Tải bản đầy đủ (.doc) (135 trang)

LUẬN án TIẾN sĩ NÂNG CAO TRÌNH độ văn hóa dân CHỦ của NHÂN dân TRONG QUÁ TRÌNH xây DỰNG nền dân CHỦ xã hội CHỦ NGHĨA ở nước TA HIỆN NAY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (492.54 KB, 135 trang )

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thực tiễn xây dựng đất nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở
nước ta đã khẳng định, nhân dân là chủ thể xã hội, động lực trực tiếp xây dựng,
thực hành dân chủ, quyết định xu hướng, tiến trình và kết quả của dân chủ hoá.
Điều đó lại tuỳ thuộc một phần quyết định bởi trình độ văn hoá dân chủ của nhân
dân.
Ngày nay, dân chủ hoá là nhu cầu khách quan của sự phát triển đất nước,
đang từng bước được thực hiện sâu rộng trên các lĩnh vực đời sống xã hội, tạo ra
cho dân tộc ta những thuận lợi mới và cả những thách thức mới. Đồng thời, các
tiền đề khách quan, cần thiết cho sự hình thành Nhà nước pháp quyền ở nước ta
ngày càng trở nên chín muồi, đòi hỏi nhân dân ta cần có những phẩn chất tương
ứng. Trong khi đó, nhân dân ta xây dựng nền dân chủ XHCN từ một xã hội vốn là
thuộc địa, nửa phong kiến, chưa trải qua chế độ dân chủ tư sản, trình độ dân trí
còn thấp v.v... Vì vậy trong quá trình thực hiện dân chủ, bên cạnh những mặt tích
cực và tiến bộ, trong nhân dân ta, còn nhiều biểu hiện yếu kém về trình độ ý thức
và năng lực thực hành dân chủ, còn nhiều hành vi tiêu cực phản văn hoá dân chủ.
Đặc biệt, hiện nay các thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề dân chủ- nhân quyền
để thực hiện “diễn biến hoà bình” hòng gây mất ổn định chính trị, làm suy yếu,
tiến tới thủ tiêu nền dân chủ mới đang hình thành ở nước ta.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu dân chủ dưới góc độ văn hoá và con
người, xác định nội dung và giải pháp nâng cao trình độ Văn hoá dân chủ
(VHDC) của nhân dân ta hiện nay, trở thành một vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa thiết
thực cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài


Thời gian qua, ở nước ta đã công bố nhiều công trình khoa học, diễn ra
nhiều hội thảo, hội nghị, diễn đàn, thảo luận, tranh luận khoa học, ... xung quanh
vấn đề dân chủ.
Trong đó, các tác giả, với cách tiếp cận và lát cắt khác nhau đã đề cập dân


chủ dưới nhiều góc độ, nêu lên nhiều luận điểm khoa học có giá trị về lý luận dân
chủ và dân chủ XHCN; các nhân tố chế định sự phát triển dân chủ và dân chủ
XHCN; các cơ chế, nguyên tắc, hình thức... thực hiện dân chủ; phê phán các quan
điểm dân chủ đối lập, thuyết đa nguyên chính trị v.v.... Một số tác giả cũng đề cập
dân chủ dưới góc độ văn hoá, nhân văn. Gần đây, khi bàn về “Văn hoá chính trị”,
“Văn hoá pháp luật”, một số tác giả cũng lưu ý đến vị trí của “VHDC”. Song
phần nhiều các ý kiến đó mới dừng lại ở mức độ nêu vấn đề, nhận định chưa thật
có hệ thống và tập trung.
Ngày nay văn hoá có vai trò ngày càng to lớn và biểu hiện sinh động trong
đời sống xã hội. Đồng thời qua thực tiễn thực hiện dân chủ ở nước ta thời gian
qua, nảy sinh nhiều vấn đề đòi hỏi dân chủ cần được nhìn nhận và giải quyết theo
yêu cầu văn hoá. Bởi vậy người làm luận án chọn đề tài: “Nâng cao trình độ
VHDC của nhân dân trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt
Nam hiện nay” hy vọng đóng góp vào việc làm sâu sắc hơn lý luận về văn hoá
dân chủ và quá trình thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
- Luận giải và khẳng định dân chủ là một giá trị văn hoá; xác định trình độ
VHDC của nhân dân là một biểu hiện trình độ dân trí, một phẩm chất nhân cách
và chỉ ra những nhân tố tác động đến nó. Trên cơ sở đó kiến nghị một số phương
hướng và giải pháp vừa cơ bản vừa cấp bách để nâng cao trình độ văn hoá dân
chủ của nhân dân ta hiện nay.
- Để đạt mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:


1) Bước đầu làm rõ những thuộc tính bản chất của VHDC, phân tích các cấp
độ trình độ VHDC và đánh giá thực trạng trình độ VHDC của nhân dân ta hiện
nay.
2) Phân tích những nhân tố khách quan, chủ quan chính tác động cản trở, cần
khắc phục trong quá trình nâng cao trình độ VHDC.
3) Xác định phương hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao trình độ VHDC

của nhân dân ta hiện nay.
4. Cái mới về khoa học của luận án
Một là, luận chứng dân chủ không chỉ là một hình thái nhà nước, một quan
hệ chính trị mà còn là một giá trị văn hoá, một quan hệ xã hội- giao tiếp, ứng xử.
Văn hoá dân chủ là một giá trị sáng tạo và sự hoạt động sáng tạo của nhân dân
trong lịch sử vươn tới lý tưởng tự do, bình đẳng và công bằng xã hội. Văn hoá
dân chủ có tính nhân đạo, tính nhân loại, nhân dân, tính dân tộc, tính giai cấp, tính
liên tục có kế thừa, phát triển và giao lưu.
Hai là, khẳng định văn hoá dân chủ là một giá trị xã hội, đồng thời là một giá
trị nhân cách, qua sự phân tích các cấp độ trình độ văn hoá dân chủ của nhân dân.
Trình độ văn hoá dân chủ là một nội dung của trình độ dân trí, của nguồn nhân
lực xã hội.
Ba là, bước đầu đánh giá thực trạng trình độ VHDC của nhân dân ta hiện
nay, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố khách quan, chủ quan với
trình độ VHDC. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp thiết thực, có tính khả thi
nâng cao tình độ VHDC của nhân dân ta hiện nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu.
- Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng ta về văn hoá, dân
chủ, con người; về quan hệ vật chất- tinh thần; tồn tại xã hội- ý thức xã hội; quan
hệ khách quan- chủ quan; quan hệ giữa Nhà nước- xã hội và công dân, một số


quan điểm chính trị, pháp quyền, đạo đức, thẩm mỹ và sự hình thành nhân cách
v.v...
- Cơ sở thực tiễn của luận án là hiện thực đời sống xã hội và tình hình thực
hiện dân chủ ở nước ta, nhất là thời kỳ đổi mới; các sự kiện chính trị- xã hội đã và
đang diễn ra ở nước ta và trên thế giới liên quan đến nội dung đề tài. Trên cơ sở
đó, vận dụng phương pháp luận khoa học, các phương pháp nghiên cứu chuyên
nhành và liên ngành để khảo sát, đánh giá thực trạng, các nhân tố tác động, khái

quát rút ra những luận điểm khoa học cần thiết, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và
thực tiễn.
- Luận án được nghiên cứu dưới góc độ chính trị- xã hội, vận dụng tổng hợp
các phương pháp nghiên cứu của triết học, xã hội học, chính trị học, kinh tếchính trị học Mác - Lê-nin...
Và nhiều phương pháp: điều tra xã hội học, so sánh, thống kê, phân tích,
tổng hợp, kết hợp lôgíc-lịch sử,... Phương pháp hệ thống và lôgíc được đặc biệt
chú trọng.
6. Ý nghĩa của luận án
Với một số kết quả nghiên cứu đã đạt được, luận án góp phần vào việc đề ra
cơ sở khoa học để nhận thức đầy đủ hơn VHDC, trình độ VHDC, từ đó vận dụng
vào giáo dục hình thành nhân cách công dân, xây dựng môi trường xã hội dân chủ
trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy,
định hướng giáo dục về văn hoá, dân chủ và nhân cách... trong một số chủ đề
CNXH khoa học, chính trị học, triết học, tâm lý- giáo dục học...
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm lời mở đầu, hai chương 6 tiết, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo.


CHƯƠNG I
BẢN CHẤT, NỘI DUNG, TRÌNH ĐỘ VĂN HÓA DÂN CHỦ VÀ
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA DÂN CHỦ Ở NƯỚC TA
HIỆNNAY
1.1. Bản chất của dân chủ
1.1.1. Dân chủ- một giá trị văn hoá
Từ trước đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hoá. Tuy nhiên,
dù định nghĩa thế nào, văn hoá vẫn được hiểu một cách chung nhất, là toàn bộ sự
hoạt động sáng tạo và các giá trị sáng tạo của con người, loài người vươn tới cái
đúng, cái tốt, cái đẹp trong đời sống xã hội và quan hệ xã hội, kết tinh thành các

chuẩn mực xã hội và phẩm chất nhân cách của mỗi xã hội, mỗi dân tộc và thời
đại lịch sử.
Bản chất văn hoá là sáng tạo và nhân đạo, cao đẹp. Văn hoá là trình độ phát
triển của cái đúng, cái tốt,cái đẹp trong con người, trong hoạt động và quan hệ xã
hội của con người. Bởi vậy văn hoá- đúng với ý nghĩa chân chính của nó là sự
hoạt động có ý thức và sáng tạo, là các giá trị (vật chất, tinh thần) phù hợpvới quy
luật khách quan, quy luật thẩm mỹ, thể hiện và phát huy được những thuộc tính
tốt đẹp của bản chất Người, đề cao phẩm giá con người. Trái lại “cái phản văn
hoá, vô văn hoá” là những hoạt động (có ý thức và vô ý thức) của con người và
những sản phẩm của hoạt động đó làm phương hại, cản trở sự phát triển hài hoà
của các quy luật tự nhiên và xã hội, làm nghèo nàn đời sống tinh thần, hạ thấp
nhân cách, phẩm giá con người. Cái phản văn hoá là trái quy luật khách quan, trái
với bản chất tốt đẹp của con người, cản trở sự phát triển và tiến bộ xã hội, sự phát
triển nhân cách.
Sự hình thành của VH gắn liền với sự hình thành lịch sử loài người. Trải qua
tiến trình lịch sử lâu dài, các giá trị VH được con người, loài người sáng tạo, chắt


lọc, kết tinh, trầm tích lại, bổ sung phong phú thêm và “di truyền” xã hội, tạo nên
nền văn hoá của các dân tộc và toàn nhân loại.
Sự hoạt động sáng tạo của con người trong các lĩnh vực xã hội, các quan hệ
xã hội sinh động đã tạo nên các thành tố, các kiểu loại văn hoá đa dạng, cấu thành
chỉnh thể nền VH dân tộc và nhân loại như: VH vậtchất, VH tinh thần, VH giáo
dục, VH tư tưởng, VH nghệ thuật, VH giao tiếp, VH thẩm mỹ, VH quản lý, VH
chính trị, VH pháp luật v.v... và v.v...
Nội dung các giá trị văn hoá biểu hiện trong các hình thái ý thức xã hội và
tồn tại xã hội, bao gồm cả những mặt đời sống xã hội con người đang hoạt động,
tới tập quán, phong tục xã hội và truyền thống lịch sử của cả cộng đồng. Trong
quan hệ khách thể- chủ thể, văn hoá là những giá trị xã hội khách quan, đồng thời
là giá trị nhân cách- biểu hiện trong ý thức, thái độ, hành vi, đến nhu cầu, nếp

sống... của con người.
Văn hoá có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển xã hội. Sự
phát triển và tiến bộ của mỗi dân tộc và toàn nhân loại gắn liền đồng thuận với sự
phát triển VH. Văn hoá là trình độ phẩm chất con người, và những giá trị sáng tạo
của họ, nên nó là động lực, là thành quả của sự phát triển xã hội và nhân cách.
Bởi vậy, nền tảng VH càng sâu đậm, trình độ văn hoá của con người càng cao, thì
sức sống của xã hội càng dồi dào mãnh liệt, năng lực sáng tạo của con người càng
mạnh mẽ. Văn hoá là thước đo trình độ phát triển của xã hội và con người, hay
ngược lại.
Ngày nay, loài người đang trải qua giai đoạn đặc biệt với những mâu thuẫn
gay gắt. Cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật và công nghệ hiệnn đại đang tạo nên
sự biết đổi sâu sắc đời sống xã hội, quan hệ xã hội trong mỗi dân tộc và trên quy
mô toàn cầu với tính quốc tế hoá, xã hội hoá ngày càng sâu rộng. Bước vào kỷ
nguyên điện tử- tin học, loài người có khả năng tạo nên sự phát triển thần kỳ về
kinh tế, nâng cao năng suất, hiệu quả lao động sản xuất, khôngngừng cải thiện và


nâng cao chất lượng cuộc sống....Sự giao lưu, hoà nhập, đối thoại, hợp tác quốc tế
là một xu thế thời đại... Tuy nhiên, cũng chưa bao giờ loài người đứng trước nguy
cơ đe doạ sự tồn tại và phát triển của mình như hiện nay. Những vấn đề toàn cầu:
môi trường- sinh thái- tài nguyên bị ô nhiễm, huỷ hoại; dân số bùng nổ, đói
nghèo; căn bệnh thế kỷ AIDS và bao căn bệnh hiểm nghèo khác chưa có cách cứu
chữa; kho vũ khí giết người hàng loạt chưa được thủ tiêu; các cuộc chiến tranh,
xung đột chủng tộc, dân tộc, tôn giáo,... đẫm máu chưa chấm dứt; mâu thuẫn
trong quan hệ bất bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hoá, thông tin, giữa các
nước phát triển và thế giới đang phát triển cùng biết bao những vấn đề phức tạp,
gay gắt khác... đang đòi hỏi loài người phải giải quyết cấp bách. Trong quá trình
tìm kiếm cách giải quyết hợp lý để tồn tại và phát triển, mỗi quốc gia và cả cộng
đồng thế giới ngày càng nhận thức sâu sắc rằng, tất cả các vấn đề liên quan đến
cuộc sống và quan hệ xã hội của con người cần phải được tiếp cận, xem xét dưới

góc độ văn hoá, đặt trên nền tảng văn hoá, giải quyết theo yêu cầu văn hoá,
mang tính nhân đạo, nhân văn, vì sự giải phóng con người và phát triển con
người. Ý nghĩa của “thập kỷ thế giới văn hoá và sự phát triển 1989-1997” do
UNESCO đề ra đã nhấn mạnh đến vai trò, bản chất văn hoá và nhân tố con người
đối với sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Dân chủ là một phạm trù phản ánh một hiện tượng xã hội, một quan hệ xã
hội khách quan. Nội dung cốt lõi của dân chủ là khát vọng và quyền làm chủ của
nhân dân, là quyền lực thuộc về nhân dân, tư do, bình đẳng của nhân dân trong
đời sống xã hội và quan hệ xã hội. “Xã hội dân chủ là xã hội do nhân dân làm
chủ”.
Từ nội dung cốt lõi đó, khi tiếp cận dân chủ dưới các góc độ khác nhau,
người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về dân chủ, phản ánh những biểu
hiện đa dạng, sinh động của nội dung dân chủ bao trùm lêm các lĩnh vực hoạt
động của con người.


Dân chủ là một quan hệ xã hội, một lĩnh vực hoạt động đòi hỏi ở đó sự hoạt
động sáng tạo ra các giá trị, hiện thực hoá các giá trị phục vụ cho lý tưởng nhân
đạo: tự do, bình đẳng, làm chủ. Vì vậy theo quan điểm văn hoá, dân chủ phản ánh
đầy đủ bản chất, nội dung, đặc điểm biểu hiện...của VH, đáp ứng đầy đủ các tiêu
chí văn hoá.
Tiếp cận dân chủ dưới góc độ văn hoá, hay nói một cách khác, xem xét dân
chủ với tính cách là giá trị văn hoá, có nghĩa là nghiên cứu, nhìn nhận vấn đề
dân chủ theo các tiêu chí văn hoá.
Khi nhìn nhận dân chủ dưới góc độ văn hoá, một mặt chúng ta nhận thấy
dân chủ là một kiểu loại văn hoá, một nội dung cơ bản của nền văn hoá tiên tiến,
hiện đại, một phẩm chất thể hiện trình độ văn hoá, tính văn hoá của xã hội và con
người, đồng thời mặt khác thấy nền văn hoá xã hội, các thành tố, kiểu loại văn
hoá khác, các phẩm chất nhân cách khác cũng là cơ sở để dân chủ được hình
thành phát triển và là môi trường để các giá trị dân chủ được biểu hiện.

Các giá trị dân chủ không phải là một vật phẩm tự nhiên, mà là một giá trị
sáng tạo, thành quả lao động và đấu tranh của loài người vươn tới tự do, bình
đẳng, làm chủ và công bằng xã hội. Trong nội dung của các giá trị dân chủ, hội đủ
các giá trị văn hoá khách quan, mang tính vật chất (tổ chức, thiết chế, bộ máy
thực hiện, bảo đảm dân chủ...) và có cả những giá trị VH tinh thần, phản ánh
năng lực hoạt động chủ quan của con người (ý thức, tư tưởng, nhu cầu dân chủ,
thói quen, nếp sống dân chủ...). Quá trình thực hiện dân chủ cũng giống như các
quá trình hoạt động văn hoá khác: sáng tạo, kế thừa, phát triển, bảo vệ, giao
lưu, ...Hơn nữa, qua thực hành dân chủ, người ta càng thấy rõ sự đòi hỏi cần thiết
tính văn hoá trong ý thức, năng lực thực hành dân chủ của mỗi cá nhân và cả
cộng đồng xã hội, vai trò của nó như là một nhân tố quyết định trực tiếp đến chất
lượng, hiệu quả sự hoạt động dân chủ của họ. Sự biểu hiện trình độ VHDC của


nhân dân trong quá trình hoạt động thực thi dân chủ, là một biểu hiện trình độ dân
trí, và văn hoá chung của con người.
1.1.2. Những thuộc tính bản chất của văn hoá dân chủ
Nghiên cứu dân chủ theo các tiêu chí văn hoá, tất nhiên sẽ nhận thức văn hoá
dân chủ với nhiều cấp độ và những thuộc tính của nó.
* Sự hình thành, vận động, phát triển của văn hoá dân chủ gắn liền với quá
tình hoạt động sáng tạo của con người, loài người nhằm thoả mãn nhu cầu tự do,
làm chủ và bình đẳng. Con người hoạt động biến đổi tự nhiên nhằm thoả mãn nhu
cầu vật chất: ăn, mặc, ở... đồng thời cũng hình thành các quan hệ xã hội, phát
triển các nhu cầu tinh thần. Xã hội càng phát triển, thì các giá trị vật chất, tinh
thần được con người sáng tạo ra càng phong phú và các quan hệ xã hội cũng càng
đa dạng. Trong các quan hệ xã hội đó, tất nhiên hình thành việc xác lập vị thế của
những cá nhân và cộng đồng xã hội. Nhìn chung ý thức muốn tự khẳng định, nhu
cầu được sống tự do, bình đẳng, làm chủ của con người là khách quan, là thuộc
tính chung tộc loại của loài người. Mặt khác, trong các quan hệ xã hội của con
người, cũng hình thành một cách khách quan các quan hệ quyền lực. Trong “Bàn

tay về quyền uy” Ph.Ăng-ghen viết: “Một quyền uy nhất định, không kể quyền uy
đó được tạo ra bằng cách nào, và mặt khác, một sự phục tùng nhất định, đều do
những điều kiện vật chất trong đó... làm cho trở thành tất yếu” (3, tr.358). Từ đó
dẫn đến một mâu thuẫn phổ biến giữa nhu cầu làm chủ, tự do, bình đẳng, mang
tính tự nhiên, với sự làm chủ, tự do, bình đẳng thực tế mà con người đạt được.
Hơn nữa, mặc dù nhu cầu của con người hình thành khách quan và thường không
có giới hạn.
“Sự thoả mãn nhu cầu đầu tiên khi đã có được hành động thoả mãn nhu cầu
ấy và công cụ để thoả mãn- đưa tới những nhu cầu mới” (2, tr.35). Song việc thực
hiện để thoả mãn nhu cầu lại bị chủ quan của con người. Nhu cầu tư do, làm chủ,


bình đẳng nảy sinh ngay từ khi con người hình thành xã hội, các quan hệ xã hội
của họ. Hơn nữa tự do, làm chủ, bình đẳng đã từng là quan hệ xã hội hiện thực
của con người trong nền dân chủ nguyên thuỷ. Ph. Ăng-ghen viết về nền dân chủ
nguyên thuỷ đó như sau: “Với tất cả các tính ngây thơ và giản dị của nó, chế độ
thị tộc là một tổ chức tốt đẹp biết bao. Tất cả đều bình đẳng và tự do, kể cả phụ
nữ” (9,tr.154). “toàn thể các thành viên của thị tộc đều là những người tự do, có
nghĩa vụ bảo vệ tự do của nhau, họ đều có quyền cá nhân ngang nhau- Kể cả tù
trưởng và thủ lĩnh quân sự- đều không đòi hỏi những ưu tiên nào cả, họ kết thành
một tập thể thân ái, gắn bó với nhau” (9, tr.140). Lúc đó, trong xã hội ngoài dư
luận của công chúng ra, không có một phương tiện cưỡng chế nào cả. Các sinh
hoạt dân chủ được tiến hành phổ biến, rộng rãi với mọi thành viên: “thị tộc có
một hội đồng tức đại hội dân chủ của toàn thể các thành viên, trai cũng như gái,
tất cả đều có quyền bầu cử như nhau. Nó là cơ quan quyền lực tối cao của thị
tộc” (9, tr.139,140). Các quan hệ dân chủ “tự do, bình đẳng, hữu ái, tuy chưa bao
giờ được nêu lên thành công thức, nhưng vẫn là những nguyên tắc cơ bản của thị
tộc” (9, tr.140). Đánh giá một cách khách quan, nền dân chủ nguyên thuỷ hình
thành một cách tự nhiên, mới ở trình độ sơ khai, đơn giản, mà ở đó con người còn
chưa phân biệt đâu là quyền lợi, đâu là nghĩa vụ, người ta tuân thủ và giải quyết

mọi việc theo một tập quán lâu đời. Tuy vậy cũng phải thấy rằng, trong chế độ
công xã nguyên thuỷ, các giá trị văn hoá dân chủ và nhiều giá trị văn hoá khác
cũng đang bắt đầu hình thành, phát triển tương ứng với sự phát triển xã hội và
con người. Bởi vậy có thể nói, xét từ khởi nguyên của nó, nền dân chủ nguyên
thuỷ,với các giá trị dân chủ manh nha, là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng
cho sự hình thành nền VHDC của nhân loại,tiếp nối một cách liêntục trong tiến
trình lịch sử sau này.
Khi xã hội phân chia giai cấp, quan hệ bất bình đẳng về kinh tế dẫn đến bất
bình đẳng về xã hội và quyền lực. Dưới các xã hội mà giai cấp thống trị là thiểu


số bóc lột, thì quyền lực thuộc về cá nhân hoặc thiểu số giàu có, và là mất tự do,
dân chủ của đa số nhân dân. Xã hội có giai cấp đối kháng là sự phủ định dân chủ
theo nghĩa đầyđủ, hoàn bị. Trong các xã hội đó, lịch sử của dân chủ gắn liền với
lịch sử đấu tranh giai cấp. Cuộc đấu tranh bền bỉ của nhân dân các thời đại để
giành lấy tự do, dân chủ, làm chủ, bình đẳngvà công bằng xã hội là nguồn gốc ra
đời, là động lực phát triển các giá trị VHDC trong lịch sử. Khi xã hội loài người
không còn sự khác biệt giai cấp, và nhà nước mất đi, thì nền dân chủ -một hình
thái nhà nước cũngmất đi, song các giá trị dân chủ khác vẫn tồn tại, phát triển
ngày càng hoàn bị, trở thành tập quán xã hội. Đó là sự phủ định cái phủ định dân
chủ. Xã hội trở thành xã hội dân chủ, bình đẳng thực sự, triệt để với tất cả mọi
thành viên xã hội. Điều này đã được Các Mác diễn đạt: “Chủ nghĩa cộng sản đã
quan niệm mình như là việc con người hoà nhập và quay trở lại bản thân mình,
như là việc thủ tiêu sự tự tha hoá của con người” (1, tr.128). Điều đó cũng giống
như quan niệm của Ph. Ăng-ghen, khi ông dẫn lại lời L.Morgan để kết thúc tác
phẩm: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” như sau:
“Dân chủ trong công việc quản lý, hữu ái trong xã hội, bình đẳng về quyền lợi,
giáo dục phổ thông... đó là sự hồi sinh- nhưng dưới một hình thức cao hơn của tự
do, bình đẳng và hữu ái của những thị tộc thời cổ” (9, tr.273.
Nội dung VHDC

- Văn hoá dân chủ với tính cách là các giá trị dân chủ được nhân dân các dân
tộc, các thời đại sáng tạo ra trong quá trình đấu tranh cho lý tưởng tự do, bình
đẳng, làm chủ xét trên cấp độ xã hội và cộng đồng xã hội là tổng hoà các giá trị
dân chủ khách quan, bao gồm:
Hệ thống các quan điểm tư tưởng dân chủ;
Hệ thống các tổ chức, thiết chế dân chủ;
Hệ thống các cơ chế, nguyên tắc, phương thức thực hiện dân chủ, những tập
quán và truyền thống dân chủ của các cộng đồng xã hội và toàn nhân loại.


Các giá trị dân chủ khách quan này là sản phẩm được sáng tạo trong toàn bộ
tiến trình tiến hoá lịch sử của mỗi chế độ xã hội, dân tộc, thời đại và toàn nhân
loại. Sự vận động, biến đổi của các giá trị VHDC này phản ánh sự vận động
quanh co, những bước thăng trầm của lịch sử nhân loại trên hành trình vươn tới tự
do, bình đẳng và công bằng xã hội. Mỗi một giá trị dân chủ và tổng hoà các giá trị
VHDC đó đánh dấu trình độ phát triển của những nhu cầu dân chủ, những
phương thức, phương tiện được con người, loài người tạo ra để thực hiện nhu cầu
đó và những thành quả dân chủ đã giành được. Bởi vậy các giá trị VHDC phản
ánh trình độ giải phóng con người và xã hội, năng lực làm chủ xã hội của con
người. Các giá trị VHDC là một dòng chảy lớn, liên tục. Trong hành trình của con
người, loài người tới tự do, bình đẳng, mỗi một giá trị dân chủ cũng như toàn bộ
các giá trị VHDC vẫn đang tiếp tục được sáng tạo, kế thừa, bổ sung, được kết
tinh, góp vào tài sản chung của nền văn hoá, văn minh của mỗi dân tộc và cả loài
người. Nhiều giá trị VHDC này đã thấm sâu vào các tầng văn hoá xã hội, trở
thành những giá trị bền vững, giá trị xã hội chuẩn mực, chi phối, định hướng sự
vận động xã hội và hoạt dộng của con người, quyết định một phần vào bộ mặt đời
sống tinh thần xã hội, sự phát triển xã hội.
- Văn hoá dân chủ xét trên cấp độ cá nhân là sự thống nhất biện chứng của
cả ý thức dân chủ, tình cảm, thái độ, niềm tin dân chủ, năng lực hành vi hoạt động
dân chủ và thói quen, nếp sống, nhu cầu dân chủ của cá nhân, trở thành một giá

trị nhân cách.
Văn hoá dân chủ với tính cách là một giá trị nhân nhân cách, một thuộc tính
thể hiện năng lực nhận thức và hoạt động thực hiện dân chủ của chủ thể, là giá trị
VHDC cơ bản, trung tâm của VHDC. Điều đó xuất phát từ mối quan hệ biện
chứng giữa con người với văn hoá và từ vai trò của trình độ văn hoá dân chủ
trong con người, trong nhân cách.


Con người là chủ thể sáng tạo, nguồn gốc, động lực của sự phát triển văn
hoá. Do đó, các phẩm chất năng lực hoạt động thực thi dân chủ của con người là
nội dung biểu hiện của VHDC, là thước đo trình độ VHDC của xã hội, động lực
quyết định sự phát triển của VHDC xã hội. Các giá trị văn hoá dân chủ của con
người thể hiện qua hoạt động. Thông qua hoạt động thực hiện dân chủ của họ,
giúp người ta nhìn nhận, đánh giá được mặt khẳng định của VHDC, cái văn hoá,
tính văn hoá hoặc cái phản văn hoá, thiếu văn hoá trong thực hiện dân chủ.
Sự hoạt động thực thi dân chủ của mỗi người là một nội dung của VHDC, đo
lường trình độ VHDC, bởi chính hoạt động dân chủ là sự thể hiện một cách trung
thực nhất, tập trung nhất phẩm chất và năng lực dân chủ của con người.
Hoạt động sáng tạo và giao tiếp xã hội là thuộc tính bản chất của con người,
loài người; là điều kiện tồn tại, phát triển con người và xã hội; là cơ sở hình thành
nhân cách và các giá trị VH, các nền văn hoá. Đồng thời chính hoạt động là biểu
hiện của văn hoá, vì thông qua đó bản chất văn hoá và trình độ VH của con người
được bộc lộ. Tuy nhiên, theo ý nghĩa “cái VH”, “tính văn hoá”, không phải mọi
hoạt động thực thi dân chủ đều mang ý nghĩa VHDC, đều mang tính nhân đạo,
văn minh. Bản thân hoạt đồng gì chưa đủ để nói lên đó là văn hoá, tuy rằng văn
hoá có mặt trong các hoạt động. Bởi vì khi xác định văn hoá dân chủ của con
người ở mức nào, có VH hay thiếu văn hoá, phản VH, cần xem người ta thực
hành dân chủ như hế nào, theo cách thức nào. Theo C.Mác, sự khác nhau của các
thời đại là PTSX, còn đối với con người, thì Ph.Ăng-ghen cho rằng đặc trưng cá
nhân thể hiện ra không phải qua những việc cá nhân đó làm mà qua cách thức cá

nhân đó làm.
Nhìn chung, qua cách thức hoạt động và chất lượng giá trị sáng tạo, thấy
được trình độ phát triển và các đặc trưng văn hoá của con người. Cũng là một sự
hoạt động sáng tạo, một giá trị sáng tạo, song mỗi người, mỗi dân tộc, mỗi chế độ
xã hội và mỗi thời đại lại mang bản sắc VH riêng độc đáo. Bởi vì chính trong mỗi


giá trị sáng tạo đó và quá trình hoạt động để tạo nên nó, người ta đều để lại trong
đó trí tuệ, tài năng, cái tâm, cái hồn, sức sống, và hơi thở của con người, xã hội,
dân tộc, thời đại của mình.
Chính vì vậy, VHDC là sự hoạt động dân chủ của nhân dân một cách sáng
tạo, tích cực, chủ động, mang tính nhân đạo, văn minh. Hạt nhân cốt lõi của
VHDC trong quan hệ xã hội - giao tiếp của con người là sự tôn trọng nhân cách
và phẩm giá; là việc mỗi người thể hiện một cách xứng đáng quyền làm chủ, dân
chủ của mình, góp phần xây dựng quan hệ xã hội dân chủ, văn minh, tiến bộ. Trái
lại, cái phản VHDC đó là những thái độ, hành vi, hành động và sản phẩm của nó,
xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân như quan liêu, độc tài, chuyên
quyền, độc đoán; dân chủ giả hiệu, hình thức; dân chủ cực đoan, vô chính phủ; sự
thờ ơ chính trị, thói an phận, cam chịu, né tránh, thủ tiêu đấu tranh cho dân chủ và
tiến bộ xã hội v.v...
Việc thực hiện dân chủ đúng đắn, đầy đủ không chỉ phản ánh trình độ văn
hoá, văn minh, mà còn là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội.
VHDC bảo đảm và phát huy được quyền làm chủ của chủ thể, nâng cao được tinh
thần trách nhiệm, tính chủ động, năng động, sáng tạo của nhân dân. Có VHDC
thực sự, trí tuệ và nhiệt tình của quần chúng mới được phát huy, do đó mới khắc
phục được chủ quan, duy ý chí, tránh được nhiều sai lầm, lạc hướng trong nhận
thức quy luật khác quan, xu thế vận động của đời sống xã hội không chỉ của một
vài người mà của cả một trào lưu, một lực lượng xã hội. Thực hiện dân chủ một
cách văn hoá, làm cho chủ thể quản lý có tầm nhìn xa trong rộng, sâu sắc, thấu
đáo hơn, tránh bị một chiều, phiến diện, hẹp hòi, ấu trĩ. Từ đó có nhiều đề án,

phương pháp, biện pháp, sáng kiến... để xem xét, lựa chọn được cái tối ưu, hoặc
chí ít cũng là sự góp ý hay phản biện.
Trong quan hệ đa dạng của đời sống xã hội và con người, VHDC có thể giải
quyết tốt đẹp hài hoà những mâu thuẫn giữa cá thể với cộng đồng, bộ phận với


tổng thể, địa phương với trung ương... Văn hoá dân chủ cũng có thể làm cho các
bên đối tác, các lực lượng đối lập hiểu rõ lợi ích, nhu cầu, quan điểm, chính kiến
của nhau, để tìm ra các biện pháp hợp lý, thoả đáng mà các bên đều có lợi , đều
có thể chấp nhận được. Do đó phương thức hoạt động dân chủ một cách văn hoá
có thể hạn chế, ngăn ngừa, tránh được các biện pháp cực đoan, xung đột, chiến
tranh tàn khốc, đẫm máu, gây vô vàn tổn thất về người và của cho cả hai bên, mà
hậu quả là nhân dân phải gánh chịu đau khổ. Bởi thế văn hoá dân chủ góp phần
tạo nên sự ổn định xã hội, tăng cường sức mạnh của một cộng đồng, một quốc
gia, thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác, hiểu biết lẫn nhau, giữ gìn hoà bình an
ninh quốc tế.
Như vậycó thể nói, VHDC với tính cách là phương thức hoạt động của con
người, là phương thức tiến bộ, nhân đạo, có văn hoá, văn minh và hiệu quả xã
hội tích cực. Thực hiện VHDC đáp ứng được khát vọng của nhân dân, phù hợp
với bản tính con người, phát huy được nguồn lực con người, liên kết xã hội và
tăng cường sức mạnh tổng hợp của các cộng đồng xã hội. Bởi vậy thực hiện
VHDC trong tất cả các quan hệ xã hội của con người là một nội dung của sự
nghiệp giải phóng con người, giải phóng xã hội, nâng cao không ngừng trình độ
văn hoá, văn minh của mỗi dân tộc và toàn nhân loại.
Môi trường biểu hiện của VHDC
- Là giá trị dân chủ xã hội khách quan, một giá trị nhân cách, mức độ khả
năng và năng lực nhận thức, thực hành dân chủ của con người một cách văn minh
nhân đạo trong đời sống xã hội và quan hệ xã hội, VHDC được biểu hiện trong
các lĩnh vực hoạt động, trong các hình thức quan hệ xã hội, các hình thức tồn tại
xã hội của con người. Ở đâu có quan hệ dân chủ thì ở đó có và đòi hỏi VHDC.

Bởi vậy có VHDC trên lĩnh vực chính trị, VHDC kinh tế, văn hoá dân chủ xã hội
chủ nghĩa, VHDC trong giao tiếp, ứng xử cá nhân và cộng đồng; VHDC trong
môi trường xã hội rộng lớn, VHDC trong môi trường xã hội trực tiếp gần gũi. Các


nội dung giá trị của Việt Nam có mặt cả trong các hình thái ý thức - tư tưởng tâm lý xã hội, trong tồn tại xã hội; trên thượng tầng chính trị - tư tưởng- pháp
quyền (Hệ tư tưởng dân chủ, nhà nước, pháp luật dân chủ... ) dưới xã hội công
dân (các quan hệ xã hội, các tập quán, truyền thống...); trong các thuộc tính nhân
cách (ý thức, tình cảm, niềm tin, hành động, nhu cầu, nếp sống cá nhân...) v.v. và
v.v..
Ở đây, cung cần khu biệt khái niệm (giới hạn nội hàm) VHDC với khái niệm
VH chính trị và VH pháp luật.
Có thể nói 3 khái niệm này là những khái niệm rất gần nhau, có nhiều điểm
đồng nhất (khi chúng được giả định trong một miền không gian, thời gian, một
điều kiện lịch sử nhất định). Phần đồng nhất đó là những phần mà ba khái niệm
này giao thoa vào nhau, trong đó những nội dung của VHDC cũng là nội dung
của VHCT và VHPL. Chẳng hạn, trong một nền chính trị dân chủ, thì các quan
điểm chính trị, tổ chức, thiết chế, cơ chế, hành vi chính trị dân chủ là biểu hiện
của VHDC trên lĩnh vực chính trị, mà còn là VHDC trên các lĩnh vực kinh tế, văn
hoá, xã hội, giao tiếp, các quan hệ xã hội khác như VHDC trong gia đình, trong
trường học, ... trong những hoạt động ngoài chính trị, phi chính trị. Như vậy ở đây
VHDC rộng hơn VHCT, VHCT là nội dung của VHDC. Khi xét VHDC và
VHCT trong toàn bộ miền xác định, giới hạn của nó thì VHDC là một nội dung
có tính vĩnh hằng: từ xã hội công xã nguyên thuỷ đến xã hội cộng sản văn minh,
vì tự do, dân chủ, bình đẳng là những thuộc tính bản chất của con người, loài
người. Dưới CNCS nguyên thuỷ đó đã là quan hệ xã hội hiện thực; dưới CHCS
văn minh (dân chủ về chính trị tự tiêu vong) song các giá trị VHDC khác trở
thành tập quán và tiếp tục phát triển, hoàn thiện. Còn VHCT có tính lịch sử, là
một phạm trù lịch sử, nó hình thành, phát triển trong xã hội có giai cấp, mất đi khi
giai cấp và nhà nước mất đi, nó là văn hoá trên lĩnh vực chính trị, trên quan hệ

chính trị. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là mặc dù VHDC có nội hàm rộng hơn


VHCT, và dân chủ là thuộc tính có tính văn hoá nhất của VHCT, song không
phải nội dung chính trị nào, VHCT nào cũng mang tính chất dân chủ. Nhiều quan
hệ chính trị - với ý nghĩa là một giá trị VH - cũng không hẳn phải là quan hệ
chính trị dân chủ (vấn đề bạo lực chuyên chính trong quan hệ chính trị...)
Còn quan hệ giữa VHDC và VHPL cũng tương tự như vậy. VHPL là nội
dung quan trọng của VHDC, VHPL cũng là một phạm trù lịch sử, gắn liền và tồn
tại với sự tồn tại của giai cấp, nhà nước. Khi không còn quan hệ nhà nước nữa thì
cũng không còn VHPL. Trong XH công xã nguyên thuỷ chưa có PL, lúc đó người
ta tuân thủ “mọi việc theo một tập quán lâu đời”, lúc này “trong xã hội không có
một công cụ cưỡng chế nào cả”, người ta chưa “phân biệt đâu là quyền lợi, đâu là
nghĩa vụ. “Dưới CNCS văn minh, pháp luật cũng không còn, lúc đó người ta tuân
thủ mọi quy tắc xã hội như một tập quán tự nhiên. Hơn nữa, trong xã hội nói
chung và xã hội dân chủ nói riêng, không phải mọi quan hệ xã hội cũng đều là
quan hệ pháp lý. Mặt khác trong VHPL, không phải mọi giá trị và hành vi VHPL
đều mang ý nghĩa VHDC, mà đòi hỏi sự cưỡng chế, trừng phạt, thậm chí
“hạnchế, thủ tiêu dân chủ” với những phần tử vi phạm dân chủ.
Như vậy, xét trong một chế độ xã hội cụ thể, VHDC, VHPL, VHCT thống
nhất với nhau về bản chất xã hội và bản chất văn hoá, chúng có nội dung cơ bản
thống nhất và đồng nhất. Tuy vậy cũng không bao quát hoàn toàn. Nhìn chung về
giới hạn, phạm vi thì VHDC có tính vĩnh hằng, còn VHPL, VHCT có tính lịch sử.
Các nhân tố chế định và đặc điểm của VHDC
Cũng như các kiểu loại VH khác, VHDC chịu sự chế định của các nhân tố
khách quan và chủ quan, trong đó PTSX xã hội, chế độ xã hội quyết định bản
chất VHDC; các nhân tố chính trị, kinh tế, văn hoá, trình độ dân trí, đặc điểm dân
tộc, trình độ văn minh xã hội, năng lực quản lý của chủ thể quyền lực... tác động
thường xuyên quy định tính chất, đặc điểm trình độ, phát triển của VHDC.
-Đặc điểm VHDC.



Thứ nhất, là chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn
Đặc trưng nhân đạo, nhân văn của VHDC thể hiện cả trong nội dung tư
tưởng của các giá trị VHDC, cả phương thức hoạt động thực tiễn gắn liền với lịch
sử của nó trong các thời đại lịch sử. Khi xã hội xuất hiện bất công, bất bình đẳng,
nô dịch, áp bức con người, thì trong tư tưởng ý thức dân chủ của nhân dân, tính
nhân đạo đó được biểu hiện ở sự phản kháng bất công, áp bức, ở lòng khát khao
được tự do, bình đẳng, mơ ước được sống trong xã hội tốt đẹp, thuần khiết, hữu
ái, công bằng.
Khi PTSX TBCN ra đời ( thế kỷ XV- XVI), các quan hệ tư sản tạo cơ sở
khách quan cho sự phát triển các quan điểm dân chủ tư sản. Các nhà tư tưởng của
giai cấp tư sản đã đi vào luận giải bản chất con người, lấy đó làm cơ sở để đòi xác
lập một nguyên tắc mới trong quan hệ xã hội - nguyên tắc dân chủ - đối lập hoàn
toàn với các nguyên tắc độ chế độ phong kiến và giáo hội đặt ra. Họ luận chứng
cho các quyền tự do cá nhân, dân chủ, bình đẳng của con người trước pháp luật,
quyền được hưởng thụ, thoả mãn những nhu cầu... và coi đó là các quyền tự nhiên
thiêng liêng. Từ đó họ cổ vũ cho sự giải phóng cá nhân và xã hội khỏi chế độ
chuyên chế, đòi thủ tiêu được quyền đặc lợi PK, sự phân biệt đẳng cấp, tạo cơ sở
xã hội và pháp lý cho cách mạng dân chủ tư sản. Cách mạng dân chủ tư sản và
các giá trị VHDC tư sản là một bước tiến vĩ đại với thời trung cổ trong tiến trình
giải phóng con người và xã hội, trong đó có các giá trị đúng mức. Những giá trị
VHDC được khẳng định trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Đại
Cách mạng tư sản Pháp 1789, trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ 1776 , các
giá trị về tự do, bình đẳng về các quyền công dân, các giá trị VHDC về tổ chức,
thiết chế, các truyền thống dân chủ... được chúng ta đánh giá trên quan điểm lịch
sử đều xác nhận điều đó. Tuy nhiên, chủ nghĩa nhân đạo trong các giá trị VHDC
tư sản cũng bị hạn chế, vì nó lấy chế độ tư hữu và chủ nghĩa cá nhân làm cơ sở,
nó không giải quyết được mâu thuẫn giữa quyền bình đẳng trước pháp luật với



việc thực hiện quyền đó trong thực tế, rằng bình đẳng trước pháp luật là chưa đủ
của sự bình đẳng mà con người hướng tới.
Dưới CNTB, tính nhân đạo thể hiện rất đặc sắc trong các tư tưởng dân chủ,
bình đẳng, công bằng xã hội của các đại biểu CNXH không tưởng, như là một
biểu hiện của một khuynh hướng dân chủ của quần chúng lao khổ. Trong đó họ
đòi sự bình đẳng không chỉ về pháp luật mà cả về tài sản, không chỉ trên phương
diện cá nhân mà cả trên phương diện xã hội. Tuy nhiên do những hạn chế lịch sử,
tính nhân đạo và cả các tư tưởng dân chủ và XHCN đó , cũng không tìm được
con đường và phương tiện để đi tới xã hội dân chủ, bình đẳng, công bằng hiện
thực.
Khắc phục những hạn chế đó, chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong các quan điểm
dân chủ của mình, đã nâng chủ nghĩa nhân đạo lên một tầm cao chất lượng mới:
dân chủ , bình đẳng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhoá, xã hội,
trong đó bình đẳng, dân chủ kinh tế là nền tảng quyết định. Muốn có tự do, dân
chủ, bìnhđẳng, nhân dân phải đứng lên làm cách mạng xã hội, lật đổ chế độ áp
bức bóc lột, từng bước xây dựng xã hội mới, thực hiện dân chủ hoá các lĩnh vực
xã hội, nhân đạo hoá các quan hệ xã hội, tiến tới một xã hội không có giai cấp, và
con người được tự do, phát triển toàn diện.
Trong hành trình vươn tới tự do, bình đẳng, bằng hoạt động của mình, nhân
dân các thời đại đã sáng tạo ra các giá trị VHDC, như là những công cụ, phương
thức quan trọng để hạn chế từng mặt, từng bộ phận sự nô dịch, áp bức, chà đạp
lên phẩm giá con người. Cho nên các giá trị VHDC trực tiếp góp phần làm lành
mạnh hơn các quan hệ xã hội, đời sống xã hội, làm cho nó văn minh hơn, nhân
đạo hơn.
Trong đời sống xã hội, các giá trị VHDC thể hiện tính nhân đạo ở chỗ làm
cho mỗi công dân từ chỗ đơn thuần là khách thể, đối tượng quản lý xã hội và


quyền lực xã hội, đồng thời từng bước trở thành chủ thể tích cực sáng tạo các quá

trình quản lý và quyền lực xã hội.
Thứ hai, tính nhân loại, nhân dân.
Cũng như các giá trị VH khác, VHDC là giá trị phổ biến của toàn nhân loại.
Các giá trị VHDC mang tính nhân loại vì dân chủ là giá trị nhân đạo, nhân văn,
xuất phát từ bản tính chung của con người, hình thành khách quan trong quan
hệ xã hội, đời sống xã hội của con người, loài người, đã và đang là quan hệ xã
hội hiện thực phổ biến của loài người.
VHDC là giá trị phổ biến toàn nhân loại vì nó gắn liền và phản ánh trình độ
phát triển của nền văn minh nhân loại. Các giá trị VHDC không chỉ chịu tác động
trực tiếp của quan hệ giai cấp, của quyền lực chính trị, mà còn chịu tác động và
chế định kinh tế, văn hoá, giáo dục, KHKT, dân trí, thông tin, cơ cấu xã hội, mức
sống... Tóm lại là của toàn bộ nền văn hoá, văn minh chung của loài người.
Với ý nghĩa giá trị VH chung toàn nhân loại, VHDC là những giá trị dân chủ
có tính chung, phổ biến như: ý thức, nhu cầu dân chủ; các quan niệm về nội dung
dân chủ; sự biểu hiện của dân chủ trong đời sống xã hội; các hình thức, nguyên
tắc, cơ chế đân chủ, các quy chế, thể lệ chung về bầu cử, ứng cử, tính công khai,
tự do tư tưởng và chính trị của công dân, thảo luận, tranh luận dân chủ... Các
hành vi, hành động thực hiện dân chủ của nhân dân đều đòi hỏi phải có sự hiểu
biết nhất định về pháp luật, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm, ý thức công dân...
Trong các quan hệ quốc tế, tính nhân loại của VHDC thể hiện ở những tiêu
chuẩn chung, quan niệm giá trị chung của luật pháp, công ước quốc tế, các
nguyên tắc được thỏa thuận trong các sinh hoạt dân chủ của cộng đồng thế giới;
sự thừa nhận và cùng hợp tác giải quyết các vấn đề chung toàn cầu, vấn đề chung
về dân chủ - nhân đạo - nhân quyền... trên phạm vi quốc tế.


Xu thế dân chủ hoá trên thế giới hiện nay cũng là sự chứng minh cho tính
phổ biến toàn nhân loại của VHDC. Đối thoại, thương lượng dân chủ để giải
quyết các bất đồng, xung đột, được loài người tiến bộ đồng tình, ủng hộ.
Khi khẳng định tính nhân loại của VHDC cũng cần phải thấy rằng, VHDC

cũng là giá trị chung, phổ biến của nhân dân, của con người trong một chế độ xã
hội, trong một nền dân chủ, tức là tính nhân dân của VHDC.
Sự thể hiện tính nhân dân của VHDC, suy đến cùng không phải do ý nuốn
chủ quan của giai cấp thống trị quyết định, mà do cơ sở khách quan đời sống xã
hội, cơ cấu - xã hội và lợi ích các giai cấp trong xã hội quyết định.
Giai cấp thống trị xã hội, với tư cách là giai cấp thống trị về kinh tế, chính
trị, tư tưởng, đều biểu hiện lợi ích, quyền lực của mình như là lợi ích và quyền lực
có giá trị phổ biến. Vì vậy quyền lực chính trị, quyền tự do, dân chủ của giai cấp
thống trị bao giờ cũng được nhân danh là quyền lực của nhân dân, của mọi công
dân. Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác viết: “Giai cấp nào muốn nắm quyền thống
trị, thì giai cấp ấy, trước hết phải chiếm lấy chính quyền, để đến lượt mình, có thể
biểu hiện lợi ích của bản thân mình như là lợi ích phổ biến” (2, tr. 67).
Bởi vậy các tư tưởng quan điểm dân chủ, các quyền dân chủ, các giá trị
VHDC của giai cấp thống trị đều được biểu hiện thành các quyền dân chủ của
mọi công dân, được thể chế hoá thành pháp luât, thành giá trị phổ biến - chuẩn
mức của toàn xã hội, áp đặt cho xã hội. Chính điều đó đã củng cố quyền lực của
giai cấp thống trị, bởi vì “chỉ có vì những quyền chung của xã hội, thì một giai
cấp cá biệt mới có thể đòi hỏi thống trị phổ biến được” (4, tr. 30).
Các giá trị VHDC không phải là sản phẩm riêng biệt của một giai cấp, chế
độ xã hội và thời đại cá biệt nào, mà là thành quả VH chung của loài người. Quần
chúng nhân dân trong lịch sử là nhân tố quyết định sự sinh thành, biến đổi, phát
triển lịch sử, là chủ thể sáng tạo, cảm thụ, tiêu dùng các giá trị văn hoá. Bản chất
của VHDC là giá trị sáng tạo và hoạt động sáng tác của nhân dân để thực hiện


nhu cầu tự do, bình đẳng, làm chủ. Các giá trị VHDC là thành quả của quá trình
đấu tranh bền bỉ, lâu dài của nhân dân chống lại các thế lực áp bức, nô dịch con
người. Nhân dân tạo nên các giá trị VHDC, quyết dịnh sự phát triển của nó. Đồng
thời các giá trị VHDC lại phục vụ lợi ích nhân dân, nâng cao vai trò vị thế làm
chủ của nhân dân.

Thứ ba, tính dân tộc của VHDC
Nói đến VH là nói đến dân tộc và ngược lại. Trong khái niệm dân tộc, VH là
đặc trưng cơ bản, nổi bật, sâu sắc, có giá trị vững bền nhất, trường tồn nhất.
Trong mỗi nền VH dân tộc, VHDC là một bộ phận hợp thành.
Nền VHDC, các giá trị VHDC cũng biểu hiện các đặc tính của nền VH dân
tộc, của con người và xã hội của dân tộc đó. Nói cách khác, các đặc điểm dân tộc,
bản sắc VH dân tộc, được phản ánh trong các giá trị VHDC.
Tính dân tộc của VHDC là sự phản chiếu và ảnh hưởng trực tiếp hay gián
tiếp, cùng những biểu hiện bên trong nó các đặc điểm dân tộc như tâm lý, tư
tưởng, nếp sống, tập quán, phong tục, các truyền thống văn hoá dân tộc khác và
cả các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử mà dân tộc đó đang tồn tại
Truyền thống dân tộc là toàn bộ những yếu tố “di truyền” VH xã hội của dân
tộc từ thế hệ trước sang thế hệ sau, được bảo tồn trong các cộng đồng xã hội của
dân tộc trong quá trình lịch sử lâu dài.
Truyền thống dân tộc bao gồm trong đó cả những chế định xã hội, các giá trị
văn hoá tư tưởng, lối sống, tâm lý - ý thức, các chuẩn mực hành vi, các quan niệm
đạo đức, thẩm mỹ... tạo thành tập quán, phong tục xã hội. Truyền thống dân tộc là
yếu tố khách quan có sức mạnh khống chế, và định hướng ý thức, thái độ, hành vi
con người. Bởi vậy các quan niệm về tự do, dân chủ, bình đẳng, các nhu cầu, nếp
sống, tập quán, truyền thống dân chủ, các hành vi thực hiện dân chủ... chịu ảnh
hưởng rất sâu sắc các đặc điểm truyền thống dân tộc.


Các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội... đươngđại tác động trực tiếp
tới các nội dung VHDC. Các yếu tố dân tộc đương đại này quyết định bộ mặt đời
sống tinh thần xã hội và đời sống dân chủ, trình độ VHDC. Chế độ, trạng thái
kinh tế, chính trị - xã hội, trình độ dân trí... là yếu tố cơ bản quy định thực trạng
dân chủ, tâm trạng, nhu cầu dân chủ, đồng thời cả bản chất, nội dung, xu hướng
phát triển của nền VHDC. Trong “Phê phán Cương lĩnh Gô Ta”, khi nói về sự
quy định của kinh tế, văn hoá... đối với pháp quyền, C.Mác viết: “Quyền không

bao giờ có thể ở một mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hoá của xã
hội, do chế độ kinh tế sinh ra quyết định” (7, tr.480).
VHDC có giá trị chung phổ biến, đồng thời mặt khác VHDC bao giờ cũng
gắn liền với một dân tộc, một quốc gia xác định. Vấn đề dân chủ luôn là nội dung
vấn đề dân tộc. Sự khác nhau về truyền thống VHDT, sự không đồng đều về hiện
trạng đời sống xã hội của các dân tộc, quy định sự phát triển khác nhau về trình
độ VHDC. Vì vậy tư tưởng độc lập - tự chủ, sáng tạo là một nguyên tắc chủ đạo
cực kỳ quan trọng trong xây dựng và phát triển VHDC. Việc nghiên cứu tiếp thu
có phê phán, có chọn lọc các giá trị VHDC trên thế giới là dĩ nhiên và cần thiết.
Song sự sao chép máy móc, mô phỏng giáo điều các hình thức tổ chức quyền lực
chính trị và quyền lực nhà nước, mở rộng dân chủ và đổi mới HTCT mà không
tính đến các yếu tố dân tộc truyền thống đương đại sẽ là một sai lầm nghiêm
trọng cả về lý luận và thực tiễn. Cần lưu ý lời nói của V.I. Lê nin: “Tất cả các dân
tộc đều tiến lên CNXH. Đó là điều không tránh khỏi. Nhưng tất cả các dân tộc
tiến lên CNXH không phải một cách hoàn toàn giống nhau. Mỗi dân tộc sẽ đưa
đặc điểm của mình vào hình thức này hay loại khác của việc cải tạo XHCN đối
với các mặt khác nhau của đời sống xã hội” (11. tr.160).
- Thứ tư là, tính giai cấp của VHDC


VHDC là giá trị xã hội phản ánh vai trò, vị thế của chủ thể - con người trong
các hệ thống xã hội, nhất là hệ thống quyền lực chính trị. Trong xã hội có giai
cấp, VHDC bao giờ cũng mang tính giai cấp sâu sắc.
Tính giai cấp là một thuộc tính nội tại cơ bản của VHDC, nó được hình
thành một cách khách quan từ địa vị kinh tế, chính trị của giai cấp. Địa vị kinh tế,
chính trị của giai cấp, quy định thế giới quan, hệ tư tưởng chính trị, các quan
niệm về các giá trị, đạo đức, thẩm mỹ... cùng các hoạt động thực tiễn của giai cấp
đó. Bởi vậy các giai cấp khác nhau có quan niệm khác nhau về nội dung tư tưởng
và phương thức, mục tiêu thực hiện dân chủ. Việc các giai cấp đề ra các quan
điểm tư tưởng, các chuẩn mực giá trị dân chủ, ... đều nhằm phục vụ lợi ích kinh tế

và quyền lực chính trị của mình.
Bản chất giai cấp quy định nền VHDC cả về bản chất, nội dung, trình độ
cùng chức năng xã hội của nó. Theo quy luật chung, giai cấp nào tiên tiến hơn về
phương thức sản xuất - giao tiếp xã hội, thì cũng tiến bộ hơn về tính chất và phát
triển cao hơn về trình độ VHDC. Trong một nền VHDC thì các quan điểm tư
tưởng dân chủ của giai cấp thống trị là tư tưởng dân chủ thống trị xã hội, tư
tưởng dân chủ chính thống, hợp pháp, được pháp luật hoá thành các giá trị xã hội
phổ biến và áp đặt với toàn xã hội. Nó là nội dung tư tưởng của nền VHDC của
giai cấp thống trị. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, thực tế luôn tồn tại quan
điểm tư tưởng dân chủ đối lập của giai cấp thống trị. Nó cũng là cơ sở tư tưởng
của nền VHDC của giai cấp bị trị. Trong một chế độ xã hội, còn tồn tại giai cấp,
trong thực tế luôn tồn tại (ở mức độ, hình thức, nội dung khác nhau) hai nền VH
nói chung và VHDC nói riêng. Nói về sự song hành của hai nền VH trong lòng
chủ nghĩa tư bản, V.I. Lê nin chỉ rõ: “Trong mỗi dân tộc, có nền VH tư sản... là
nền VH thống trị” đồng thời “trong mỗi nền văn hoá dân tộc, đều có những thành
phần, thậm chí không phát triển của nền VH dân chủ XHCN, vì trong mỗi dân tộc,


đều có quần chúng lao động và bị bóc lột, mà điều kiện sinh sống của họ, nhất
định phải sinh ra một hệ tư tưởng dân chủ và XHCN” (18, tr.15)
Trong nền VHDC tư sản, tính chất tư sản thể hiện trước hết là các quan điểm
tư sản về dân chủ. Các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản và những kẻ đồng loã với
họ thường tán dương về “tính khách quan”, “vô tư” của dân chủ tư sản, coi đó là
mẫu mực, và nó đem lại dân chủ cho mọi người. Họ tuyệt đối hóa và thổi phồng
quá đáng các đặc điểm chung, những giá trị phổ biến, nhân đạo, nhân văn và tính
nhân loại, tính nhân dân của dân chủ - nhân quyền, cố tình lảng tránh hoặc phủ
nhận tính giai cấp của nó. Họ chứng minh rằng việc giai cấp tư sản giương cao
ngọn cờ tư tưởng: “Tự do - bình đẳng, bác ái”, khẳng định sở hữu tư nhân, tự do
kinh doanh, cơ chế thị trường, tự do cá nhân v.v... là thể hiện đầy đủ nhất đặc tính
nhân đạo của VHDC tư sản. Việc tuyên bố các quyền con người, quyền bình đẳng

của công dân trước pháp luật, việc thực hiện chế độ đa đảng, đa nguyên chính trị,
sự phát triển phong phú của các phương tiện thông tin - truyền thống đại chúng...
trong xã hội tư sản, đó là hình mẫu, tấm gương sáng về dân chủ, nhân quyền mà
thế giới cần noi theo. Hơn nữa, họ đang tích cực xuất khẩu các mô hình dân chủ
phương Tây ra toàn thế giới, hoặc lấy đó là điều kiện để gây sức ép với các nước
khác trong quan hệ quốc tế, đồng thời ra sức nuôi dưỡng, cổ vũ, khuyến khích,
ủng hộ các khuynh hướng chấp thuận theo mô hinh đó.
Thực ra, các dấu hiệu đó không chứng minh và biện hộ được tính phi giai
cấp, siêu giai cấp, sự “hoàn mỹ” của VHDC tư sản. Trái lại, nó càng phản ánh
đầy đủ và sâu sắc hơn bản chất, mục đích, lợi ích tư sản. Các quan điểm dân chủ,
các thiết chế, cơ chế... trong nền VHDC tư sản, về thực chất đều là những công
cụ, phương thức, thủ đoạn để bảo vệ và thực hiện lợi ích kinh tế, quyền lực chính
trị của giai cấp tư sản.
Thật vậy, sự tồn tai, phát triển của nền sản xuất TBCN đòi hỏi phải thường
xuyên cách mạng hoá công cụ sản xuất, xã hội hoá lực lượng sản xuất và duy trì


×