Tải bản đầy đủ (.docx) (51 trang)

PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁCLÊNIN VỀ Ý THỨC? VẬN DỤNG PHÂN TÍCH NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÍNH NĂNG ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY?

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (218.63 KB, 51 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

BỘ MÔN : NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
TÊN TIỂU LUẬN : PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ
Ý THỨC? VẬN DỤNG PHÂN TÍCH NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÍNH NĂNG
ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI GIÁO
DỤC CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY?
Nhóm thực hiện : BB&BG
Lớp : CDQT15ATT
Mã HP : 161200701
Giảng viên hướng dẫn : NGUYỄN LÂM THANH HOÀNG

TPHCM , ngày 21 tháng 1 năm 2014


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TPHCM
KHOA LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
BỘ MÔN : NHỮNG NGUYÊN LÍ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
TÊN TIỂU LUẬN : PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ Ý THỨC?
VẬN DỤNG PHÂN TÍCH NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY TÍNH NĂNG ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO
CỦA SINH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC CỦA NƯỚC TA HIỆN NAY?

STT
1
2
3
4
5
6
7


8
9
10
11
12

Danh sách thành viên
Võ Nguyễn Ngọc An
Vũ Văn An
Nguyễn Chí Bảo
Lâm Hồng Đào
Phan Thị Hiền
Mai Thị Thu Hiền
Thân Huyền Bảo Ngọc
Bùi Nhật Tân
Nguyễn Kim Thanh
Nguyễn Thị Mỹ Tiên
Nguyễn Hoàng Như Trang
Lê Thanh Toàn

MSSV
13098891
13093421
13086561
13099981
13092011
13102541
13032421
13092171
13100061

13091981
13094161

Chữ kí


LỜI CÁM ƠN


Trong chương trình của sinh viên cao đẳng , đại học . Học phần đầu tiên mà các chuyên
ngành đều phải trải qua là Triết học . Triết học là khoa học có vai trò và vị trí quan trọng
đối với tất cả các lĩnh vực khoa học khác . Nghiên cứu Triết học góp phần tạo nên thế
giới quan khoa học cho sinh viên .
Sau khoảng thời gian được học chương trình Triết học dành cho sinh viên , chúng tôi
cảm thấy mình đã được sự tận tâm hướng dẫn của quý thầy cô đảm nhiệm giảng dạy và
được trang bị và bổ sung vốn kiến thức vô cùng bổ ích cho bản thân . Nhân đây chúng tôi
xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thầy Nguyễn Lâm Thanh Hoàng là giảng viên trực
tiếp hướng dẫn chúng tôi học phần này . Bên cạnh đó , tôi xin cảm ơn Trường Đại học


Công Nghiệp Tp. Hồ Chí Minh đã tạo môi trường và điều kiện học tập rất tốt để sinh
viên hoàn thành khóa học một cách tốt nhất .
Với vốn kiến thức có hạn và khả năng nghiên cứu khoa học còn hạn chế , để thực hiện đề
tài tiểu luận này chúng tôi đã gặp rất nhiều khó khăn . Vì vậy , bài tiểu luận của chúng tôi
sẽ không tránh khỏi những thiếu sót và nội dung còn hạn chế , rất mong sự thông cảm của
quý Thầy!

MỤC LỤC
Mở Đầu
Nội Dung

I.

Quan điểm của triết Mác-Lê về ý thức .......................................................1

I.1 Ý thức................................................................................................................1
.................................................................................................................................
I.2 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ...............................................................5
II.

Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong quá trình đổi mới

giáo dục của nước ta hiện nay ....................................................................................8


II.1 Vật chất quyết định ý thức –thực tế khách quan , quy luật khách quan quyết định
sự năng động sáng tạo của sinh viên............................................................................9
II.1.1 Phân tích quá trình đổi mới giáo dục ở nước ta............................................9
.......................................................................................................................................
II.1.2 Nhân tố vật chất và ý thức trong quá trình học tập của sinh viên ...............15
II.1.3 Vai trò quyết định của nhân tố vật chất với nhân tố ý thức trong lịch sử đổi mới
giáo dục ở nước ta .......................................................................................................17
II.2 Ý thức có sự tác động trở lại vật chất .............................................................24
III Định hướng , giải pháp phát huy tính năng động sáng tạo của sinh viên trong quá
trình đổi mới giáo dục .................................................................................................24
III.1 Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức với việc học hành của sinh viên
hiện nay ........................................................................................................................24
III.2 Sự quan tâm của Đảng , nhà nước tới nền giáo dục đại học ..........................28
III.3 Giải pháp .........................................................................................................30
Kết Luận
Tài Liệu Tham Khảo



MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề :
1.1 Tên đề tài :

Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác_Lê về ý thức ? Vận dụng phân tích những giải
pháp phát huy tính năng động và sáng tạo của sinh viên trong quá trình đổi mới giáo dục
của nước ta hiện nay .
1.2 Lý do chọn đề tài:

Xu hướng của thời đại hiện nay là sự phát triển : phát triển kinh tế , xã hội , văn hóa ,
khoa học . Bước chuyển biến của thời đại “ bùng nổ thong tin ’’ đã tác động mạnh mẽ đến
giáo dục .


Nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới – giai đoạn công nghiệp hóa , hiện đại
hóa ; giai đoạn chuyển mình từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và tri thức .
Yếu tố quyết định cho sự thành công của sự nghiệp ấy là con người , vì vậy phải chăm lo
phát triển nguồn lực con người . Nhà trường phải thay đổi nội dung và phương pháp giáo
dục để chuẩn bị cho xã hội một lớp người lao động mới , có những nhân lực và phẩm
chất phù hợp với yêu cầu của đất nước trong thời kì mới .
Bên cạnh đó , xu thế phát triển , đổi mới phương pháp giáo dục của các nước trong khu
vực và trên thế giới buộc Việt Nam cũng phải đổi mới . Xu thế ấy đã được UNESCO đề
xướng với bốn trụ cột : học để biết , học để làm , học để chung sống, học để tự khẳng
định mình .
Càng nhìn ra thế giới , chúng ta càng mong muốn tiếp xúc tiến gấp việc đổi mới phương
pháp khoa học và giáo dục . Sự tác động của điều kiện , môi trường hoạt động giáo dục
trong mối quan hệ với hoàn cảnh , tình hình chính trị - xã hội chung của đất nước. Như
chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói : “ chế độ nào , nhà trường ấy ” . Thêm vào đó , trong quá

trình học tập Triết học, chúng ta càng nhận thấy rỏ ràng mối quan hệ này .
2. Mục đích – yêu cầu :
2.1 Mục đích :
Để chứng minh được tính khoa học của thế giới duy vật biện chứng, thông qua phân tích
vấn đề cơ bản của triết học phạm trù vật chất và ý thức, tính thống nhất vật chất của thế
giới.
Hình thành nguyên tắc khách quan, tránh thái độ chủ quan trong nhận thức cũng như
trong thực tiễn.


Cơ sở giải quyết theo quan điểm duy vật biện chứng đối với vấn đề cơ bản của triết học.
Đó là điều kiện tiên quyết để nghiên cứu toàn bộ hệ thống quan điểm khoa học của chủ
nghĩa Mác- Lênin
2.2 Yêu cầu :

* Phương pháp khảo sát, nghiên cứu:
Dựa vào bộ sách “ Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin”.
Qua các sách báo, tài liệu, mạng internet.
Chủ nghĩa Mác- Lênin.
* Khả năng vận dụng vào thực tiễn:
Biết được tầm quan trọng về bản chất của ý thức theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin.
Biết được việc tìm hiểu vấn đề trong quá trình phát huy tính năng động, sáng tạo của ý
thức trong việc học tập của mình, rèn luyện cho chúng ta để hình thành, phải tự giác tu
dưỡng, cũng cố nhân sinh quan cách mạng, tình cảm nghị lực cách mạng để có sự thống
nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng hành động.
Phòng chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, đó là những hành động lấy ý chí áp
đặt cho thực tiễn, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực, lấy ý muốn chủ quan làm chính sách,
lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược, sách lược,….
3. Đối tượng nghiên cứu :


Đối tượng nghiên cứu môn học: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin là
những quan điểm và học thuyết của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin trong phạm vi
những quan điểm, học thuyết cơ bản nhất thuộc bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa
Mác- Lênin


Đối tượng nghiên cứu của lý luận và thực tiễn bao gồm hai măt chủ yếu sau đây:
+ Một là, tất cả tài liệu hình thành do kết qủa hoạt động của con người trong mọi
lĩnh vực của đời sống và tự nhiên( bao gồm tài liệu hành chính, tài liệu khoa học
kỹ thuật, tài liệu ảnh, tài liệu phim điện ảnh, tài liệu ghi âm) thuộc diện cần đưa
vào bảo quản hoặc đã được bảo quản trong các phòng, kho lưu trữ.
+ Hai là, những công việc và quá trình về tổ chức khoa học, tổ chức sử dụng và
bảo quản tài liệu( phân loại, xác định giá trị, bổ sung, thống kê, biên mục, tổ chức
sử dụng tài liệu) và việc biên soạn cơ sở lý luận và phương pháp của quá trình
này.
Ngoài ra, lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ còn nghiên cứu những vấn đề tổ chức công
tác của các cơ quan lưu trữ như công tác quản lý, công tác nghiên cứu khoa học, tổ chức
lao động khoa học. Qúa trình phát triển lịch sử về lý luận và phương pháp của các nghiệp
vụ lưu trữ nước ở nước ta và các nước trên thế giới cũng thuộc đối tượng nghiên cứu của
môn khoa học này.
4. Phương pháp nghiên cứu :
Tiểu luận dựa trên một số phương pháp nghiên cứu :
• Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
• Áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như tổng hợp hệ thống hóa, phân tích từ đó
rút ra kết luận về vấn đề nghiên cứu.
• Phương pháp duy vật biện chứng
• Phương pháp logic_lịch sử
• Phương pháp trừu tượng hóa khoa học



• Phương pháp liên ngành
5. Phạm vi nghiên cứu : Tiểu luận được tiến hành vào ngày 10-1-2014. Được thực hiện bởi

nhóm BB&BG , có sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm , được làm ở nhà từng
thành viên , ở thư viện và trên lớp học , trên mạng xã hội . Nội dung cần nghiên cứu của
tiểu luận : tìm hiểu về ý thức trong triết học Mác-Lênin , ý thức ảnh hưởng đến sự đổi
mới giáo dục ở Việt Nam , những định hướng , giải pháp phát huy tính năng động sáng
tạo của sinh viên trong quá trình đổi mới giáo dục ở nước ta .
6. Kết quả nghiên cứu :
Sau khi nghiên cứu tiểu luận ,chúng tôi rút ra được vấn đề: ý thức có sự tác động mạnh
mẽ đến quá trình học tập sáng tạo của sinh viên Việt Nam trong quá trình đổi mới giáo
dục ở nước ta . Qua đó đề ra những giải pháp nhằm phát huy tính năng động sáng tạo của
sinh viên trong quá trình đổi mới giáo dục , giúp ích cho đất nước , con người .


NỘI DUNG TIỂU LUẬN
I .Quan điểm của triết học Mác_Lê về ý thức :
I.1 Ý thức :
I.1.1 Khái niệm ý thức :
Ý thức là toàn bộ những quan điểm , quan niệm của con người về thế giới và mối quan
hệ của con người trong thế giới . Ý thức là hình ảnh chủ quan trong thế giới khách quan .
I.1.2 Kết cấu của ý thức :
Cũng như vật chất có rất nhiều quan niệm về ý thức theo các trường phái khác nhau .
Theo quan điểm của CNDVBC khẳng định rằng ý thức là đặc tính và là sản phẩm của vật
chất , là sự phản ánh khách quan và bộ óc của con người thông qua lao động và ngôn ngữ
. Mác nhấn mạnh rằng tinh thần ý thức là chẳng qua là cái vật chất được di chuyển vào bộ
óc con người và được cải biến trong đó . Ý thức là một hiện tượng tâm lí xã hội có kết
cấu phức tạp gồm ý thức tri thức , tình cảm , ý trí trong đó tri thức là quan trọng nhất , là
phương thức tồn tại của ý thức , vì sự hình thành và phát triển của ý thức có lien quan
mật thiết với quá trình con người nhận thức và cải biến giới tự nhiên . Tri thức càng được

tích lũy con người càng đi sâu vào bản chất của sự vật và cải tạo sự vật có hiệu quả hơn ,
tính năng động của ý thức nhờ đó mà tăng hơn. Việc nhấn mạnh tri thức là yếu tố cơ bản
quan trọng có ý nghĩa chống quan điểm đơn giản coi ý thức là tình cảm , niềm tin …
Quan điểm đó chính là bệnh chủ quan duy ý trí của niềm tin mù quáng . Tuy nhiên việc
nhấn mạnh yếu tố tri thức cũng không đồng nghĩa với việc phũ nhận coi nhẹ yếu tố vai
trò tình cảm ý chí.
Page 11


Tự ý thức cũng là một yếu tố quan trọng mà CNDT coi nó là một thực thể độc lập có
sẵn trong cá nhân , biểu hiện xu hướng về bản thân mình , tự khẳng định cái tôi riêng biệt
tách rời xã hội . Trái lại CNDVBC tự ý thức là ý thức hướng về nhận thức bản thân mình
thông qua quan hệ với thế giới bên ngoài . Khi phản ánh thế giới khách quan con người
tự phân biệt mình , đối lập với thế giới đó là sự nhận thức mình như là một thực thể vận
động , có cảm giác , tư duy có các hành vi đạo đức và vị trí xã hội . Mặt khác sự giao tiếp
xã hội và hoạt động thực tiễn xã hội đòi hỏi con người nhận rõ bản thân mình và tự điều
chỉnh theo các quy tắc tiêu chuẩn mà xã hội đề ra. Ngoài ra văn hóa cũng đóng vai trò cái
gương soi giúp cho con người tự ý thức bản thân .
Vô thức là một hiện tượng tâm lí , nhưng có liên quan đến hoạt động xảy ra ở ngoài
phạm vi của ý thức . Có 2 loại vô thức : loại thứ nhất lien quan đến những hành vi chưa
được con người ý thức , loại thứ hai liên quan đến các hành vi trước kia đã được ý thức
nhưng do lặp lại nên trở thành thói quen , có thể diễn ra tự động bên ngoài sự chỉ đạo của
ý thức . Vô thức ảnh hưởng đến nhiều phạm vi hoạt động của con người . Trong những
hoàn cảnh đó nó có thể giúp con người giảm bớt sự căng thẳng trong hoạt động . Việc
tăng cường rèn luyện để biến thành hành vi tích cực thành thói quen , có vai trò quan
trọng trong đời sống .
I.1.3 Nguồn gốc của ý thức :
I.1.3.1 Nguồn gốc tự nhiên :
Ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên cho tới khi xuất hiện
con người và bộ óc . Khoa học chứng minh rằng thế giới vật chất nói chung và Trái Đất

nói riêng đã tồn tại rất lâu trước khi xuất hiện con người , rằng hoạt động ý thức của con
Page 12


người diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh bộ não người. Không thể tách rời ý
thức ra khỏi bộ não vì ý thức là chức năng bộ não , bộ não là khí quản của ý thức . Sự phụ
thuộc ý thức vào hoạt động bộ não thể hiện khi bộ não bị tổn thương thì hoạt động ý thức
sẽ bị rối loạn. Tuy nhiên không thể quy một cách đơn giản ý thức về quá trình sinh lí bởi
vì óc chỉ là cơ quan phản ánh . Sự xuất hiện của ý thức gắn liền sự phát triển đặc tính
phản ánh , nó phát triển cùng với sự phát triển của tự nhiên . Sự phát triển của xã hội loài
người đưa lại hình thức cao nhất của sự phản ánh , đó là sự phản ánh ý thức luôn gắn liền
với việc làm cho tự nhiên thích nghi với nhu cầu phát triển của xã hội .
I.1.3.2 Nguồn gốc xã hội
Sự ra đời của ý thức gắn liền hình thành với sự phát triển của bộ óc con người dưới
ảnh hưởng của lao động và giao tiếp QHXH.
Lao động của con người là nguồn gốc vật chất có tính xã hội nhằm cải tạo tự nhiên ,
thỏa mãn nhu cầu và phục vụ mục đích bản thân con người . Nhờ nó mà con người và xã
hội loài người mới hình thành và phát triển . Lao động là phương thức tồn tại cơ bản đầu
tiên của con người , đồng thời ngay từ đầu đã liên kết con người lại với nhau trong mối
quan hệ khách quan, tất yếu ; mối quan hệ này đến lượt nó nảy sinh nhu cầu trao đổi kinh
nghiệm và tổ chức lao động , nhu cầu “ cần phải nói với nhau một cái gì ” . Và kết quả
ngôn ngữ ra đời . Ngôn ngữ được coi là cái vỏ vật chất của tư duy , với sự xuất hiện của
ngôn ngữ , tư tưởng của con người có khả năng biểu hiện thành hiện thực trực tiếp , trở
thành tính hiệu vật chất tác động tới giác quan của con người và gây ra cảm giác . Nhờ có
nó mà con người có thể giao tiếp , trao đổi , truyền đạt kinh nghiệm cho nhau , thông qua
đó mà ý thức cá nhân trở thành ý thức xã hội , và ngược lại . Chính nhờ trừu tượng hóa
Page 13


và khái quát hóa tức là quá trình hình thành thực hiện ý thức , chính nhờ nó mà con người

có thể đi sâu vào bản chất của sự vật , hiện tượng đồng thời tổng kết hoạt động của mình
trong toàn bộ quá trình phát triển lịch sử .
I.1.4 Bản chất ý thức
Từ việc xem xét nguồn gốc của ý thức , có thể thấy rỏ ý thức có bản tính phản ánh ,
sáng tạo và bản tính xã hội .
Bản tính phản ánh thể hiện về thế giới thông tin bên ngoài , là biểu thị nội dung được
từ vật gây tác động và được truyền đi trong quá trình phản ánh . Bản tính của nó quy định
mặt khách quan của ý thức , tức là phải lấy khách quan làm tiền đề , bị nó quy định nội
dung phản ánh là thế giới khách quan .
Ý thức ngay từ đầu đã gắn liền với lao động, trong hoạt động sang tạo cải biến và
thống trị tự nhiên của con người và trở thành mặt không thể thiếu của lao động đó . Tính
sang tạo của ý thức thể hiện ở chỗ nó không chụp lại một cách thụ động nguyên xi mà
gắn liền với cải biến , quá trình thu nhập thông tin gắn liền với quá trình xử lí thông tin .
Tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng gián tiếp khái quát thế giới khách quan
ở quá trình chủ động , tác động vào thế giới đó .
Phản ánh và sáng tạo liên quan chặt chẽ với nhau , không thể tách rời , không có phản
ánh thì không có sáng tạo vì phản ánh là điểm xuất phát là cơ sở của sang tạo . Đó là
MQHBC giữa thu nhận xử lí thông tin , là sự thống nhất mặt khách quan của ý thức .
Ý thức chỉ được nảy sinh trong lao động , hoạt động cải tạo thế giới của con người .
Hoạt động đó không thể là hoạt động đơn lẻ mà là hoạt động xã hội . Ý thức trước hết là
thức của con người về xã hội và hoàn cảnh và những gì đang diễn ra ở thế giới khách
quan về mối lien hệ giữa người và người trong xã hội . Do đó ý thức xã hội hình thành và
Page 14


bị chi phối bởi tồn tại xã hội và các quy luật của tồn tại xã hội đó … ý thức của mỗi cá
nhân mang trong lòng nó ý thức xã hội . Bản tính xã hội của ý thức cũng thống nhất với
bản tính phản ánh trong sang tạo . Sự thống nhất đó thể hiện ở tính năng động chủ quan
của ý thức , ở quan hệ giữa nhân tố vật chất và nhân tố ý thức trong hoạt động cải tạo thế
giới quan của con người .

I.2 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Theo CNDT thì ý thức quyết định vật chất . Thuyết nhị tâm một mặt thừa nhận vật chất
là thực tại khách quan , mặt khác thừa nhận ý thức là một khởi nguyên đọc lập không phụ
thuộc vào vật chất . Nhà duy tâm chủ quan Beccoli thì cho rằng : “Tồn tại có nghĩa là bị
tri giác” , Ông coi tồn tại là không khách quan , bị tri giác , do cảm giác sinh ra . Những
cái vốn là thực tại khách quan nhưng không được tri giác thì cũng không tồn tại . Khác
với các quan điểm trên , CNDVBC cho rằng vật chất là thực tại khách quan , đối lập với
ý thức . Vật chất là tính chất thứ nhất , cảm giác ý thức là tính thứ hai. Vật chất là cái
được phản ánh còn ý thức là cái phản ánh . Quan điểm này đã được đề cập ngay trong
định nghĩa của Lenin về vật chất . Với định nghĩa này , Lenin đã phân biệt CNDVBC với
CNDT đồng thời cũng nêu lên mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức , giải
quyết vấn đề cơ bản của Triết học . Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thể
hiện qua vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức và độc lập tương đối , sự tác động
trở lại của ý thức đối với vật chất .
I.2.1 Vật chất quyết định sự ra đời của ý thức
Trước hết , vật chất quyết định nguồn gốc , nội dung và sự biến đổi , phát triển của ý
thức .
Page 15


I.2.1.1 Về nguồn gốc
Ý thức là một dạng sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người .
Con người là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất , là sản phẩm
của thế giới vật chất . Như vậy xét đến cùng , vật chất có trước , ý thức có sau, vật chất là
nguồn gốc sinh ra ý thức . Theo Cacmac và Ăngghen , “ ý thức cũng là tư duy của chúng
ta dù có vẻ siêu cảm giác như thế nào đi chăng nữa cũng chỉ là sản vật của một khí quan
vật chất , nhục thể , tức là bộ óc .
Bên cạnh bộ óc , thế giới quan tự nhiên cũng quyết định sự ra đời của ý thức . Nếu có
bộ óc phát triển mà không sống trong thế giới tự nhiên đa dạng phong phú tức là không
có sự tác động của thế giới tự nhiên vào bộ não thì ý thức con người chẳng khác nào loài

vật , khó nhận thức đầy đủ được .
Lao động và ngôn ngữ là nguồn gốc xã hội của ý thức . Chúng là những dạng tồn tại
của vật chất , cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành , tồn tại , phát triển
của ý thức .
I.2.1.2 Về nội dung
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người , là hình ảnh
chủ quan của thế giới khách quan . Tất cả những hiện tượng ý thức đều hình thành trên
những điều kiện sống và hoạt động thực tiễn của con người và xã hội loài người .
I.2.1.3 Sự biến đổi , phát triển của ý thức
Vật chất là tiền đề cho sự phát triển của ý thức nên khi vật chất thay đổi thì ý thức thay
đổi theo . Ví dụ những sinh hoạt vật chất thay đổi sẽ làm cho thói quen , tâm lý của con
người thay đổi . Hay một người bình thường nếu vì lí do nào đó mà não bị tổn thương thì

Page 16


hoạt động ý thức cũng bị rối loạn . Cơ sở vật chất của trường học được nâng cấp cải tiến
thì trình độ dạy và học cũng được nâng cao .
Bên cạnh đó, vật chất là điều kiện khách quan để hiện thực hóa ý thức tư tưởng .
Những chủ trương , kế hoạch của con người chỉ được thực hiện trên những cơ sở vật chất
nhất định .
Vật chất quyết định tính năng động ,sáng tạo của ý thức trong hoạt động thực tiễn . Do
vậy , vật chất quyết định tính phong phú , đa dạng, nhìêu vẻ của ý thức .
I.2.2 Sự tác động trở lại vật chất của ý thức
Nói ý thức là tính thứ hai , CNDV không hề hạ thấp mà hiều đúng vai trò thực sự của
ý thức . Nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người vì ý thức là của con
người và bản thân ý thức không làm thay đổi gì hiện thực . Ý thức có tính tương đối tác
dụng trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người . Ý thức trang
bị cho con người tri thức về thực tại khách quan trên cơ sở ấy con người đề ra phương
hướng , xây dựng kế hoạch , lựa chọn phương pháp để thực hiện mục tiêu làm thay đổi

hiện thực . Sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần , sang tạo chủ
động chứ không máy móc , nguyên xi thế giới vật chất . Ý thức chỉ phát huy được tính
vai trò của mình khi được kết hợp chặt chẽ giữa nhân tố chủ quan và điều kiện khách
quan . Nhiều công trình nghiên cứu đã xác nhận trạng thái tâm lí ( vui , buồn , phấn khởi ,
chán nản ,…) ảnh hưởng trực tiếp , mạnh mẽ đến trạng thái thể lực , tốc độ , năng suất lao
động ,…
Ý thức tác động đến vật chất theo hai hướng chủ yếu :
Nếu ý thức phản ánh đúng điều kiện vật chất , hoàn cảnh khách quan thì sẽ thúc đẩy ,
tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng vật chất . Trong trường hợp này ý thức có
Page 17


sự tác động trở lại tích cực đối với thực tiễn , đặc biệt là sự tác động của khoa học , lí
luận . Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định mục tiêu , phương hướng và biện pháp
chính xác trong hành động và thực tiễn .
Ngược lại nếu ý thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người
không phù hợp với quy luật khách quan và kìm hãm sự phát triển của vật chất . Tức là ý
thức đã có tác động tiêu cực đối với thực tiễn . Khi con người không nhận thức đúng ,
không hiểu rỏ sự việc hiện tượng thì họ sẽ hành động sai và thường chịu những thất bại
trong cuộc sống .
Ví dụ : Thuyết nhật tâm phản ánh đúng thế giới sẽ giúp khoa học phát triển . Còn
thuyết địa tâm của Aristot coi Trái Đất là trung tâm của vũ trụ đã kìm hãm sự phát triển
của thế giới vật chất , làm cho “ loài người ngủ trong giấc ngủ triền miên của những đêm
dài trung cổ.”
Vì vậy con người phải thừa nhận tính khách quan của vật chất , thừa nhận quy luật tự
nhiên của xã hội để phát huy tính năng động của ý thức , nhận thức đúng sự vật hiện
tượng . Thế giới vật chất với những thuộc tính , quy luật của nó tồn tại khách quan không
phụ thuộc vào ý thức con người nên trong hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế
khách quan làm căn cứ cho hoạt động của mình .
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối . Vật

chất quyết định ý thức là tuyệt đối . Nhưng trong một số trường hợp cụ thể hoặc trong
một giai đoạn ngắn , ý thức lại quyết định vật chất . Mác chỉ rõ lí luận sẽ trờ thành lực
lượng vật chất khi nó thâm nhập vào lực lượng quần chúng.

Page 18


Biểu hiện của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội , trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội và ý
thức xã hội có tính độc lập tương đối tác động trở lại tồn tại xã hội . Ngoài ra , mối quan
hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để xem xét các mối quan hệ như chủ thể và khách
thể , lí luận và thực tiễn , điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan ,…
II Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong quá trình đổi mới giáo dục
của nước ta hiện nay
II.1 Vật chất quyết định ý thức – thực tế khách quan , quy luật khách quan quyết
định sự năng động sang tạo của sinh viên
II.1.1 Phân tích quá trình đổi mới giáo dục ở nước ta
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng là nhân tố chìa khóa , là động lực thúc đẩy
nền kinh tế phát triển . Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế
giới , các chính phủ đều coi giáo dục là quốc sách hang đầu . Vậy tại sao giáo dục đào tạo
lại có tầm quan trọng đến chiến lược phát triển đất nước như vậy ?
_ Thứ nhất : Giáo dục đào tạolà điều kiện kiên quyết góp phần phát triển kinh tế .
_ Thứ hai : Giáo dục đào tạo góp phần ổn định chính trị xã hội .
_ Thứ ba : Và trên hết giáo dục đào tạo nâng cao chỉ số phát triển con người .
Hiểu được điều này , Việt Nam cũng là một trong những quốc gia rất coi trọng sự phát
triển của nền giáo dục , đã và đang củng cố xây dựng nền giáo dục thực vững mạnh và có
chất lượng . Vì vậy mà trong suốt những năm qua Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm và
tập trung đầu tư rất nhiều cho nền giáo dục Việt Nam .
Hơn nữa thế kỷ qua nền giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng đã
đạt nhiều thành tích to lớn trong sự nghiệp giải phóng , xây dựng và phát triển đất nước .

Giáo dục đại học đã đào tạo bài bản và cung cấp cho đất nước một đội ngũ cán bộ đông
Page 19


đảo có trình độ đại học , trên đại học đáp ứng nhu cầu thực tiễn của đất nước , cũng như
yêu cầu của sự hội nhập khu vực và thế giới trên mọi lĩnh vực . Với quan điểm “ Đầu tư
cho giáo dục là quốc sách” , Đảng và nhà nước đã đưa ra nhiều nghị quyết về phát triển
giáo dục , đào tạo khoa học và công nghệ khẳng định tầm quan trọng , định hướng cũng
như xác định mục tiêu , nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đại học . Thực
hiện nghị quyết của Đảng , Chính phủ và Bộ giáo dục đào tạo đã đưa ra nhiều mô hình
đào tạo đại học . Do vậy , tốc độ tăng của giáo dục và đào tạo đại học tăng nhanh . Hiện
trên cả nước có gần 90 cơ sở đào tạo đại học bao gồm các trường đại học quốc gia , đại
học vùng , các trường đại học công lập , bán công , dân lập và các học viện. Tới đây sẽ có
thêm một số trường đại học tư thục ra đời . Lực lượng giảng viên không ngừng nâng cao
chất lượng và quy mô , số lượng sinh viên tăng đáng kể( tăng khoảng 15 lần so với 20
năm trước ) và do đó làm cho trình độ dân trí tăng rõ rệt . Thành tích trên là đáng trân
trọng và tôn vinh . Mặc dù như vậy , nhưng chất lượng giáo dục ở Việt Nam vẫn chưa cao
, nói một cách nom na là số lượng thì tăng rất nhanh nhưng chất lượng vẫn không tăng
thậm chí còn tuột dốc , chưa theo kịp với sự đổi mới của thế giới .
II.1.1.1 Thực trạng nền giáo dục Việt Nam hiện hành
Hiện nay có khuynh hướng đề cao khái niệm “ đại học quốc tế chất lượng cao” , cơ
bản xây dựng trường đại học tốt là điều kiện “ cần có” nhưng điều kiện “đủ” là chúng ta
phải có bản thân sinh viên là những hạt giống tốt , nhân tố tốt . Rỏ ràng lâu nay giáo dục
Việt Nam chỉ lo đào số lượng sinh viên đầu ra mà quên đi vấn đề quan trọng là thế hệ
sinh viên thật sự đóng góp như thế nào vào sự nghiệp phát triển đất nước . Hàng loạt kỹ
Page 20


sư, cử nhân Việt Nam ra trường nhưng thử hỏi có bao nhiêu người đạt được trình độ kỹ
thuật của kỹ sư? Bao nhiêu người dùng được? Bao nhiêu người làm việc theo đúng ngành

nghề mình đã học, đó là một sự lãng phí lớn. Thậm chí ngày nay học sinh, sinh viên chỉ
lo đạt bằng TOEFL này, TOEIC kia nhưng chính tiếng Việt lại sử dụng không chuẩn.
Trong khi cha ông ta ngày xưa số lượng ông Cử đếm trên đầu ngón tay nhưng đào tạo
người nào ra người nấy. Họ không chỉ thông thạo ngoại ngữ mà còn giỏi thơ văn, rành
văn hóa nước nhà. Vì sao lại có nghịch lý như thế? Hiện nay chúng ta cũng không có một
ngành thống kê thực tế phục vụ nghiên cứu chính sách. Xây dựng trường đại học mang
tầm quốc tế chỉ là điều kiện“cần” nhưng chưa “đủ”. Trên thế giới người ta rất quan tâm
đến những thợ giỏi, chuyên viên kỹ thuật cao. Đất nước đang trong giai đoạn công nghiệp
hóa – hiện đại hóa mà sinh viên không chịu học kỹ thuật, chỉ tập trung không cân bằng
vào các ngành dễ được xã hội “chấp nhận” thì làm sao phát triển công nghiệp, làm sao
hiện đại hoá đất nước? Việt Nam muốn phát triển nền khoa học kỹ thuật thì phải đào tạo
khoa học kỹ thuật trên bình diện rộng.
Nền giáo dục chúng ta có thể xem như đang mắc bệnh mà không chữa trị, đua nhau
nhồi nhét học thuộc lòng theo sách vở để có điểm cao mà sách chưa chuẩn, năm nào thi
cử cũng gian lận, đề thi sai, trẻ con thì bị bỏ mặc lang thang trên đường phố, ma túy trong
học đường, ý thức công dân rất kém. Càng nói càng thấy nguy cơ, nhưng không thấy xã
hội thật sự quản ngại vì bao nhiêu năm rồi chưa thấy biện pháp giải quyết, chỉ nghe được
những hứa hẹn cải cách. Giáo dục Việt Nam muốn phát triển phải giải phẫu đúng bệnh.
Bệnh chẩn đoán đúng nhưng không chịu giải phẫu làm sao chữa trị? Thực tế, các cơ quan
Page 21


chức năng đều nhận thấy hết căn bệnh giáo dục nước nhà. Trong các cuộc hội thảo, hầu
như mỗi vấn đề đều đã được phân tích, đã chỉ ra cái đúng cái sai nhưng điều lạ lùng là nó
không được đúc kết để đưa vào thực hiện thực tế. Tình trạng “nói” nhưng không “làm” là
căn bệnh nan giải nhất của hầu hết nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội chứ không phải
của riêng ngành giáo dục Việt Nam.
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có những
thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho
công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước. Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn

chứa rất nhiều yếu kém, bất cập:
- Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục; chất
lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so với
yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách
hàng đầu.
-Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiện
đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính
sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên.
- Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối
sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề” vẫn
yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo, kỹ
năng thực hành, kỹ năng sống…
- Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân
đối.
Page 22


- Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới, là
nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi
mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước.
- Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng
lực của một bộ phận còn thấp.
- Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liên
kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ
phương châm.
- Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước
trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưa
được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập.
- Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơ chế,

chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyết
sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo
tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một số chính sách về giáo dục
còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội.
Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyết
khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ, bề mặt nhất thời, thiếu
chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và hệ thống, chưa đạt tới chiều sâu
bản chất của vấn đề. Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh
đạo - quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn
Page 23


diện, đầy đủ, khách quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn
những gì nêu trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích.
II.1.2 Nhân tố vật chất và ý thức trong quá trình học tập của sinh viên
II.1.2.1 Nhân tố vật chất
Trong hoạt động thực tiễn , nhân tố vật chất là thực thể khách quan , quy luật khách
quan trong miền hoạt động của con người .
Thực tế khách quan trong hoạt động học tập bao gồm các yếu tố cơ bản sau :
Điều kiện – kinh tế xã hội ở trường nơi học tập , cơ sở vật chất , trang thiết bị , đồ dung
phục vụ cho hoạt động học tập , tâm sinh lý của học sinh ,….
Cơ sở vật chất của trường học là tất cả các phương tiện vật chất được giáo viên và học
sinh sử dụng nhằm thực hiện hiện hiểu quả các chương trình giảng dạy và học tập . Cốt
lõi của cơ sở vật chất trường học chính là trang thiết bị để dạy và học tập . Trang thiết bị
là công cụ lao động của người giáo viên , là công cụ nhận thức của học sinh , sinh viên
nhờ đó mà học sinh , sinh viên hiểu biết được thế giới xung quanh .
Quy luật khách quan : trong hoạt động học tập gồm một số quy luật : quy luật nhận
thức , quy luật tâm lý , quy luật xã hội .
Ta biết rằng , bản chất của quá trình học tập là hoạt động nhận thức chu đáo của học
sinh, sinh viên dưới sự hướng dẫn của giáo viên . Lênin đã xác định con đường biện

chứng nhận thức là “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng , rồi từ tư duy trừu
tượng lại đến thực tiễn , đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý , nhận thức
hiện thực khách quan”. Đối với học sinh phổ thông quá trình nhận thức có đặc điểm riêng
: Từ quan sát và tri giác trực tiếp để hình thành các biểu tượng và khái niệm khoa học;
học sinh tri giác các hình ảnh của các vật và các hiện tượng , lúc này hiện tượng thực tiễn
Page 24


đã được trừu tượng hóa một bước , để thực hiện con đường này nhà trường cần trang bị
mô hình , bản đồ, tranh ảnh , các phương tiện nghe nhìn ; học sinh nhận thức được hiện
thực xung quanh qua ngôn ngữ và kí hiệu , cần có sách vỡ báo chí biểu đồ . Còn đối với
sinh viên , nhu cầu nghiên cứu , tự tìm tòi kiến thức trong quá trình nghe giảng và bên
ngoài là chủ yếu , nên nhà trường cần cung cấp đầy đủ trang thiết bị công nghệ cao để
đáp ứng nhu cầu học tập cao hơn của sinh viên .
Như chúng ta đã biết , quá trình học được thực hiện thông qua những hoạt động tâm
sinh lý của người học . Những hiện tượng tâm lý về các mặt nhận thức như cảm giác , tri
giác , biểu tượng , ký ức , tưởng tượng , tư duy , ngôn ngữ , chú ý về mặt tình cảm và xúc
cảm , say mê , xúc động , về mặt ý chí và hành động , kỹ năng ký xảo , lý tưởng , niềm
tin,.. là những hiện tượng tâm lý thường xuyên xảy ra trong quá trình học tập . Những
quy luật tâm lý đóng vai trò quan trọng , cơ bản trong việc xây dựng các quy tắc về học
tập , đặc biệt là phương pháp học tập .
Trong quá trình học tập , xảy ra những mối quan hệ xã hội như quan hệ giữa thầy và
trò , giữa trò và trò , giữa thầy và thầy , giữa cá nhân với tập thể , giữa tập thể này với tập
thể kia . Các mối quan hệ chịu sự chi phối của những quy luật xã hội và đương nhiên nó
chi phối lại sự vận động quá trình học tập .
II.1.2.2. Nhân tố ý thức
Nhân tố ý thức trong hoạt động thực tiễn của con người là tri thức , tình cảm , ý chí , lý
tưởng của con người ( chủ thể hoạt động ) . Trong hoạt động học tập , nhân tố ý thức bao
gồm : mục tiêu của học tập , phương hướng , chủ trương của quá trình học tập , phương
pháp học , cách tổ chức học tập ,…

Page 25


×