Tải bản đầy đủ (.ppt) (71 trang)

Bài giảng Quản trị học đại cương: Chương 3 ThS. Trương Quang Vinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (522.24 KB, 71 trang )

Chương III
Các yếu tố, nguyên tắc và
phương pháp quản lý
I. Các yếu tố quản lý
II.Các nguyên tắc quản lý
III.Phương pháp quản lý


I. Các yếu tố quản lý
1. Yếu tố con người
2. Yếu tố chính trị
3. Yếu tố tổ chức
4. Yếu tố quyền lực
5. Yếu tố thông tin
6. Yếu tố văn hóa tổ chức


II. Các nguyên tắc quản lý
1. Nguyên tắc mục tiêu
2. Nguyên tắc thu hút sự tham gia của tập
thể
3. Nguyên tắc kết hợp các lợi ích
4. Nguyên tắc hiệu quả
5. Nguyên tắc thích ứng, linh hoạt
6. Nguyên tắc khoa học, hợp lý
7. Nguyên tắc phối hợp hoạt động của các
bên có liên quan đến quản lý


III.Phương pháp quản lý
1. Khái niệm về phương pháp quản lý


2. Quan điểm lựa chọn và vận dụng phương
pháp quản lý
3. Vai trò của phương pháp quản lý
4. Các phương pháp quản lý


I. Các yếu tố quản lý
Quá trình quản lý chịu tác động của
nhiều yếu tố, song có một số yếu tố
chủ yếu mà các chủ thể quản lý cần
thiết phải hiểu để quản lý có hiệu quả


1. Yếu tố con người

 Ơû vị trí chủ thể quản lý :
Con người là chủ thể huy động và tạo dựng
các nguồn lực khác trong tổ chức và là yếu
tố quyết định mọi thành công hay thất bại
của tổ chức.
Mọi tổ chức đều có các nguồn lực vật chất do
con người chủ động vận hành nhằm thực
hiện nhiệm vụ theo mục tiêu chung của tổ
chức.


 Ơû vị trí khách thể quản lý :
Quản lý là quản lý con người trong tổ chức, là điều
hoà hoạt động của các cá nhân khi thực hiện
những công việc theo mục tiêu chung của tổ

chức để tạo ra hiệu quả hoạt động cao hơn hẳn
so với sự làm việc của các cá nhân riêng lẽ.
Theo đó, nhà quản lý chính là người đánh thức
những năng lực tiềm ẩn trong mỗi con người,
huy động tinh thần đồng tâm hiệp lực trong
công việc và khai thác tối đa khả năng của họ
vào hoạt động vì mục tiêu chung.


Muốn làm được điều đó, các nhà quản lý phải luôn
tự hoàn thiện mình để làm gương cho cấp dưới về
cả đạo đức, tác phong và trình độ, năng lực hoàn
thành nhiệm vụ, xứng đáng vối nhiệm vụ quản lý
của mình.

Tóm lại, khi xét đến yếu tố con người trong
quản lý là bao hàm cả chủ thể và khách thể
quản lý.
Muốn nghiên cứu một cách khách quan, phải
đặt yếu tố con người vào trong những điều
kiện cụ thể của tổ chức và môi trường trong
đó tổ chức tồn tại và phát triển.


2. Yếu tố chính trị
Bất cứ một tỏ chức nào cũng đều tồn tại và phát
triển trong một môi trường cụ thể, trong đó môi
trường chính trị có vị trí hết sức quan trọng.
Trong một xã hội, yếu tố chính trị chi phối mục
tiêu và định hướng hành động của mỗi các nhân, tổ

chức, cho dù tổ chức đó hoạt động trên lĩnh vực
nào của nền kinh tế xã hội (kinh doanh, nghệ thuật,
từ thiện, hay quản lý nhà nước...)


Chế độ chính trị quy định mục tiêu của cả
quốc gia, trong đó có các tổ chức và cá nhân
tồn tại và bị chi phối bởi đường lối, chính
sách, pháp luật của nhà nước.
Nói tóm lại, yếu tố chính trị là yếu tố lãnh
đạo, định hướng cho toàn bộ xã hội. Do đó,
nhà nước cần tạo lập môi trường thích hợp về
chính trị , hành chính cho các cá nhân và tổ
chức phát triển trong từng thời kỳ.


3. Yếu tố tổ chức
Quản lý xuất hiện từ nhu cầu hợp tác và phân công
lao động chung trong tổ chức, vì vậy, tổ chức

được coi là nền tảng của các hoạt động
quản lý.
Để có quản lý, trước tiên chủ thể quản lý phải thiết
lập nên hệ thống tổ chức với đội ngũ nhân sự tương
ứng. Trên góc độ nầy, tổ chức là sự tập hợp các yếu
tố nhân sự và vật chất cần thiết theo một cơ cấu
phù hợp với nhiệm vụ xác định trong từng thời kỳ
nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.



Nội dung cụ thể của hoạt động nầy là huy
động các nguồn lực thiết lập các bộ phận theo
trật tự, quy định chức năng nhiệm vụ, quyền
hạn của từng bộ phận và cá nhân trong tổ
chức, quy định mối quan hệ dọc ngang giữa
các bộ phận nhằm phối hợp chúng để hoàn
thành nhiệm vụ của tổ chức.
Vì vậy, có thể nói quản lý mà không có tổ
chức thì không còn ý nghĩa


4. Yếu tố quyền lực

Trong quản lý, quyền lực được xem là

điều kiện quan trọng để chủ thể
quản lý tác động lên đối tượng
quản lý nhằm đạt mục tiêu định trước .
Đồng thời quyền lực quản lý cũng là đặc
điểm để phân biệt giữa chủ thể
quản lý và đối tượng quản lý.


Khi nói đến quyền lực
quản lý là nói đến quyền
chỉ huy, điều hành, là khả
năng chi phối của chủ thể
quản lý đối với đối tượng
quản lý.



Quyền lực bao gồm thẩm quyền và uy quyền
Uy quyền : là sự ảnh hưởng, tác động của chủ
thể quản lý đến đối tượng quản lý mang tính
phi chính thức và được thực hiện một cách có
ý thức hoặc vô ý thức.

Cũng như thẩm quyền, uy quyền tồn tại
trong tổ chức nhưng khác ở chỗ uy
quyền không bắt nguồn từ cơ cấu chính
thức mà bắt nguồn từ uy tín, khả năng
chuyên môn, khả năng thuyết phục của
cá nhân.


Trong phương diện quyền lực của người quản
lý, ngoài việc được trao thẩm quyền bởi cơ

tự bản thân họ phải
tự giác xây dựng và củng cố uy
quyền của mình thông qua việc
hoàn thiện bản thân về cả năng
lực chuyên môn, tư cách đạo đức
và phẩm chất chính trị, có như vậy
cấu chính thức,

mới đảm nhận được sứ mệnh lãnh đạo, điều
hành mà tổ chức giao cho.



5. Yếu tố thông tin
Quản lý diễn ra được là nhờ các tín hiệu lưu
chuyển ở bên trong và bên ngoài tổ chức, dó là
thông tin.
Để quản lý có hiệu quả, các nhà quả lý cần nắm

vững tình hình bên trong và bên ngoài tổ
chức một cách chính xác, kịp thời với những dữ
liệu cụ thể
Trên cơ sở thực tế của tổ chức, muốn ra một
quyết định điều hành cần phải có thông tin, vì
thế thông tin trở thành khâu đầu tiên, là nền
tảng của quản lý.


Chủ thể quản lý muốn tác động lên đối
tượng quản lý thì phải đưa ra một thông
tin điều khiển dưới các hình thức khác
nhau như quyết định quản lý (mệnh lệnh,
chỉ thị, nghị quyềt...).
Sau khi đã đưa ra các quyết định quản lý
cùng các đảm bảo vật chất cho đối tựơng
thực hiện, thì chủ thể phải thường xuyên
theo dõi kết quả thực hiện của các đối
tượng thông qua thông tin phản hồi của hệ
thống .


Khách thể quản lý muốn định hướng hoạt động
của mình thì phải tiếp nhận các thông tin điều

khiển của chủ thể cùng các đảm bảo vật chất khác
để tự tính toán, điều chỉnh lấy hoạt động của mình
nhằm thực thi mệnh lệnh của chủ thể quản lý.

Chính vì vậy, quá trình quản
lý là một quá trình thu thập
và xử lý thông tin.


Ngày nay, vai trò của thông tin trong quản lý ngày
càng trở nên quan trọng và làm cho khoa học quản
lý được phát triển thêm một lĩnh vực quản lý là
quản lý thông tin. Theo quan niệm đó, thông

tin còn là một dạng tiềm năng khác của quản
lý bên cạnh các dạng tiềm năng về lao động, thiết
bị, công nghệ, máy móc, nguyên liệu, tiền vốn... Để
tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Như vậy, thông tin là điều kiện không thể thiếu
được trong quản lý, là căn cứ để chủ thể quản lý ra
quyết định quản lý và tổ chức thực hiện các quyết
định có hiệu quả.


6. Yếu tố văn hóa tổ chức

Trong quá trình tồn tại và phát triển của một
tổ chức sẽ dần dần hình thành các yếu tố
mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng, đó là
văn hóa tổ chức. Vai trò của văn hoá tổ chức

đối với quản lý được thể hiện ngay trong
chính khái niệm văn hoá tổ chức .


Văn hóa tổ chức là toàn bộ các giá trị, niềm
tin, truyền thống và thói quen có khả năng
điều phối hành vi của mỗi thành viên trong tổ
chức ; nó ngày càng được làm giàu thêm và
có thể thay đổi theo thời gian và mang lại cho
tổ chức một bản sắc riêng.
Vì thế, nhiệm vụ của nhà quản lý đối với phương
diện văn hóa tổ chức là phải duy trì và phát triển
văn hoá của tổ chức mình, điều nầy cũng có nghĩa
là đã chứng minh được sự tồn tại và phát triển của
tổ chức.


II. Các nguyên tắc quản lý
1. Nguyên tắc mục tiêu
2. Nguyên tắc thu hút sự tham gia của tập
thể
3. Nguyên tắc kết hợp các lợi ích
4. Nguyên tắc hiệu quả
5. Nguyên tắc thích ứng, linh hoạt
6. Nguyên tắc khoa học, hợp lý
7. Nguyên tắc phối hợp hoạt động của các
bên có liên quan đến quản lý


1. Nguyên tắc mục tiêu


Mục tiêu là vấn đề cơ bản, cốt lõi nhất của bất kỳ
một tổ chức nào. Các thành viên trong tổ chức và
tổ chức muốn tồn tại, phát triển thì nhất thiết phải
đạt được mục tiêu dự kiến.
Mục tiêu phấn đấu của tổ chức là mục tiêu kinh tếchính trị – xã hội hay môi trường.


Khi xác định mục tiêu của tổ chức phải
xuất phát từ nhu cầu cơ bản của mỗi
thành viên, của tổ chức và của cả xã hội
trong từng giai đoạn phát triển.


×