Tải bản đầy đủ (.doc) (80 trang)

Kiến thức thực hành về bệnh tay chân miệng ở Hải Dương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (795.42 KB, 80 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
BÀI TẬP 1

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN
QUAN ĐẾN PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC
TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ LAM SƠN HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG, NĂM 2014

Nhóm Thanh Miện - CHYTCC 17
Học viên: 1. Ngô Thị Nhung
2. Vũ Thị Sao Chi

Giáo viên hướng dẫn: Ths. Phạm Phương Liên

Hà Nội, năm 2014


2

BỘ GIÁO

ĐÀO
TẠO
- BỘTẮT
Y TẾ
DANHDỤC


MỤC
CÁC
CHỮ
VIẾT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
–––––––––––––––––––––

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
BÀI TẬP 1

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN
QUAN ĐẾN PHÒNG BỆNH TAY CHÂN MIỆNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC
TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI XÃ LAM SƠN HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG, NĂM 2014

Nhóm Thanh Miện - CHYTCC 17
Học viên: 1. Ngô Thị Nhung
2. Vũ Thị Sao Chi

Giáo viên hướng dẫn: Th.s. Phạm Phương Liên

Hà Nội, năm 2014


i

MỤC LỤC


ii


DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ


iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CT
CVA16
ĐTNC
ĐYTDP
EV
EV71
HGĐ
HSBA
KRT
NCSTC
NVYT
TCM
TH
TTYTH
TYT
VK

Côn trùng
Coxsackievirus A16
Đối tượng nghiên cứu
Đội y tế dự phòng
Enterovirus
Enterovirus 71

Hộ gia đình
Hồ sơ bệnh án
Không rửa tay
Người chăm sóc trẻ chính
Nhân viên y tế
Tay chân miệng
Thực hành
Trung tâm Y tế huyện
Trạm y tế
Vi khuẩn

VSMT

Vệ sinh môi trường

TÓM TẮT ĐỀ CƯƠNG
Bệnh tay chân miệng (TCM) là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ
gây thành dịch, do vi rút đường ruột gây ra. Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp
là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 (EV71). Cho đến nay, bệnh TCM chưa có
vắc xin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu. Phương châm phòng chống bệnh trên


iv

thế giới tập trung chủ yếu vào các can thiệp Y tế công cộng. Hiệu quả của công tác
phòng chống bệnh TCM phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, thực hành của những
người chăm sóc (NCS) trẻ. Nhằm cung cấp thông tin về sự hiểu biết, thực hành
phòng bệnh TCM của người chăm sóc (NCS) trẻ dưới 5 tuổi và giúp cho việc xây
dựng kế hoạch, triển khai công tác phòng chống dịch bệnh TCM trên địa bàn xã Lam
Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương nói riêng được hiệu quả, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu: “Thực trạng kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến
phòng bệnh Tay chân miệng của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi tại xã Lam Sơn
huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương, năm 2014”.
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính được
tiến hành từ 10/2014 – 12/2014 tại xã Lam Sơn với mục tiêu: (1). Mô tả kiến thức,
thực hành phòng chống bệnh TCM của người chăm sóc trẻ dưới 05 tuổi tại xã Lam
Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương năm 2014; (2). Phân tích một số yếu tố liên
quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh TCM của người chăm sóc trẻ dưới 05 tuổi
tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương năm 2014. Số liệu định lượng được
thu thập qua phát vấn 384 NCS trẻ dưới 5 tuổi. Thông tin định tính thu thập qua 2 cuộc
phỏng vấn sâu cán bộ y tế (CBYT) và 2 cuộc thảo luận nhóm (TLN) NCS trẻ dưới 5
tuổi. Phân tích và xử lý số liệu định lượng bằng phần mềm Epidata 3.0 và SPSS 16.0.
Kết quả nghiên cứu sẽ chỉ ra được thực trạng và một số yếu tố liên quan đến
kiến thức, thực hành của NCS trẻ trong việc phòng bệnh TCM cho trẻ em dưới 5
tuổỉ tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương, năm 2014. Từ đó, chúng
tôi hy vọng sẽ đưa ra được một số khuyến nghị phù hợp cho xã Lam Sơn huyện
Thanh Miện tỉnh Hải Dương trong công tác phòng chống dịch bệnh tay chân miệng
những năm tiếp theo.


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhất là sự xuất
hiện của các loại dịch bệnh mới và sự quay trở lại của dịch bệnh cũ làm ảnh hưởng
ngày càng lớn tới cuộc sống của người dân, là gánh nặng cho Ngành Y tế và ảnh
hưởng tới toàn xã hội. Hiện nay, dịch bệnh Tay chân miệng tuy có chững lại so với
năm 2012 và 2013 nhưng bệnh vẫn mắc rải rác quanh năm, lây lan nhanh trong
cộng đồng, bệnh thường gặp ở trẻ em nhất là trẻ dưới 5 tuổi và đặc biệt vẫn còn có
trường hợp trẻ tử vong do bệnh gây ra.

Bệnh Tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm do vi rút đường ruột gây ra
(Enterovirus). Đây là bệnh nhiễm trùng cấp tính với những biểu hiện sốt, đau rát
trong miệng, phát ban mà phần nhiều ban dạng mụn nước ở tay, chân, miệng. Bệnh
có thể gây ra những biến chứng nặng nhiễm trùng thần kinh trung ương như viêm
não, viêm não-màng não, bại liệt, ngoài ra còn viêm cơ tim, phù phổi cấp, có thể
dẫn đến tử vong. Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 là hai tác nhân chủ yếu gây
bệnh. Tuy nhiên, bệnh Tay chân miệng vẫn chưa có vaccine phòng bệnh và thuốc
điều trị đặc hiệu. Phương châm phòng chống bệnh trên thế giới tập trung chủ yếu
vào các can thiệp Y tế công cộng.
Trên thế giới, bệnh Tay chân miệng có xu hướng tăng và duy trì ở mức cao
tại một số nước khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Theo thông báo của Tổ chức Y
tế thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương ngày 07/5/2014, số trường hợp mắc bệnh
tay chân miệng tăng tại các nước và vùng lãnh thổ như Trung Quốc tăng 39,9%, Ma
Cao tăng 47,8% và Singapore tăng 10,2% so với cùng kỳ năm 2013. Trong khi đó,
tại Việt Nam, bệnh Tay chân miệng được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 2002.
Những năm 2005-2010 số bệnh nhân có xu hướng gia tăng mạnh và gây tử vong ở
nhiều tỉnh, huyện/thành phố trên cả nước. Sáu tháng đầu năm 2014, cả nước ghi
nhận 38.217 trường hợp mắc tại 62 tỉnh /thành phố, có 02 trường hợp tử vong tại
tỉnh Long An (01) và Bà Rịa - Vũng Tàu (01) với tác nhân gây bệnh chính là EV71.
So với cùng kỳ năm 2013 (40.429 mắc/14 trường hợp tử vong) tử vong giảm 12
trường hợp. Tuy nhiên, số mắc tăng cao cục bộ tại một số địa phương như thành


2

phố Hồ Chí Minh tăng 23,7%, Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 27,9%, Cà Mau tăng 17,2%,
Bình Dương tăng 9,5%, Kon Tum tăng 44,6%.
Huyện Thanh Miện là một huyện nông nghiệp, nằm ở phía Tây Nam tỉnh Hải
Dương. Huyện gồm 19 xã/thị trấn và 92 thôn, khu dân cư. Diện tích tự nhiên
122,321 km2, dân số huyện là 127.999 người. Trên địa bàn huyện từ đầu năm đến

tháng 08/2014 ghi nhận 45 trường hợp mắc bệnh Tay chân miệng trong đó bệnh tập
trung chủ yếu ở xã Lam Sơn với số ca mắc 30 trường hợp chiếm 60,3% so với toàn
huyện và chưa có dấu hiệu cho thấy bệnh đã được kiểm soát vì đỉnh của dịch
thường rơi vào tháng 9, 10 hàng năm. Phân tích số liệu thứ cấp, chúng tôi nhận thấy
các đơn vị y tế địa phương và cơ sở đã triển khai các hoạt động theo chỉ đạo của Bộ
Y tế về phòng, chống dịch bệnh Tay chân miệng. Công tác truyền thông cũng đã
được triển khai. Tuy vậy, hiệu quả trong công tác phòng chống bệnh Tay chân
miệng chưa cao. Qua đánh giá nhanh tại cộng đồng, sự hiểu biết về bệnh Tay chân
miệng của người chăm sóc trẻ chính còn khá sơ sài, thực hành vệ sinh còn nhiều
hạn chế, hiệu quả của công tác phòng chống dịch bệnh phụ thuộc rất nhiều vào kiến
thức, thực hành của NCS trẻ. Tại huyện hiện nay vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm
hiểu hoạt động phòng, chống bệnh Tay chân miệng của người dân. Từ những lý do
trên, nhằm cung cấp thông tin cho việc xây dựng kế hoạch và triển khai công tác
phòng chống dịch bệnh TCM tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng kiến thức, thực hành và một số yếu
tố liên quan đến phòng bệnh Tay chân miệng của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi
tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương, năm 2014”.


3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả kiến thức, thực hành phòng bệnh Tay chân miệng của người chăm
sóc trẻ dưới 05 tuổi tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương,
năm 2014.
2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh Tay
chân miệng của người chăm sóc trẻ dưới 05 tuổi tại xã Lam Sơn huyện
Thanh Miện tỉnh Hải Dương năm 2014.



4

Chương I. TỔNG QUAN
1. Định nghĩa bệnh Tay chân miệng
Bệnh TCM là một hội chứng bệnh ở người do virus đường ruột của họ
Picornaviridae gây ra. Giống vi rút gây bệnh TCM phổ biến nhất là Coxsackie A và
virus Enterovirus 71 (EV-71). Đây là một bệnh thường gặp ở nhũ nhi và trẻ em.
Bệnh thường được đặc trưng bởi sốt, đau họng, đau miệng, loét miệng với vết loét
đỏ hay phỏng nước ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, phát ban dạng phỏng nước ở lòng
bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông. Bệnh có thể gây biến chứng nguy hiểm thần kinh
như viêm não - màng não; Biến chứng tuần hoàn, hô hấp: viêm cơ tim, phù phổi cấp
và dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử lý kịp thời. Hiện nay bệnh
chưa có vacxin phòng bệnh và thuốc điều trị đặc hiệu.
2. Đặc điểm dịch tễ bệnh Tay chân miệng
2.1. Tác nhân gây bệnh
Bệnh TCM do nhóm vi rút đường ruột (enterovirus) gây nên, phần nhiều là
do Coxsackie virus thuộc serotype A5, A9, A10, nhất là A16: gây bệnh lành tính, có
thể tự khỏi trong 7 – 10 ngày. Với Enterovirus 71 có liên quan đến các biến chứng
về thần kinh như: viêm não, viêm thân não, viêm thùy não, viêm màng não, bại liệt
kiểu polio. Biến chứng tim mạch, hô hấp: viêm cơ tim, phù phổi cấp do thần kinh,
tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch .
2.2. Nguồn truyền nhiễm
Ổ chứa: Người bệnh hay người mang vi rút không có triệu chứng là nguồn
lây bệnh.
Thời gian đào thải viurut: Virut tồn tại và đào thải qua phân trong vòng 2 - 4
tuần (Cá biệt 12 tuần). Virut tồn tại ở đường hô hấp trên và đào thải qua dịch tiết hầu
họng trong vòng 2 tuần. Virut tồn tại ở mụn nước cho đến khi mụn nước lành hẳn (1 2 tuần). Thời gian tồn tại của các Enterovirut trong môi trường tùy thuộc vào môi
trường khô, ướt, nhiệt độ, tia xạ (tia cực tím của ánh sáng mặt trời), các hóa chất.
Thời gian ủ bệnh: 3 đến 7 ngày, nếu có biến chứng thần kinh là 3 - 35 ngày.
Thời kỳ lây truyền: Enterovirus có khả năng lây bệnh trong thời kỳ ủ bệnh và

khả năng lây truyền cao nhất là 5 -7 ngày sau khi phát bệnh .


5

2.3. Phương thức lây truyền
Enterovirut được xác định gây bệnh Tay chân miệng là một loại virut đường
ruột, gây bệnh chủ yếu lây nhiễm qua đường tiêu hóa, trực tiếp phân – miệng hoặc
gián tiếp qua nước, thực phẩm, tay bẩn… bị ô nhiễm phân người bệnh. Một số ít
trường hợp được ghi nhận lây lan qua đường hô hấp.
2.4. Đặc điểm về tuổi mắc bệnh
Bệnh thường xảy ra ở trẻ dưới 10 tuổi, nhiều nhất ở trẻ 1- 3 tuổi. Người đã
mắc bệnh trong quá khứ vẫn có thể bị mắc bệnh do nhiễm loại vi rút khác.
2.5. Phân bố theo mùa
Bệnh có thể xuất hiện quanh năm nhưng số mắc bệnh tăng cao vào những
tháng đầu mùa hè và đầu mùa thu. Ở Việt Nam bệnh xuất hiện nhiều trong thời gian
tháng 3 đến tháng 5 và tháng 9 đến tháng 12.
3. Chẩn đoán bệnh Tay chân miệng
3.1. Biểu hiện lâm sàng
* Các triệu chứng chính
- Ủ bệnh: 3 -7 ngày, nếu có biến chứng thần kinh là 3-35 ngày.
- Khởi đầu: sốt nhẹ, kém ăn, mệt mỏi, đau miệng, đau họng làm cho trẻ bỏ ăn.
- Loét miệng: sau sốt 1- 2 ngày, có sự xuất hiện các chấm đỏ nhỏ hoặc hồng
ban, phát triển thành các mụn nước trên nền các hồng ban, các mụn nước vỡ ra
thành vết loét (vesicular exantheme) ở lưỡi, nướu răng, vòm họng và ở mặt trong má.
- Ban ngoài da: (papulovesicular exantheme) phát triển trên 2 ngày với 2
dạng ban chính là ban sần (papules) và mụn nước (vesicles).
- Mụn nước: có kích thước từ 2 - 10 mm, màu xám, hình bầu dục.
Các đốm phẳng có khi gồ lên (macular papules), hoặc có màu đỏ, một số là
mụn nước.

- Vị trí ban: lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, vùng đầu gối, khuỷu tay, bụng.
Ban không ngứa, không đau.
Có bệnh nhân chỉ phát ban hoặc chỉ có các vết loét ở miệng.
Ban do Enterovirus 71 thường là ban sần và /hoặc những đốm đỏ và hồng
ban rải rác thân mình và các chi. Ban do Coxsackievirus A16 thường là mụn nước


6

to. Ở VN các ban ở dạng hỗn hợp (ban có các hình dạng ở nhiều giai đoạn khác
nhau ở cùng một thời điểm trên một bệnh nhân).
Mụn nước sẽ tự xẹp đi và khỏi sau 5 đến 7 ngày, để lại vết thâm, không để lại
sẹo.
Một số trẻ có kèm nôn ói, tiêu chảy ngay khi nổi mụn nước hay khi mụn nước đã xẹp.
Cần theo dõi sát trẻ bị bệnh tay chân miệng ít nhất 8 ngày để phát hiện sớm
các dấu hiệu nghi ngờ biến chứng và đưa trẻ đến bệnh viện.
* Biến chứng
- Bệnh tay chân miệng do Coxsackievirus A16 thường ở nhẹ ít biến chứng.
Hầu hết bệnh nhân khỏi bệnh trong 7-10 ngày mà không cần điều trị .
- Coxsackievirus A16 có thể cũng gây viêm màng não vô khuẩn, khi đó bệnh
nhân có sốt, nhức đầu, cổ cứng, hoặc đau lưng và cần nhập viện vài ngày.
- Enterovirus 71 có thể gây ra các biến chứng về thần kinh trung ương như
viêm não, viêm não - màng não, bại liệt kiểu polio, hoặc viêm cơ tim, phù phổi thần
kinh, có thể tử vong.
* Chẩn đoán xác định: Dựa vào triệu chứng lâm sàng và dịch tễ học:
- Yếu tố dịch tễ: Căn cứ vào tuổi, mùa, vùng lưu hành bệnh, số trẻ mắc bệnh
trong cùng một thời gian.
- Lâm sàng: Phỏng nước điển hình ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối,
mông, kèm sốt hoặc không.
- Xét nghiệm RT- PCR hoặc phân lập có vi rút gây bệnh .

* Chẩn đoán phân biệt: với một số bệnh tương tự như Thủy đậu, Zona,
Herpes.
4. Nguyên tắc điều trị .
4.1. Bệnh TCM không biến chứng
- Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị hỗ trợ.
- Không dùng kháng sinh khi không có bội nhiễm.
- Theo dõi sát, phát hiện sớm và điều trị biến chứng.
- Bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, nâng cao thể trạng.
4.2. Bệnh TCM có biến chứng.
- Tùy theo độ nặng nhẹ, nguyên tắc chung là:
- Thở oxy / thở máy
- Chống co giật
- Chống phù não
- Điều chỉnh rối loạn nước, điện giải, toan kiềm.


7

- Chỉ dùng kháng sinh khi có bội nhiễm.
- Lọc máu.
Điều trị bệnh nhân theo hướng dẫn “Chẩn đoán, điều trị Bệnh tay - chânmiệng” ban hành kèm theo Quyết định số 1003/QĐ-BYT ngày 30/03/2012 của Bộ
trưởng Bộ Y tế.
5. Phương pháp phòng chống dịch bệnh Tay chân miệng
5.1. Định nghĩa dịch
- Là bệnh truyền nhiễm nhóm B.
- Một nơi (Thôn, khu, nhà trường…) được gọi là ổ dịch khi ghi nhận từ 02
trường hợp bệnh trở lên (lâm sàng hoặc xác định) khởi phát trong vòng 7 ngày có
liên quan dịch tễ với nhau.
5.2. Nguyên tắc phòng bệnh
- Hiện nay chưa có phương pháp phòng bệnh đặc hiệu cho bệnh Tay chân

miệng, tuy nhiên biện pháp vệ sinh chặt chẽ có thể hạ thấp nguy cơ nhiễm bệnh.
Các biện pháp có tác dụng là thường xuyên rửa tay bằng xà phòng đặc biệt là sau
mỗi lần thay tã lót cho trẻ, trước khi cho trẻ ăn và sau khi trẻ đi vệ sinh.
- Phát hiện sớm các trường hợp mắc để xử lý kịp thời
- Cách ly các trường hợp mắc, không để lây lan ra cộng đồng
- Những nơi bị nhiễm bệnh có thể được làm sạch trước tiên bằng nước xà
phòng sau đó khử trùng bằng dung dịch tẩy rửa thông thường tại gia đình. Tránh
các tiếp xúc thân mật với người bệnh như hôn, vuốt ve, dùng chung dụng cụ, đồ
dùng đồ chơi và cho trẻ mắc bệnh tiếp xúc với trẻ khác.
- Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân rửa tay bằng xà phòng hoặc các dung dịch sát
trùng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, vệ sinh môi trường thông thoáng nhà ở,
nâng cao thể trạng.
- Làm sạch bề mặt và khử trùng dụng cụ sinh hoạt, nhà vệ sinh bị nhiễm chất
tiết và bài tiết của bệnh nhân bằng các dung dịch tẩy rửa sẵn có.
- Điều trị đúng phác đồ Bộ Y tế đã ban hành.
* Phòng chống bệnh Tay – Chân - Miệng trong nhà trẻ, trường Mần non


8

Các vụ bùng phát dịch trong nhà trẻ, trường Mầm non thường xảy ra vào
mùa hè, mùa thu đông và thường đồng thời với hiện tượng tăng các trường hợp
nhiễm bệnh trong cộng đồng. Để giảm số ca mắc bệnh TCM các trường Mầm non
trên địa bàn cần duy trì các biện pháp:
Rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng hàng ngày trước khi chăm trẻ, nhất là sau khi
đi vệ sinh, thay tã hoặc dọn dẹp các vật dụng có phân trẻ.
Hướng dẫn trẻ che miệng khi ho và hắt hơi.
Vệ sinh đồ chơi, đồ dùng của trẻ, thông thoáng phòng học của trẻ.
Cho nghỉ học những trẻ biểu hiện sốt hoặc có biểu hiện loét miệng, có nốt
phỏng nước ở lòng bàn tay, bàn chân và đến khám điều trị tại các cơ sở y tế.

5.3. Phương pháp phòng chống bệnh TCM ở Việt Nam
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, để phòng bệnh TCM cần: Phát hiện sớm các
trường hợp mắc bệnh và điều trị kịp thời; Cách ly các trường hợp mới mắc, không để
bệnh lây lan ra cộng đồng; Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, nâng
cao thể trạng; Làm sạch bề mặt và khử trùng dụng cụ sinh hoạt, nhà vệ sinh; Phòng
chống dịch theo văn bản hướng dẫn “Giám sát và phòng chống bệnh tay chân
miệng” ban hành theo quyết định số 1742/QĐ-BYT ngày 19/5/2008 của Bộ Y tế.
Đáp ứng tình hình bệnh TCM gia tăng cao trong năm 2011, Bộ Y tế đã triển
khai nhiều hoạt động phòng chống bệnh TCM như: ban hành hướng chẩn đoán, điều
trị bệnh TCM, hướng dẫn này thay thế hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh TCM năm
2008; ban hành chỉ thị số 06/CT-BYT và công điện gửi các đơn vị trong ngành y tế về
tăng cường công tác phòng chống bệnh TCM. Thành lập 18 đoàn công tác của Bộ Y
tế đi kiểm tra, chỉ đạo công tác phòng chống tay chân miệng và sốt xuất huyết
Dengue tại 32 tỉnh, thành phố trọng điểm. Xây dựng kế hoạch phối hợp liên ngành Y
tế-Giáo dục trong phòng chống bệnh và cấp phát 22.415 kg Chloramin B, 16 bình
phun MR8, 32 máy phun MD-150 DX, 20 máy phun ULV cho các Viện Pasteur TP.
Hồ Chí Minh, Pasteur Nha Trang và các địa phương để phục vụ công tác phòng
chống bệnh dịch [4]. Tại các địa phương, thực hiện công điện của thủ tướng và Bộ Y
tế, nhiều địa phương cũng đã ban hành công văn, chỉ thị chỉ đạo tăng cường công tác
phòng chống bệnh như TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Tiền


9

Giang…Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng 63 tỉnh, thành phố đã ban hành 275 văn
bản chỉ đạo các đơn vị liên quan trong ngành tăng cường công tác phòng chống bệnh
TCM. Đã tổ chức 105 lớp tập huấn về giám sát, phòng chống bệnh TCM cho cán bộ
Y tế dự phòng tỉnh, huyện, xã, giáo viên mầm non và 09 hội nghị triển khai, đánh giá
công tác phòng chống bệnh TCM .
6. Tình hình dịch Tay chân miệng trên thế giới và tại Việt Nam

6.1. Tình hình dịch Tay chân miệng trên thế
Kể từ khi tác nhân gây bệnh là EV71 lần đầu tiên được phát hiện ra ở Mỹ (tại
California, 1969), bệnh lây lan sang nhiều nước và gây thành những vụ dịch lớn nhỏ
tại các nước Châu Âu, trong đó có Úc và Thụy Điển. Vào những năm 1970 của thế
kỷ trước, dịch xuất hiện ở Bulgari và Hungari mà tác nhân cũng do EV71 gây nên.
Chỉ riêng ở Hunggari đã có 1505 ca mắc và 45 ca chết. Bulgari đã có 750 ca mắc
bệnh, 149 ca bị liệt và 44 ca chết. Những nước khác như Pháp, Ý, Hà Lan, Tây ban
nha, Rumani, Brazin, Canada, Đức cũng thường xuyên xuất hiện dịch EV71.
Tại Châu Á, Nhật bản là nước có lịch sử bệnh TCM sớm hơn đã xuất hiện một
số vụ dịch lớn do EV71 vào năm 1973 và 1978. Từ năm 1997 -2000, EV71 đã hoạt
động trở lại Nhật Bản.
Hồng Kông-Trung Quốc xảy ra dịch EV71 vào năm 1987 và năm 2001 có
trường hợp tử vong đầu tiên. Ca bệnh TCM đầu tiên xảy ra ở Trung Hoa đại lục là
vào năm 1981 tại Thượng Hải. Lần đầu tiên Viện vi rút học Vũ Hán phân lập được vi
rút EV71 vào năm 1995. Tại Trung Quốc, chỉ trong vòng 3 tháng đầu năm 2009 đã
có 41.846 ca mắc bệnh TCM trong đó có 18 ca tử vong.
Trong những năm gần đây, nhiều vụ dịch TCM được thông báo xảy ra tại các
nước khác thuộc Châu Á và Đông Nam Á như: Đài Loan (1997-2008), Nhật Bản
(2002-2004), Malaysia (1997-2008), Singapore (1997-2002), Thái Lan (2006-2008),
Việt Nam (2005)..., mà nguyên nhân chủ yếu do Enterovirus 71 gây nên.
Nghiên cứu trong 1 thời gian dài, các nhà khoa học phát hiện ra rằng EV71 typ
A lây lan mạnh hơn ở Califonia, trong khi đó typ B và C lại lây lan mạnh ở Viễn
Đông (Châu Á) thậm chí còn lan rộng ra toàn thế giới. Nói cách khác, EV71 không
xảy ra chỉ ở 1 nước mà còn là vấn đề chung của toàn cầu.
Những vụ dịch lớn trên thế giới: Năm 1973, 1978: Dịch TCM xảy ra tại Nhật
Bản với hơn 30.000 ca mắc; Năm 1978 dịch TCM tại Hungari với 1550 ca mắc; Năm
1998 dịch TCM tại Đài Loan với 130.000 ca mắc, 405 ca nặng, hơn 80 ca tử vong.


10


Năm 1999 tại Úc xảy ra dịch TCM với hơn 6.000 ca mắc; Năm 2008 tại Trung Quốc
xảy ra dịch TCM với hơn 25.000 ca mắc, 26 ca tử vong. Năm 2009 báo cáo đến
30/11/2009), theo báo cáo của CDC-Trung Quốc, dịch lớn về TCM xảy ra tại nhiều
tỉnh/khu vực thuộc Trung Hoa Đại lục với khoảng 1.155.525 ca mắc và hơn 400 ca tử
vong. Trong khi đó đại dịch cúm A/H1N1 ở nước này chỉ gây ra cái chết cho 200 ca
trong năm 2009.

Bản đồ 1.1. Phân bố bệnh TCM trên thế giới, năm 2008
Kết quả cập nhật tình hình dịch TCM trên thế giới của WHO đến ngày
2/10/2011 cho biết dịch TCM đang có xu hướng giảm ở Trung Quốc, Ma Cao
(Trung Quốc), Nhật Bản, Hàn Quốc nhưng lại có xu hướng gia tăng ở Việt Nam. Số
liệu cụ thể được mô tả trong bảng dưới đây:
Bảng 1.1. Số trường hợp mắc TCM được báo cáo đến ngày 2/10/2011
Chiều
hướng

Số trường hợp báo cáo
2011

2010

Tỷ suất
2011/2010


11

Trung Quốc




1 217 768

1 567 254

0.7

-

342

763

0.4

Ma Cao (Trung Quốc)



914

748

1.2

Nhật Bản




306 944

138 918

2.2

Hàn Quốc



10.2

4.6

2.2

Singapore

-

14 146

25 283

0.6

Việt Nam

-


61 805

-

Hồng
Quốc)

Kông

(Trung

-

Bảng 1.1 cho thấy tính đến tháng 10/2011: Trung Quốc có 1.217.768 trường
hợp mắc TCM, giảm 0.7% so với năm 2010; Nhật Bản có 306.944 trường hợp mắc,
giảm 2.2% so với năm 2010. Việt Nam có 61.805 trường hợp mắc, tuy nhiên chưa
có sự nhận định về tình hình dịch ở Việt Nam do Việt Nam chưa công bố số liệu
chính thức trong năm 2010.
Bảng 1.2. Số trường hợp mắc bệnh TCM tại một số quốc gia được WPRO báo cáo
đến ngày 6/9/2012.
Quốc gia/ vùng lãnh thổ

Chiều
hướng

Số trường hợp báo

Tỷ lệ mắc

cáo

2012/2011

2012

2011

1.520.274

964.812

1,6

344

276

1,2

1.323

927

1.4

Nhật Bản

36.707

251.980


0,1

Singapore

31.088

12.018

2,6

Trung Quốc
Hồng Kông (Trung Quốc)
Ma Cao (Trung Quốc)

Việt Nam

-

83.625

-

-

Bệnh TCM đã trở thành vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng trên toàn cầu và
được WHO xếp vào nhóm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm phải được thông báo.
6.2. Tình hình dịch Tay chân miệng tại Việt Nam


12


Tại Việt Nam bệnh TCM được xếp vào loại bệnh truyền nhiễm mới nổi.
Bệnh gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trong cả nước, với sự phân bố
tại các khu vực tương ứng: miền Nam: 48%, miền Bắc: 33%, miền Trung 14%, Tây
Nguyên 5%. Tại miền Nam dịch trầm trọng hơn miền Trung do số tử vong cao. Số
mắc bệnh TCM tập trung từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12. Theo
báo cáo của bệnh viện Nhi Đồng 1-TP Hồ Chí Minh (HCM), bệnh TCM bắt đầu
xuất hiện vào năm 2002. Trong năm 2003 xảy ra vụ dịch TCM với hơn 1000 trẻ
mắc, 20 trường hợp tử vong. Những năm gần đây hàng năm có hàng ngàn trẻ mắc
được ghi nhận tại Việt Nam. Trong năm 2006 có 2.284 trường hợp mắc bệnh, 2007
là 5.719 trường hợp. Năm 2008, theo báo cáo của Bộ Y tế, bệnh TCM xảy ra sớm
hơn mọi năm (tháng 4,5) và xảy ra ở nhiều tỉnh thuộc cả 3 miền (Miền Bắc; Trung
và Nam). Trong năm 2008 có 10.958 trường hợp mắc, 25 trường hợp tử vong; năm
2009 có 10.632 trường hợp mắc và 23 trường hợp tử vong. Chủ yếu các trường hợp
xảy ra tại các tỉnh khu vực phía Nam. Năm 2010, theo báo cáo của Bộ Y tế có hơn
10.000 trường hợp mắc.

Biểu đồ 1.1. Số trường hợp mắc TCM ở Việt Nam từ 2006-2011
Năm 2011, bệnh đột ngột bùng phát ở hầu hết các tỉnh thành trên toàn quốc
với số mắc là 112.370 trường hợp (tăng gấp10 lần so với các năm trước) và tử vong


13

là 169 người. Năm 2012, tính đến thời điểm 26/8 bệnh xuất hiện ở 63/63 tỉnh thành
với số người mắc và tử vong tương ứng là 83.625 và 41.

Biểu đồ 1.2: Số mắc và tử vong do bệnh TCM tại Việt Nam từ năm 2007 – 2013
Tại Việt Nam, tích lũy từ đầu năm đến tháng 06/2014 cả nước ghi nhận 38.217
trường hợp mắc tại 62 tỉnh /thành phố, có 02 trường hợp tử vong tại tỉnh Long An

(01) và Bà Rịa - Vũng Tàu (01) với tác nhân gây bệnh chính là EV71. So với cùng
kỳ năm 2013 (40.429 mắc/14 trường hợp tử vong) tử vong giảm 12 trường hợp. Tuy
nhiên, số mắc tăng cao cục bộ tại một số địa phương như TP. Hồ Chí Minh tăng
23,7%, Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 27,9%, Cà Mau tăng 17,2%, Bình Dương tăng 9,5%,
Kon Tum tăng 44,6%. Trên địa bàn huyện Thanh Miện tính từ đầu năm đến tháng
08/2014 ghi nhận 45 trường hợp mắc bệnh TCM trong đó bệnh tập trung chủ yếu ở xã
Lam Sơn với số ca mắc 30 trường hợp chiếm 60,3% so với toàn huyện và chưa có dấu
hiệu cho thấy bệnh đã được kiểm soát vì đỉnh của dịch thường rơi vào tháng 9, 10.
7. Một số nghiên cứu về bệnh Tay chân miệng trên thế giới và tại Việt Nam
7.1. Một số nghiên cứu trên thế giới
Trong báo cáo về “Các chính sách quản lý và phòng ngừa bệnh TCM tại
Trung Quốc năm 2011”, tác giả Zhang Yanpin thuộc tổ chức CDC Trung Quốc, nêu
rõ “một trong 04 lý do khiến dịch TCM vẫn tiếp tục gia tăng tại nước này sau khi
các chính sách quản lý và phòng chống bệnh TCM được triển khai là sự thiếu kiến
thức, thái độ, thực hành của người lớn về bệnh TCM và cách phòng chống”.


14

Một nghiên cứu bệnh chứng được tiến hành chọn ngẫu nhiên trên 283 trẻ dưới
06 tuổi có mắc bệnh TCM và Herpangina ở thị trấn Qiaosi, tỉnh Zhejiang, Trung
Quốc để xác định các yếu tố nguy cơ về bệnh TCM và Herpangina và hiệu quả
phòng bệnh bằng rửa tay xà phòng. Hiệu quả của biện pháp rửa tay bằng xà phòng
của trẻ được đánh giá thông qua 04 câu hỏi liên quan đến rửa tay. Kết quả cho thấy
18% cha mẹ/NCS trẻ ở nhóm trẻ bệnh không biết về bệnh TCM trong khi con số
tương ứng ở nhóm chứng là 9%. Phần trả lời kiến thức về bệnh TCM cho thấy,
trong nhóm bệnh có 50% trường hợp bệnh có kiến thức kém về bệnh TCM và chỉ
trả lời được từ 01 đến 03 câu hỏi; chỉ có 12% có điểm số tốt ≥ 07; ở nhóm chứng
các kết quả tương ứng là 2,5% và 78%. Về thực hành rửa tay bằng xà phòng chỉ có
41% nhóm bệnh thực hiện trong khi con số này ở nhóm chứng là 75% .

7.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Với mục tiêu thu thập thông tin về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan
đến bệnh TCM trên 02 nhóm đối tượng đích là người chăm sóc trẻ ở HGĐ và ở các
điểm giữ trẻ không chính thức tại cộng đồng, năm 2011 VNRC đã phối hợp cùng
IFRC tiến hành khảo sát ban đầu tại 08 tỉnh miền Nam: An Giang, Bến Tre, Long
An, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Quãng Ngãi và Đà Nẵng. Khảo sát được
tiến hành bằng phương pháp thu thập thông tin định lượng kết hợp với phỏng vấn
sâu ở 146 NCS trẻ chính dưới 05 tuổi tại HGĐ và 70 NCS trẻ tại các điểm giữ trẻ.
Kết quả cho thấy, trong nhóm NCS trẻ tại nhà có đến 21,2% không biết về đường
lây truyền của bệnh; 16,5% không hoặc ít quan tâm ngay cả khi trong thôn xóm có
người bị bệnh TCM; chỉ có 45,9% luôn luôn sử dụng xà phòng hoặc các dung dịch
sát khuẩn khi rửa tay cho trẻ; 64,2% lau rửa sàn nhà và 36,2% lau rửa đồ chơi của
trẻ mỗi ngày. Đây là khảo sát về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh
TCM đầu tiên tại Việt Nam, với quy mô lớn nhất và nội dung hoàn chỉnh nhất cho
đến thời điểm hiện tại. Hạn chế của nghiên cứu là đã không loại trừ các ĐTNC ở
các HGĐ đã có người mắc bệnh TCM trước đó.
Nghiên cứu của Cao Thị Thuý Ngân (2012) cũng đã tiến hành nghiên cứu về
kiến thức, thái độ, thực hành phòng bệnh TCM tại phường Trung Liệt, quận Đống
Đa – Hà Nội, nghiên cứu chỉ tiến hành thu thập số liệu định lượng và chỉ trên đối


15

tượng là bà mẹ có con dưới 03 tuổi. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy: tỷ lệ
ĐTNC có kiến thức không đạt là 58,5% (61,2% ĐTNC không biết về triệu chứng
bệnh; 19,2% không biết về đường lây truyền); tỷ lệ có thực hành không đúng về
phòng chống bệnh TCM chung là 69,5% (trong đó tỉ lệ có rửa tay bằng xà phòng là
53,3%; 42,2% có lau rửa sàn nhà và 29,5% lau rửa đồ chơi cho trẻ). Nghiên cứu
cũng không loại trừ các bà mẹ đã có con bị mắc bệnh TCM trước đó đến thời điểm
nghiên cứu.


1.4. Khung lý thuyết
Tỷ lệ người chăm sóc trẻ ≤ 05 tuổi trên
địa bàn xã Lam Sơn – huyện Thanh
Miện – tỉnh Hải Dương có kiến thức,
thực hành chưa đúng về phòng bệnh
TCM cao

Yếu tố cá nhân

Yếu tố tăng cường

Yếu tố tạo điều kiện


16

Tuổi cao

Trình độ học vấn
thấp
Nghề lao động
chân tay

Kiến thức về
phòng bệnh TCM
thấp trùng với
vấn đè
Thực hành phòng
bệnh TCM chưa

đúng Trùng với
vấn đề => bỏ

Tác động
từ CBYT
chưa hiệu
quả
Hoạt
động
tuyên
truyền,
tư vấn,
hỗ trợ,
theo dõi,
giám sát
của
CBYT
chưa
hiệu quả

Cần có phần viết để giải thích cơ sở
hình thành và mô tả chi tiết khung lý
thuyết này
1.5. Thông tin về xã Lam Sơn –
huyện Thanh Miện – tỉnh Hải
Dương
Thanh Miện là một huyện nông
nghiệp, nằm ở phía Tây Nam tỉnh
Hải Dương. Phía Tây Bắc giáp huyện
Bình Giang; phía Đông Bắc giáp


Tác động từ
người khác
chưa
đúng/hiệu quả
Ảnh
hưởng
từ người
thân, CB
chính
quyền,
Hội
LHPN,
CB
VHTT,
… chưa
đúng/
chưa
hiệu quả

Chương trình truyền thông
phòng, chống bệnh TCM
trên địa bàn xã chưa hiệu
quả
Nội dung
chưa
đúng

Hình
thức

chưa
phù hợp


17

huyện Gia Lộc, phía Đông Nam giáp huyện Ninh Giang; phía Nam giáp tỉnh Thái
Bình; phía Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên. Huyện gồm 19 xã/thị trấn và 92 thôn,
khu dân cư. Diện tích tự nhiên 122,321 km2, dân số huyện là 127.999 người.
Huyện có đường quốc lộ 38B chạy từ thành phố Hải Dương qua thị trấn Thanh
Miện, nối tới tỉnh Ninh Bình và đi các tỉnh phía Nam. Tỉnh lộ 20A nối Trung tâm
huyện với huyện Bình Giang đi Hà Nội. Các tuyến đường 20B và 39D chạy theo
trục Bắc Nam, Đông Tây nối Thanh Miện với các huyện lân cận.
Hệ thống y tế huyện Thanh Miện gồm có: Phòng Y tế, Trung tâm Y tế
huyện, Bệnh viện đa khoa huyện và 19 Trạm Y tế xã, thị trấn.
Xã Lam Sơn là một trong những xã kinh tế phát triển khá của huyện Thanh
Miện vị trí nằm ở phía bắc cách trung tâm hành chính của huyện 5 km thuộc vùng
châu thổ sông Hồng. Phía bắc giáp xã Đoàn Tùng, phía tây giáp xã Lê Hồng, phía
đông giáp xã Nhật Tân huyện Gia Lộc, phía nam giáp thị trấn Thanh Miện tỉnh Hải
Dương. Xã có 5 thôn gồm Kim Trang Đông, Kim Trang Tây, Thọ Trương, Thọ Sơn
và Thọ Xuyên. Diện tích tự nhiên 554,39 ha. Trong đó đất canh tác là 378,6 ha còn
lại 175,79 ha là đất chuyên dùng. Dân số của xã đầu năm 2014 là 7175 người. Trên
địa bàn huyện từ đầu năm đến tháng 08/2014 ghi nhận 45 trường hợp mắc bệnh Tay
chân miệng trong đó bệnh tập trung chủ yếu ở xã Lam Sơn với số ca mắc 30 trường
hợp chiếm 60,3% so với toàn huyện và chưa có dấu hiệu cho thấy bệnh đã được
kiểm soát vì đỉnh của dịch thường rơi vào tháng 9, 10 hàng năm


18


Chương II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu định lượng
NCS trẻ chính trong những HGĐ có trẻ ≤ 05 tuổi (trẻ được sinh từ tháng
09/2009 đến thời gian bắt đầu tiến hành nghiên cứu tháng 09/2014) đang thường trú
tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương.
Tiêu chuẩn lựa chọn: ĐTNC phải thỏa mãn đủ các điều kiện sau:
- Là NCS chính cho trẻ ≤ 05 tuổi tại nhà.
- Từ 18 tuổi trở lên.
- Có thời gian cư trú liên tục trên địa bàn xã từ 06 tháng trở lên tính đến thời
điểm tiến hành nghiên cứu.
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: Loại bỏ đối tượng có ít nhất một trong các đặc điểm:


19

- Người mắc bệnh câm, điếc, Tâm thần phân liệt, không thể trả lời phỏng vấn
hoặc chưa đủ 18 tuổi.
- NCS trẻ tại các HGĐ có trẻ ≤ 05 tuổi đã từng mắc bệnh TCM tính từ thời điểm
điều tra trở về trước (gồm trẻ năm 2012, 2013 và đến tháng 8 năm 2014 có danh sách
lưu tại khoa kiểm soát dịch bệnh Trung tâm Y tế huyện, Trạm y tế xã vì những trẻ
này đều đã được điều trị tại Trạm y tế xã, Bệnh viện huyện và bệnh viện Nhi tỉnh Hải
Dương. Những NCS này đã được Y bác sỹ điều trị trực tiếp tư vấn và cung cấp các
kiến thức liên quan đến bệnh TCM. Do vậy, kiến thức và hành vi liên quan đến thực
hành phòng bệnh của họ có thể có sự thay đổi so với thời điểm trước đó).
- Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu định tính
- Lãnh đạo Trưởng hoặc phó khoa kiểm soát dịch TTYT huyện Thanh Miện

- Trưởng Lãnh đạo Trạm Y tế xã Lam Sơn
- NCS chính trẻ dưới 5 tuổi tại các HGĐ
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại xã Lam Sơn huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương.
2.2.2. Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2014 đến tháng 01 năm 2015.
2.3. Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích. Kết hợp giữa nghiên cứu định lượng
và nghiên cứu định tính.
2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1. Nghiên cứu định lượng
• Cỡ mẫu nghiên cứu:
Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức chọn mẫu nghiên cứu
cắt ngang cho một quần thể :

Z 12−α / 2 . P (1 − P)
n=
d2
Trong đó:


×