Tải bản đầy đủ (.pdf) (25 trang)

Bài Giảng Các Dạng Ngụy Biện

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.8 MB, 25 trang )

BÀI 4: CÁC DẠNG NGỤY BIỆN


BÀI 4: CÁC DẠNG NGỤY BIỆN

Ngụy biện là sự cố ý vi phạm các quy tắc logic
trong lập luận nhằm mục đích đánh lạc hướng
người nghe, người đọc, làm cho người khác
nhầm tưởng cái sai là cái đúng và cái đúng là sai.



BÀI 4: CÁC DẠNG NGỤY BIỆN
 Ngụy

biện có thể được chia làm 2 dạng chính:

Ngụy biện không tương hợp: là những lập luận mà tiền
đề (hay luận cứ) không có mối quan hệ một cách logic
với kết luận được rút ra.
Ngụy biện tương hợp: là những lập luận mà tiền đề
(hay luận cứ) có mối quan hệ logic với kết luận nhưng
luận cứ chứng minh cho kết luận không đầy đủ hoặc
sai lầm.


BÀI 4: CÁC DẠNG NGỤY BIỆN


Một mệnh đề chỉ tương hợp với một mệnh đề khác khi nó cung cấp
ít nhất một lý lẽ để chứng minh mệnh đề thứ hai là đúng hay sai.





Có 3 cách để nhận biết một mệnh đề tương hợp hoặc không tương
hợp với một mệnh đề khác:
Mệnh đề tương hợp khẳng định (positively relevant) với mệnh đề khác
khi nó cung cấp lý lẽ chứng minh rằng mệnh đề thứ hai đúng.
Mệnh đề tương hợp phủ định (negatively relevant) với mệnh đề khác khi
nó cung cấp lý lẽ chứng minh rằng mệnh đề thứ hai sai.
Mệnh đề không tương hợp một cách logic với mệnh đề khác khi nó
không cung cấp bất cứ lý lẽ nào để chứng minh mệnh đề thứ hai đúng
hay sai.






4.1. Ngụy biện không tương hợp

“Một người được giáo dục rất cẩn thận và chu đáo sẽ
trở nên vô cùng lố bịch nếu chúng ta tách anh ta ra
khỏi những gì mà anh ta được giáo dục”.
(Will Rogers)


4.1. Ngụy biện không tương hợp

Tấn công cá nhân


Dựa vào tình cảm

Tấn công vào động cơ

Lập luận vòng quanh

Dựa vào uy tín cá nhân

Bù nhìn

Dựa vào đám đông

Hai sai thành đúng

Dựa vào sức mạnh

Lập luận phức hợp

Cá trích đỏ (đánh tráo luận đề)


4.1. Ngụy biện không tương hợp
Tấn công cá nhân
Người lập luận phủ định lập luận của người khác bằng việc tấn
công vào tính cách của người đó mà không chứng minh lập luận
của người đó đúng hay sai.


Ví dụ:
Giáo sư Trần đang thuyết phục sinh viên lớp tôi chấp nhận học

môn nhạc cổ điển vào học kỳ này. Nhưng ông ta là một người vô
cùng ích kỷ và tự cao. Tôi không muốn nghe bất cứ gì ông ta nói.

1. X là một người xấu tính.
2. Do đó, lập luận của X hoàn toàn sai.


4.1. Ngụy biện không tương hợp
Tấn công vào động cơ
Người lập luận chỉ trích động cơ tiến hành lập luận của người khác
chứ không quan tâm đến bản thân lập luận đó.


Ví dụ:
Một doanh nhân vốn là cựu sinh viên đang thuyết phục lãnh đạo
nhà trường nên xây một khu kí túc xá mới cho sinh viên trường.
Nhưng anh ta lại là giám đốc công ty chuyên xây dựng chung cư.
Anh ta sẽ có nhiều cơ hội để công ty anh ta được ký hợp đồng này.
Hiển nhiên là sự thuyết phục của anh ta không đáng tin cậy.

1. X có những động cơ đáng ngờ.
2. Do đó, lập luận của X là không chính xác.


4.1. Ngụy biện không tương hợp
Dựa vào uy tín cá nhân
Người lập luận không đưa ra dẫn chứng hay lý lẽ để chứng minh
cho lập luận mà dựa vào uy tín của người khác để thay thế.



Ví dụ:
Khi một giáo viên nói rằng hai đường thẳng song song không bao
giờ cắt nhau, có học sinh nghi ngờ điều đó và đòi hỏi phải được giải
thích. Sau khi cố gắng giải thích mà không đạt và học sinh đó vẫn
chưa chịu công nhận, giáo viên bèn nói: “Euclide đã khẳng định như
vậy, em không tin Euclide sao?”.

1. X là người có uy tín.
2. Vì vậy mọi lập luận của X đều đúng.


4.1. Ngụy biện không tương hợp
Hai sai thành đúng
Khi một người cố gắng bào chữa cho hành động sai trái của mình
bằng việc lý giải rằng những người khác có hành động sai trái hơn.

Ví dụ:
Tôi vượt đèn đỏ có sao đâu. Ai cũng vượt đèn đỏ trước tôi mà.
Không thể phạt tôi vì tuần trước nghỉ học. Tới nửa lớp nghỉ học cơ mà.


1. Những người khác cũng phạm những lỗi sai trái như vậy.
2. Do đó hành động sai trái của tôi được bào chữa.


4.1. Ngụy biện không tương hợp
Dựa vào sức mạnh
Khi người lập luận đe dọa dùng sức mạnh hay quyền lực đối với
người nghe và những đe dọa này không tương hợp với sự đúng
đắn của kết luận người lập luận.



Ví dụ:
Một giám đốc ra lệnh cho kế toán phải chi một khoản tiền sai
nguyên tắc. Người kế toán phản đối, nói rằng làm như vậy là
trái nguyên tắc hành chính. Khi đó, vị giám đốc nói: “Cứ làm
như tôi nói, chắc chắn sẽ đúng. Nếu anh không làm, tôi sẽ cho
anh biết…”.

Sự sợ hãi là một động cơ đầy sức mạnh để dẫn chúng ta
đến những hành động sai trái.


4.1. Ngụy biện không tương hợp
Dựa vào tình cảm
Khi người lập luận cố gắng kêu gọi sự thương hại và cảm thông
từ phía người khác mà không liên quan đến sự đúng đắn của kết
luận mà người lập luận đưa ra.


Ví dụ:
Em biết là em đã vắng nửa số buổi học môn của thầy và bài thi
dưới trung bình. Nhưng học kỳ này có quá nhiều chuyện xảy đến
với em. Đầu tiên là con chó cưng của em chết, rồi đến bạn gái em
đòi chia tay. Em đã cố gắng nhưng cũng chỉ được 4 điểm. Liệu
thầy có thể phúc khảo cho em lên 5 điểm được không ạ?

1. Lý do A được đưa ra với mục đích kêu gọi sự cảm thông.
2. Do đó, kết luận B là đúng.



4.1. Ngụy biện không tương hợp
Dựa vào đám đông
Người lập luận đưa ra lý lẽ rằng hầu hết mọi người đều tin vào lập
luận đó nên kết luận được rút ra từ lập luận đó là đúng đắn.



Ví dụ:
Hầu hết mọi người vào thời Trung cổ châu Âu đều tin rằng trái
đất là trung tâm của vũ trụ, nên khi Copernicus phản đối thì có
nghĩa là ông ta sai?

1. Hầu hết mọi người đều tin và thực hiện điều X.
2. Vì vậy, điều X là đúng đắn.


4.1. Ngụy biện không tương hợp
Bù nhìn
Khi người lập luận cố tình xuyên tạc lập luận của người khác
nhằm biến lập luận đó trở nên dễ tấn công hơn.
dụ:
Hương và Thủy đang tranh cãi về việc dọn dẹp phòng ở:
Hương: Tụi mình phải dọn phòng sạch sẽ chứ. Trông bừa bãi quá.
Thủy: Sao vậy, tụi mình mới chuyển qua hai tuần mà. Hay cậu muốn tụi mình phải
quét dọn hàng ngày?
Hương: Mình không nói gì về việc quét dọn hàng ngày. Cậu chỉ muốn ôm khư khư
cái đống đồ đạc cũ của cậu mãi thôi, mấy thứ trông dị hợm không chịu được.

 Ví


1. A có lập luận X.
2. B đưa ra lập luận Y (là sự bóp méo, suy diễn từ lập luận X).
3. B tấn công lập luận Y.
4. Do đó, lập luận X sai.


4.1. Ngụy biện không tương hợp
Cá trích đỏ (đánh tráo luận đề)
Người lập luận thay thế luận đề ban đầu bằng một luận đề mới không
tương đương với luận đề ban đầu, sau đó chứng minh luận đề mới một
cách chặt chẽ và cuối cùng tuyên bố đã chứng minh được luận đề ban đầu.


Ví dụ:
Trong đại hội cán bộ nhà trường, khi các thành viên đang chất vấn hiệu trưởng về việc
triển khai kế hoạch dự báo nhu cầu việc làm cho sinh viên, hiệu trưởng trả lời: "Tôi tin
rằng việc dự báo chính xác nhu cầu việc làm sẽ là nhiệm vụ quan trọng cho sinh viên khi
tốt nghiệp. Và tất cả chúng ta đều tán thành việc đó. Vấn đề việc làm rất quan trọng vì nó
liên quan đến thu nhập của từng người. Như chúng ta đã biết, nhà trường đang gặp khó
khăn về ngân sách và chúng ta không mới tiền lương của ta bị ảnh hưởng. Vì thế, sẽ là
đúng đắn nếu chúng ta tích cực mua trái phiếu chính phủ".
1. Luận đề A đang được tranh luận.
2. Luận đề B được đưa ra dưới vỏ bọc có liên quan đến luận đề A (trong khi thực tế
không phải vậy).
3. Luận đề B được chứng minh đúng.
4. Do đó, luận đề A là đúng đắn.


4.1. Ngụy biện không tương hợp

Lập luận phức hợp
Khi người lập luận dùng một từ khóa trong lập luận với hai
(hoặc nhiều hơn) nghĩa khác nhau.



Ví dụ:
Câu chuyện Trạng Quỳnh về đào trường thọ.

Ngụy biện bằng lập luận phức hợp rất khó nhận ra vì
chúng xuất hiện một cách dường như rất hợp lý, trong
khi thực tế không phải vậy.


4.1. Ngụy biện không tương hợp
Lập luận vòng quanh
Khi một người vi phạm yêu cầu đối với luận cứ, ở đó luận cứ
không được chứng độc lập với luận đề.



Ví dụ:
Tôi có quyền nói bất cứ gì tôi muốn bởi vì tôi có quyền nói bất
cứ gì tôi lựa chọn.

Có A bởi vì có B, có B bởi vì có A.


4.1. Ngụy biện tương hợp


Ngẫu nhiên

Nhân quả sai

Dựa vào sự kém cỏi

Lập luận vòng quanh

Đen – trắng

Diễn đạt mập mờ

Khái quát hóa vội vã

Suy luận xác suất


4.1. Ngụy biện tương hợp
Ngẫu nhiên
Khi một sự kiện ngẫu nhiên xảy ra được người lập luận coi là
có tính quy luật.


Ví dụ:
Một người lập luận rằng khi làm những việc quan trọng trong đời như
cưới xin, làm nhà, lập công ty kinh doanh, .v.v… ta phải chọn ngày
lành, nếu không thì sẽ không thành công hoặc không hạnh phúc Cặp
chàng trai và cô gái nọ - anh ta nêu ví dụ - yêu nhau thắm thiết, được
gia đình và bạn bè ủng hộ. Họ tổ chức cưới xin vào một ngày lẻ theo
âm lịch, một ngày không tốt. Và chỉ một năm sau họ đã chia tay.


Những điều mê tín dị đoan luôn gán cho những cái
ngẫu nhiên những động cơ có mục đích.


4.1. Ngụy biện tương hợp
Dựa vào sự kém cỏi
Đòi hỏi một điều gì đó là đúng đắn chỉ bởi không ai có thể
chứng minh rằng nó sai.


Ví dụ:
Có thể khẳng định rằng không thể có sinh vật có trí tuệ
nào khác trong vũ trụ ngoài con người, vì nếu có thì khoa
học đã phát hiện ra các sinh vật đó rồi.

1. Không ai chứng minh rằng X sai.
2. Vậy X đúng.


4.1. Ngụy biện tương hợp
Đen – trắng
Người lập luận chỉ thấy và nêu lên các khả năng đối lập nhau,
và cho rằng nếu cái này đúng thì cái đi phải sai.


Ví dụ:
Khi lựa chọn ứng cử viên lớp trưởng, một sinh viên phát biểu:
“Chúng ta nên bỏ phiếu cho một người có trách nhiệm và khả
năng quản lý nbạn Phong hoặc chúng ta sẽ phải đối mặt với hậu

quả là tổ chức lớp ta sẽ rối loạn, tôi tin rằng không ai trong
chúng ta muốn điều đó xảy ra.

Những tình huống trong thự tế luôn có nhiều hơn
các khả năng khả dĩ.


4.1. Ngụy biện tương hợp
Khái quát hóa vội vã
Người lập luận sử dụng suy luận quy nạp để đi đến kết luận
tổng quát sau khi khảo sát rất ít trường hợp riêng.



Ví dụ:
Người Na Uy rất lười biếng. Tớ có hai người bạn cùng
phòng nguời Na Uy, họ không bao giờ chịu dọn dẹp
phòng và làm bài tập về nhà.

Khái quát hóa vội vã có thể dẫn đến tư duy
đóng khuôn (stereotyping).


4.1. Ngụy biện tương hợp
Diễn đạt mập mờ
Người lập luận cố tình hành văn một cách mập mờ để sau đó
giải thích theo ý mình.
 Ví

dụ:


Có một ông vua hiếu chiến. Ông ta muốn đánh nhau với nước Ba Tư, nhưng không tin lắm vào
khả năng mình sẽ chiến thắng . Ông bèn tới cầu ở một ngôi đền nổi tiếng linh thiêng để xin
lời phán của thần linh. Thần phán như sau:
Nếu đánh nhau với Ba Tư, một vương quốc hùng mạnh sẽ bị phá tan tành.
Ông vua ngu ngốc này cả mừng, vội đem quân tiến đánh Ba Tư. Nhưng ông đã đại bại. Chỉ
mình ông trốn thoát. Buồn rầu , hối hận và căm giận, ông ta lén gửi thư đến trách thần linh
đền nọ đã phán sai với bút danh người cầu xin tức giận. Ít lâu sau, người coi đền nọ gửi thư
trả lời:
Thần linh đâu có nói sai. Chẳng phải là một vương quốc hùng mạnh – vương quốc mà ông trị
vì – đã bị phá tan tành đó sao!
Đúng vậy, câu “Một vương quốc hùng mạnh sẽ bị phá tan tành” là mơ hồ.Vương quốc nào sẽ
bị phá tan? Nếu Ba Tư thua thì câu của thần linh vẫn đúng.


4.1. Ngụy biện tương hợp
Suy luận xác suất
Người lập luận sử dụng các phương pháp suy luận cho kết quả
đúng với một xác suất nhất định, nhưng lại coi các kết quả đó
như điều khẳng định chắc chắn.


Ví dụ:
1 nhỏ hơn 100
2 nhỏ hơn 100
3 nhỏ hơn 100
………………..
99 nhỏ hơn 100
1,2,3,….99 đều là các số tự nhiên
Vậy mọi số tự nhiên đều nhỏ hơn 100.



4.1. Ngụy biện tương hợp
Nhân quả sai
Nhà ngụy biện cố tình lấy nguyên cớ thay cho nguyên nhân để biện
minh cho hành động của mình, hay để thuyết phục người khác.


Ví dụ:
Một trong những nguyên nhân thật sự của việc chính quyền Mỹ tiến
hành chiến tranh với Iraq là các nguồn lợi dầu mỏ to lớn ở quốc gia
này, nhưng họ lại nói rằng nguyên nhân là chính quyền Saddam
Hussein phát triển và cất giữ nhiều loại vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Thật ra đó chỉ là cái cớ mà thôi.


×