triển hệ thống phân phối theo chiều sâu, dự trữ
nguyên liệu bằng nguồn vốn không chịu lãi suất ngân hàng, khảo sát và đưa ra những giải
pháp thị trường hợp lý... Do đó kết thúc năm 2013, sản lượng tiêu thụ của BMP đạt gần
50.500 tấn, vượt 10% so với kế hoạch Công ty và tăng 9,7% so với năm 2012. Nhờ vậy,
doanh thu thuần của Nhựa Bình Minh trong năm 2013 cũng tăng 10,4% yoy, đạt 2.088,1
tỷ đồng. Lợi nhuận ròng chỉ tăng nhẹ 2,6% so với năm trước, ghi nhận 369,9 tỷ đồng.
Biên lợi nhuận gộp (29,8%) và biên lợi nhuận ròng (17,7%) cũng sụt giảm một ít. Trong
năm 2014, Nhựa Bình Minh ghi nhận mức doanh thu thuần 2.415,6 tỷ đồng, tăng 15,7%
so với năm 2013 với sản lượng tiêu thụ đạt 58.000 tấn, 14,9% cao hơn mức 50.500 tấn
của năm trước đó. Tuy nhiên, do giá nguyên liệu 10 tháng đầu năm tăng cao đã ảnh
hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của Công ty khi giá bán sản phẩm chưa thể thay
đổi. Bên cạnh đó, máy móc thiết bị đầu tư về trễ hạn do lỗi của nhà cung ứng khiến hàng
hóa bị thiếu dài ngày. Cũng trong năm này, việc truy thu thuế kéo dài chưa giải quyết dứt
điểm gây ảnh hưởng đến thời gian và nguồn lực của Công ty. Thêm vào đó, việc trích lập
17,5 tỷ đồng dự phòng cho khoản nợ khó đòi của Công ty TNHH Nhựa Đức Thành cũng
làm tăng chi phí quản lý của BMP. Do những yếu tố tiêu cực này nên trong năm 2014,
BMP chỉ thu được 376,8 tỷ đồng lợi nhuận ròng, chỉ tăng nhẹ 1,9% so với năm trước dù
doanh thu thuần của Công ty tăng khá tốt. Biên lợi nhuận gộp và biên lợi nhuận ròng của
Nhựa Bình Minh đều giảm, lần lượt là 27,7% và 15,6%. Gần đây, Nhựa Bình Minh đã
công bố báo cáo tài chính của Q4.2015. Trong quý này, doanh thu thuần của Công ty là
782,6 tỷ đồng, tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng 19,6% yoy. Lợi nhuận ròng của doanh
nghiệp cũng tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước, đạt 111,1 tỷ đồng. Do giá bột nhựa
PVC thấp khiến giá vốn bán hàng giảm nên biên lợi nhuận gộp trong Q4.2015 là 31,5%,
cao hơn mức 27,9% của Q4.2014. Tuy nhiên, biên lợi nhuận ròng của BMP lại sụt giảm
so với cùng kỳ năm trước khi chỉ ở mức 14,2%. Nguyên nhân chủ yếu do: (1) Sự khác
biệt trong cách ghi nhận chi phí chăm sóc khách hàng giữa BMP và cơ quan thuế khiến
BMP phải đóng khoản tiền thuế truy thu và tiền chậm nộp thuế là 7,62 tỷ đồng, làm tăng
chi phí khác; (2) Trong Q4.2015, BMP ghi nhận một số tiền thuế TNDN khá lớn 62,3 tỷ
đồng, tương ứng với mức thuế 36%, cao hơn mức thuế TNDN 22% của năm 2015. Theo
chúng tôi tìm hiểu, BMP có ứng trước một khoản chiết khấu cho đại lý và Công ty muốn
ghi nhận khoản này trong phần chi phí bán hàng của Q4.2015. Tuy nhiên, cơ quan thuế
không đồng ý cách ghi nhận như vậy với lý do: khoản chiết khấu này vẫn chưa phát sinh
doanh thu nên không được tính là chi phí và không được khấu trừ thuế. Đó là nguyên
nhân khiến BMP phải trả thêm 1 khoản tiền thuế TNDN. Tuy nhiên, đến Q1.2016, khi
doanh thu đã phát sinh, phần chiết khấu này sẽ trở thành chi phí hợp lý và sẽ có sự hoàn
nhập trực tiếp vào lợi nhuận của Công ty khoản thuế tính trên chiết khấu mà BMP đã
phải đóng thêm trong Q4.2015. Theo tính toán của chúng tôi, phần hoàn nhập này sẽ vào
khoảng 24 tỷ đồng. Như vậy, tính lũy kế cả năm 2015, Nhựa Bình Minh ghi nhận 2.791,7
tỷ đồng doanh thu thuần (+15,6% yoy) với sản lượng tiêu thụ là hơn 66.000 tấn (vượt
5,6% so với kế hoạch năm 2015 của Công ty), và 500,1 tỷ đồng lợi nhuận ròng (+32,7%
yoy). Biên lợi nhuận gộp của Công ty cũng tăng từ 27,7% năm 2014 lên 31,9% trong
năm 2015 do hưởng lợi từ giá nguyên liệu đầu vào sụt giảm và ổn định trong 9 tháng cuối
năm 2015. Biên lợi nhuận ròng năm 2015 của BMP cũng tăng so với năm trước, đạt
17,9%. Theo BMP, mức cổ tức dự kiến của năm 2015 không thấp hơn 40%.
Triển vọng kinh doanh từ năm 2016 đến năm 2018
Dự báo kết quả năm 2016. Trong năm 2016, BMP đặt kế hoạch doanh thu và lợi nhuận
trước thuế lần lượt là 3,300 tỷ đồng và 600 tỷ đồng. Chúng tôi cho rằng đây là kế hoạch
hợp lý về doanh thu nhưng khá thận trọng về lợi nhuận. Chúng tôi dự báo công ty sẽ hoàn
thành kế hoạch doanh thu và đạt 800 tỷ lợi nhuận trước thuế (vượt 33.3%) so với kế
hoạch nhờ những yếu tố sau: Doanh thu gia tăng nhờ nhu cầu về sản phẩm của công ty
tiếp tục tăng. Theo đánh giá của chúng tôi, thị trường xây dựng sẽ tăng trưởng mạnh
trong giai đoạn 2016-2018 nhờ đà phục hồi của nề kinh tế tiếp tục được duy trì. Kèm theo
đó, thị trường bất động sản bước vào chu kỳ tăng trưởng khả quan hơn, kéo theo nhu cầu
các sản phẩm về nhựa xây dựng gia tăng. Không những vậy, nhà máy số 4 của BMP đã đi
vào hoạt động từ tháng 11 năm 2015, sẽ góp phần tích cực nâng cao sản lượng cho công
ty. Thêm vào đó, việc công ty đang lên kế hoạch mở rộng giai đoạn hai của nhà máy số 4
trong năm 2016-2017 với số vốn dự kiến khoảng 620 tỷ đồng. Kế hoạch sẽ giải ngân 300
tỷ trong năm 2016. Nếu hoàn thành thì công suất của BMP có thể nâng lên gần gấp hai
lần hiện tại. Theo chia sẻ của lãnh đạo doanh nghiệp, kế hoạch mở rộng nhà máy số 4
giai đoạn 2 sẽ được thực hiện một cách cuốn chiếu, tức là sẽ không nâng công suất lên
đúng như kế hoạch ngay mà sẽ phụ thuộc vào đánh giá nhu cầu của thị trường để mở
rộng một cách thận trọng và phù hợp. Chúng tôi cho rằng cách làm của BMP là hoàn toàn
hợp lý, cách làm này dựa trên những kinh nghiệm đúc kết được trong quá trình xây dựng
các nhà máy trước đây, đặc biệt là việc xây dựng nhà máy số 3 tại miền bắc, do chưa
đánh giá kỹ thị trường nên sau nhiều năm đi vào hoạt động, nhà máy miền bắc vẫn chưa
sử dụng hết công suất, đồng thời một phần sản phẩm vẫn phải vận chuyển từ thị trường
miền bắc vào miền Nam tiêu thụ do dư thừa công suất. Nhìn chung, với chiến lược mở
rộng một cách thận trọng sẽ giúp cho BMP phát triển một cách bền vững, giúp công ty có
thể duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu trên hai con số trong giai đoạn 5 năm tới. Thông
qua đại hội cổ đông năm 2016, BMP có kế hoạch sẽ tiến sâu hơn vào thị trường miền
Trung và Tây Nguyên bằng việc nâng cao sự hiện diện thương hiệu tại khu vực này.
Đồng thời, lên kế hoạch sáp nhập một công ty liên kết của mình là Công ty Cổ phần
Nhựa Đà Nẵng (DPC). Kế hoạch này sẽ giúp cho BMP thâm nhập sâu hơn vào thị trường
Báo cáo phân tích BMP Báo cáo này cung cấp thông tin mang tính chất tham khảo.
Khách hàng phải chịu trách nhiệm với quyết định đầu tư của mình Trang 4 miền Trung
đầy tiềm năng khi tại thị trường này, công ty mới chỉ chiếm khoảng 20% thị phần, đây là
con số tuy có cao hơn 5% thị phần ở miền Bắc nhưng khá kiêm tốn so với mức 50% thị
phần của công ty tại miền Nam. Trong năm 2016, theo hãng Moody’s dự đoán giá dầu
thế giới sẽ được giao dịch trong khoản từ 40 đến 50 USD/thùng. Nếu dự đoán này là
đúng thì nhiều khả năng giá các sản phẩm có nguồn gốc xuất phát từ dầu mỏ như Hạt
nhựa sẽ giữ ổn định hơn so với năm 2015. Điều này tạo sự thuận lợi cho việc hoạch định
kế hoạch kinh doanh của BMP khi nguyên liệu đầu vào của công ty phụ thuộc phần lớn