Tải bản đầy đủ (.pdf) (145 trang)

Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (11.7 MB, 145 trang )

PGS.
PGS.
PGS.
PGS.

TS.
TS.
TS.
TS.

NGUYỄN HOÀNG GIÁP (Chủ biển)
NGUYỄN THỊ QUẾ
THÁI VĂN LONG
PHAN VĂN RÂN

MỘT stf VẨN OỂ
CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ


TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - sự THẬT
Hà Nôi-2012


xuất

l)áii

cuốn sách Một sô vãn đ ề c h ín h tri quốc tẽ trong


giai đoan hiện nay của nhỏm tác gia PCiS. TS. Nguyễn Hoàng

Giáp, PGS. TS. Nguyễn Thị (ìuế, PGS. TS. Thái Vản l.ong, PGS.
TS. Ị^han Vản Rân.
Ciỉỏn sách để cập tỏi nhừng vấn đề có tính thòi sụ của nển
chính trị

(]UÒC

tế lìiộn nay như xu thế toàn cầu hoá, Iiìôì quan hộ

giữa các nước lớn, chông chủ nghĩa khủng b(), trật tự thế giới
mỏi,... Cuôn sách cho thấy một bức tranh đa dạng về nến chính
trị của từng nước n(3i riêng cùng như cả thế giới nói chung. Dồng
thòi, trong cuôn sách e^ác tác giả cũng đê xuất những giải pháp
thiết thực nhằm đổi mới và táng cường chính sách dôì ngoại của
Dảng và Nhà nước ta trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập
quôc tế.
Hy vọng cuôn sách sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị đối với
các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách và tất cả
những ai quan tám tới chính trị quốc lê hiện nay.

Xìn trán trọng giới thiệu cuôn

vSách

cùng bạn dọc.

Tháng 7 năm 2011
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - sự THẬT


6


Chuơng /
MỘT SỐ VẤN DỄ LÝ LUẬN VỂ CHÍNH TRỊ QUỈC TẾ

I- MỘT

SỐ KHÁI

NIỆM



BẢN

1. Khái niệm chính trị
Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề
gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã
hội xoay quanh một vấn đê trung tâm đó là vâVi đê giành,
giữ và sử dụng quyền lực nhà nưóc. Chính trị theo nguyên
nghĩa của nó, là những công việc nhà nước, là phạm vi
hoạt động gắn vối những quan hệ giai cấp, dân tộc và các
nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đê
giành, giữ và sử dụng quyển lực nhà nước'.
Cái quan trọng nhất trong chính trị, theo Lênin, là
"tổ chức chính quyển nhà nước", chính trị là sự tham gia
của nhân dân vào công việc nhà nưốc, các định hưống của
nhà nưóc, xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt

động của nhà nước,... B ất kỳ vàn dể xà hội nào củng mang

1. Xem: Bách khoa Triết học, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1983,
tr.507.


tính chính trị vì việc giải quyết nó trực tiêp hay gián tiêp
đều gắn với lợi ích giai câ'p, với vấn đề quyền lực.
Quan điểm trên dây vê chính trị dòi hỏi chúng ta
phải tiếp cận chính trị vừa với tư oách là một hình thức
hoạt động xã hội đặc biệt, vừa vói tư cách là một loại
quan hệ xã hội đặc thù. Trong tính tổng hỢp của cả hai
phương diện đó, có thể hiểu chính trị là môi quan hệ giữa

các giai cấp, các cộng đổng xã hội về vấn đ ề nhà nước; là
sự tham gia của nhân dán vào các công việc nhà nước; là
tổng hợp những phương hướng, nh ữn g mục tiêu được quy
định bởi lợi ích cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là
hoạt động thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái, các
nhà nước đ ể thực hiện đường lôi đã được lựa chọn nhằm
đạt mục tiêu đã đặt ra.

2. Khái niệm chính trị quốc tế
Hằng ngày, ta thường được tiếp xúc hay nghe trên dài,
truyền hình nhiều thông tin về tình hình chính trị quốc tế
về mọi lĩnh vực. Các thông tin đó có thể là những cuộc
viếng thảm, hội đàm, hội nghị của các tổ chức quốc tê, các
uỷ ban song phương và đa phương, các tổ chức văn hoá,
kinh tế, giáo dục về các lĩnh vực cũng như xung đột chiên
tranh, các chính sách đối ngoại giữa các quôc gia. Đặc

điểm của những sự kiện này là có ít nhâ\ hai nhà nước của
quốc gia tham gia. Các quốc gia này hoạt động vì mục dich
và quvền lợi chính trị đối ngoại của nưóc họ vói một số vấn
đề hoặc nội dung nhất định được đưa ra, bàn thảo. Ngưòi
ta gọi đó là chính trị quốc tế.
Như vậv, chính trị quốc tê (chính trị thê giói) la

8


nển chin h trị được triển khai trên (Ịuy mô toàn t h ế

giới. Nó là sản p h ả m của sự cộng tác qua lại giữ a các
chú thê chính trị quốc tế trong hoạt dộng vi các m ục
liêu quốc gia, khu vực và quốc tế. C ủng chinh trong
quá trình hoạt động thực hiện các mục tiêu, lợi ích cục
bộ và toàn cục của các chủ th ế này mà đời sống chinh
trị - xã hội quốc tê được thiết lập'.

a) Phán biệt chính trị quốc gia và chính trị quốc tế
Chính trị là một phạm trù thuộc về lĩnh vực quyển lực
và liên quan đến quyển lực. Chính trị ròn là một quá trình
quá dộ có giai cấp, có xung đột quyền lợi, dấu tranh dể
giành lấy quyền lực nhà nước.
Ngoài ra, còn có thể hiểu rõ hơn nữa vổ phạm trù này
theo những quan niệm của Max Weber. David Easton hay
liernard Crick.
- F)ôì với Max Weber (cuôi thê kỷ XIX - dầu thê kỷ XX)
thì chính trị Ihuộo vê lĩnh vực quyển lực và nh.à nưốc.
Theo dó, chính trị và nhà nước cẩn thiết cho loài người.

ÔnK cũng cho rằng, chính trị là quá trình để giành lấy
quyển lực. ảnh hưỏng tới sự phân phôi quyển lực giữa các
quốc gia hoặc giữa các thành phần trong một quỗt^ gia.
- Quan niệm của David Easton cũng liên quan khá
chặt chẽ với họ(' thuyết của Weber nhưng có phần trừu
tưcliig h(Jn. Ong cho ràng, chính trị là sự phân phối có
thẩm quyền các gìấ trị mà trong đó: giá trị hữu hình; tiền

1. Xem Dương Xuán Ngọc ■Lưu Vàn An: Giáo trình Quan hệ
chính tri quốc tê, Nxb. Chính trị (ịuốr gia, Hà Nội, 2008, tr.7.

9


bạc; giá trị vô hình: quyền lực; có thẩm quyền: phải hoặc
nên tuân theo những quy định thực hiện phân phối.
-

(ịuan niệm của Bernard Crick khác với Weber và

Easton, khi ông cho ràng chính trị tức là chính phủ dií(ìi
một dạng nhâ't định, một phưdng thức đặc biệt để làm liên
và thực hiện các chính sách, quy chế, luật lệ tác động đôn
xã hội.
Nhìn chung, chính trị là một loại hình của hoạt động
xã hội dưói dạng các học thuyết, các hệ thống lý luận,
chính trị thuộc phạm trù của hình thái ý thức xã hội.
Nhưng, những thiết chê chính trị lại là biểu hiện vật chất
hoá các ý tưởng chính trị dưới hình thức tổ chức, các cơ
cấu xác định.

Tuy nhiên, phạm vi ảnh hưởng và hiện thực của chính
trị lại không tự hạn chê trong phạm vi các quốc gia. Khi
chính trị vượt ra khỏi biên giới của mỗi quốc gia thì tính
chát của chính trị thực chát là các mối quan hệ chính trị
giữa các nưốc và trở nên một hình thức mới là chính trị
quôc tế.

b) Bản chốt của chính trị quốc tế
vỏi tư cách là một lĩnh vực của đòi sống xã hội (bao
gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội), chính
trị trước hết được thể hiện ỏ sự vận động chính sách, thể
chế và quan hệ của các giai cấp, các đảng phái, rác tô chííc
chính trị - xã hội xoay quanh trục quyển lực nhà nưóc...
Tuy nhiên, khi vượt khỏi phạm vi quôc gia, chính trị lại
thể hiện trưóc hết ở các mối quan hệ giữa các quốc gia, mà
tập trung ỏ quan hệ giữa các nhà nước vì quyền lực và lợi

10


íeh của quốc gia, sau đó là quan hệ giữa các chủ thể tham
gia vào đòi sông chính trị quôc tê. nh(i (ỉó inà nền chính trị
quôc tê đưỢc hình thành.
Như vậy, có thê thấy; Chính trị

(ỊUÔC

tế là sự tham gia

vào dời sông quốc tế của nhà nước dân tộc, các tô chức

quốc tế, các tổ chức phi chính phủ, ('ác phong trào chính
trị, các tập doàn xuyên quốc gia.... với mức độ khác nhau
và vì mục tiéu, lợi ích quổc gia, khu vực và quôc tê khác
nhau. Đặc trưng của chính trị quôc tô, trải qua các thời kỳ
lịch sử, luôn có sự thay đổi, phụ thuộc vào mức độ và mục
đích tham gia vào công việc quôo tế của các chủ thể chính
trị qu(K’ tê.
II- NHỮNG CHỦ TH Ể CHỦ Y Ế ư
CỦA CHÍNH TRỊ QUỐC TỂ

1. Quốc gia
a) Khái niệm quốc giơ
Quốc gia là một hình thức tổ chức chính trị của con
người phổ biến trên khắp thế giới. Hiện nay, hầu như rất
ít ngoại lệ tồn tại bên ngoài khuôn khổ quôo Íĩití- Quôc gia
đưực gọi theo nhiều cách khác nhau như nhà nước (state),
dân tộc (nation), đât nưởc (country) hay quổc gia - dân tộc
(nation - State).
Từ góc độ quan hệ quốc tế, cáo tên goi trên không hoàn
toàn phản ánh nội dung như nhau vê quốic’ gia hiện đại.
Nhà nưỏc hoặc chỉ cơ cấu chính trị cai quản quôc gia, hoặc
chỉ tình trạng quôc gia chưa đầy đủ như Nhà nưóc
Palestin hay Nhà nước Israel. Nhà nước cũng tồn tại từ

11


lâu trong lịch sử như Nhà nưóc Văn Lang hay Âu Lạc ỏ
nưóc ta. Dân lộc dê chỉ cộng đồng người có những bản sắc
chung như văn hoá, ngôn ngữ, lịch sử,... ĐíVt nưók' là cách

gọi chung nhấn mạnh đến yếu tô lãnh thô. Trong quan hộ
quốc tế, ihuật ngữ hay đưỢc sử dụng để chỉ quốc gia chính
là quốc gia - dân tộc.
Quan niệm quốc gia: Quốc gia là thực thê nằm trong
biên giối địa lý do chính quyển trung ương quản lý. Chính
quyển của quốc gia có khả năng làm luật, đặt ra các quy
tắc, các quy định trong phạm vi biên giỏi của mình, đồng
thời có Irách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ quốc tế của
mình. Quốc gia là một thực thể pháp lý được luật pháp
quốc tê công nhận và quôc gia tự quyết định chính sách
của mình. Có nhiều hình thức vê tên gọi của quốc gia (liên
bang, vương quỗc, nước,...).
Trên cơ sở các biểu hiện trên, Công ước Montevideo về
quyển và nghĩa vụ của quôc gia (1933) dã dưa ra khái
niệm về quôí' gia như sau: "Quốc gia là một thực thể pháp
lý quốc tế và phải có các đặc tính sau: một dân cư thường
xuyên, một lãnh thô xác định và một chính phủ có khả
năng duy trì sự kiểm soát hiệu quả trên lãnh thố của nó
và tiến hành quan hệ quốc tê vói quốc gia khác". Đây đưỢc
coi là dịnh nghĩa chính thức vể quốc gia.

b) Vai trò của quốc gia trong nền chính trị quốc tế
Quôc gia là chủ thể chủ yếu trong quan hộ chính trị
quốc tế, vì nó có tham gia. có mục đích, có khả năng thực
hiện và có ảnh hưởng đôi với quan hệ chính trị quốc tế.
Ngoài ra. mọi hoạt dộng quốc tê cơ bản đều bắt nguồn từ

12



các nhu cầu quòc gia, từ việc xác dịrih lợi ích quốc gia
trong từng thòi kỳ, từng vụ việc cụ thể. lừ các biện pháp
thực hiện lợi ích quốc gia thông qua chíiih sách dỗì ngoại.
Trong quốc gia. nhà nước là chủ thể trung tâm, chi phối.
Cáo chủ thể khác như đảng phái, các tổ chức chính trị - xã
hội,... phải dựa vào nhà nước đê hoạt động và chịu sự tác
động của nhà nưỏc, thông qua hệ thông thuế, luật pháp.
Trong thê giới hiện dại, vai trò của các tô chức này ngày
càng tăng song không thể tách ròi chính sách đôi ngoại
của nhà nưốo, và về cơ bản là công cụ để phục vụ lợi ích
quốc gia. Vai trò chủ thê quan hệ chính trị quôc tê của
quốc gia dểu lỏn hơn và quan trọng hơn so vỏi các chủ thể
phi quốc gia vì các lý do sau:
T/ỉứ nhất, quốc gia tham gia quan hệ chính trị quôc
tê lâu dòi nhất. Sự ra dòi của quôc gia tạo ctí sỏ cho sự
hình thành các iưđng tác qua biên giới giữa chúng, từ đó
quan hệ chính trị quôc tế đã hình thành cùng với sự ra
đòi của quốc gia. Quốc gia tham gia quan hệ chính trị
quốc tê liên tục nhât. Yéu cầu thực hiện chức năng đối
ngoại và lợi ích quốc gia buộc nó phải tham gia liên tục
quan hộ chính trị quốc tế. Quôc gia càng phát triển, lợi
ích của nó ngày càng vượt ra khỏi khuôn khổ biên giới và
ngày càng gắn bó thường xuyên và chặt chẽ với quan hệ
chính trị quốí’ tế. Quốc gia càng phát triển thì tham gia
quan hệ chính IrỊ quôc Lê càng rộng lón. Ixíi ích quốic gia
rât da dạng và bao trùm mọi lĩnh vực của dòi sông. Vì
thế, quốc fỊÌa phải tham gia mọi lĩnh vực trong quan hệ
chính trị quốc tê để thực hiện lợi ích của mình. Trong khi
đó, các chủ thể phi quốíc gia không có sự tham gia quan


13


hệ chíỉìlì trị quốc tế tương tự !ìhư quốc gia. Các chủ thể
phi <|UỐC gia ra (ỉòi muộn hơn nhiểu. Clìúng klìỏng đ(3n^
vai trò động lực hình thành quan hộ chính trị (Ịuôe t ế và
lioạl dộng chỉ trong những lĩnh vực nhííl dinh. Cho dến
Iiay, inặc dù sự tham gia quaĩi hệ chính trị quốc t ế của
các chủ thể này dà tăng lên Iihưng quan hệ giữa các (ỊiiôV
^ia vần là phầĩi cơ bản và bao trùm trong (]uan hệ chính
irị (ỊUÔC tế. Hoạt động dôi ngoại của (ỊUÔC gia nhiều hơn
bất củ các chủ thể nào khác. Như vậy, quôc gia là chủ thể
tham gia quan hệ chính trị quốc tế nhiều nhất cả vể thòi
gian, không gian lẫn cưòng độ.

Thứ hai, mục đích của quốc gia khi tham gia quan hệ
chíĩìh trị quôc tế cùng lớn nhất khi gắn liền với những lợi
ích cờ bản của quốc gia và cộng đồng cư dân là tồn tại và
phát triển. Tầm quan trọng sỏng còn của các lợi ích này
khiến cho mục dich tham gia quan hệ chính trị qviốc t ế
của (ịUốc gia trơ liên mạnh mẽ nhât. Tính vững bến của
các lựi ích dó khiến cho mục đích này trỏ nên ihường
xuyên và có lác

liên tục tới (Ịuan hệ ehính trị quốc

tế. Tính da dạng của các lợi ích dó eùng khiến mục (lích
này bao trùm mọi lĩnh vực của cuộc sông vă ảnh hưỏng
tói mọi mặt của th ế giới. ỉ)ồng thời, mục đích của quốc
gia cùng chính lả dộn^ lực hình thảnh và phái triển (^uan

hộ chính Irị quôc tế và là nhán lố chi phôi quan hệ chính
í vị (]Uốc tê lỏn nhất.
So vỏi quốe
CỊUÔV

mục tìíelì tham ^ia quan hệ chính trị

lê của eác chủ thể phi quốc gia ihiròng nhỏ bé hơn.

Các mục (lích dó dượe giới hạn Irong những mụe tiêu cụ
ihể. trong những lĩnh vực nhâí dịnh. Càc rnục dich này

14


không cỏ được vai trò dộng lực ihủc (iẩy sự phát triển
(juan hộ chính Irị quốc tế như quốc ^ia. Kõ ràng, mục đích
tham ^ia quan hệ chính Irị quốc tế của quốc ^ia lổn hơn
nhiểu so vỏi chủ thể phi (ÌUÔC gia, dem lại cho nó khả náng

chì phối quan hệ chính trị quốc tế lỏM lìhât.

Thứ ha, quốc gia có khả năng ihực hiện quan hệ chính
trị qiiốc tế hơn bấl cứ chủ thể phi (ỊUốc gia nào khác. Quoi*
gia có sức mạnh lông hỢp như lành thổ, dân cư, thực lục
quâii sự, sức mạnh kinh tế, khả năng huy dộng xă hội,...
mả klìỏní^ chủ thể phi quốc' gia nào có dược. Sức mạnh này
dem lại ưu thế hơn hẳn cho quôe gia Iroiig việc thực hiện
nliiều vấn dề lớn mả các chủ thể phi (|UÔC gia không làm
cluỢc. (Jvioc gia có nhiều phương iiộn thực hiộn quan hệ

ehinh trị quốc tế như lực lương quần sự, hệ thống ngoại
ịĩiao, công cụ kinh tế, công cụ ván hoá, công cụ luật pháf>,
bộ máy tuyên truyền đôi ngoại, tìnli báo,... Sự da dạng vê
công cự giÚỊ) quỗc gia có khả ìiăng thực hiện quan hệ chính

Irị

(ỊU ố c

tế mộl cách toàn diện và hiộu quả hơn chủ thế phi

(|uốc gia von cỏ công cụ phiến diộn và năng lực hạn chế.
(^uôV gia (’€ing là thưc thể (lộc lập và có línlì tự trị cao trong
quan hộ chính trị quốc tế. Quỏc gia có dịa vị Ị)háp lý quốc t ế

t heo công phấỊ) quốc tế và sự thừa nhạn chuììg trẻn trưỜMg
(ỊUốc tế, Nó có thể toàìì (]uyền sử clụiìg các sức mạnh và
}>liu(íiỉg tiện trêĩì nhằm thực hiệìì lợi íeh của mình trong
qiian hệ chính trị quốc tố nià kh(3ng chịu sự áp chế của thế
lục siẽu quốc gia. Trong khi dó, chủ thể phi quĩk gia khôiig
có dưỢc sự dộc lậj) và tính tự trị eao như vậy khi vẫn

Ị)h ải

chịu sự (liểu chỉnh của luật pháp quốc gia trong hoạt dộng
eủa mình. Như vậy, cả ba phướng diộn trên dểu dem lại cho
15


quốc gia năng lực thực hiện quan hệ chính trị quốc tế cao

hơn so với bất cứ chủ thể phi quốc gia nào.

Thứ tư, ảnh hưởng của quốc gia cũng lớn nhát trên
trường quốc tế. Quốc gia tham

vào mọi lĩnh vực của đòi

sông nên có ảnh hưỏng rộng khắp trong quan hệ chính trị
quôc tế. Các chủ ihể phi quổc gia thưòng chỉ tham gia vào
một vài lĩnh vực trên những vấn dể nhâĩ dịnh nên ảnh
hưởng hạn hẹp hđn nhiêu. Quốc gia có nàng lực toàn (ỉiộn
và hdn hẳn so vói chủ thế phi quốc gia nên tác dộng của nó
tới quan hộ chính trị quốc tế cũng mạnh mẽ và sâu sắc hờn.
Quổc gia vẫn là chủ thể có tiếng nói quyết dịnh dôi với rất
nhiều vấn đô trong quan hệ chính trị (luốc tố.
Quôic gia đóng vai trò quyết dịnh trong việc hình
thành nên luật lệ và quy định trong quan hệ chính trị
quốc tê bởi vì quốc gia có địa vỊ quốc tê lớn hơn chủ thể phi
quốc gia cả vê thực lực lẫn thẩm quyền. Cuối cùng, bản
thân tầm quan Irọng lớn hơn của quốc gia cỉối với con
người và thê giới so với chủ thể phi quốc gia dã quy định
điểu này. Sự tồn tại và hoạt động của quôc gia trong quan
hệ chính trị quôc tế gắn bó trực tiếp tói an ninh và phát
triển của con người và Lhế giỏi. Trong quan hộ chính trị
quốc tế, các chủ thể vẫn tiếp tục ưu tiên quan hệ vổi quốc
gia hơn là chủ thê phi quốc gia.

2. Cóc tổ chức quốc tế
a) Khái niệm tổ chức quốc tế
Trong nghiên cứu chính trị quốc tế, từ sỏm ở các nưởc

phương Tây, cùng với sự xuâ’t hiện các hình thức tổ chức

16


quốc tế, thì vấn dê khái niệm vê tổ chức quốc tê đã được
các nhà khoa học quan tâm. Có nhiêu quan điểm cho rằng,
tuv xét về mặt hình thức có khác nhau, nhưng tổ chức
quốc tê là liên minh có tính tổ chức, thê chê cao, có cấu
trúc hình thức phát triển. Nhà luật học Ch.Rousseau quan
niệm, các tổ chức quốc tê là những cộng dồng bao gồm các
quốc gia khác nhau, được thành lập bằng con đưòng thỏa
ưổc, theo đuổi những mục tiêu chung nhò vào các cơ quan
do họ lập ra và tăng cưòng ý chí có phần khác vối ý chí của
các quốc gia thành viên và đứng cao hơn các quốc gia
thành viên'.
Do sự phát triển của quan hệ quốc té, nhất là trong thời
kỳ hiện đại, các tổ chức quốc tế ngày cànịĩ xuất hiện nhiêu
về sô lượng, đa dạng và phong phú về mục đích tôn chỉ và
nội dung hoạt động. Tuy nhiên có thể hiểu một cách chung
nhất; Tô chức quốc tế là tổ chức được thành lập trên cơ sở
những thỏa thuận quốc tế giữa các quốc gia độc lập có chủ
quyền, các đảng phái, các tổ chức chính trị, xã hội vì mục
tiôu và lợi ích chung. Đó là một cấu trúc ổn định của quan
hệ quốc tế đa phương, có mục tiêu, quyển hạn, quy định vê
cấu Irúc tổ chức khác nhau (như diều lệ, tiêu chuẩn thành
viên...) do các thành vién của tô chức thỏa thuận.
Ngày nay, các tô chức quốc tê hoạt động tuân theo
những quy tắc, thông lộ, luật quôc tế, trưốc hết là Hiến


chương Liên hỢp quốc.
■Lịch sử hình thành và phát triển:

về thời

điểm hình

1. Xem Học viện Hành chính quốc gia: Quan hệ chính trị quốc
tế, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr.l09.

17


thành các tô chức quốc tế, cho đên nay trong giới nghiên
cứu còn những ý kiến khác nhau, nhưng phần đông cho
rằng từ rát sớm đã có những hình thức sơ khai của tố chức
quốc tế. Ngay lừ thòi kỳ Hy Lạp cổ đại đả xuất hiện hệ
thống các quốc gia thành bang. Vào thê kỷ XIV, ý tưởng vê
tổ chức quốc tế đã xuất hiện trong các tác phẩm triết học,
chính trị học ở Tây Âu. Hầu hết các nhà khoa học cho
rằng, các hội nghị quốc tế giữa thê kỷ XVII là tiển thân
của tố chức quổc tế.
Đến đầu thê kỷ XIX, giao lưu kinh tế, vàn hóa giữa
các quốc gia, dân tộc ngày càng tăng và cùng vỏi sự tiến bộ
của khoa học, kỹ thuật đã thúc đẩy sự phát triển mối
quan hệ giữa các nước trên nhiều lĩnh vực. Hàng loạt tổ
chức quốc tê vối chức năng lấy nghiệp vụ làm tôn chỉ đã ra
dòi, như Liên minh Điện báo quốc tê (1865), Tổ chức Đo
lường quốc tê (1875)... Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị
quốc tế bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiêu từ nửa cuối thê

kỷ XIX - đầu thê kỷ XX. Trong đó, có những tổ chức có ảnh
hưởng lớn đến đòi sông chính trị thê giỏi, như các tổ chức
quốc tê của giai cấp công nhân do C.Mác, Ph.Ảngghen và
V.I.Lênin sáng lập: Đồng minh những ngưòi cộng sản
(1847-1852), Hội Liên hiệp công nhán quổc tê (Quốc tế I,
1864-1876), Quốc tế Xã hội chủ nghĩa (Quốc tê II, 18891914), Quốc tê Cộng sản (Quốc tê III, 1919-1943).
Sau Chiến tranh thê giối thứ nhât, Hội Quốic liên đưỢc
thành lập (1920) nhằm ngăn chặn những cuộc xung dột
mới trên quy mô thê giỏi, nhưng do thiếu một cơ câu tô
chức chặt chẽ và sự mâu thuẫn quvển lợi giữa các cường
quốc đê quốc, nên CIIỔĨ cùng tổ chức qiiổc tế này đã không

18


phát huy dưỢc vai trò. Chiến tranh thế giới thứ hai kêt
thúc, nhầm ngăn nfĩừa một thảm họa cliiến tranh như dã
xảy ra, đồng thòi duy trì hòa bình, an ninh trên thế giới,
nãm 1945, tổ chức Liên hỢp quôc dưỢc t hành lập và có quy
mô toàn thê giới. Có thể coi dây là một tổ chức quốíc tế
thành công nhất, là một trong nhujig sáng tạo to lốn của
nền chính trị thê giới hiện dại. Liên hựp quôc hởn hẳn Hội
Quỗic liên vê sô lượng thành viên, tôn chỉ, mục đích, cơ
cấu, chức năng, cờ sở chính trị, (iịa lý, pháp lý,... vì vậy, dã
trở thành trung tám hội iighỊ, trung lâm diều phôi các
quan hệ quốc tế, là hạt nhân của hệ thống tổ chức quô'c tế.
Năm 1951, Quốc tê Xã hội chủ nghĩa, một tổ chức quốc tê
của các đảng xã hội - dân chủ, các dảng xã hội chủ nghĩa
và các dảng công nhân (hoặc công đảng) ỏ các nước tư bán
chủ nghĩa dưỢc thành lập và tồn tại cho dén ngày nay. Đại

đa sô các tổ chức quốc tê hiện nay đều dưỢc thành lập từ
sau Chiên tranh ihê giói thử hai.
-

Hình thức, mục đích, cd cấu, quy mô của tổ chức qu(X'

tế râ’t phiong phú và ngày càng đa dạng hơn. Đó là các tổ
chức chíiih trị có (juy mô toàn thê íĩiới như I.iêii hỢp quố('; các
tổ chức kinh tế - thương mại. các dịnh chê tài chính quổc tê
như Hội đồng Tương trỢ kinh tế của các nư('Jc xã hội chủ
nghĩa (SEV), Tổ chức Thương mại thê íĩiới (WTO), Ngần
hàng Thế giỏi (WB), Quỹ Tiền tệ quœ lế (IMF); các tổ chức,
liên minh chính trị quân sự như NATO. Hiệp ưók' Vácsava.
Bên cạnh các tổ chức chính trị, kinh tế, quân sự quốc
tế với (Ịuy mô da đạng, trên th ế giới còn xuât hiện hàng
loạt các tổ chức có tính chât nfihê nghiệp, giới tính như;
Tổ chức Công đoàn quôc tế, Hội Phụ nữ quôc tê, Tô chức

19


Các nước xuât khẩu dầu mỏ,... Trong xu thê phát triển.
hỢp tác, liên kết khu vực, nhiêu tổ chức có quy mô khu
vực, liên khu vực hoặc châu lục ra đời như: Cộng đồng
châu Âu (EU) - tiền thân của Liên minh châu Àu (EU)
ngày nay, Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS), Liên
minh châu Phi (AU). Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN), Liên đoàn Arập (AL). Ngoài ra, còn có các tổ
chức tôn giáo như: Hội Phật giáo th ế giối. Tổ chức Hội
nghị Hồi giáo (OIC)... Các nước công nghiệp phát triển

hàng đầu thê giối thành lập nhóm G7. Một số tô chức
quốc tê có mối quan tâm chung về ngôn ngữ thành lập
Cộng đồng Anh ngữ, Cộng đồng Pháp ngữ. Một sô tố chức
quốc tê được thành ỉập vói mục đích đấu tranh vì hòa
bình, chống chiến tranh, hoặc các tổ chức từ thiện, các tổ
chức bảo vệ môi trường,...
-

Nhìn chung, các tổ chức quốc tê đêu có những đặc

điểm chung sau dây:
Được thành lập Irên cơ sở thỏa thuận giữa các chủ thể
thành viên, trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng với nhau
trong bàn bạc và quyết định những vấn đề thuộc quyển
hạn tổ chức.
Không có cư dân và lãnh thổ cố định, hoạt động không
hạn chế bỏi những biên giới truyền thống (quốc gia). Nhân
viên của tổ chức quốc tế là ngưòi làm công vụ quốc tế. Trụ
sở của các tổ chức quốc tế không có ý nghĩa lãnh thổ
(thường tập trung ỏ Niu Oóc, Giđnevđ, Viên, Pari).
T ất cả mọi quyển lực của tổ chức quốc tê đểu do các
thành viên thống nhất quyết định dưới hình thức các hiệp
định, điểu lệ, thoả thuận,...

20


Các quyết định của tố chức (JUÔC lê ìlniòng mang tính
chát khuyên nghị, không có tính ép buộc các thành viên.
Có quyền hưởng ưu đãi, miễn trừ ngoại giao (đối vói tổ

chức và các viên chức thực thi công vụ của tổ chức quốc
tê); quyển ký các điểu ưóc quốc tế, trao dôi đại diện với các
quỗc gia và các tổ chức quốc tê khác; có những nghĩa vụ
quốc tê nhất định.

b) Vai trò của tổ chúc quốc tế trong nến chính trị
quốc tế
Dưối góc độ quan hệ chính trị quổc tế, vai trò của tổ chức
quỗc tê thể hiện rô nét với những nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, góp phần duylLrì hòa bình, an ninh quổic tế,
thúc dẩy phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Các tổ chức
quổc tê là trung gian để đạt được các thỏa thuận về vấn để
chiến tranh và hòa bình, xử lý các tranh châ'p trên nhiều
lĩnh vực bàng biện pháp hòa bình; ngăn chặn và giải quyết
các xung đột quốc tế.

T h ứ hai, phát triển hỢp tác trên các lĩnh vực chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, nghề nghiệp và hòa giải quốc
tê rộng lốn; nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị, quyết
định để thúc đẩy hỢp tác và phát triển.

T h ứ ba, tham gia quản lý những vấn đề toàn cầu, ví
dụ: vấn đồ dân di cư quốc tế, môi trưòng, phòng chống ma
túy, xử lý dịch bệnh lan tràn, khủng bố quốc tế,...

Thứ tư, từng bưổc xây dựng cx) chê dân chủ hóa trong
quan hệ quổc tế, tạo điểu kiện để các nước lốn, nhỏ đểu có thể
bày tỏ chính kiến, bảo vệ lợi ích, tham gia giải quyết các vấn
để quốc tê với mức độ khác nhau, theo khả năng của mình.


21


T h ứ năm, góp phần phát triển các quan hệ hỢp tác
quốc tế da phướng, tăng cưòng doàn kết giữa các quôc gia,
dân lộc trên C(j sỏ tự nguyện, bình đẳng và tôn trọng chủ
quyển lãnh thổ của nhau. Liên kết các quốc gia, hình
thành các luật và công ưốc quốc tê và thúc dẩy quá trình
dân chủ hóa quan hệ chính Irị quốc tế.

T h ứ sáu, bảo vệ quyền tự nhiên của con ngitói, như
quyền tự do, dân chủ, tự do ngôn luận, không phân biệt
chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ,... là đầu mối phối hđp đê
thực hiện các nhiệm vụ, mục đích đê ra trong điều lệ
thành lập tổ chức.
Do có vai trò quan trọng trong mọi mặt hoạt động của
thê giới, nên các tố chức quốc tế không chỉ góp phầii thúc
đẩy tính da dạng các quan hệ quôc tế, mà còn trở thành
những phương thức tập hỢp lực lượng, phối hdp hoạt dộng
nhằm đạt tối những mục tiêu chung của các nhóm lợi ích
trên quy mô khác nhau. Bởi vậy, trong bối cảnh xu thê
toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, các tố chức
quốc tế tiếp tục có vai trò ngày càng tăng đối với sự phát
triển các lĩnh vực của đòi sôVig xã hội thế giới.

3. Các tổ chức phi chính phủ
a) Khái niệm tổ chúc phi chính phủ (NGO)
Các tổ chức phi chính phủ đưỢc quan niệm là những tô
chức hoạt động không vì lợi nhuận, tham gia vào các sinh

hoạt phát triển xã hội. Liên hợp quốc dưa ra khái niệm như
sau: Tổ chức phi chính phủ là thuật ngữ dùng để chỉ một tô
chức, hiệp hội, ủy hội văn hóa xã hội, ủy hội từ thiện, tập

22


đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân klì ár mà theo pháp
luật không thuộc khu vực nhà nước' và không hoạt động vi
lợi nhuận. Nghĩa là, khoản lợi nhuận nếu có. không thể
phân chia theo kiểu chia lợi nhuận. Tổ chức này không bao
gồm các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị. hỢp tác xã phân
chia lợi nhuận, hay nhà thò hoặc chùa.
Tổng thể các tổ chức phi chính phủ hình thành khu
vực phi chính phủ, tồn tại cùng vối khu vực nhà nước,
khu vực tư nhân và khu vực tập thể, hoạt động đa dạng
trong các lĩnh vực dịch vụ, văn hóa. khoa họo kỹ thuật,
nhân đạo... gọi chung là các hoạt dộng phục vụ lợi ích
công cộng phát triển lành mạnh vì công bằng, bình đẳng,
tiến bộ xã hội.
Tổ chức phi chính phủ mang tính quốc tế. Tổ chức phi
chính phủ quốc tê xuất hiện trên thế giói vào năm 1970, có
phạm vi hoạt động rộng khắp thê giới. Các tổ chức phi ehính
phủ mang tính quốc tê phải tuân theo luật pháp của nước
nhận sự hợp tác. Nhóm các tổ chức phi chính phủ mang tính
chất liên hiệp hội được thành lập trong phạm vi quốc gia,
quốc tế, hay khu vực giúp những người trong nhóm cùng
hoàn cảnh, nguyện vọng, sở thích trong các hoạt động giao
lưu văn hóa, xã hội, đặc biệt trong quá trình hội nhập.
Ngoài các tổ chức phi chính phủ dược nêu trên, còn

xuất hiện những tổ chức phi chính phủ do tư nhân sáng
lập và hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.

b)
Vai trò của các tổ chúc phi chính phủ trong nền
chính trị quốc tế
Hiện nay, tổ chức phi chính phủ có vai trò lốn trong

23


việc phát huy tích cực xã hội quần chúng. Tích cực xã hội
là những biểu hiện của sự hoạt dộng có ích vê mặt xã hội,
hoàn thiện phẩm chất trong mọi lĩnh vực: xã hội, chính
trị, kinh tế và tinh thần. Tương ứng với từng lĩnh vực đó
là vai trò to lỏn trong việc phát triển tính tích cực của
từng công dân. Có thể nói, tổ chức phi chính phủ là môi
trường xã hội giáo dục và rèn luyện ý thức dân chủ, năng
lực và thực hành dân chủ cho các công dân. Chính vì vai
trò quan trọng như vậy nên các tổ chức quốc tê lớn như
Liên hỢp quốc, Chương trình phát triển Liên hỢp quôc
(UNDP), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp
quốc (UNESCO) và đặc biệt là Ngân hàng T hế giới (WB),
Quỹ Tiền tệ quốc tê (IM F)... đểu rất quan tâm đến hoạt
động của các tổ chức phi chính phủ.
Các tổ chức quốc tê đểu công nhận sự tồn tại và hoạt
động của NGO. Liên hỢp quốc nêu rõ Hội đồng Kinh tê Xã hội có thẩm quyên thi hành những biện pháp thích
hỢp để tham khảo ý kiến của các tổ chức phi chính phủ có
quan tâm đến vấn để thuộc thẩm quyển của Hội đồng,
(những biện pháp này có thể được áp dụng cho các tổ

chức quốc tê và nếu cần, cho các tổ chức quốc gia, sau khi
tham khảo ý kiến của các thành viên hữu quan của Liên
hỢp quốc). Nhiều NGO đưỢc các tổ chức quốc tê tham
khảo ý kiến vể các vấn đề của họ, chẳng hạn như các
NGO trong lĩnh vực y tê và y học thường được Tổ chức Y
tế thê giới (WHO) tham khảo ý kiến về các vấn để chuyên
môn có liên quan.
Liên hợp quốc còn tư vấn cho các NGO về tiêu chuẩn
cán bộ, chuyên viên, viên chức, nhân sự và nội dung hoạt

24


động (tính dân chủ, phổ cập, quck; tế....). Các NGO gần với
cộng đồng, nắm được ý nguyện của cộn" đồng hơn chính
phủ nên Liên hỢp quôc chấp nhận cho các MGO được kiểm
tra, kiểm soát các tiêu chuẩn.
Quy chê chung mà các tổ chức quỗc tê dành cho các
NGO là quy tắc iư vấn, còn nội dung tư vấn thì thay đổi
(quan sát viên).
Lĩnh vực hoạt động của NGO là hoạt động nhân đạo
phù hựp vối yéu cầu của quốc gia và quy định của quốc lê.
Các NGO còn phối hỢp hoạt động vối các công đoàn và các
đảng phái chính trị, truyền bá tín ngưỡng và giá trị tôn
giáo, nhưng phải phù hỢp với chính sách của quốc gia,
không trái vỏi lợi ích của quốc gia, đồng thời tham gia các
phong trào quần chúng như thể thao, văn hoá... Thông
qua hoạt động của các tổ chức chuyên môn khác nhau như
luật gia, các NGO đưa ra vân đê quyên con người và đấu
tranh cho quyển tự do con người, tham gia các hoạt động

cứu nạn do hậu quả chiến tranh hoặc thiên tai, V.V..

4. Các phong trào chính trị
a) Khái niệm phong trào chính trị


Khái niệm "cánh tả", "dảng cánh tả", "phong trào

cánh tả".
Quan điểm mácxít phân loại các đảng theo bản chât
giai cấp của các đảng và hệ tư tưỏng chính trị của đảng,
Theo tiêu chí thứ nhâ't, trong chủ nghĩa tư bản có bôn kiểu
đảng chính trị crt bản: đảng của các chúa dất bảo vệ lợi ích
các điên chủ lốn ở Bắc Phi, châu Á và Mỹ Latinh; các đảng

25


tư sản của các tập đoàn tư bản lớn; các đảng tiểu tư sản,
tiểu chủ ở thành thị và nông thôn; các đảng công nhân
gồm các đảng cộng sản và các đảng dân chủ - xã hội.
Hệ tư tưởng chính trị với cốt lõi bao hàm các giá trị là
tiêu chí để phân loại các dảng theo nguyên tắc "tả" "hữu". Một sơ đồ kinh điển được thừa nhận có năm hệ tư
tưởng chính:
ơiủ nghĩa

Oiủ nghĩa dân

Chủ nghĩa


cộng sản

chù xã hội

tựdo

Chù nghĩa

Chủ nphĩa

bàoữiủ

phát xít

< ............ cánh tả................... -........................................... cánh hữu............... >

Khái niệm vê phái tả và phái hữu xuất hiện từ thòi kỳ
đại cách mạng tư sản Pháp vào cuối thê kỷ XVIII, Vởi tư
cách là khái niệm chính trị học, nó biểu thị hai khuynh
hướng đỐì lập ở phương diện thái độ chính trị, nên vẫn
được sử dụng liên tục đến ngày nay. Phái hữu - thóng
thường đại diện cho sự bảo thủ về chính trị, bảo vệ nền
chính trị hoặc trật tự xả hội hiện hành. Phái tả - thông
thường chỉ các phe phái hoặc chính đảng cách mạng hoặc
cấp tiến về chính trị, có thái độ phê phán đôi với trậ t tự xã
hội và chính trị hiện hành, định lật đổ hoặc cải cách trật
tự hiện hành. Trong chính trị học, hai phái có quan niệm
về "tự do" khác nhau và từ đó, có quan niệm khác nhau Cờ
bản về dân chủ và vai trò của nhà nước. Khái niệm "tả",
"hữu" trong thực tế hiện nay còn hàm ý chủ yếu vê aự

khác biệt trong vai trò (sự can thiệp) của nhà nước.
-

Cơ sở của sự phân chia theo hệ tư tưởng tả, hữu là

các giá trị nền tảng.
Cánh tả nhấn mạnh tự do (trên cđ sỏ nhận thức đưỢc

26


quy luật xã hội và trách nhiệm xã hội cỉia từng cá nhân)
và bình dẳng xã hội. Do vậy, cánh lá cớ mẫu sô chung là
luôn nhấn mạnh vai trò của nhà nước (tính xã hội). Những
người cộng sản cho ràng các giá trị và nguyên tắc chủ yếu
là công bằng và bình đẳng xã hội, quyền lực nhân dân và
chủ nghĩa quôc tê. Những ngư('ji dân chủ xã hội thừa nhận
các giá trị công bằng, đoàn kết, bình đẳng giữa các hình
thức sở hữu, bảo vệ quyển lợi của các dân tộc thiểu số,
nâng cao thuế đối vói người có thu nhập cao.
Cánh hữu nhân mạnh tự do cá nhân (không bị can
thiộp), do vậy chông lại vai trò quá mức của nhà nước.
Những ngưòi theo chủ nghĩa tự do dể cao tự do cá nhân,
đế cao sở hữu tư nhân, tư nhắn hoá, giảm thiểu sự điều
tiết của nhà nưốc và cắt siảm các chương trình xã hội.
Chủ nghĩa bảo thủ coi trọng sỏ hữu tư nhân, gia đình, tôn
giáo, đạo đức, giảm thiểu sự can thiệp của nhà nước vào
kinh tế, chú ý đến quân đội, giữ nguyên tình trạng hiện
hành. Chủ nghĩa phát xít sùng bái chủ nghĩa dân tộc cực
đoan, sùng bái sức mạnh trong quan hệ quốc tế, sở hữu tư

nhân và ph<ìn biệt đôi xử với người nhập cư.
Trong bôi cảnh chính trị hiện nay, các đảng cánh tả là
các dảng bênh vực, dấu tranh cho công bằng, bình đẳng xã
hội, các yêu sách dân sinh, dân chủ của các tầng lốp nhân
dân lao động.
Cáo dảng cánh hửu thường dại diện cho các lực lưỢng
tư sản phản dộng, coi thường bất công, bất bình đẳng xã
hội; cổ vũ cho bạo lực, chiến tranh, tôn giáo, phân biệt
chủng tộc, giới tính...

27


- Các đảng cánh tả và phong trào cánh tả.
Ngày nay, các đảng cánh tả lớn trên thê giới bao gồm
các đảng cộng sản, các đảng dân chủ xã hội, các đảng sinh
thái, một sô các đảng tiểu tư sản của sinh viên, trí thức,
tiểu thủ, tiểu thương,...
Phong trào cánh tả gồm các phong trào tiến bộ như:
Phong trào Không liên kết, phong trào công nhân, phonịĩ
trào phụ nữ, phong trào xã hội mói, phong trào sinh viên,
phong trào sinh thái, phong trào hoà bình chống chiến
tranh và chông chạy đua vũ khí hạt nhân, vũ khí ^ ế t ngưòi
hàng loạt,... và hàng ngàn tổ chức phi chính phủ tiên bộ.
Trong lực lượng cánh tả có lực lượng cực tả, lực lượng trung
tả và cấp tiên. Các chính phủ hình thành trong nhiều năm
qua thường là chính phủ liên minh phái tả hoặc liên minh
phái hữu (Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha,...).

b)

Vai trò của cá c phong trào chính trị trong nền
chính trị quốc tế
Ngày nay, có nhiều phong trào chính trị - xã hội có tác
động to lớn đến đòi sôVìg quan hệ quốc tê và sự phát triển
của xã hội loài người. Các phong trào chính trị - xã hội
thiếu một hệ thống cđ chế, thiết chế chặt chẽ, nhưng ngày
càng khẳng định là một chủ thể quan trọng trong nển
chính trị thê giới, tiêu biểu là phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế, Phong trào Không liên kết, phong trào dân
chủ - xã hội, phong trào đấu tranh vì hoà bình, phong trào
đấu tranh chống vũ khí hạt nhân,...
Tất cả các phong trào cách mạng tiến bộ đểu có tính
dân chủ, bảo vệ lợi ích của đa số nhân dân, thu hút sự

28


gia rộng rãi của quần chúng nhân dân. Các cuộc cách mạng
dân chủ tư sản hay cách mạng xã hội chủ nghĩa dểu là sự
nghiệp của quần chúng nhân dân. Chủ nghĩa xã hội củng là
sự sáng lạo sinh dộng của quần chúng nhâii dân.
Bản thân các phong trào cánh tả đểu gần gũi vỏi các
quá trình dân chủ hoá trong mọi mặt đòi sông xã hội. Dân
chủ hoá vừa là cđ sỏ. vừa là điểu kiện để phát triển mạnh
mẽ phonẹ trào cánh tả. Các đảng chính trị cánh tả ngày
nay đang đổi mối theo hưống dân chủ hoá trong tổ chức và
các hoạt động của mình.
Phong trào cộng sản quốc tế hiện nay đã vượt qua thòi
kỳ khó khàn nhất và bắt đầu hồi phục, nhưng chưa thực
sự ra khỏi khủng hoảng. Các đảng cộng sản đang trong

quá trình dổi mới lý luận, đưòng lổi, chính sách, các hình
thức phối hợp hoạt động. Các đảng này hướng vào những
nhiệm vụ cấp bách hiện nay: mỏ rộng ảnh hưởng của mình
trong nhân dân lao dộng, thanh niên, công đoàn, phụ nữ.
táng cưòng đoàn kết, hỢp tác lao dộng, hỢp tác trên trường
quốc tế.
Các đảng cộng sản đã xác định rõ mâu thuẫn chính trị
chủ yếu của thê giới hiện nay là mâu thuẫn giữa chủ
nghĩa đê quốc bá quyền, hiếu chiến do Mỹ đứng dầu nhằm
thống trị thê giối với một bên là các dân tộc, các lực lượng
tiến bộ, yêu chuộng hoà bình, công lý trên thê giỏi đang
đấu tranh vì độc lập, tự do, dân sinh, dân chủ và tiên bộ
xã hội. Họ là lực lượng chính trị chủ yếu lên án các cuộc
chiên tranh xâm lưỢc, chính sách cưòng quyền, hiếu chiến,
chiến lưỢc đánh đòn phủ đầu, hành dộng dơn phương, chà
đạp thô bạo luật pháp quốc tê của chính quyển Mỹ; phản

29


×