Tải bản đầy đủ (.pdf) (621 trang)

Kẻ Tầm Xương - Jeffery Deaver

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.58 MB, 621 trang )


KẺ TẦM XƯƠNG
JEFFERY DEAVER


Tên sách:
Kẻ tầm xương
Tác giả:
Jeffery Deaver
Nhà xuất
Nhà xuất bản Văn Học liên kết Công ty
bản:
Cổ phần Sách Bách Việt
Dịch giả:
Phạm Hồng Anh
Năm xuất
2009
bản:
Số trang:
534
Giá tiền:
108 000đ
Khổ:
16x24cm
Jude602, Memory882004,
My_love_is_blue, Rama123411, MTU,
Đánh máy:
Senbohung,
Phamdung90, Bongmacodon_01, Dinhrj
Sửa chính
Jude602, Phamdung90


tả:
Chuyển
Jude602
sang ebook:
Ngày hoàn
02/07/2010
thành:




MỤC LỤC
I. VUA MỘT NGÀY
II. NGUYÊN TẮC LOCARD
III. CON GÁI CỚM TUẦN TRA
IV. ĐẾN TẬN XƯƠNG
V. KHI TA DI CHUYỂN, CHÚNG KHÔNG THỂ
BẮT ĐƯỢC TA
PHỤ LỤC
GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ


“Xương là cốt lõi tối thượng của con người. Nó
không thay đổi, không lừa dối, không đầu hàng.
Một khi bề ngoài da thịt, những thiếu sót của
những chủng tộc hạ đẳng, giới tính yếu ớt, bị đốt
cháy hay nấu chín, thì chúng ta – tất cả chúng ta
– còn lại là xương cốt cao quý. Xương cốt không
dối trá. Nó là vĩnh cửu.”
Trích Kẻ tầm xương – tiểu thuyết đầu tiên trong

series tiểu thuyết trinh thám về nhân vật Lincoln
Rhyme


I
VUA MỘT NGÀY

Thực tại ở New York
quá hùng mạnh khiến cho quá khứ phải biến
mất.
JOHN JAY CHAPMAN


MỘT
10:30 PM thứ Sáu đến 3:30 PM thứ Bảy
Cô chỉ muốn ngủ.
Máy bay hạ cánh chậm hai tiếng và hành khách xếp hàng
dài dằng dặc để đợi lấy hành lý. Xe phục vụ đưa đón họ đã về
được một tiếng. Còn bây giờ họ đang đợi taxi.
Cô đứng trong hàng người, thân hình mảnh dẻ nghiêng đi
dưới sức nặng của chiếc máy tính xách tay. John đang huyên
thuyên về lãi suất và những cách thức điều chỉnh hợp đồng,
nhưng tất cả những gì cô có thể nghĩ tới là 10:30 thứ Sáu, mình
muốn ráo mồ hôi và ăn uống gì đấy.
Nhìn vào dòng chảy vô tận của những chiếc Yellow Cab. Có
điều gì đó ở màu sắc và sự giống nhau của những chiếc xe gợi
cho cô nhớ tới bọn côn trùng. Cô rùng mình vì cảm giác bò trườn
ghê sợ mà cô vẫn nhớ từ hồi còn bé ở trên núi, khi cô và anh trai
nhìn thấy một con lửng gan dạ bị giết hay đang cố kháng cự lại tổ
kiến lửa đỏ, cô đã nhìn chằm chằm vào một khối chân cẳng và

thân thể ẩm ướt, quằn quại.
T.J. Colfax lê chân về phía trước khi chiếc taxi tạt vào lề
đường và phanh kít lại.
Người lái xe mở cốp nhưng vẫn ngồi trong xe. Họ phải tự
xếp đồ, việc đó làm John khó chịu. Anh đã quen được người khác
làm cho mọi thứ. Tammie Jean không quan tâm; đôi khi cô vẫn
ngạc nhiên vì thấy mình có thư ký đánh máy và lập hồ sơ giúp.


Cô ném vali vào cốp xe, đóng lại và trèo vào trong xe.
John vào sau cô, sập cửa, nhăn bộ mặt béo phị vào cái đầu
hói của anh ta, cứ như nỗ lực cho cái túi đựng bộ vét của anh ta
vào cốp xe đã làm anh ta kiệt sức.
“Đến Bảy mươi hai Đông trước”, John lầm bầm qua lớp kính
chắn.
[1]
“Sau đó đến Upper West Side ”, T.J. nói thêm. Lớp kính
chắn Plexi giữa hàng ghế đầu và hàng ghế sau xước xát đến mức
cô gần như không thấy người tài xế.
Chiếc taxi lao bắn khỏi vỉa hè và nhanh chóng chạy trên
đường cao tốc hướng về phía Manhattan.
“Xem kìa”, John nói, “kia là lý do tại sao lại đông người đến
thế”.
Anh chỉ vào một bảng quảng cáo chào mừng các đoàn đại
biểu đến dự hội nghị hoà bình của Liên Hiệp Quốc. Sẽ có khoảng
mười nghìn khách đến thành phố. T.J. ngước nhìn tấm bảng –
những người da đen, da trắng và châu Á, vẫy tay và tươi cười.
Tuy vậy vẫn có điều gì đó không ổn trong bức tranh. Tỷ lệ và
màu sắc đã bị phai. Các khuôn mặt trông có vẻ nhợt nhạt.
T.J. nói thầm: “Bọn ba bị.”

Họ chạy trên con đường cao tốc rộng rãi, trông bóng loáng
và có màu vàng không dễ chịu dưới ánh sáng đèn đường. Chạy
qua khu Cảng Hải quân cũ, qua những chiếc cầu cảng của
Brooklyn.
Cuối cùng John cũng ngừng nói, lôi chiếc Texas Instruments
ra và bắt đầu gõ. T.J. dựa lưng vào ghế, nhìn sang vỉa hè bốc


khói và những khuôn mặt buồn thảm của những người ngồi trên
các bậu cửa đá nâu trông ra đường. Họ hình như đã bị hôn mê
trong cái nóng.
Trong xe nóng bức nên T.J. thò tay bấm nút mở cửa sổ. Cô
không ngạc nhiên khi thấy cửa kính xe không mở được. Cô vươn
qua người John. Cửa sổ bên anh cũng hỏng. Và đó là lúc cô nhận
thấy xe không có khoá cửa.
Cả tay nắm cửa cũng không có.
Tay cô lần tìm nút tay nắm cửa. Chẳng có gì – cứ như ai đó
đã cắt nó đi bằng cưa máy.
“Gì vậy?” John hỏi.
“À, cánh cửa… Ta mở cửa thế nào bây giờ?”
John nhìn từng cánh cửa khi biển hiệu Đường hầm Midtown
xuất hiện rồi biến mất.
“Này!” John gõ vào tấm kính chắn. “Ông lỡ mất chỗ rẽ rồi.
Chúng ta đang đi đâu thế này?”
“Có lẽ ông ta định qua Queensboro”, T.J. nói. Qua cầu
đường sẽ dài hơn nhưng không phải trả phí qua hầm. Cô ngồi
dịch lên và gõ nhẫn vào tấm kính Plexi.
“Ông định qua cầu đấy à?”
Người lái xe lờ đi.
“Này!”

Ngay sau đó họ qua chỗ rẽ Queensboro.
“Chết tiệt”, John hét lên. “Ông định đưa chúng tôi đi đâu?


Harlem. Tôi cá là hắn ta định đưa chúng ta đến Harlem.”
T.J. nhìn ra ngoài cửa sổ. Một chiếc xe đang chạy song song
với họ và chậm rãi vượt lên. Cô đập thật mạnh vào cửa sổ.
“Cứu!” Cô gào to. “Làm ơn đi…”
Người lái xe liếc cô một lần, rồi lần nữa, vẻ không bằng
lòng. Anh ta giảm tốc độ và lùi lại sau họ nhưng chiếc taxi đã đột
ngột quặt vào đường nhánh xuống Queens, vòng vào một con
phố và chạy dọc theo một khu nhà kho trống trải. Có lẽ họ đã
[2]
phải chạy với tốc độ hơn sáu mươi dặm
một giờ.
“Ông đang làm cái trò gì thế?”
T.J. đập vào tấm kính chắn. “Chạy chậm lại. Chúng ta đang
ở đâu?”
“Ôi, trời ơi, không”, John thì thầm. “Nhìn kìa.”
Người tài xế đã đeo một chiếc mặt nạ trượt tuyết.
“Ông muốn gì?” T.J. hét lên.
“Tiền à? Chúng tôi sẽ đưa tiền cho ông.”
Nhưng phía trước xe vẫn im lặng.
T.J. mở tung chiếc túi hiệu Targus của cô và lôi chiếc máy
tính xách tay màu đen ra. Cô ngả người về phía sau và phang góc
máy tính vào cửa sổ. Kính vẫn còn nguyên vẹn mặc dù tiếng đập
có vẻ đã làm người tài xế hết hồn. Chiếc taxi đổi hướng và suýt
đâm vào bức tường của toà nhà họ vừa chạy qua.
“Tiền? Bao nhiêu? Tôi sẽ đưa cho ông rất nhiều tiền!” John
lắp bắp, nước mắt rơi lã chã xuống hai cái má béo phị của anh ta.



T.J phang máy tính vào cửa sổ thêm một lần nữa. Cú phang
mạnh đến nỗi màn hình bắn ra nhưng cửa sổ vẫn y nguyên.
Cô thử lại lần nữa, thân máy tính mở tung và rơi khỏi tay cô.
“Mẹ kiếp…”
Cả hai lao mạnh về phía trước khi chiếc xe trượt bánh trên
đường và dừng lại trên một ngõ cụt tăm tối, bẩn thỉu.
Người lái xe chui ra khỏi xe, trong tay hắn là một khẩu súng
lục nhỏ.
“Đừng, xin ông”, cô van xin.
Hắn ta đi ra phía sau xe và cúi người xuống, nhìn qua lớp
kính bị trầy xước. Hắn đứng đó khá lâu trong khi cô và John lùi lại
phía sau, dựa vào cánh cửa đối diện, thân thể đầm mồ hôi của họ
dán vào nhau. Người tài xế khum tay che ánh đèn đường và nhìn
họ thật gần.
Bất ngờ có tiếng nổ vang rền trong không trung. T.J. co rúm
người. John thét lên một tiếng.
Phía xa, đằng sau người lái xe, bầu trời tràn ngập những
chấm lửa xanh đỏ. Lại có thêm những tiếng nổ và tiếng rít. Hắn
ta quay lại và nhìn lên trong khi một con nhện khổng lồ màu da
cam đang trải mình phía bên trên thành phố.
Pháo hoa, T.J. nhớ lại tờ Thời báo: Món quà của Thị trưởng
và Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc cho các đoàn đại biểu, chào mừng
họ tới thành phố vĩ đại nhất thế giới.
Người lái xe quay lại chiếc taxi. Hắn ta kéo tay nắm cửa với
một tiếng động lớn và từ từ mở cửa.


Một cuộc gọi nặc danh. Như mọi khi

Như thế thì chẳng có cách gì kiểm tra xem người báo tin có
định nói về khu đất hoang nào. Trung tâm gọi đến: “Anh ta nói
Ba mươi bảy gần Mười một. Chỉ có thế thôi.”
Những người báo tin thường không biết rõ hướng tới hiện
tượng vụ án.
Đã toát mồ hôi mặc dù lúc này mới có chín giờ sáng, Amelia
Sachs đẩy một bệ cỏ cao. Cô đang tìm theo vạch – cách gọi của
những người làm việc tại hiện trường vụ án – một sơ đồ hình chữ
S. Chẳng có gì. Cô nghiêng đầu nói vào cái mic kẹp trên ve bộ
đồng phục màu xanh hải quân của cô.
“5885. Không tìm thấy gì, thưa Trung tâm. Các anh có yêu
cầu gì thêm không?”
Người trực tổng đài nói qua tiếng lẹt xẹt tĩnh điện: “Không
cần gì tại đó nữa, 5885. Nhưng có một điều… người báo tin nói
anh ta hi vọng nạn nhân đã chết. Nghe rõ.”
“Trung tâm, xin nhắc lại.”
“Người báo tin này nói anh ta hi vọng nạn nhân đã chết. Vì
lợi ích của chính nạn nhân. Nghe rõ.”
“Nghe rõ.”
Hy vọng nạn nhân đã chết?
Sachs leo qua một dây xích rũ xuống và tìm một khoảng
trống khác. Không có gì.


Cô muốn bỏ cuộc. Gọi đến 10-90, báo cáo vô căn cứ, và
quay trở lại với Deuce, khu tuần tra thường xuyên của cô. Đầu
gối cô bị đau và cô đang nóng như bị hầm trong cái thời tiết
tháng Tám tệ hại này. Cô muốn lẻn vào Ban quản lí Cảng, nói
chuyện với các chàng trai và uống một hộp trà đá Arizona. Sau
đó, lúc 11:30 – chỉ cách đó một, hai giờ đồng hồ – cô có thể đã

[3]
dọn dẹp tủ đồ đạc của mình ở Nam Midtown
và chuẩn bị đi
tập.
Nhưng cô không, không thể thì đúng hơn, bỏ qua cuộc gọi
này. Cô tiếp tục đi: dọc theo vỉa hè nóng bức, qua khoảng trống
giữa hai khu đất hoang và một khu vườn nhiều cây cối khác.
Ngón tay trỏ rất dài của cô thọc vào chiếc mũ đồng phục
đỉnh phẳng, qua những lớp tóc đỏ dày được búi cao trên đầu. Cô
gãi mạnh khi chạm đến phía dưới chiếc mũ, rồi gãi thêm một lúc
nữa. Mồ hôi chảy dọc trán cô buồn buồn và cô gãi lông mày.
Suy nghĩ: Hai giờ cuối cùng của mình ngoài phố. Mình chịu
được.
Khi Sachs đi sâu hơn vào bụi cây, cô cảm thấy sự bất ổn đầu
tiên trong buổi sáng hôm nay.
Ai đó đang nhìn mình.
Gió nóng thổi xào xạc trên những bụi cây khô, xe hơi và xe
tải ầm ĩ qua lại Đường hầm Lincoln. Cô nghĩ tới điều mà một sĩ
quan tuần tra thường làm: thành phố này quá ầm ĩ đến mức ai đó
có thể lẻn tới sau mình, trong tầm dao, mà mình không hề hay
biết.
Hoặc phóng ra những tia nhìn thép chiếu vào lưng mình…


Cô quay lại thật nhanh.
Chẳng có gì ngoài những chiếc lá, những cỗ máy rì rầm và
rác rưởi. Trèo lên một đống đá, mặt mũi cau có. Amelia Sachs –
ba mươi mốt tuổi – gần được ba mươi mốt, mẹ cô chắc sẽ nói thế
– đã bị viêm khớp. Cô được thừa kế chứng bệnh đó từ ông ngoại,
cũng rõ ràng như cô đã nhận được thân hình mảnh dẻ từ mẹ, vẻ

ngoài xinh đẹp cũng như sự nghiệp từ cha (màu tóc đỏ thì tuỳ
theo suy đoán của mọi người). Lại thêm một cơn đau nhói khi cô
đi qua một bức rèm được tạo thành từ các bụi cây chết khô cao
ngất. Cô may mắn dừng lại khi chỉ cách cái vách sâu ba mươi
[4]
feet
đúng một bước chân.
Phía dưới cô là một cái khe tối tăm – cắt sâu xuống nền đá
của West Side. Chạy qua đó là đường sắt Amtrak cho những đoàn
tàu đi lên phía bắc.
Cô hé mắt, liếc nhìn đáy khe cách không xa nền đường sắt.
Cái gì thế?
Một vòng tròn đất mới lật, một nhánh cây nhỏ cắm bên
trên? Trông nó giống như…
Ôi! Lạy chúa!
Một cảnh tượng làm cô rùng mình. Cảm thấy cơn buồn nôn
dâng lên, châm vào da của cô như một làn sóng lửa. Cô kìm nén
được cái phần nhỏ nhoi trong cô, cô muốn quay đi chỗ khác và
làm ra vẻ như mình chưa hề trông thấy gì.
Anh ta hi vọng nạn nhân đã chết. Vì chính nạn nhân.
Cô chạy theo chiếc cầu thang sắt dẫn tới vỉa hè xuống phía
dưới nền đường. Cô vươn tay và định bám vào tay vịn cầu thang


nhưng cô đã kịp dừng lại. Khốn kiếp. Thủ phạm có thể tẩu thoát
theo đường này. Nếu chạm vào đó, cô có thể xoá mất dấu tay
hắn để lại. Được, ta làm cách khó vậy. Thở thật sâu để nén cơn
đau khớp, cô bắt đầu trèo xuống theo mặt đá, cố lùa đôi giày mới
của cô – đôi giày được đánh bóng như gương cho ngày đầu tiên
nhận nhiệm vụ mới – vào những khe đá nứt. Cô nhảy từ độ cao

bốn feet xuống nền đường và chạy tới nấm mồ.
“Ôi, trời…”
Đó không phải là một nhánh cây nhô lên khỏi mặt đất mà là
một cánh tay. Thân thể bị chôn đứng và đất được đắp lên tới
cánh tay, cổ tay và bàn tay thò ra ngoài. Cô nhìn chằm chằm vào
ngón đeo nhẫn; tất cả thịt đã bị bóc sạch và một chiếc nhẫn kim
cương của phụ nữ có hình ly cocktail được lồng vào đoạn xương
máu me, trần trụi.
Sachs quỳ xuống và bắt đầu đào.
Cô đào bới làm cho đất bắn tung toé, cô nhận thấy những
ngón tay chưa bị cắt trông xiên xẹo và kéo dãn ngoài mức có thể
uốn cong. Điều đó nói với cô rằng nạn nhân vẫn còn sống khi bị
những xẻng đất cuối cùng hất vào mặt.
Và có thể vẫn còn sống.
Sachs giận dữ đào chỗ đất còn tơi, cắt tay vào mảnh chai,
máu đen của cô trộn lẫn với màu đất còn đen hơn. Sau đó, cô đào
đến tóc và vầng trán phía dưới, vầng trán đã xanh xám lại vì
thiếu oxy. Tiếp tục đào cho tới khi cô có thể nhìn thấy hai con
mắt mờ đục và cái miệng đã bị vặn xoắn thành vẻ mặt kinh
hoàng khi nạn nhân cố gắng trong một vài giây cuối cùng để ngoi
lên khỏi đợt thuỷ triều đất đen.
Không phải là một phụ nữ. Dù tay đeo chiếc nhẫn. Đó là một


người đàn ông trên năm mươi tuổi, đậm người. Chết khi đất vùi
kín anh ta.
Lùi lại phía sau, cô không thể rời mắt khỏi cái xác chết và
suýt vấp phải đường tàu. Cô không thể nghĩ được điều gì khác
trong gần một phút. Ngoài việc nếu bị chết như thế thì sẽ ra sao.
Sau đó: Nào, em yêu. Em đã tự dẫn mình đến hiện trường

vụ án và em là sĩ quan đầu tiên có mặt tại hiện trường.
Em biết phải làm gì chứ:
ADAPT
A là Arrest: bắt kẻ tình nghi.
D là Detain: thẩm tra nhân chứng và vật chứng.
A là Assess: đánh giá hiện trường vụ án.
P là….
P là gì nhỉ?
Cô nghiêng đầu nói vào mic. “5885 gọi Trung tâm. Báo cáo
tiếp. Tôi gặp 10-29 trên đường tàu hoả ở Đại lộ Ba mươi tám và
[5]
Mười một. Giết người, nghe rõ. Cần thám tử, CS , xe bus, và
bác sĩ pháp y. Nghe rõ.”
“Đã rõ, 5885. Nghi phạm đã bị bắt chưa, nghe rõ?”
“Không có nghi phạm.”
“Năm-tám-tám-năm, nghe rõ”
Sachs nhìn chằm chằm vào ngón tay, ngón tay bị lóc thịt


đến tận xương. Một chiếc nhẫn không phù hợp. Hai con mắt. Và
vẻ mặt nhăn nhúm… Ôi, cái vẻ mặt nhăn nhúm kinh dị này. Cơn
rùng mình chạy dọc cơ thể cô. Amelia Sachs đã từng bơi với rắn
trong những con sông khi đi nghỉ hè và đã từng huênh hoang một
cách chân thực rằng, cô không có vẫn đề gì khi chơi bungee[6]
jumping
từ cây cầu cao một trăm feet. Nhưng cứ để cô nghĩ về
sự giam cầm… nghĩ tới việc bị rơi vào bẫy, hoàn toàn bất động thì
cơn hoảng loạn sẽ tóm lấy cô như bị sốc điện. Đó là lí do vì sao
Sachs đi nhanh và lái xe như chớp.
Khi ta di chuyển, chúng không thể bắt được ta…

Cô nghe thấy một tiếng động và ngẩng đầu.
Tiếng ầm ầm, sâu và ngày càng lớn hơn.
Những mẩu giấy vụn bay tung trên đường ray. Những đám
bụi bay quanh cô như những con ma giận dữ.
Sau đó là tiếng rền rĩ nhỏ…
Sĩ quan tuần tra Amelia Sachs, chỉ cao một feet chín, thấy
mình đang đối diện với một chiếc đầu máy xe lửa nặng ba mươi
tấn của Amtrak, một khối sắt đỏ, trắng và xanh đang lao tới với
tốc độ mười dặm một giờ.
“Dừng lại ngay!” Cô hét lên.
Người kỹ sư lờ cô đi.
Sachs nhảy vào, đứng ngay giữa đường ray, giạng chân, vẫy
tay ra hiệu cho anh ta dừng lại. Chiếc đầu máy kêu rít lên rồi
dừng lại. Người kĩ sư thò đầu ra ngoài cửa sổ.
“Anh không đi qua đây được”, cô nói với anh ta.


Anh ta hỏi ý cô là gì. Cô nghĩ anh ta trông quá trẻ để có thể
lái đoàn tàu lớn như vậy.
“Đây là hiện trường vụ án. Vui lòng tắt động cơ.”
“Thưa quý cô, tôi không hề nhìn thấy hiện trường vụ án nào
cả.”
Nhưng Sachs không nghe. Cô đang nhìn lên khoảng trống
trong chuỗi xích bên phía tây của cây cầu tàu phía trên, gần Đại
lộ Mười một.
Chỉ có thể có một cách để đưa xác chết đến đây mà không
bị phát hiện – đỗ xe ở Đại lộ Mười một và kéo xác qua một con
đường hẹp dẫn đến vách đá. Còn trên Đại lộ Ba mươi bảy, chỗ
giao lộ, hắn ta có thể bị phát hiện từ hai tá cửa sổ của các căn
hộ.

“Đoàn tàu này, thưa ngài. Xin cứ để nó đấy.”
“Tôi không thể để nó ở đây được.”
“Vui lòng tắt động cơ.”
“Chúng tôi không tắt động cơ của những con tàu kiểu này.
Lúc nào chúng cũng chạy.”
“Và hãy gọi điện cho điều phối viên. Hay ai đó. Yêu cầu họ
dừng cả các đoàn tàu đi về phía nam.”
“Chúng tôi không được làm thế.”
“Ngay bây giờ. Tôi có thể lấy số của chiếc xe đó, được
không?”
“Chiếc xe?”


“Tôi khuyên anh nên làm ngay”, Sachs quát.
“Cô định làm gì, thưa quý cô? Gắn phiếu phạt tôi chắc?”
Nhưng Amelia Sachs đã lại trèo lên trên bức tường đá, các
khớp xương đáng thương của cô kêu cót két, môi cô cảm thấy vị
bụi đá vôi, đất sét và mồ hôi của chính mình. Cô chạy về phía con
đường cô vừa nhìn thấy từ dưới kia, sau đó quay lại, nghiên cứu
Đại lộ Mười một và Trung tâm Javits ở bên kia đường. Gian đại
sảnh đầy người – những người đến xem và báo chí. Một biểu ngữ
khổng lồ tuyên bố Chào mừng các đại biểu Liên Hiệp Quốc!
Nhưng sáng hôm nay, khi con phố vắng người, tên tội phạm có
thể dễ dàng tìm thấy một nơi đỗ xe ở đây là kéo cái xác đến
đường ray mà không bị phát hiện. Sachs chạy tới Đại lộ Mười
một, nghiên cứu đại lộ sáu làn xe đang tắc nghẽn.
Làm thôi!
Cô khó nhọc vượt qua một biển xe hơi, xe tải và chặn làn
đường đi lên phía bắc. Mấy người lái xe cố chạy vớt, cô đã phải
xé hai phiếu phạt và sau cùng cô kéo thùng rác ra giữa phố như

một chiến lũy để đảm bảo những người dân lương thiện thực hiện
nghĩa vụ công dân của họ.
Cuối cùng thì Sachs cũng đã nhớ ra quy tắc tiếp theo trong
các quy tắc ADAPT của sĩ quan đầu tiên có mặt tại hiện trường vụ
án.
P là Protect: bảo vệ hiện trường vụ án.
Âm thanh của những chiếc còi xe giận dữ bắt đầu tràn ngập
bầu trời buổi sáng mờ sương, sau đó được thay thế bằng những
tiếng thét giận dữ hơn của các tài xế. Một lúc sau, cô nghe tiếng
còi hụ tham gia ầm ĩ khi những chiếc xe khẩn cấp đầu tiên lao


tới.
Bốn mươi phút sau, nơi này tràn ngập cảnh phục và các điều
tra viên, có đến vài chục người – đông hơn vụ diễn ra tại Hell’s
Kitchen rất nhiều, bất kể là nguyên nhân cái chết có khinh khủng
hơn đến mấy. Nhưng Sachs đã học được từ những cảnh sát khác,
đây là một vụ nóng, một vụ thu hút báo giới – nạn nhân có thể là
[7]
một trong những hành khách đến sân bay JFK
đêm trước, bắt
taxi vào thành phố. Họ có thể không bao giờ về được đến nhà.
[8]
“CNN
đang theo dõi.” Một người mặc cảnh phục thầm thì.
Vì thế Amelia Sachs không ngạc nhiên khi thấy Vince Peretti
[9]
tóc vàng, giám đốc IRD , bộ phận theo dõi đơn vị hiện trường
vụ án, trèo qua hàng rào và dừng lại lúc anh ta phủi bộ vét trị giá
cả nghìn đô la của mình.

Cô ngạc nhiên khi thấy anh nhận ra cô và ra hiệu cho cô,
một nụ cười giả tạo xuất hiện trên khuôn mặt sắc nét của anh ta.
Cô nhận ra rằng cô sẽ nhận được một cái gật đầu cảm ơn về
[10]
hành động Cliffhanger
vừa rồi. Bảo vệ dấu tay trên cái cầu
thang đó, các chàng trai. Có thể sẽ có cả khen ngợi. Trong giờ
tuần tra cuối cùng của ngày làm việc cuối cùng ở Đội Tuần tra. Ra
đi với ánh hào quang của sự vẻ vang.
Anh ta nhìn cô từ trên xuống dưới. “Sĩ quan tuần tra, cô
không phải là lính mới, đúng không? Giả định của tôi đúng chứ?”
“Tôi xin lỗi, thưa ngài?”
“Cô chắc không phải lính mới, tôi giả định thế.”


Cô không phải lính mới, không tuân theo quy tắc, mặc dù cô
mới có ba năm phục vụ, khác với hầu hết các sĩ quan tuần tra
khác ở độ tuổi cô; họ đã có chín hay mười năm phục vụ. Sachs bị
lỡ mất mấy năm trước khi vào học viện. “Tôi không biết ngài định
hỏi gì.”
Anh ta trông bực tức, nụ cười biến mất khỏi khuôn mặt. “Cô
là sĩ quan đầu tiên có mặt tại hiện trường, đúng vậy không?”
“Vâng, thưa ngài”
“Vì sao cô lại chặn Đại lộ Mười một? Cô nghĩ gì vậy?”
Cô nhìn dọc theo con phố rộng vẫn đang bị cái thùng rác
chiến lũy của cô chặn lại. Cô đã quen với tiếng còi nhưng giờ mới
nhận ra là nó rất ồn, dòng xe kéo dài tới vài dặm.
“Thưa ngaì, nhiệm vụ đầu tiên của một sĩ quan là bắt nghi
phạm, thẩm vấn mọi nhân chứng, bảo vệ…”
“Tôi biết quy tắc ADAPT, sĩ quan ạ. Cô chặn phố để bảo vệ

hiện trường vụ án à?”
“Vâng thưa ngài. Tôi không nghĩ rằng nghi phạm sẽ đỗ xe
tại giao lộ. Hắn ta có thể dễ dàng bị trông thấy từ các căn hộ trên
kia. Ngài nhìn thấy chứ, trên kia? Đại lộ Mười một có thể là lựa
chọn tốt hơn.”
“Được. Nhưng đó là một sự lựa chọn sai lầm. Không có dấu
chân ở phía bên kia đường ray, và có hai loạt dấu chân đi lên cầu
thang tới Đai lộ Ba mươi bảy.”
“Tôi đã chặn cả Đại lộ Ba mươi bảy nữa.”
“Đó là ý tôi. Đó là tất cả những gì cần chặn. Còn đoàn tàu?”
Anh ta hỏi. “Vì sao cô lại chặn đoàn tàu?”


“Vâng thưa ngài. Tôi nghĩ rằng một đoàn tàu đi qua hiện
trường có thể làm ảnh hưởng đến chứng cứ. Hay cái gì đó.”
“Hay cái gì đó, sĩ quan?”
“Tôi diễn đạt ý mình không được tốt lắm, thưa ngài. Ý tôi
là…”
“Còn sân bay Newark thì sao?”
“Vâng thưa ngài.” Cô nhìn quanh tìm sự giúp đỡ. Có mấy sĩ
quan ở gần đó, nhưng họ đang bận phớt lờ người bị quở trách.
“Chính xác thì Newark là thế nào?”
“Sao cô không đóng cửa nó luôn đi?”
Ồ, tuyệt vời. Một bài học. Đôi môi Julia Roberts của cô căng
lên nhưng cô nói vừa phải. “Thưa ngài, theo nhận định của tôi, có
thể là…”
“Xuyên lộ New York cũng có thể là lựa chọn tốt. Jersey Pike
và Xxa lộ Long Island. I-70 và các con đường đến St.Louis. Đó
cũng có thể là phương cách trốn chạy.”
Cô hơi cúi đầu và nhìn lại Peretti. Hai người cao bằng nhau

dù đế giày của anh ta cao hơn.
“Tôi có điện thoại từ ngài chánh thanh tra.” Anh ta tiếp tục.
“Từ giám đốc của Ban quản lý Cảng, văn phòng Tổng thư ký Liên
Hiệp Quốc, giám đốc triển lãm..” Anh ta hất đầu về phía Trung
tâm Javits. “Chúng ta đã phá hỏng lịch trình hội nghị, bài phát
biểu của một thượng nghị sĩ Mỹ và toàn bộ giao thông bên West
Side. Đường ray cách nạn nhân mười lăm feet còn con phố mà cô
chặn lại cách chỗ đó một trăm feet và trên đó ba mươi feet. Ý tôi
là ngay cả Bão Eve cũng không ảnh hưởng như vậy tới Hành lang


Đông Tây của Amtrak.”
“Tôi chỉ nghĩ rằng…”
Peretti cười. Vì Sachs là một phụ nữ đẹp – trong những năm
tháng “chìm đắm” của cô trước khi gia nhập Học viện Cảnh sát,
có thời gian cô đã làm việc thường xuyên cho Công ty Người mẫu
Chantelle – nên viên cảnh sát lựa chọn tha thứ cho cô.
“Tuần tra viên Sachs” – anh ta liếc nhìn bảng tên trên ngực
cô, được dán một cách đơn giản trên chiếc áo chống đạn hiệu
American Body Armor – “một bài học. Nhiệm vụ tại hiện trường
vụ án là một việc đòi hỏi sự cân bằng. Sẽ rất tốt nếu chúng ta có
thể rào cả thành phố sau mỗi vụ giết người và thẩm vấn ba triệu
người. Nhưng chúng ta không thể làm điều đó. Tôi nói điều này là
có tính xây dựng. Để khai sáng cho cô”.
“Trên thực tế, thưa ngài”, cô nói cộc cằn. “Tôi sắp chuyển
khỏi Đội Tuần tra. Điều đó có hiệu lực từ trưa hôm nay.”
Anh ta gật đầu, cười vui vẻ. “Thế thì nói đủ rồi. Nhưng để
biết thôi, có phải cô quyết định dừng đoàn tàu và phong tỏa
đường phố?”
“Đúng vậy, thưa ngài”, cô nói một cách dứt khoát. “Không

có sai lầm nào trong việc đó cả.”
Anh ta viết điều này vào cuốn sổ theo dõi màu đen của mình
với nét bút mạnh mẽ bằng chiếc bút máy dính đầy mồ hôi.
Ôi, làm ơn đi…
“Còn bây giờ, chuyển những thùng rác ấy đi. Cô sẽ điều
khiển giao thông đến khi đường thông. Cô có nghe rõ tôi nói
không?”


Không “vâng, thưa ngài”, hay “không, thưa ngài”, hay bất kỳ
sự khẳng định nào khác, cô đi ra Đại lộ Mười một và bắt đầu
chậm chạp di chuyển những chiếc thùng rác. Người lái xe nào đi
ngang cô cũng cau có hoặc lẩm bẩm điều gì đó. Sachs nhìn đồng
hồ.
Còn một tiếng nữa.
Mình chịu được.


HAI
Với một cú vẫy cánh ngắn, con chim ưng đỗ xuống rìa cửa
sổ. Ánh sáng bên ngoài, vào giữa buổi sáng, thật rực rỡ và không
khí có vẻ nóng dữ dội.
“Mày đây rồi”, người đàn ông thầm thì. Sau đó anh ta ngẩng
đầu khi nghe tiếng chuông cửa ở tầng dưới.
“Có phải ông ta không?” Anh hét về phía cầu thang. “Phải
không?”
Lincoln Rhyme không nghe thấy tiếng trả lời và quay lại cửa
sổ. Con chim xoay đầu, một động tác nhanh, dữ dằn nhưng đối
với loài chim ưng nó lại thật lịch thiệp. Rhyme thấy móng nó dính
máu. Một miếng thịt đang đung đưa dưới cái mỏ khoằm hình vỏ

quả hạch màu đen bị vỡ. Nó vươn cái cổ ngắn và thả lỏng mình
trong tổ những cử động khiến ta nhớ tới loài rắn chứ không phải
loài chim. Con chim ưng thả miếng thịt vào cái miệng đang ngửa
lên của một con chim non màu xanh lông lá. Ta đang nhìn,
Rhyme nghĩ, vào một tạo vật sống duy nhất ở New York mà
không có thú săn bắt. Có lẽ ngoại trừ chính Chúa Trời.
Anh nghe thấy tiếng chân bước chậm chạp lên cầu thang.
“Có phải ông ta không?”Anh hỏi Thom.
Người thanh niên trả lời: “Không.”
“Ai đó? Chuông cửa vừa kêu, đúng không?”
Ánh mắt Thorn hướng về cửa sổ. “Con chim đã quay lại rồi.
Nhìn này, có vết máu trên bậu cửa sổ của anh. Anh thấy không?”


×