Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Nghiên cứu quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh thái bình tt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (921.11 KB, 27 trang )

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

TRẦN THỊ NGỌC LAN

NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỊ TRƯỜNG THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT Ở TỈNH THÁI BÌNH

Chuyên ngành : KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số : 62 31 01 05

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI - 2016


Công trình hoàn thành tại:
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Ngƣời hƣớng dẫn: 1. PGS.TS. TRẦN HỮU CƢỜNG
2. PGS.TS. NGUYỄN PHƢỢNG LÊ

GS.TS. HOÀNG VĂN HOA

Phản biện 1:

Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân

Phản biện 2:

PGS.TS. NGUYỄN HOÀNG LONG
Trƣờng Đại học Thƣơng mại



PGS.TS. NGUYỄN TUẤN SƠN

Phản biện 3:

Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Học viện họp tại:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi

giờ, ngày

tháng

năm 2016

Có thể tìm hiểu luận án tại thƣ viện:
-

Thƣ viện Quốc gia Việt Nam

-

Thƣ viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam


PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa đặc thù, hạn chế kinh doanh và kinh

doanh có điều kiện chỉ được phép nhập khẩu, sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói và sử
dụng sau khi được đăng ký tại Việt Nam. Quản lý thị trường thuốc BVTV là biện pháp sử
dụng hiệu quả, an toàn thuốc BVTV để bảo vệ sản xuất nông nghiệp (SXNN), bảo đảm an
ninh lương thực quốc gia, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường. Số liệu thống kê của
Cục BVTV năm 2015 cho thấy mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 70.000 - 100.000 tấn
thuốc BVTV và nguyên liệu ước tính tổng giá trị khoảng từ 0,8 - 1 tỷ USD tăng gấp 10 lần
so với năm 1981 (Vipa, 2015), danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam đã
tăng lên 1.700 hoạt chất với gần 4.100 tên thương mại thuốc BVTV được phép lưu hành
trên thị trường (Bộ NN&PTNT, 2015a).
Cùng với sự gia tăng về số lượng và chủng loại thuốc được tiêu thụ, mạng lưới các cơ
sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV ở Việt Nam cũng tăng nhanh và khó kiểm
soát. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT năm 2014 Việt Nam hiện có 230 doanh nghiệp kinh
doanh, 129 cơ sở sản xuất, sang chai đóng gói và 32.649 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV.
Theo các chuyên gia nông nghiệp, tình trạng người nông dân tự do mua và lạm dụng thuốc
BVTV tràn lan, có tới 80% lượng thuốc BVTV tại Việt Nam đang được sử dụng không
đúng cách, không cần thiết và rất lãng phí (Phan Hậu, 2014).
Trong bối cảnh đó, lực lượng cán bộ thanh tra chuyên ngành vừa thiếu về số lượng và
chưa phù hợp về chuyên môn, trung bình 1 cán bộ quản lý trên 70 cửa hàng buôn bán thuốc
BVTV. Việc phân định nhiệm vụ của lực lượng thanh tra chuyên ngành BVTV còn chồng
chéo, chưa thực sự rõ ràng giữa thanh tra Sở và thanh tra Chi cục (Trung tâm BVTV phía
Bắc, 2012). Đồng thời, việc xác định chất lượng thuốc BVTV còn nhiều khó khăn do kinh
phí, máy móc trang thiết bị phục vụ công tác thanh kiểm tra còn thiếu và thô sơ.
Thái Bình là tỉnh trọng điểm của đồng bằng sông Hồng về sản xuất lúa gạo và các cây
rau màu, do điều kiện thời tiết thuận lợi, chủng loại cây trồng phong phú nên dịch hại phát
triển quanh năm. Xu hướng sử dụng thuốc BVTV của người nông dân tăng trong những
năm gần đây cả về số lượng và chủng loại, trung bình mỗi năm toàn tỉnh Thái Bình tiêu thụ
khoảng từ 1.200 - 1.300 tấn thuốc BVTV ước tính khoảng 500 - 650 tỷ đồng. Thị trường
thuốc BVTV rất phức tạp với sự tham gia của 1 công ty sản xuất, 3 công ty kinh doanh và
1.538 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV, đó là chưa kể số cửa hàng nhỏ lẻ hoạt động theo
mùa vụ (Chi cục BVTV Thái Bình, 2013). Với những lý do trên việc nghiên cứu đề tài

"Nghiên cứu quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình" là cần
thiết để hướng tới sự phát triển một nền nông nghiệp sạch, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế. Kết quả của nghiên cứu trả lời các câu hỏi: i) Quản lý nhà nước đối với thị trường
thuốc BVTV là gì, bao gồm những nội dung nào? ii) Quản lý nhà nước về thị trường thuốc
BVTV ở tỉnh Thái Bình hiện nay thực hiện như thế nào và có những bất cập gì? iii) Yếu tố
nào tác động và ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV trên địa bàn
tỉnh Thái Bình? và iv) Đâu là giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc
BVTV ở tỉnh Thái Bình hiện nay?
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thị
trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản
lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình trong thời gian tới.
1


1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước
đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật trên phạm vi tỉnh;
- Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về thị
trường thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình;
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với thị trường
thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình trong thời gian tới.
1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động quản lý nhà nước về thị trường thuốc
BVTV với các đối tượng khảo sát gồm: (i) Chủ thể quản lý là hệ thống các cơ quan quản lý
nhà nước từ Trung ương tới địa phương: đối với các cơ quan hành chính (UBND cấp tỉnh,
cấp huyện, cấp xã); cơ quan chuyên môn BVTV (Sở NN&PTNT, Chi cục TT&BVTV,
Trạm TT&BVTV, Phòng NN&PTNT); đối với các cơ quan Quản lý thị trường (Chi cục

QLTT, Đội QLTT); (ii) Đối tượng quản lý là các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV
gồm các công ty sản xuất kinh doanh thuốc BVTV, các đại lý bán buôn, các cửa hàng bán lẻ
thuốc BVTV (HTX DVNN và cửa hàng tư nhân) và người sử dụng thuốc BVTV ở tỉnh Thái
Bình; (iii) Các cơ chế, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật như Luật BV&KDTV
năm 2013, Nghị định, Thông tư... liên quan đến QLNN về thị trường thuốc BVTV.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu quá trình QLNN đối với các hoạt
động trao đổi/mua bán các loại thuốc BVTV (thuốc diệt cỏ, thuốc trừ côn trùng và thuốc trừ
bệnh cho lúa và cây rau màu) nhiều hơn nghiên cứu hoạt động sử dụng thuốc BVTV, nên
tác nhân người sử dụng thuốc BVTV được tập trung phân tích ở khía cạnh là yếu tố ảnh
hưởng. Nghiên cứu QLNN về thị trường thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Bình với 5 nội
dung: (i) Tổ chức bộ máy QLNN; (ii) Ban hành hệ thống văn bản QPPL; (iii) Tổ chức hoạt
động thực thi pháp luật (trong đó, mục đầu cơ độc quyền lũng đoạn thị trường thuốc BVTV
là phần khó thu thập thông tin và số liệu điều tra, nên đề tài chỉ dừng lại ở luận giải trên khía
cạnh lý thuyết); (iv) Hoạt động thanh tra kiểm tra và (v) Công tác tập huấn, tuyên truyền văn
bản pháp luật cho các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV. Trên cơ sở đó, đề xuất các
giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường QLNN về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu này được thực hiện trên phạm vi toàn tỉnh Thái
Bình. Một số nội dung chuyên sâu được điều tra khảo sát tại 3 huyện đại diện điển hình là
Hưng Hà, Quỳnh Phụ và Tiền Hải.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu này được thu thập từ năm
2012 đến 2015, dữ liệu sơ cấp được thu thập chủ yếu trong 2 năm 2014 và 2015. Từ đó, đề
xuất các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV
đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Về mặt lý luận và học thuật: Luận án làm sáng tỏ được phương pháp tiếp cận và khung
phân tích cho nghiên cứu quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV. Rút ra khái niệm, đặc
điểm, nội dung quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV và làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các
cơ quan QLNN với các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV. Luận án cũng đã xây dựng
hệ thống chỉ tiêu đánh giá thực trạng QLNN đối với thị trường thuốc BVTV, tổng hợp và phân

tích các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về thị trường thuốc BVTV. Luận án đã xác định được các
nội dung nghiên cứu QLNN đối với thị trường thuốc BVTV và phần nào khái quát hóa những
kinh nghiệm QLNN đối với thị trường thuốc BVTV của một số nước trên thế giới và một số
tỉnh ở Việt Nam từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho tỉnh Thái Bình.
2


Về thực tiễn: Luận án đã cung cấp được cơ sở dữ liệu về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh
Thái Bình. Luận án đã làm rõ đặc điểm hệ thống quản lý nhà nước về thị trường thuốc
BVTV và đánh giá được những thành công, bất cấp của các chính sách và hệ thống QLNN
khi triển khai thực hiện ở tỉnh Thái Bình. Trên cơ sở đó, luận án đã đưa ra một số quan
điểm, chỉ ra định hướng và xác định mục tiêu cùng các giải pháp chủ yếu tăng cường quản
lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình. Các giải pháp này được triển khai
đồng bộ cùng với việc điều chỉnh từ Trung ương sẽ có giá trị đóng góp rất lớn vào hiệu quả
quản lý nhà nước, góp phần phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng
đồng. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu, các gợi ý về chính sách, các giải pháp có
giá trị tham khảo để quản lý thị trường thuốc BVTV ở các tỉnh có đặc điểm tương tự.
1.5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Thuốc BVTV là một đầu vào quan trọng trong SXNN, thị trường thuốc BVTV hiện
đang có nhiều bức xúc. Người nông dân tự do mua và sử dụng thuốc BVTV hầu hết dựa vào
kinh nghiệm hoặc tư vấn của người kinh doanh thuốc mà không tuân thủ nguyên tắc “4
đúng”, miễn là trước mắt diệt trừ được sâu bệnh, không tính đến tác hại lâu dài về môi
trường và an toàn thực phẩm. Người sản xuất và người kinh doanh thuốc BVTV với mục
đích giảm chi phí và tối đa hóa lợi nhuận nên thường bỏ qua hoặc lảng tránh những quy
định của Nhà nước về danh mục thuốc được phép sử dụng, về giá, về điều kiện sản xuất,
buôn bán mà sẵn sàng cung ứng những loại thuốc theo yêu cầu của người nông dân và tăng
giá đột biến, nhất là trong lúc mùa vụ và khi nhiều sâu bệnh phát sinh. Trong khi đó, quản lý
nhà nước về thị trường thuốc BVTV còn non yếu, hệ thống văn bản QPPL còn nhiều hạn
chế, hoạt động thực thi pháp luật chưa được tốt, lực lượng cán bộ mỏng, công tác thanh tra,
kiểm tra không được thường xuyên, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe... Tình trạng trên xảy

ra phổ biến và khá trầm trọng ở Thái Bình và những địa phương có diện tích trồng trọt lớn.
Từ đó, việc nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý nhà nước để đưa ra các đề xuất tăng
cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV là hết sức cần thiết. Xét trên giác độ đó,
đề tài luận án “Nghiên cứu quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình”
mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn giúp các nhà sản xuất kinh doanh thuốc BVTV có nghĩa
vụ và trách nhiệm đối với cộng đồng và bảo vệ môi trường; Giúp cho người sản xuất và
người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp yên tâm; Giúp cho phát triển xã hội bền vững.

PHẦN 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ THỊ TRƢỜNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG THUỐC BẢO VỆ
THỰC VẬT
2.1.1. Cơ sở lý luận về thị trƣờng thuốc bảo vệ thực vật
Thị trường thuốc bảo vệ thực vật là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi theo hình thức
mua bán giữa hai bên cung và cầu thuốc bảo vệ thực vật theo luật pháp và thông lệ xã hội.
2.1.2. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng thuốc bảo vệ thực vật
2.1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật có thể hiểu là sự tác động có chủ
đích của Nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật bằng quyền lực của Nhà nước,
thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, lực lượng vật chất và tài chính, lên tất cả các hoạt
động sản xuất kinh doanh, mua bán thuốc bảo vệ thực vật nhằm tăng cường quản lý nhà
nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật để bảo vệ sản xuất, bảo đảm an ninh lương thực,
sức khỏe con người và môi trường.
2.1.2.2. Cấu trúc quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc BVTV là mặt hàng kinh doanh có điều kiện và hạn chế kinh doanh, đặc điểm
3


quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV được thể hiện thông qua đặc điểm của 5 yếu tố.
Thứ nhất, chủ thể quản lý là các cơ quan Nhà nước thực hiện quyền quản lý thị trường thuốc

BVTV theo cấp hành chính bao gồm UBND các cấp, cơ quan chuyên môn BVTV, cơ quan
Quản lý thị trường và một số cơ quan liên quan khác. Thứ hai, khách thể quản lý là thị
trường thuốc BVTV với hai đối tượng chính là sản phẩm thuốc BVTV và các tác nhân tham
gia trên thị trường gồm: chủ cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán và người sử dụng thuốc
BVTV và trong quá trình tương tác đó phải tuân thủ các quy định của luật BV&KDTV năm
2013 và quy luật kinh tế khách quan. Thứ ba, nội dung nghiên cứu về QLNN đối với thị
trường thuốc BVTV bao gồm: Bộ máy quản lý nhà nước; ban hành hệ thống văn bản QPPL; tổ
chức hoạt động thực thi pháp luật; công tác thanh tra kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm; và công
tác tập huấn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho các tác nhân tham gia thị trường thuốc
BVTV. Thứ tư, công cụ quản lý là công cụ không thể thiếu đó là pháp luật. Thứ năm,
phương pháp quản lý gồm phương pháp hành chính, kinh tế và giáo dục.
2.1.2.3. Vai trò của quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Quản lý nhà nước đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các tác nhân tham gia thị
trường thuốc BVTV, bao gồm: Thứ nhất, định hướng, kiểm soát thị trường, ngăn chặn tình
trạng đầu cơ tích trữ độc quyền thuốc BVTV gây lũng đoạn thị trường. Thứ hai, phổ biến
các kiến thức kỹ năng cơ bản đối với cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán và người sử dụng
thuốc BVTV nhằm hạn chế những tác động xấu của thuốc BVTV tới sức khỏe con người và
môi trường. Thứ ba, nhằm tạo lập cơ sở pháp lý đầy đủ, giúp quá trình kiểm tra giám sát, xử
lý vi phạm pháp luật được dễ dàng và phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà
nước trong quá trình thực hiện, tránh được tình trạng đổ lỗi cho nhau.
2.1.2.4. Nội dung nghiên cứu quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Nghiên cứu quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV bao gồm 5 nội dung như: i)
Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước; ii) Ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; iii)
Tổ chức hoạt động thực thi pháp luật; iv) Công tác thanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý vi
phạm pháp luật và iv) Công tác tập huấn, thông tin và tuyên truyền văn bản pháp luật.
CHÍNH
PHỦ

UBND
TỈNH


Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn

Cục Bảo vệ thực vật

Phòng
quản lý
thuốc
BVTV

Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn

Chi cục BVTV hoặc Chi cục
TT&BVTV
UBND
HUYỆN

UBND XÃ

Phòng Nông nghiệp
và PTNN

Các Chi
cục kiểm
dịch thực
vật vùng

Sở Công Thương/Chi cục

QLTT; Công an Kinh tế; PCCC;
Sở TN-MT...

Trạm BVTV hoặc
Trạm TT&BVTV

Cơ sở buôn bán thuốc
BVTV

Các Trung
tâm Bảo vệ
thực vật

Người sử dụng thuốc
BVTV

Phòng Công
Thương/Đội QLTT;
Phòng TN-MT...

Ghi chú:
Chỉ đạo
Phối hợp

Sơ đồ 2.1. Bộ máyquản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng thuốc BVTV ở Việt Nam
Nguồn: Nguyễn Phượng Lê (2013)

4



Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV được thành lập từ
Trung ương đến địa phương mỗi cơ quan sẽ có trách nhiệm cụ thể về công tác quản lý, phối
kết hợp với các cơ quan khác trong hệ thống: quản lý ở Trung ương gồm các Bộ; quản lý ở
các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương gồm các Sở, ban ngành; quản lý các quận, huyện
gồm các Phòng (sơ đồ 2.1).
Thuốc BVTV là hàng hóa hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện và phải
được quản lý theo danh mục, trong quá trình tổ chức thực thi hoạt động quản lý nhà nước về
thị trường thuốc BVTV phải tuân thủ các quy định của pháp luật, cụ thể như sau:
Điều kiện buôn bán, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Hoạt động
thực thi pháp
luật của các
tác nhân thị
trƣờng thuốc
BVTV

Số lượng, chất lượng và chủng loại thuốc bảo vệ thực vật
Giá bán thuốc bảo vệ thực vật
Tình trạng đầu cơ, độc quyền thao túng thị trường thuốc BVTV

Sơ đồ 2.2. Hoạt động thực thi pháp luật của các tác nhân tham gia thị trƣờng thuốc BVTV

2.1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái
Bình, bao gồm: (1) Năng lực của cán bộ quản lý; (2) Nguồn lực dành cho công tác quản lý
(tài chính, chế độ đãi ngộ và máy móc trang thiết bị...) hỗ trợ công tác thanh tra kiểm tra thị
trường thuốc BVTV; (3) Nhận thức và ứng xử của người sản xuất và buôn bán thuốc
BVTV; (4) Nhận thức và ứng xử của người sử dụng thuốc BVTV và (5) Công tác phối hợp
thanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật giữa các cơ quan quản lý nhà nước.
2.2. CƠ SỞ THỰC TIẾN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG

THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
Kết quả tổng quan, phân tích ưu điểm, hạn chế từ thực tiễn QLNN về thị trường thuốc
BVTV trong và ngoài nước cho thấy bài học kinh nghiệm rút ra về QLNN đối với thị trường
thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình, Việt Nam. Thuốc BVTV có tác động tích cực về mặt bảo vệ
sản xuất, song cũng có những ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe con người và ô nhiễm môi
trường. Vì vậy, Nhà nước cần phải siết chặt QLNN về thị trường thuốc BVTV, đó là:
Một là, cần xây dựng bộ máy quản lý thị trường thuốc BVTV tinh nhuệ, hiệu quả,
bảo đảm đủ về số lượng và giỏi về trình độ chuyên môn và có sự phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan QLNN từ Trung ương đến địa phương theo cả chiều dọc và chiều ngang.
Hai là, nên hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Các văn bản quy phạm
pháp luật cần phân cấp, phân quyền và quy rõ trách nhiệm tránh chồng chéo giữa các cơ
quan chức năng tham gia quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV.
Ba là, cần có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu và phát
triển các sản phẩm thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học thân thiện, ít độc hại.
Bốn là, cần xây dựng hệ thống cổng thông tin điện tử và yêu cầu các cơ quan chức
năng thường xuyên phải cập nhật kiến thức thuốc BVTV, kiến thức pháp luật, danh mục
thuốc BVTV được phép sử dụng, cấm sử dụng và hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV.
Năm là, cần đưa ra quy định đối với chủ trang trại và người sử dụng thuốc BVTV phải
được đào tạo và được cấp chứng chỉ. Đồng thời, Việt Nam cần tích cực tham gia vào các
tổ chức quốc tế liên quan đến thị trường thuốc BVTV để có thể có được những cam kết
giúp đỡ và học hỏi kinh nghiệm quản lý hiệu quả của các nước bạn.
5


PHẦN 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỊA ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
Luận án đã giới thiệu tổng quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hoạt động sản
xuất nông nghiệp, những thuận lợi và khó khăn do điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ảnh
hưởng đến quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình.
3.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1. Phƣơng pháp tiếp cận và khung phân tích
3.2.1.1. Phương pháp tiếp cận
Để thực hiện các mục tiêu và nội dung đặt ra trong luận án, tác giả đưa ra 3 cách tiếp
cận: tiếp cận theo cấp quản lý, tiếp cận theo đối tượng và tiếp cận theo vùng sinh thái.
3.2.1.2. Khung phân tích
Khung phân tích quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV là nội dung quan trọng
nhằm định hướng các bước cơ bản cho quá trình thực hiện nghiên cứu luận án (sơ đồ 3.1).
THỊ TRƢỜNG THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC

TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
Trung ương – Địa phương
CHÍNH QUYỀN
CÁC CẤP

-UBND tỉnh
-UBND huyện
-UBND xã

QUẢN LÝ
CHUYÊN MÔN

- Cục BVTV
- Chi cục TT&BVTV
- Trạm TT&BVTV

HOẠT

ĐỘNG

QUẢN LÝ
THỊ TRƢỜNG

CÔNG TY
THUỐC
BVTV
- Sản xuất
- Kinh doanh

- Cục QLTT
- Chi cục QLTT
- Đội QLTT

BAN HÀNH HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM
PHÁP LUẬT
Trung ương - Địa phương

CUNG
ỨNG
THUỐC
BVTV

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THỰC THI PHÁP LUẬT
- Điều kiện buôn bán và sử dụng thuốc BVTV
- Số lượng, chủng loại và chất lượng thuốc BVTV
- Giá bán thuốc bảo vệ thực vật
- Đầu cơ độc quyền lũng đoạn thị trường


THANH TRA KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ XỬ LÝ
VI PHẠM PHÁP LUẬT
TẬP HUẤN, THÔNG TIN VÀ TUYÊN TRUYỀN
VĂN BẢN PHÁP LUẬT

TÁC NHÂN
THAM GIA

ĐẠI LÝ BÁN
BUÔN
- Cấp 1
- Cấp 2

CỬA HÀNG
BÁN LẺ

CẦU VỀ
THUỐC
BVTV

NGƢỜI SỬ
DỤNG
THUỐC
BVTV

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG
1. Năng lực của cán bộ quản lý (Số lượng cán bộ quản lý, trình độ chuyên môn);
2. Nguồn lực dành cho công tác quản lý (Kinh phí, chế độ đãi ngộ và máy móc trang thiết bị);
3. Nhận thức và ứng xử của người sản xuất kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật;
4. Nhận thức và ứng xử của người sử dụng thuốc bảo vệ thực vật;

5. Công tác phối hợp thanh tra kiểm tra giữa các cơ quan quản lý nhà nước.

Sơ đồ 3.1. Khung phân tích quản lý nhà nƣớc về thị trƣờng thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình

6


3.2.2. Phƣơng pháp chọn điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên 03 huyện điển hình: Hưng Hà, Quỳnh Phụ và Tiền
Hải. Trong đó, mỗi huyện chọn 5 xã, mỗi xã chọn 6 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV và
tổng số 360 hộ nông dân sử dụng thuốc BVTV.
3.2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Nhóm chỉ tiêu thứ nhất thể hiện thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình về số lượng
các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình; Nhóm chỉ tiêu thứ hai thể
hiện thực trạng quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình và nhóm
chỉ tiêu thứ ba thể hiện kết quả quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV.
3.2.4. Phƣơng pháp thu thập thông tin
3.2.4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp là những số liệu đã được công bố và qua xử lý. Các dữ liệu này được
thu thập qua sách, tạp chí, báo cáo khoa học, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, BC
tổng kết... Đây là cơ sở quan trọng để tác giả có cái nhìn tổng quát và chung nhất về các vấn
đề liên quan đến QLNN về thị trường thuốc BVTV. Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng một
số kết quả nghiên cứu QLNN về thị trường thuốc BVTV của một số nước trên thế giới.
3.2.4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp là những số liệu chưa xử lý, thu thập trực tiếp thông qua phiếu điều tra
được thiết kế sẵn của tác giả. Dữ liệu sơ cấp bao gồm như: tình hình thực hiện QLNN về
điều kiện sản xuất, buôn bán thuốc BVTV; số lượng, chất lượng, chủng loại; giá bán và tình
trạng đầu cơ độc quyền thao túng thị trường thuốc BVTV. Các thông tin và dữ liệu sơ cấp
trong luận án được thu thập thông qua một số phương pháp chủ yếu như điều tra chọn mẫu,
phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý, thảo luận nhóm và phương pháp tham vấn chuyên gia.

3.2.5. Phƣơng pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Các dữ liệu thứ cấp sau khi thu thập được hệ thống hoá theo các nội dung nghiên cứu
của luận án. Các phiếu điều tra từ các đối tượng được lựa chọn kể trên được kiểm tra, hiệu
chỉnh, mã hóa, nhập và được xử lý bằng các công cụ trợ giúp như Excel và SPSS 20.
3.2.6. Phƣơng pháp phân tích
Các phương pháp phân tích chủ yếu được sử dụng trong luận án là phương pháp phân
tổ thống kê, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh và phương pháp dựa theo
mô hình SCP (Cấu trúc – thực hiện – kết quả).

PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG THUỐC BVTV Ở TỈNH THÁI BÌNH
4.1.1. Lƣợng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trên cây trồng ở tỉnh Thái Bình
Thái Bình là vựa lúa của đồng bằng sông Hồng với điều kiện khí hậu thuận lợi, chủng
loại cây trồng phong phú nên dịch hại phát triển đa dạng và quanh năm. Hiện tại, cơ cấu cây
trồng của tỉnh bao gồm: 165.714 ha trồng lúa, 38.000 ha cây vụ đông, 7.500 ha cây màu
hè và 17.500 ha cây màu xuân. Chủ trương quy hoạch phát triển sản xuất ngành trồng trọt
của tỉnh Thái Bình là ổn định diện tích đất lúa ở mức 165.714 ha và tăng dần diện tích
trồng cây rau màu vụ đông xuân, vụ hè thu, vụ màu thu trên diện tích quỹ đất lúa (Sở
NN&PTNT, 2015). Nhu cầu sử dụng thuốc BVTV hàng năm ở Thái Bình là khá cao, trung
bình mỗi vụ nông dân Thái Bình phun 4,73 lần cho lúa và 6,72 lần cho cây rau màu
(Nguyễn Phượng Lê, 2013). Uớc tính lượng thuốc BVTV được sử dụng hàng năm ở tỉnh
Thái Bình là hơn 1.300 tấn (quy đổi) và tương ứng với giá trị khoảng 650 tỷ đồng.
7


4.1.2. Nguồn cung thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình
Thị trường thuốc BVTV ở Thái Bình rất phức tạp, theo số liệu thống kê của Chi cục
TT&BVTV năm 2014, trên địa bàn tỉnh Thái Bình có 1 cơ sở sản xuất, gia công, sang chai,
đóng gói thuốc BVTV; 3 công ty kinh doanh thuốc BVTV và 1.538 cửa hàng bán lẻ thuốc
BVTV nằm trên địa bàn 286 xã, ngoài ra chưa thống kê hết các hộ tư nhân buôn bán thuốc

BVTV kiểu thời vụ (có nơi bày bán ngay tại chợ quê, bán tại nhà hoặc bán ngay tại ruộng).
Bảng 4.1. Số lƣợng cửa hàng buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình
Số cửa hàng có đăng ký
Số cửa hàng có chứng chỉ
Số xã
kinh doanh
hành nghề
TT
Huyện
(xã)
Tổng
HTX
Tƣ nhân
Tổng HTX
Tƣ nhân
1
Đông Hưng
45
204
40
164
133
40
93
2
Tiền Hải
35
177
29
148

83
29
54
3
Vũ Thư
30
154
35
119
116
35
81
4
Thành Phố TB
19
60
8
52
32
8
24
5
Thái Thụy
47
219
47
172
98
47
51

6
Quỳnh Phụ
37
285
36
249
186
36
150
7
Hưng Hà
34
225
36
189
124
36
88
8
Kiến Xương
37
213
38
173
83
38
45
Tổng
286
1.538

269
1.269
855
269
586
Tỷ lệ (%)
17,5
82,5
55,6
100,0
46,2

Trong số 1.538 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình, có 269 cửa hàng là
HTX DVNN (chiếm 17,5%) còn lại là 1.269 cửa hàng tư nhân (chiếm 82,5%). Như vậy, số
cửa hàng tư nhân nhiều gấp 4,7 lần số cửa hàng là HTX DVNN. Đặc biệt, tại huyện Quỳnh
Phụ, có tới 285 điểm bán trên 37 xã của huyện, trung bình mỗi xã có 7,7 cửa hàng. Tỷ lệ số
cửa hàng có chứng chỉ hành nghề kinh doanh thuốc BVTV còn thấp (chiếm 55,6%), trong
đó các cửa hàng do HTX DVNN quản lý có đủ 100% và chỉ có 46,2% số cửa hàng tư nhân
có chứng chỉ hàng nghề. Điều này cho thấy công tác quản lý điều kiện kinh doanh thuốc
BVTV ở tỉnh Thái Bình chưa thực sự chặt chẽ.
4.1.3. Cấu trúc thị trƣờng thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình
Thị trường thuốc BVTV của tỉnh Thái Bình tương đối phức tạp, với sự tham gia của
nhiều tác nhân từ sản xuất kinh doanh đến buôn bán thuốc BVTV. Số lượng thuốc BVTV được
sản xuất gia công, đóng gói ở công ty Nicotex Đông Thái chỉ được sử dụng một phần rất nhỏ
(8,7%) trên đồng ruộng tỉnh Thái Bình, số thuốc còn lại chuyển đi tiêu thụ ở các tỉnh khác.
Ngược lại 91,3% nhu cầu sử dụng trong tỉnh lại được các công ty khác chuyển về (sơ đồ 4.1).
CÔNG TY SẢN XUẤT, GIA
CÔNG THUỐC BVTV Ở
TỈNH THÁI BÌNH
(C.Ty Nicotex Đông Thái)


CÁC CÔNG TY KINH DOANH THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH
CÁC CÔNG TY KINH DOANH THUỐC
BẢO VỆ THỰC VẬT CÓ TRỤ SỞ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH

CÁC CÔNG TY KD
THUỐC BVTV CÓ TRỤ
SỞ NGOÀI TỈNH TB

Thị
trƣờng
tỉnh
ngoài

Công ty
Cổ phần
Nicotex
Thái
Bình

Công ty
cổ phần
Nicotex
Thái
Bình

Công
ty CP

BVTV
Thái
Bình

CN Công
ty BVTV
An
Giang

34 Công ty cung
ứng thuốc BVTV
vào thị trƣờng Thái
Bình thông qua 32
đại lý cấp I

(11,3%
)

(20%)

(8,7%)

(3,8%)

(10%)

(77,5%)

Sơ đồ 4.1. Dòng lƣu chuyển thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình


8


4.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG THUỐC BẢO
VỆ THỰC VẬT Ở TỈNH THÁI BÌNH
4.2.1. Thực trạng bộ máy quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng thuốc bảo vệ thực vật
Bộ máy quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV được thành lập từ Trung ương
đến địa phương mỗi cơ quan được phân công trách nhiệm cụ thể về công tác quản lý đồng
thời phối hợp với các cơ quan khác trong hệ thống theo cả chiều ngang và chiều dọc.
Ở Trung ƣơng, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV
trong phạm vi cả nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan chủ quản chịu
trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV và các
Bộ ngành khác liên quan trong phạm vi nhiệm vụ của mình phối kết hợp Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn thực việc quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV theo chuyên
môn: Bộ Y tế, Bộ Công thương, Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ
Tài chính, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
Ở Thái Bình, các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh
Thái Bình, bao gồm: i) Các cơ quan quản lý chuyên môn BVTV gồm Sở Nông nghiệp và phát
triển nông thôn - Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật /Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn - Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; ii) Các cơ quan Quản lý thị trường thuốc BVTV
gồm Chi cục Quản lý thị trường - Đội Quản lý thị trường và một số cơ quan ban ngành liên
quan như Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng, Công an kinh tế, PCCC, Phòng Công
thương.... có trách nhiệm tham gia quản lý về điều kiện sản xuất kinh doanh; số lượng, chất
lượng, chủng loại; giá bán thuốc BVTV và tình trạng đầu cơ độc quyền thuốc BVTV khi lưu
thông trên thị trường (sơ đồ 4.2).
(1)

5%

95%


Công ty Cổ
phần Nicotex
Thái Bình
(100%)

Công ty
Cổ phần
Nicotex
Đông Thái

Công ty
BVTV An
Giang

(1)

Chi nhánh
Công ty
BVTV An
Giang (100%)

95%

92%

Đại

bán
buôn

cấp I

Đại lý
bán
buôn
cấp II
& HTX
DV
NN

Cửa
hàng
bán lẻ
thuốc
BVTV

8%

(1)

Các công
ty thuốc
BVTV
ngoài tỉnh

Ngƣời
sử dụng
thuốc
bảo vệ
thực vật


(2)

(3)

Công ty Cổ
phần BVTV 100%
Thái Bình
(100%)

Trạm
vật tư
NN

HTX
DVNN

Thôn

Ghi chú

CƠ SỞ SX

CƠ SỞ KD

CƠ SỞ BÁN BUÔN, BÁN LẺ

Sơ đồ 4.2. Kênh phân phối thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình

9


NÔNG DÂN


4.2.2. Thực trạng ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nƣớc
đối với thị trƣờng thuốc bảo vệ thực vật
Hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý nhà nước đối với thị trường thuốc BVTV
tạo cơ sở pháp lý để triển khai hoạt động QLNN về thị trường thuốc BVTV ở địa phương.
Hiện nay, hệ thống các văn bản QPPL về quản lý thị trường thuốc BVTV ở Việt Nam được
xây dựng trên cơ sở hướng dẫn của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp
Quốc, hài hòa với các nguyên tắc quản lý thị trường thuốc BVTV của các nước ASEAN,
các Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: Công ước Rotterdam, Công ước
Stockhom, Công ước Basel và Nghị định thư Montreal (Ủy ban thường vụ Quốc hộc, 2013).
Bảng 4.2. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý nhà nƣớc về thị trƣờng
thuốc bảo vệ thực vật của Trung ƣơng tính đến năm 2015
Văn bản pháp luật
Số
TT
Tên loại văn bản
Cấp ban hành
lƣợng
Còn HL
Hết HL
I. Văn bản thuộc lĩnh vực BVTV
89
64
25
1 Luật
Quốc hội
1

1
2 Pháp lệnh
Quốc hội
2
2
0
3 Nghị định
Chính phủ
6
3
3
4 Thông tư
Bộ NN&PTNT
45
27
18
5 Quyết định
Bộ NN&PTNT
16
12
4
II. Văn bản thuộc lĩnh vực quản lý thị trƣờng
23
18
5
1 Nghị định
Chính phủ
11
7
4

2 Thông tư
Bộ Công thương
7
6
1
3 Quyết định
Bộ Công Thương
2
2
0
4 Chỉ thị
Bộ Công Thương
2
2
0
5 Văn bản hợp nhất
Bộ Công Thương
1
1
0
III. Văn bản thuộc lĩnh vực liên quan
6
6
0
1 Luật Thương mại
Quốc hội
1
1
0
2 Luật Giá 10/VBHN-VPQH

Quốc hội
1
1
0
3 Luật Hóa chất
Quốc hội
1
1
0
4 Luật Chất lượng SP HH và Nghị
Quốc hội
1
1
0
định 07/VBHN-BKHCN
5 Luật TC và quy chuẩn kỹ thuật
Quốc hội
1
1
0
6

Thông tư liên tịch

Bộ NN&PTNT,
BTC, BCT, BNV

Tổng số văn bản

3


3

0

120

90

30

Tính đến năm 2015, Việt Nam đã ban hành 120 văn bản QPPL quản lý thị trường
thuốc BVTV, trong đó có 90 văn bản đang còn hiệu lực thực thi và Luật BV&KDTB 2013
là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất. Bên cạnh việc thực thi các văn bản QPPL của
Trung ương thì UBND tỉnh Thái Bình cũng ban hành một số quyết định, chỉ thị để chỉ đạo
và hướng dẫn thực thi chính sách QLNN đối với thị trường thuốc BVTV ở tỉnh. Như vậy, hệ
thống văn bản QPPL quản lý thị trường thuốc BVTV đã tương đối đầu đủ, đáp ứng nhu cầu
xã hội và trở thành công cụ pháp lý quan trọng trong quản lý thị trường thuốc BVTV trong
thời gian qua. Tuy nhiên, do hệ thống chính sách quá nhiều và thay đổi thường xuyên dẫn
đến tình trạng chồng chéo và không thống nhất. Một số nội dung cần thiết chưa được đề cập
cụ thể: quy định về giá, thu hồi thuốc, độ tuổi người kinh doanh thuốc BVTV, quy định về
thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong quản lý buôn bán thuốc BVTV.
4.2.3. Thực trạng thực thi pháp luật của các tác nhân tham gia thị trƣờng thuốc BVTV
4.2.3.1. Thực trạng thực thi pháp luật của các cơ sở sản xuất, buôn bán thuốc BVTV
- Điều kiện sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật
Luật BV&KDTV ban hành năm 2013 quy định các cơ sở sản xuất, buôn bán thuốc
10


BVTV chỉ được phép hoạt động kể từ ngày được cấp GCN đủ điều kiện sản xuất, buôn bán

thuốc BVTV. Việc cấp GCN đủ điều kiện sản xuất, gia công do Cục BVTV cấp phép, Chi
cục TT&BVTV tỉnh chịu trách nhiệm cấp GCN đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV.
Bảng 4.3. Kết quả điều tra về điều kiện buôn bán thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình năm 2015
Đơn vị tính: (%)
Hƣng Quỳnh
Tiền
TT
Tiêu chí
Chung

Phụ
Hải
1
Có chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn BVTV 76,7
80,0
76,7
77,8
(chứng chỉ hành nghề)
2
Có đăng ký kinh doanh thuốc BVTV
80,0
100,0
66,7
82,8
3
Có giấy CN đủ ĐK buôn bán thuốc BVTV
23,3
20,0
16,7
20,0

4
Có dụng cụ phòng cháy chữa cháy
46,7
43,3
20,0
36,7
5
Có cam kết bảo vệ môi trường
36,7
23,3
43,3
34,4
6
Chủ cơ sở trực tiếp bán
23,3
80,0
40,0
47,8
7
Khoảng cách gần nguồn nước
13,3
50,0
30,0
31,1
8
Sử dụng bảo hộ khi bán
26,7
53,3
26,7
35,6

9
Không bị ngập nước
26,7
20,0
43,3
30,0
10 Có sổ ghi chép thường xuyên
66,7
16,7
30,0
37,8
11 Có bảng niêm yết giá bán
40,0
53,3
46,7
46,7
12 Cửa hàng có sự đồng ý của địa phương
85,6
89,6
84,8
86,8
13 Cửa hàng buôn bán thuốc BVTV riêng
33,3
23,3
33,3
30,0

Kết quả nghiên cứu cho thấy số cơ sở buôn bán thuốc BVTV có giấy chứng nhận bồi
dưỡng chuyên môn thuốc BVTV chiếm tỷ lệ cao (gần 80%), song số cửa hàng có GCN đủ
điều kiện buôn bán thuốc BVTV lại chiếm tỷ lệ rất thấp (chiếm 20%). Nguyên nhân chủ yếu

là do các cửa hàng còn hiện tượng bán thuốc quá hạn sử dụng, bán chung với hàng hóa
khác, cửa hàng thiếu kho chứa và vị trí cửa hàng chưa đúng quy định… (bảng 4.3).
Bảng 4.4. Tỷ lệ các cơ sở vi phạm về điều kiện buôn bán thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình
năm 2015 (Đơn vị tính % cơ sở)
Hƣng Quỳnh Tiền
TT
Các lỗi vi phạm
Chung

Phụ
Hải
1 Vi phạm chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn
23,3
20,0
23,3
22,2
BVTV (Chứng chỉ hành nghề)
2 Không có đăng ký kinh doanh
20,0
0,00
33,3
17,2
3 Vi phạm danh mục thuốc và thuốc hết hạn
4,50
7,8
4,7
5,6
4 Địa điểm không đúng quy định
14,4
10,4

15,2
13,3
5 Không có bản cam kết bảo vệ môi trường
63,3
76,7
56,7
65,6
6 Không có sổ ghi chép theo dõi hàng hóa
33,3
83,3
70,0
62,2
7 Không có dụng cụ VSMT, thiết bị PCCC
53,3
56,7
80,0
63,3
8 Không có bảo hộ lao động khi bán
73,3
46,7
73,3
64,4
9 Không có niêm yết giá bán
60,0
46,7
53,3
53,3
10 Chủ cơ sở không trực tiếp bán hàng
76,7
20,0

60,0
52,3
11 Bán thuốc BVTV chung cùng với hàng hóa khác
66,7
76,7
66,7
70,0

Mặc dù vậy, các điều kiện kinh doanh khác tại một số cơ sở kinh doanh vẫn còn vi
phạm đáng kể. Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ cửa hàng kinh doanh có đủ phương tiện
PCCC, cửa hàng đặt đúng vị trí quy định, có bảng niêm yết giá ở Thái Bình chiếm tỷ lệ thấp
(bảng 4.4). Những sai phạm trong kinh doanh thuốc BVTV đã được các cơ quan chức năng
phát hiện thông qua các đợt thanh tra đột xuất và định kỳ, cụ thể là năm 2015 Chi cục Quản
lý thị trường tình Thái Bình đã phát và xử lý 96 lượt cơ sở sai phạm trong tổng số 215 lượt
cơ sở được thanh tra với tổng số tiền phạt là 163,3 triệu đồng. Nhìn chung, hoạt động thanh
tra điều kiện kinh doanh thuốc BVTV ở tỉnh còn mang tính hình thức, việc xử phạt vi phạm
của các cơ sở buôn bán thuốc BVTV chưa đủ sức răn đe (bình quân mức phạt hành chính
bình quân 1,7 triệu đồng/lần).
11


- Số lượng, chất lượng và chủng loại thuốc bảo vệ thực vật
Theo tổ chức Y tế thế giới có thể nhân biết độc tính của thuốc BVTV được theo dấu
hiệu màu trên bao bì thuốc như sau: Vạch màu đỏ trên bao bì thuốc là thuốc độc nhóm I,
thuộc loại rất độc và độc; Vạch màu vàng trên bao bì thuốc là thuốc độc nhóm II, thuộc loại
độc trung bình; Vạch màu xah da trời trên bao bì là thuốc độc nhóm III, thuộc loại ít độc;
Vạch màu xanh lá cây trên bao bì là thuốc độc nhóm IV, thuốc loại độc rất nhẹ (Crop
Sicence Việt Nam, 2014). Xu hướng chung của các chính phủ trong quá trình quản lý thị
trường thuốc BVTV là cấm kinh doanh thuốc thuộc nhóm I và II, hạn chế các thuốc BVTV
thuộc nhóm III và khuyến khích sử dụng nhóm IV nhất là các thuốc có nguồn gốc sinh học.

Bảng 4.5. Cơ cấu nhóm thuốc bảo vệ thực vật ở tỉnh Thái Bình
So sánh (%)
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
Diễn giải
SL
%
SL
%
SL
%
14/13
15/14
Loại
Trong DM
71 95,9
74 97,4
79 97,5 104,2
106,8
thuốc
Ngoài DM
3
4,1
2
2,6
2
2,5
66,7
100,0

Nhóm Hóa học
69 93,2
70 92,1
75 92,5 101,4
107,1
thuốc
Sinh học
5
6,8
6
7,9
6
7,5 120,0
100,0
Độ
Nhóm I
1 1,35
1 1,32
0
0,0 100,0
0,0
độc
Nhóm II
25 33,8
25 34,9
30 37,4 100,0
120,0
theo
Nhóm III
34 47,2

35 46,0
38 47,4 102,9
108,6
WHO Nhóm IV
14 18,9
5 6,67
13 16,1
35,7
260,0

BQ
105,5
81,6
104,3
109,5
0,0
109,5
105,7
96,4

Kết quả điều tra cho thấy, thuốc BVTV được sử dụng ở Thái Bình chủ yếu nằm trong
danh mục với 81 tên thương mại trong phòng trừ sâu bệnh trên lúa và cây rau màu, thuốc
ngoài danh mục có xu hướng giảm từ 4,1% (năm 2013) xuống còn 2,5% (năm 2015). Thuốc
BVTV được sử dụng ở Thái Bình chủ yếu là thuốc hóa học (93%), trong đó thuốc độc nhóm
II chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 1/3 lượng sử dụng), nguyên nhân chủ yếu là do tâm lý nóng vội
của người nông dân đều muốn hết sạch sâu bệnh ngay sau khi phun. Mặc dù vậy, sai phạm
về bán thuốc sai nhãn mác vẫn chiếm tỷ lệ cao (gần 30% số cơ sở bị thanh tra năm 2015),
sai phạm về bán thuốc BVTV hết hạn sử dụng tuy không nhiều nhưng vẫn tồn tại. Chủng
loại thuốc BVTV trên thị trường Thái Bình khá đa dạng, thuốc có nhiều tên thương mại gần
giống nhau nhưng khác nhau về chất lượng, nồng độ hoạt chất, trọng lượng đóng gói, giá

bán…. dễ gây nhầm lẫn và thiệt hại cho người sử dụng. Để tránh tình trạng này, cần có sự
tham gia của cácc cơ quan QLNN từ tỉnh đến huyện và xã, đồng thời có sự tham gia của các
cơ quan chuyên môn BVTV trong khảo nghiệm xác định chất lượng thuốc BVTV trước khi
khuyến các cho người sử dụng.
- Giá thuốc bảo vệ thực vật
Theo luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật ban hành năm 2013 các cơ sở buôn bán
thuốc BVTV phải có bảng niêm yết giá bán các loại thuốc để người dân có thể theo dõi và
giá bán tất cả các loại thuốc BVTV phải được công khai.
Bảng 4.6. Kết quả điều tra thực trạng niêm yết giá và bán đúng giá niêm yết của các cơ sở
buôn bán thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình năm 2015 (ĐVT: % cơ sở)
Hƣng Hà
Quỳnh Phụ Tiền Hải
Chung
Nội dung
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
1. Niêm yết giá
- Có bảng niêm yết giá
12
40,0
16
53,3 14 46,7 42 46,7
- Không có bảng niêm yết giá
18

60,0
14
46,7 16 53,3 48 53,3
2. Bán đúng giá niêm yết
- Có bán đúng giá niêm yết
76
63,3
65
54,2 59 49,2 200 61,1
- Không bán đúng giá niêm yết
44
36,7
55
45.8 61 51,8 160 38,9

12


Kết quả điều tra (bảng 4.6) cho thấy chỉ có 46,7% số cửa hàng có niêm yết giá nhưng
việc thực hiện niêm yết giá chủ yếu mang tính chất đối phó với các hoạt động thanh tra
kiểm tra của các cơ quan nhà nước. Theo kết quả điều tra nông dân tại điểm nghiên cứu cho
thấy có 55,6% số các cửa hàng bán đúng giá niêm yết, chỉ có 44,4% số cửa hàng bán giá
không đúng theo niêm yết vì nhiều lý do linh hoạt trong kinh doanh như thanh toán tiền
ngay hay nợ... Tóm lại, quản lý nhà nước đối với giá thuốc BVTV mới chỉ dừng lại ở việc
thanh tra, giám sát các cửa hàng buôn bán thuốc BVTV về bảng niêm yết giá, còn bán đúng
giá niêm yết hay không thì các cơ quan quản lý nhà nước chưa kiểm soát được.
4.2.3.2. Thực trạng thực thi pháp luật của người sử dụng thuốc BVTV
Trong quy mô sản xuất cá thể, người nông dân hoàn toàn tự lựa chọn mua và sử dụng
thuốc BVTV theo chủ quan. Việc sử dụng thuốc BVTV còn tùy tiện, nhiều hộ chỉ quan tâm
đến hiệu quả kinh tế của mình mà chưa quan tâm đến sức khỏe cộng đồng và môi trường.

Bảng 4.7. Kết quả điều tra về thực trạng sử dụng thuốc BVTV của ngƣời nông dân
tỉnh Thái Bình 2015
ĐVT: % số người nông dân
Huyện
Chung
Diễn giải
Hƣng Hà Quỳnh Phụ
Tiền Hải
SL
%
SL
%
SL
%
%
1.Đọc hƣớng dẫn ghi trên nh n mác
- Có đọc nhãn mác
3
2,5
1
0,8
17 14,2
5,83
- Không đọc nhãn mác
117 97,5 119 99,2 103 85,8 94,17
2.Phối trộn thuốc bảo vệ thực vật
- Có phối trộn thuốc BVTV
92 76,7
87
72,5 116 96,7 81,94

- Không phối trộn thuốc BVTV
28 23,3
33
27,5
4
3,3
18,06
3.Liều lƣợng sử dụng
- Theo hướng dẫn của người bán
85 70,8
89
74,2
94 78,3 74,44
- Tăng liều lượng so với HD của người bán
35 29,2
31
25,8
26 21,7 25,56

Nghiên cứu tại 3 huyện cho thấy, tình trạng người nông dân khi sử dụng thuốc
BVTV không quan tâm đến việc đọc hướng dẫn ghi trên nhãn mác thuốc BVTV chiếm tỷ lệ
rất cao (94,17%) cho thấy người sử dụng không quan tâm tới hướng dẫn sử dụng của thuốc
BVTV được nhà sản xuất ghi trên nhãn mác, bao bì sản phẩm khi mua thuốc về sử dụng mà
phần lớn nông dân nghe dẫn theo hướng dẫn của người bán thuốc (chiếm 74,44%). Với mục
đích tiết kiện thời gian phun, tăng hiệu lực phòng trừ và phòng trừ được nhiều loại sâu bệnh,
người nông dân có thói quen kết hợp nhiều loại thuốc trong một lần phun chiếm 81,94%.
Thông thường, trong quá trình bán thuốc người bán hàng thường khuyến cáo cho người sử
dụng tăng nồng độ và liều lượng cao hơn so với khuyến cáo trên nhãn mác, nhưng đặc biệt
có tới 25,56% người sử dụng thường xuyên mua và sử dụng tăng liều lượng hơn so với
hướng dẫn của người bán với tâm lý muốn diệt sâu bệnh hại ngay trong lần phun đầu tiên.

Bảng 4.8. Các hình thức vi phạm chính trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
STT
Hình thức vi phạm
Tỷ lệ (%)
1
Sử dụng hỗn hợp nhiều loại, tăng nồng độ và liều lượng
80
2
Không bảo đảm thời gian cách ly
70
3
Vi phạm khác (bảo hộ lao động, vứt, đổ thuốc bừa bãi…)
50
4

Sử dụng thuốc BVTV ngoài danh mục được phép

0,04

Kết quả điều tra người sử dụng thuốc BVTV cho thấy 80% số người sử dụng vi phạm
nguyên tắc “4 đúng”, 70% số người sử dụng không bảo đảm thời gian cách ly, 50% vi phạm
các quy định về bảo hộ lao động, xử lý thuốc thừa và vứt bao bì không đúng nơi quy định.
13


Tình trạng này vẫn chưa được xử lý nghiêm minh do đó nó cứ xảy ra theo chiều hướng gia
tăng không chỉ ở 3 huyện nghiên cứu mà còn ở khắp các địa phương khác trong tỉnh.
4.2.4. Thực trạng hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm của các cơ
quan quản lý nhà nƣớc đối với thị trƣờng thuốc bảo vệ thực vật
Tùy theo tính chất, mức độ của từng chuyên đề mà các cơ quan QLNN thành lập đoàn

thanh tra đơn ngành hay đoàn thanh tra liên ngành nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những
trường hợp vi phạm về sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV. UBND huyện cũng chỉ
đạo phòng Công Thương tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành do cán bộ phòng Công
Thương làm trưởng đoàn, cán bộ phòng Nông nghiệp làm phó đoàn cùng các thành viên Đội
QLTT, cán bộ Trạm TT&BVTV, kết hợp với đại diện UBND xã tiến hành kiểm tra, giám
sát các cơ sở buôn bán thuốc BVTV trên địa bàn huyện, kiểm tra việc sử dụng thuốc của
người nông dân và đặc biệt là các cửa hàng được nhân dân phản ánh có sai phạm. Theo kế
hoạch thanh tra đơn ngành, Thanh tra Chi cục TT&BVTV tiến hành kiểm tra 1 đến 2 đợt/vụ
và tổng kiểm tra từ 250 - 300 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV trong khoảng thời gian 1
tháng. Lực lượng QLTT các huyện lên kế hoạch thanh tra chuyên đề VTNN trong đó có các
cửa hàng buôn bán thuốc BVTV, mỗi vụ khoảng 30 - 50 cửa hàng buôn bán thuốc BVTV.
Tùy theo tính cấp thiết và kinh phí dành cho mỗi vụ, mà một trong các cơ quan QLNN lên
kế hoạch thanh tra liên ngành theo chuyên đề và mời các đơn vị khác cùng tham gia.
- Kết quả công tác thanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với các cơ sơ sản
xuất, kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật
Hàng năm, các cơ quan QLNN lên kế hoạch tiến hành tổ chức thanh tra kiểm tra các
cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV trên địa bàn toàn tỉnh từ 1 đến 2 lần/năm về điều
kiện sản xuất kinh doanh thuốc BVTV nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những hành vi vi
phạm pháp luật. Kết quả thanh tra kiểm tra công ty Cổ phần Nicotex Đông Thái cho thấy,
công ty đã chấp hành nghiêm các quy định về điều kiện sản xuất, sang chai đóng gói thuốc
BVTV theo quy định tại Điều 61 của Luật BV&KDTV năm 2013. Kết quả thanh tra kiểm
tra các công ty kinh doanh thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Bình về điều kiện nhà xưởng,
kho tàng thì chỉ có 2 trong số 4 công ty kinh doanh thuốc BVTV có kho chứa thuốc BVTV
đó là Công ty Cổ phần BVTV Thái Bình và Chi nhánh Công ty Cổ phần BVTV An Giang,
các kho đã thực hiện theo quy định phải xa khu dân cư và có phương tiện PCCC. Như vậy,
hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật đã được các cơ quan quản
lý nhà nước ở tỉnh Thái Bình thực hiện tốt đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh thuốc
BVTV có trụ sở đặt trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Kết quả hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với các cơ sở
buôn bán thuốc bảo vệ thực vật

Kết quả thanh kiểm tra các cơ sở buôn bán thuốc BVTV, mỗi năm đoàn thanh tra của các
cơ quan QLNN thường tiến hành kiểm tra các cơ sở buôn bán thuốc BVTV 3 đến 4 lần, thường
vào các đợt dịch bệnh bùng phát do khi đó số lượng thuốc BVTV người nông dân sử dụng tăng
cao. Ngoài ra, các lượt thanh tra đột xuất cũng được tiến hành khi có khiếu nại tố cáo hoặc phát
hiện những cơ sở vi phạm, nhưng tỷ lệ số lượng các cửa hàng được thanh kiểm tra còn thấp.
Do số lượng thanh tra viên và kinh phí cho việc thanh kiểm tra có hạn, nên mỗi chuyên đề
kiểm tra thị trường thuốc BVTV thường chỉ tập trung thanh kiểm tra các đại lý cấp I, đại lý cấp
II và một số cửa hàng buôn bán thuốc BVTV có quy mô lớn, thuận tiện giao thông đi lại. Vì
thế, xảy ra hiện tượng các đại lý cấp I, cấp II năm nào cũng có nhiều đoàn thanh tra đơn ngành,
thanh tra liên ngành cấp tỉnh, liên ngành cấp huyện đến thanh tra, còn một số cửa hàng buôn
bán nhỏ thì phải cách vài ba năm mới có đoàn đến thanh tra và đặc biệt có những đại lý nhỏ
chưa từng có đoàn thanh tra nào đến kiểm tra.
14


TT
1
2
3
4
5

6
7
8

Bảng 4.9. Kết quả thanh kiểm tra điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật
của cơ quan chuyên môn bảo vệ thực vật năm 2015
Nội dung
Số lƣợng

Tỷ lệ
(cơ sở)
(%)
Số cửa hàng kinh doanh thuốc BVTV
1.538
100,0
Số cửa hàng có giấy phép kinh doanh thuốc BVTV
986
64,1
Số cửa hàng có giấy chứng nhận đủ ĐK buôn bán thuốc BVTV
190
12,3
Tổng cửa hàng kiểm tra
102
100,0
Số cửa hàng vi phạm
58
56,8
- Chưa có giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV
50
86,2
- Chưa có đủ điều kiện về PCCC và vệ sinh môi trường
23
39,6
- Bán thuốc hết hạn sử dụng
03
5,17
- Kinh doanh chung với hàng hóa khác
17
29,3

Số cửa hàng phạt bằng hình thức cảnh cáo
51
87,9
Số cửa hàng phạt bằng tiền
7
12,1
Số tiền phạt (triệu đồng)
23
-

Trong thời gian qua bộ phận thanh tra của Chi cục TT&BVTV đã kiểm tra nhiều điểm
kinh doanh thuốc BVTV, đã phát hiện 56,8% số cơ sở buôn bán thuốc BVTV vi phạm các
điều kiện hành nghề, trong đó có 86,2% số cửa hàng không đủ điều kiện buôn bán thuốc
BVTV (không có chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV, chưa có đủ phương tiện
PCCC, VSMT…) và đã xử phạt bằng nhiều hình thức như: nhắc nhở, cảnh cáo, phạt tiền....
Trong quá trình tổ chức kiểm tra và tham gia cùng đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra
việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh thuốc BVTV qua 3 năm (2013-2015)
trên địa bàn tỉnh các cơ sở buôn bán thuốc BVTV thường mắc một số lỗi sau: Vi phạm về
không có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, giấy chứng nhận hợp quy, chất lượng
hàng hóa, nhãn hàng hóa, niêm yết giá và chứng nhận bồi dưỡng chuyên môn về thuốc
BVTV, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác cho người tiêu dùng, giả
mạo dấu hợp quy để gắn lên thuốc BVTV do doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh ….
Bảng 4.10. Kết quả hoạt động thanh tra kiểm tra về điều kiện buôn bán thuốc bảo vệ thực vật
của cơ quan Quản lý thị trƣờng giai đoạn (2013 - 2015)
SS số lần k.tra (%)
Năm 2013
Năm 2014
Năm 2015
Số
lần

kiểm
tra
1 Thành phố TB 21
2 Đông Hưng
11
3 Quỳnh Phụ
59
4 Thái Thụy
14
5 Tiền Hải
13
6 Kiến Xương
12
7 Vũ Thư
14
8 Hưng Hà
23
Tổng
167
T
T

Đội QLTT

Số
lần
xử

21
7

28
16
12
8
4
5
101

Tiền
Số Số
phạt
lần lần
(triệu kiểm xử
đồng) tra

12,4
11
11
5,7
15
13
15,4
25
21
5,0
36
9
6,0
32
11

5,7
22
10
2,2
6
3
18,8
5
2
71,3
152 80

Tiền
Số Số Tiền
phạt lần lần phạt
(triệu kiểm xử (triệu
đồng) tra
lý đồng)
7,0
23
17 20,7
12,2
37
20 99,3
23,5
40
16 12,0
6,2
28
12 11,0

8,4
25
10 6,5
3,3
31
8
3,1
3,0
12
9
4,2
3,0
19
4
6,5
66,6 215 96 163,3

14/13 15/14 BQ

52,4
136,4
42,4
257,1
246,2
183,3
42,9
21,7
91,0

209,1

246,7
160,0
77,8
78,1
140,9
200,0
380,0
141,4

104,7
183,4
82,4
141,4
138,7
160,7
92,6
90,9
113,5

- Kết quả hoạt động thanh tra kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với người sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật
Khi tiến hành kiểm tra việc sử dụng thuốc của người nông dân, cán bộ quản lý kiểm
tra các nội dung sau: Kiểm tra cách sử dụng thuốc của nông dân theo nguyên tắc “4 đúng”
gồm đúng thuốc, đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng, nồng độ và bảo đảm thời gian cách
ly; Sử dụng các trang thiết bị bảo hộ trong khi phun thuốc như quần áo, khẩu trang, kính…;
15


Xử lý thuốc thừa, vệ sinh bình phun thuốc, vệ sinh thân thể, vệ sinh thiết bị bảo hộ sau khi
phun thuốc; Xử lý vỏ bao bì thuốc BVTV sau khi phun…

Bảng 4.11. Kết quả hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành BVTV về việc sử dụng
thuốc BVTV của ngƣời nông dân ở tỉnh Thái Bình giai đoạn 2013 - 2015
TT

Tiêu chí

ĐVT

2013

2014

2015

1

Số hộ đƣợc kiểm tra

Hộ

200

372

107

2

Số hộ vi phạm


Hộ

32

119

15

3

Tỷ lệ số hộ kiểm tra vi phạm

%

16,0

32,0

14,0

4
-

Hình thức vi phạm
Sử dụng thuốc cấm

Hộ

0


0

0

-

Sử dụng thuốc BVTV ngoài Danh mục

Hộ

10

21

1

-

Sử dụng thuốc không đúng nồng độ, liều lượng

Hộ

17

38

5

-


Sử dụng thuốc không bảo đảm thời gian cách ly

Hộ

5

40

0

-

Sử dụng thuốc không đúng kỹ thuật

Hộ

0

32

4

-

Sử dụng thuốc quá hạn sử dụng

Hộ

0


2

5

5
-

Hình thức xử lý
Nhắc nhở

Hộ

32

119

15

Kết quả điều tra cho thấy việc sử dụng thuốc BVTV còn tùy tiện nhiều nông dân chỉ
quan tâm đến hiệu quả diệt trừ sâu bệnh mà chưa quan tâm đến bảo vệ sức khỏe của người
tiêu dùng và môi trường. Tình trạng vi phạm về sử dụng thuốc BVTV vẫn diễn ra thường
xuyên và ở mức độ cao (năm 2014 có 32% số hộ vi phạm nguyên tắc “4 đúng” và không
bảo đảm thời gian cách ly), hình thức xử phạt của các cơ quan QLNN hiện nay vẫn là nhắc
nhở, mà chưa có những biện pháp xử lý răn đe mạnh hơn.
4.2.5. Thực trạng công tác tập huấn, thông tin tuyên truyền pháp luật quản lý nhà
nƣớc đối với thị trƣờng thuốc bảo vệ thực vật
Công tác thông tin tuyên truyền về thuốc BVTV đến chủ các cơ sở buôn bán, người
nông dân sử dụng thuốc BVTV chủ yếu thông qua Chi cục TT&BVTV, Trạm TT&BVTV,
HTX DVNN và các phương tiện tuyên truyền chủ yếu là đại phát thanh huyện và đài phát
thanh xã. Kết quả điều tra cho thấy chỉ có 31,11% số cửa hàng đại lý nhận được văn bản

QPPL về kinh doanh thuốc BVTV do cơ quan QLNN cấp, 67,78% số cửa hàng đại lý không
nhận được văn bản nào, điều đó chứng tỏ rằng, các cơ quan QLNN về thị trường thuốc
BVTV của tỉnh chưa thực sự quan tâm đến việc tuyên truyền văn bản pháp luật, chính sách
đến hệ thống cơ sở kinh doanh và buôn bán thuốc BVTV trên địa bàn.
Bảng 4.12. Kết quả tập huấn, tuyên truyền cho ngƣời dân tỉnh Thái Bình năm 2015
Không quan
Không biết
Không
Không quan tâm
tâm
nguyên
quy
định
về
quan
tâm
về
độ độc và chất
Ngƣời
Huyện
tắc 4 đúng
bồi thƣờng
giá thuốc
lƣợng thuốc
điều tra
SL
(%)
SL
(%) SL
(%)

SL
(%)
Tiền Hải
120
58
45,33
96
71,14 31 27,52
79
59,33
Quỳnh Phụ
120
50
36,67 122 94,67 26 20,67
103
80,00
Hưng Hà
120
40
33,33
79
65,83 29 24,16
68
56,67
Tổng số
360
148
41,00 297 82,67 86 24,00
250
69,67


Việc tập huấn nâng cao kiến thức cho nông dân đã được các cơ quan chức năng cấp
tỉnh quan tâm (thực hiện 40 lần/năm), song hiệu quả đạt được không cao, trong số 360
người được điều tra thì số người không tuân thủ nguyên tắc 4 đúng chiếm 41%; số người
16


không biết quy định phải bồi thường thiệt hại do sử dụng thuốc BVTV không đúng quy định
gây ra chiếm 82,67%; số người không quan tâm giá bán thuốc BVTV chiếm 24% và có tới
69,67% số nông dân được hỏi không biết đến độ độc của thuốc BVTV (bảng 4.12).
4.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỊ TRƯỜNG
THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Ở TỈNH THÁI BÌNH
4.3.1. Năng lực của cán bộ quản lý
Lực lượng thanh tra BVTV, cán bộ quản lý thị trường là yếu tố quyết định lớn nhất
đến chất lượng quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV. Hiện nay lực lượng cán bộ
quản lý, cán bộ thanh tra vừa thiếu về số lượng và chưa phù hợp về chuyên môn gây khó
khăn cho công tác quản lý thị trường thuốc BVTV. Chi cục TT&BVTV có 33 cán bộ, phòng
thanh tra Chi cục TT&BVTV chỉ có 5 người, thanh tra sở NN&PTNT có 7 người, các Trạm
BVTV đa phần không có cán bộ chuyên trách BVTV, cán bộ làm công tác BVTV ở các xã
chủ yếu do HTX chọn cử, đa số chưa qua đào tạo, rất ít có điều kiện tiếp xúc với tiến bộ
khoa học và đa phần làm kiêm nhiệm công tác BVTV.
Bảng 4.13. Trình độ các bộ thanh tra chuyên ngành bảo vệ thực vật năm 2015
Trình độ chuyên môn
Tổng
Cơ quan
số cán
Kỹ sƣ
Cử nhân Cao đẳng Trồng Khác
bộ
BVTV

Kinh tế
CNTT
trọt
Thanh tra Chi cục TT&BVTV
5
1
2
2
0
0
Thanh tra Sở NN&PTNT
7
1
2
1
1
2
Tổng số
12
2
4
3
1
2

Số lượng cán bộ thanh tra chuyên ngành BVTV ở tỉnh Thái Bình có 12 người, trong
khi phải quản lý địa bàn 286 xã, phường, điều đó cho thấy mỗi cán bộ thanh tra phải quản lý
xấp xỉ 24 xã. Với lực lượng cán bộ mỏng như vậy rất khó có thể kiểm soát hết tình hình sản
xuất kinh doanh, buôn bán và sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh. Trong số đó, chỉ có
2/12 chiếm (16,67%) cán bộ thanh tra được đào tạo đúng chuyên ngành BVTV phải đảm

nhiệm quản lý 1 công ty gia công, 3 công ty kinh doanh thuốc BVTV, 1.538 cơ sở buôn bán
thuốc BVTV và 466.090 hộ nông dân sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Bình, vì
vậy sự vào cuộc của chính quyền cấp xã là rất cần thiết.
4.3.2. Nguồn lực dành cho công tác quản lý thị trƣờng thuốc bảo vệ thực vật
4.3.2.1. Kinh phí tập huấn, thông tin tuyên truyền văn bản pháp luật và thanh tra kiểm
tra, giám sát thị trường thuốc bảo vệ thực vật
Ngân sách kinh phí khuyến nông của tỉnh cấp hàng năm không đủ để tổ chức các buổi
tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn về thuốc BVTV, chỉ đạo sản xuất, chuyển giao kỹ thuật
hay thanh kiểm tra giám sát thị trường thuốc BVTV theo yêu cầu thực tế. Các lớp tập huấn,
chuyển giao khoa học kỹ thuật chủ yếu là lồng ghép với các buổi giới thiệu sản phẩm thuốc
BVTV của các công ty thuốc BVTV nhưng không số lượng nhiều… Cùng với đó, thị trường
thuốc BVTV ngày càng phát triển, số lượng và chủng loại thuốc BVTV kinh doanh trên thị
trường ngày càng cao, do kinh phí hoạt động thanh tra thấp nên hoạt động thanh tra không
hiệu quả, còn mang nặng tính hình thức, bỏ qua các sai phạm hoặc xử lý nhẹ các vi phạm.
4.3.2.2. Chế độ trợ cấp, đãi ngộ dành cho cán bộ quản lý thị trường thuốc BVTV
Chế độ phụ cấp và trợ cấp cho cán bộ thanh tra còn hạn hẹp không khuyến khích được
cán bộ thanh tra phát huy hết khả năng của mình dễ dẫn tới tình trạng thiếu trung thực. Kinh
phí dành cho hoạt động thanh kiểm tra của thanh tra Chi cục TT&BVTV trích từ ngân sách
nhà nước giao cho Sở NN&PTNT, mỗi cán bộ được phụ cấp xăng xe đi lại khoảng
200.000đ/tháng (tương đương 80.000đ/lần). Mức thù lao này là quá thấp so với yêu cầu của
cán bộ thanh tra. Bên cạnh đó, cán bộ Trạm TT&BVTV huyện và cán bộ xã không được hỗ
trợ kinh phí cho hoạt động quản lý kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn, điều
này gây ảnh hưởng không nhỏ đến động lực công tác của đội ngũ này.
17


Hộp 4.1. Kinh phí cho công tác thanh tra thuốc bảo vệ thực vật tỉnh Thái Bình
Hàng năm, Chi cục TT&BVTV Thái Bình tổ chức thanh tra khoảng 3 - 4 lần, kinh phí, phụ
cấp cho cán bộ thanh tra rất thấp 200.000đ/tháng (Số phụ cấp này không đủ tiền xăng xe đi lại).
Vào các đợt bùng phát sâu bệnh hại, Chi cục TT&BVTV thường xuyên tổ chức các đợt điều tra,

thanh tra về tình hình sâu bệnh, mở các lớp tập huấn thuốc BVTV. Song nguồn nhân lực còn rất
yếu, nguồn lực tài chính hạn hẹp, đôi khi phải cử cả những cán bộ không thuộc chuyện môn
BVTV đi làm nhiệm vụ… (Ông C Thanh tra - Chi cục TT&BVTV Thái Bình, ngày 20.4.2015 ).

4.3.2.3. Cơ sở vật chất, máy móc trang thiết bị hỗ trợ công tác quản lý thị trường thuốc
bảo vệ thực vật
Các phương tiện máy móc, trang thiết bị để hỗ trợ cho công tác thanh kiểm tra thị
trường thuốc BVTV còn khá thô sơ, cụ thể như: (i) chưa có phần mềm tra cứu thuốc để biết
hoạt chất, nồng độ và đối tượng phòng trừ; (ii) chưa có phòng phân tích hóa chất để kiểm tra
các loại thuốc giả, thuốc kém chất lượng; (iii) chưa có nhà máy chuyên xử lý thuốc BVTV
bị thu hồi cũng như chất thải thuốc BVTV; (iv) chưa có máy chiếu, máy tính xách tay để hỗ
trợ tập huấn; (v) kinh phí khuyến nông không đủ để tổ chức các buổi tập huấn chuyển giao
kỹ thuật theo yêu cầu thực tế. Để kiểm tra chất lượng của một mẫu thuốc, cán bộ thanh tra
phải lấy mẫu thuốc ghi lại các thông số như chất lượng, ngày sản xuất, lô sản xuất, tên địa
chỉ công ty sản xuất sau đó gửi mẫu thuốc đến trung tâm kiểm định chất lượng để tiến hành
kiểm tra, quá trình này mất từ 15 đến 20 ngày trong khi đó mẫu thuốc chờ kiểm định vẫn
được lưu hành trên thị trường.
4.3.3. Nhận thức và ứng xử của chủ các các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc
bảo vệ thực vật
Trình độ học vấn của chủ cửa hàng buôn bán thuốc BVTV là rất quan trọng, nó ảnh
hưởng rất nhiều tới việc buôn bán thuốc BVTV; từ việc chọn lựa thuốc, mục đích kinh
doanh và tư vấn hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV cho người nông dân.
Bảng 4.14. Trình độ của chủ cơ sở buôn bán thuốc bảo vệ thực vật (%)
Cửa hàng bán lẻ
Đại lý
Trình độ chuyên môn
bán
Hƣng
Quỳnh
Tiền

buôn

Phụ
Hải
1. Kỹ sư Nông học
0,00
6,67
3,33
0,00
2. Cao đẳng Trồng trọt, BVTV
20,00
6,67
0,00
30,00
3. Trung cấp Trồng trọt, BVTV
30,00
3,33
0,00
0,00
4. Lớp tập huấn do Chi cục mở
50,00
53,33
56,67
36,67
5. Chưa qua chương trình nào
00,00
23,33
36,67
33,33
6. Trình độ khác

0,00
6,67
3,33
0,00

Chung
3,33
12,22
1,11
48,89
31,11
3,33

Kết quả điều tra cho thấy trình độ chuyên môn của chủ cửa hàng đại lý bán thuốc
BVTV chủ yếu là qua các lớp tập huấn do Chi cục TT&BVTV chiếm 48,89%, tỷ lệ chưa
qua chương trình đào tạo chiếm 31,11%. Điều này cho thấy trình độ của chủ cửa hàng đại lý
kinh thuốc BVTV còn rất hạn chế, nhất là kỹ thuật canh tác, hệ sinh thái đồng ruộng... do đó
hướng dẫn cho người sử dụng thuốc rất hạn chế dẫn đến hiện tượng lạm dụng thuốc BVTV
kết hợp nhiều loại thuốc và tăng nồng độ liệu lượng trong một lần phun (bảng 4.14).
4.3.4. Nhận thức và ứng xử của ngƣời sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Kết quả nghiên cứu cho thấy người nông dân chủ yếu tự đi mua thuốc BVTV trong khi
89,7% người dân không hiểu biết các chính sách pháp luật của nhà nước về sử dụng thuốc
BVTV. Do trình độ hiểu biết của người nông dân còn hạn chế nên chủ yếu là người nông
dân mua và sử dụng thuốc BVTV theo hướng dẫn của người bán thuốc (74,77%) và dựa vào
thuốc có nguồn gốc hóa học là chính, không quan tâm đến việc đọc nhãn mác (76,3%) và
bảo đảm thời gian cách ly. Vi phạm thường gặp nhất khi kiểm tra nông dân sử dụng thuốc
BVTV là cách phối trộn và tăng nồng độ các loại thuốc để phun không đúng theo hướng dẫn
18



nhãn mác (74,4%), đặc biệt là có tới 25,6% số người sử dụng thường xuyên tăng liều lượng
hơn so với hướng dẫn của người bán. Với tâm lý muốn diệt sâu bệnh hại ngay trong lần
phun đầu người sử dụng thường xuyên dùng tăng liều lượng hơn so với khuyến cáo của nhà
sản xuất hoặc người bán hàng, điều này dẫn tới tình trạng lãng phí, ảnh hưởng tới sức khỏe
người phun và ô nhiễm môi trường.
4.3.5. Công tác phối hợp thanh tra kiểm tra giữa các cơ quan quản lý nhà nƣớc
Do số lượng thanh tra viên và kinh phí cho việc thanh tra có hạn, nên mỗi đợt kiểm tra
thị trường thuốc BVTV thường chỉ tập trung thanh tra các đại lý cấp I, cấp II và một số cửa
hàng bán lẻ thuốc BVTV có quy mô lớn, thuận tiện giao thông đi lại. Vì thế, xảy ra hiện
tượng các đại lý cấp I, cấp II có quy mô bán hàng lớn thì vụ nào cũng có các đoàn thanh tra
đơn ngành, liên ngành cấp tỉnh và cấp huyện đến thanh tra, còn một số cửa hàng bán lẻ có
khi hai đến ba năm mới có đoàn đến thanh tra, thậm chỉ một số cửa hàng bán lẻ thuốc
BVTV chưa bao giờ bị thanh tra.
Bảng 4.15. Các đơn vị phối hợp giữa các đơn vị trong quá trình thanh tra
các cơ sở buôn bán thuốc bảo vệ thực vật Thái Bình
ĐVT: lần
Đơn vị thực hiện
1. Thanh tra Chi cục TT&BVTV
2. Trạm TT&BVTV huyện

Đơn vị phối hợp
Trạm TT&BVTV
Chính quyền địa phương
Cán bộ xã
Quản lý thị trường
Công an quản lý khu vực

2013
58
5

26
4
1

2014
58
4
23
4
1

2015
56
4
24
3
1

Tần suất thanh kiểm tra khác nhau giữa các cơ quan QLNN, kết quả điều tra có 46,5%
cửa hàng bán lẻ thuốc BVTV được Chi cục TT&BVTV thanh tra 1 lần /năm và chỉ có 5,6%
trong số cửa hàng có thanh tra 4 lần/năm. Tần suất thanh tra của một số cơ quan QLNN như
PCCC, cảnh sát môi trường quá ít, chỉ có 25,6% số cơ sở bán lẻ có cán bộ PCCC đến thanh
tra, con số tương ứng của cảnh sát môi trường là 27,4%, đây chính là nguyên nhân dẫn đến
gần 70% các cơ sở bán lẻ vi phạm điều kiện về PCCC và vệ sinh môi trường.
Sự phối hợp giữa các cơ quan QLNN về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình chưa
chặt chẽ, nguyên nhân chủ yếu do trong quy định về quản lý kinh doanh thuốc BVTV, sự
phối hợp giữa các đơn vị không rõ ràng, giao trách nhiệm một số hoạt động còn chồng chéo,
ví dụ như hoạt động quản lý SXKD là do đội QLTT, nhưng thuốc BVTV kinh doanh lại là
hàng hóa đặc thù và chịu sự quản lý của Bộ NN&PTNT về danh mục thuốc được phép lưu
hành. Bên cạnh đó, hoạt động kiểm tra hàng giả, hàng nhái, hàng không rõ nguồn gốc do cả

lực lượng Công an và QLTT. Theo quy định, thì chính quyền cấp xã có chức năng kiểm tra,
giám sát, xử lý các hành vi vi phạm về kinh doanh, môi trường… nhưng theo kết quả kiểm
tra hầu như chưa có chính quyền cấp xã nào thực hiện chức năng này.
PHẦN 5. GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ
THỊ TRƢỜNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Ở TỈNH THÁI BÌNH
5.1. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƢỚNG VÀ MỤC TIÊU TĂNG CƢỜNG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THỊ TRƢỜNG THUỐC BVTV Ở TỈNH THÁI BÌNH
5.1.1. Quan điểm chỉ đạo tăng cƣờng hiệu lực quản lý nhà nƣớc về thị trƣờng thuốc
bảo vệ thực vật
Thứ nhất, khẳng định vai trò rất cần thiết của thuốc BVTV trong SXNN kể cả nông
nghiệp xanh, không cấm hết các loại thuốc BVTV chỉ cấm việc sản xuất kinh doanh, buôn
bán các loại thuốc BVTV độc hại (nhóm I và nhóm II), hạn chế sử dụng nhóm III và khuyến
khích sử dụng nhóm IV, đặc biệt khuyến khích sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học
và thuốc có nguồn gốc thảo mộc.
19


Thứ hai, bảo đảm tính minh bạch của thị trường thuốc BVTV, cung cấp đủ số lượng,
bảo đảm chất lượng, giá bán và tránh tình trạng đầu cơ độc quyền gây lũng đoạn thị trường
thuốc BVTV.
Thứ ba, huy động sự tham gia của các thành phần khác nhau vào việc quản lý sản xuất
kinh doanh, buôn bán và sử dụng thuốc BVTV. Việc quản lý thị trường thuốc BVTV phải
được diễn ra thường xuyên, liên tục và đồng bộ.
5.1.2. Định hƣớng tăng cƣờng hiệu lực quản lý nhà nƣớc về thị trƣờng thuốc BVTV
Thứ nhất, xã hội hóa công tác giám sát thị trường thuốc BVTV, đặc biệt là nâng cao
vai trò quản lý nhà nước ở cấp cơ sở.
Thứ ba, phối hợp hoạt động thanh tra kiểm tra giữa các cơ quan quản lý nhà nước với
các cấp, các ngành và chính quyền cơ sở nhằm phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm các vi
phạm pháp luật trong quá trình sản xuất kinh doanh, buôn bán và sử dụng thuốc BVTV góp
phần ổn định thị trường thuốc BVTV.

Thứ tư, giảm thiểu 30 - 40 % số lượng thuốc BVTV sử dụng hàng năm, giảm 90% số
lượng người tiếp xúc trực tiếp với thuốc BVTV, giảm chủng loại thuốc BVTV lưu thông
trên thị trường, gắn số lượng với chất lượng đồng thời bảo đảm tính kịp thời và thuận lợi
(UBND tỉnh Thái Bình, 2015b).
Thứ năm, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học
thân thiện, ít độc hại và không tồn dư trong môi trường, trong nông sản thực phẩm. Thay đổi
thói quen sử dụng thuốc BVTV hóa học chuyển sang sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc
sinh học thân thiện, ít độc hại, không tồn dư trong môi trường và nông sản thực phẩm
Thứ sáu, nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội cho các tác nhân tham gia thị
trường thuốc BVTV. Bảo đảm người nông dân sử dụng thuốc BVTV theo nguyên tắc “4
đúng” và bảo đảm thời gian cách ly.
5.1.3. Mục tiêu tăng cƣờng hiệu lực quản lý nhà nƣớc về thị trƣờng thuốc BVTV
Một là, xây dựng được bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường thuốc
BVTV; Hai là, hoàn thiện và triển khai thực thi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhanh
chóng và đồng bộ; Ba là, xây dựng hệ thống cổng thông tin điện tử, yêu cầu các cơ quan
chức năng thường xuyên phải bổ sung, cập nhật kiến thức; Bốn là, tất cả tác nhân tham gia
thị trường thuốc BVTV đều nhận thức đầy đủ vai trò và tác hại của thuốc BVTV đối với
con người, vật nuôi và môi trường để từ đó có trách nhiệm bảo vệ cộng đồng; Năm là,
hoàn thiện thị trường thuốc BVTV đúng theo quy định của Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực
vật; Sáu là, phát huy tinh thần giám sát và tự giác của người dân khi phát hiện thuốc cấm,
thuốc kém chất lượng, thuốc quá hạn sử dụng... Kiếm soát được số lượng, chất lượng, chủng
loại thuốc, giá thuốc và tình hình đầu cơ độc quyền thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình.
5.2. GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THỊ
TRƢỜNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Ở TỈNH THÁI BÌNH
5.2.1. Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nƣớc về thị trƣờng thuốc bảo vệ thực vật
Hoàn thiện tổ chức, quy định nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể, rõ ràng giữa các cơ quan
QLNN trong công tác thanh kiểm tra, giám sát thị trường thuốc BVTV. Do lực lượng cán bộ
QLNN về thị trường thuốc BVTV quá mỏng (1 cán bộ quản lý 24 xã) nên cần phát huy sự
tham gia của cán bộ cộng đồng.
- Bổ sung thêm nhân lực cán bộ thanh tra sở NN&PTNT, thanh tra Chi cục

TT&BVTV và cán bộ kỹ thuật BVTV cho các Trạm BVTV;
- Tăng cường năng lực, vai trò quản lý của chính quyền cấp xã. Cán bộ quản lý cấp xã
cần phải nắm rõ các cơ sở buôn bán thuốc ngay trên địa bàn phụ trách, tham gia tích cực vào
giám sát hoạt động kinh doanh nhằm bảo đảm hoạt động buôn bán và sử dụng thuốc BVTV
đúng pháp luật. Cần tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực quản lý cho chủ tịch UBND xã,
chủ nhiệm HTX, Hội nông dân, Hội Phụ nữ và hình thành mạng lưới công tác viên BVTV
cấp xã cho các vị trí tổ trưởng BVTV thôn, tổ trưởng câu lạc bộ BVTV cụm gia đình.
20


5.2.2. Hoàn thiện cơ chế thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý nhà
nƣớc đối với thị trƣờng thuốc bảo vệ thực vật
Chính sách là yếu tố gián tiếp tác động tới hiệu quả QLNN về thị trường thuốc BVTV,
hiện nay hệ thống chính sách về quản lý thị trường thuốc BVTV còn nhiều bất cập: danh
mục thuốc được phép sử dụng quá nhiều; mức xử phạt thấp nên hiện tượng tái phạm diễn ra
phổ biến; các quy định về thẩm quyền quản lý chủ yếu hướng đến cán bộ chuyên trách,
trong khi lực lượng này quá mỏng còn các cán bộ địa phương, đặc biệt là cán bộ xã không
đủ quyền lực pháp lý để quản lý các cửa hàng buôn bán thuốc BVTV. Do đó, chính sách
quy định rõ ràng, cụ thể hơn đối tượng có trách nhiệm thanh tra, đồng thời có hướng dẫn chi
tiết về nhiệm vụ và quyền hạn pháp lý trong quản lý, xử lý vi phạm đối với chính quyền cấp
xã (có quyền xử phạt và xử phạt ở mức độ nào). Mức chế tài xử phạt cần nghiêm khắc hơn
để các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn bán thuốc BVTV không vi phạm và tái vi phạm.
5.2.3. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội cho các tác nhân tham gia thị trƣờng
thuốc bảo vệ thực vật
- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội cho cán bộ quản lý: Tăng cường công
tác tập huấn, thực hiện các mô hình, triển khai các chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật
BVTV nhằm nâng cao trình độ chuyên môn BVTV, kiến thức pháp luật cho lực lượng cán
bộ thanh tra chuyên trách và bán chuyên trách.
- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội cho chủ các cơ sở sản xuất kinh doanh,
buôn bán thuốc BVTV: Tăng cường tập huấn nâng cao nhận thức, hiểu biết về thuốc BVTV

cho chủ các cơ sở kinh doanh để họ thực hiện đúng và bảo đảm các điều kiện của pháp luật
về SXKD, buôn bán thuốc BVTV. Hàng năm, mỗi huyện nên tổ chức các buổi tập huấn hội
thảo có sự tham gia của toàn bộ các cơ sở kinh doanh thuốc BVTV để tổng kết những thuận
lợi, khó khăn; những thành tích đã đạt được và những vấn đề còn vi phạm; phổ biến các
chính sách mới, tổng hợp và phân tích các lỗi thường gặp trong hoạt động SXKD, buôn bán
thuốc BVTV để chủ cửa hàng sửa chữa và hoàn thiện và thấy rõ trách nhiệm của mình trong
việc tuân thủ đúng những quy định của pháp luật.
- Nâng nhận thức và trách nhiệm xã hội cho người sử dụng thuốc BVTV: Xây dựng
quy định đối với chủ trang trại, người sử dụng thuốc BVTV phải được đào tạo và được cấp
chứng chỉ sử dụng thuốc BVTV. Để giúp cho người nông dân nâng cao nhận thức, trách
nhiệm cộng đồng các cơ quan QLNN cấp cơ sở cần phối hợp chặt chẽ với các cấp, các
ngành, phòng NN&PTNT, Chi cục TT&BVTV, các đoàn thể Hội Phụ nữ, Hội Nông dân...
để tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật BVTV cho người nông dân. Thường xuyên mở các
lớp tập huấn IPM giúp người nông dân hiểu biết các kiến thức thuốc BVTV, kỹ thuật sử
dụng thuốc bảo đảm an toàn, hiệu quả, hiểu về tác hại của thuốc BVTV mang lại đối với
con người và môi trường sinh thái để người nông dân có thể tự bắt bệnh cho cây trồng, tự
lựa chọn các chủng loại thuốc BVTV không phải phụ thuộc vào người bán thuốc từ đó nâng
cao vai trò trách nhiệm cộng đồng của người sử dụng trong hoạt động quản lý thuốc BVTV.
5.2.4. Tăng cƣờng công tác phối hợp thanh tra kiểm tra giữa các cơ quan quản lý nhà
nƣớc đối với thị trƣờng thuốc bảo vệ thực vật
Phân công nhiệm vụ cụ thể và phối hợp chặt chẽ công tác thanh tra, giám sát giữa Chi
cục TT&BVTV, Chi cục QLTT với lực hượng công an, giữa cơ quan QLNN với Hội Nông
dân, Hội phụ nữ, Trung tâm khuyến nông… Các kết quả thanh kiểm tra của Chi cục QLTT
cần có sự thông báo đến Chi cục TT&BVTV hoặc Trạm TT&BVTV huyện để các cơ quan
này nắm được tình hình, các cơ quan cần thực hiện công tác lập kế hoạch về quản lý thị
trường thuốc BVTV cụ thể, có sự phê duyệt của các cơ quan chủ quản.
Tăng cường giám sát cộng đồng, Chi cục TT&BVTV công khai đường dây nóng để
21



nhân dân phát hiện và báo các trường hợp cố tình vi phạm điều kiện kinh doanh thuốc
BVTV giúp thanh tra chuyên ngành phối hợp với quản lý thị trường xử lý ngay và triệt để.
Phải liên lạc thường xuyên giữa cán bộ Trạm TT&BVTV với chủ các cơ sở buôn bán thuốc
BVTV để có sự trao đổi thông tin giữa hai bên. Trạm TT&BVTV sẽ thông báo tới các cơ sở
về chính sách mới, các loại thuốc mới, diễn biến tình hình dịch hại để cơ sở chủ động nguồn
hàng, bảo đảm đủ thuốc BVTV và nâng cao lợi nhuận cho người kinh doanh thuốc BVTV.
5.2.5. Tăng cƣờng công tác tập huấn, thông tin và tuyên truyền văn bản pháp luật
Các các cơ quan chuyên môn BVTV tăng cường kết hợp với đài truyền hình, đài
truyền thanh, báo Thái Bình xây dựng nội dung chương trình khoa giáo, các chương trình
“Nhịp cầu nhà nông” hay bản tin thời tiết nông vụ để hướng dẫn nông dân kiến thức về
thuốc BVTV và kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV để người dân chủ động lựa chọn thuốc
BVTV không phụ thuộc vào người bán hàng.
Thực hiện đưa tin bài trên truyền hình, báo Thái Bình, các phóng sự, tọa đàm, các
thông báo, hướng dẫn kỹ thuật bằng xe lưu động cùng với việc phát tờ rơi, phát huy tối đa
thời lượng phát sóng của các đài phát thanh huyện, xã… Tăng cường thông tin tuyên truyền,
khuyến cáo đến người nông dân hiểu biết chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh,
liên kết trong sản xuất, tăng quy mô đồng ruộng, thực hiện cơ giới hóa, hạn chế sử dụng
thuốc BVTV và những điều khoản Hiệp định TPP về nông nghiệp.
5.2.6. Tăng cƣờng nguồn lực cho công tác quản lý nhà nƣớc về thị trƣờng thuốc bảo vệ
thực vật
- Bổ sung kinh phí tập huấn chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý đặc biệt là cán bộ
quản lý cấp xã, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn cho chủ các cơ sở buôn bán và người
sử dụng thuốc BVTV.
- Nhà nước cần có chế độ tiền lương, trợ cấp phù hợp hơn đối với cán bộ quản lý, thanh
tra BVTV do họ phải thường xuyên tiếp xúc với thuốc BVTV độc hại. Ngoài ra, có chính
sách tạo điều kiện thuận lợi và chế độ khen thưởng cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, buôn
bán thuốc BVTV bảo đảm số lượng, chất lượng, giá bán, cung ứng kịp thời và hướng dẫn cụ
thể cho người sử dụng.
- Trang bị phần mềm tra cứu danh mục thuốc BVTV trực tuyến (SPL) cho hệ thống
mạng văn phòng cấp xã và trang Web của Chi cục TT&BVTV để nâng cao khả năng quản

lý và hướng dẫn sử dụng thuốc cho người nông dân.
5.2.7. Quy hoạch thị trƣờng thuốc BVTV, khuyến khích phát triển tổ dịch vụ BVTV
- Tổ chức sắp xếp, rà soát lại hệ thống cửa hàng buôn bán thuốc BVTV, củng cố hệ
thống các HTX DVNN hiện có, chuyển đổi mô hình hoạt động và thành lập các HTX, tổ
hợp tác theo Luật HTX năm 2012 gắn liền với mô hình liên kết trong sản xuất, tập trung
khuyến cáo tuyên truyền các nhà cung ứng đủ năng lực, uy tín, thuốc chất lượng cao, để
nông dân biết và sử dụng. UBND xã tiến hành kiểm tra, rà soát toàn bộ các cơ sở bán lẻ trên
địa bàn quản lý, chính quyền cấp xã phải vào cuộc siết chặt mạng lưới kinh doanh, buôn bán
thuốc BVTV với các chế tài mạnh mẽ như: thu hồi giấy phép kinh doanh, đóng cửa nếu
không đủ điều kiện, đình chỉ ngay việc kinh doanh, buôn bán của tất cả các cơ sở không có
chứng chỉ hành nghề và giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán thuốc BVTV.
- Khuyến khích và hỗ trợ phát triển các HTX nông nghiệp kiểu mới trong đó phát triển
mô hình tổ dịch vụ BVTV để giảm bớt 90% số lượng người đi phun thuốc BVTV, giảm; tiết
kiệm thời gian và giảm 30 - 40% lượng thuốc sử dụng, hạn chế rủi ro thuốc BVTV; giảm
bớt gánh nặng cho các cơ quan quản lý nhà nước về tập huấn, hướng dẫn sử dụng thuốc
BVTV cho người nông dân dẫn đến giảm số lượng các cửa hàng buôn bán thuốc BVTV.
22


PHẦN 6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
6.1. KẾT LUẬN
1). Quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV là sự tác động có chủ đích của Nhà nước
đối với thị trường thuốc BVTV bằng quyền lực của nhà nước thông qua công cụ văn bản QLLP
tác động lên tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh, buôn bán và sử dụng thuốc BVTV nhằm
bảo đảm tính minh bạch và hạn chế mặt trái của cơ chế thị trường. Do đó, Nhà nước đóng vai
trò vô cùng quan trọng trong việc định hướng, kiểm soát thị trường, ngăn chặn tình trạng đầu cơ
độc quyền thao túng thị trường thuốc BVTV. Nội dung nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với
thị trường thuốc BVTV bao gồm các vấn đề như tổ chức bộ máy quản lý nhà nước; ban hành và
thực thi hệ thống văn bản QPPL; tổ chức các hoạt động thực thi pháp luật; hoạt động thanh tra
kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm pháp luật và công tác tập huấn, thông tin tuyên truyền pháp

luật cho các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV. Như vậy, hoạt động quản lý rất phức tạp
cần sự kết hợp của nhiều cơ quan chức năng và liên quan đến nhiều Sở, Ban, Ngành từ Trung
ương đến địa phương, đòi hỏi tính chuyên nghiệp và liên tục.
2). Quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình còn nhiều non yếu,
tổ chức bộ máy quản lý chưa tốt số lượng cán bộ làm công tác thanh tra vừa thiếu lại vừa
chưa phù hợp về chuyên môn. Việc ban hành và triển trai thực thi các văn bản pháp luật còn
chậm, chồng chéo và chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe. Hoạt động thực thi pháp luật còn
nhiều hạn chế, qua kết quả đánh giá và phân loại các cơ sở buôn bán thuốc BVTV không có
cơ sở nào xếp loại A, 80% số cửa hàng không có giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán
thuốc BVTV, các vi phạm về điều kiện buôn bán thuốc BVTV ở mức khá cao: 65,6% số
cửa hàng không có cam kết bảo vệ môi trường, không có dụng cụ xử lý chất thải; 63,3% số
cửa hàng không có thiết bị PCCC; 53,3% cửa hàng không có niêm yết giá; 70% số cửa hàng
bán chung với các hàng hóa khác, không bảo đảm khoảng cách với nguồn nước, khu dân cư,
trường học... Thuốc BVTV được sử dụng ở Thái Bình chủ yếu là thuốc hóa học (chiếm
92,5%). Việc quản lý nhà nước đối với giá thuốc BVTV mới chỉ dừng lại ở việc thanh tra,
giám sát các cửa hàng buôn bán thuốc BVTV về có/không bảng niêm yết giá, còn bán đúng
giá niêm yết hay không và giá niêm yết đó thế nào thì các cơ quan nhà nước chưa kiểm soát
được. Bên cạnh đó, các cơ sở buôn bán thuốc BVTV chạy theo lợi nhuận, 98,9% số cơ sở
hướng dẫn nông dân sử dụng kết hợp và tăng liều lượng thuốc BVTV trong một lần phun,
trong khi 74,4% số người nông dân sử dụng thuốc BVTV theo chỉ dẫn của người bán thuốc.
Công tác kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên.
3). Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV xét theo
khía cạnh lý luận bao gồm: Năng lực cán bộ quản lý (số lượng, trình độ chuyên môn của cán
bộ quản lý, cán bộ thanh tra), nguồn lực dành cho công tác quản lý (tập huấn, chế độ đãi ngộ
cho cán bộ quản lý, công tác phí đi lại thanh tra, kiểm tra và đầu tư máy móc trang thiết bị
hỗ trợ cho công tác thanh tra, kiểm tra), sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và
nhận thức, ứng xử của các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV.
4). Để tăng cường quản lý nhà nước về thị trường thuốc BVTV ở tỉnh Thái Bình cần
áp dụng đồng bộ các giải pháp sau: (1) Hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước; (2) Hoàn
thiện bộ máy quản lý nhà nước; (3) Tăng cường kinh phí, máy móctrang thiết bị hỗ trợ cho

công tác QLNN; (4) Tăng cường kết hợp thanh kiểm tra giữa các cơ quan quản lý; (5) Nâng
cao nhận thức và trách nhiệm cộng đồng cho các tác nhân tham gia thị trường thuốc BVTV;
(6) Sắp xếp lại hệ thống kinh doanh, khuyến khích phát triển mô hình tổ dịch vụ BVTV và
(7) Tăng cường công tác tập huấn, thông tin tuyên truyền phổ biến các văn bản pháp luật.
23


×