Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

Quan niệm nghệ thuật qua di cảo và phê bình tiểu luận của Nguyễn Minh Châu

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (514.83 KB, 113 trang )

-1-

LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Quang Long,
người thầy, người hướng dẫn khoa học đã chỉ bảo, giúp đỡ em rất chu đáo,
nhiệt tình trong suốt quá trình học tập và viết luận văn.
Em xin gửi lời biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong tổ
bộ môn Lý luận văn học, khoa Văn, phòng Sau đại học Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội II đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ động viên chúng em
trong khóa học.
Em xin gửi lời cảm ơn tới Sở Giáo dục & Đào tạo Hà Nội, trường THPT
Tiền Phong, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân yêu đã dành
cho em sự giúp đỡ, sẻ chia về mọi mặt trong suốt thời gian học tập, nghiên
cứu.
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2011
Tác giả luận văn

Đặng Thị Phương Lan


-2-

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và không sao chép của ai, chưa
được công bố trong các công trình khác.
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2011

Tác giả luận văn

Đặng Thị Phương Lan




-3-

MUC LUC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................................5
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.............................................................................................5
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU........................................................................................10
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU........................................................................................10
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.............................................................11
NỘI DUNG..........................................................................................................................12
CHƯƠNG 1:.....................................................................................................................12
QUAN NIỆM VỀ VĂN HỌC VÀ NHÀ VĂN................................................................12
1.1. Phê bình văn học từ cách nhìn của Nguyễn Minh Châu.....................................12
1.2. Quan niệm của Nguyễn Minh Châu về văn học..................................................14
1.2.1. Quan niệm về tính tư tưởng trong văn học ...............................................14
1.2.2. Quan niệm về cảm xúc văn học:..............................................................16
1.2.3. Tính thời sự của văn học................................................................................18
1.2.3.2. Tính thời sự trong nội dung phản ánh của tác phẩm văn học.................20
1.3. Quan niệm về nhà văn ........................................................................................21
1.3.1. Trách nhiệm của người viết và vai trò đích thực của nhà văn...................21
1.3.2. Một số kiểu nhà văn theo quan niệm của Nguyễn Minh Châu:..................25
1.3.2.1. Nhà văn - công dân.................................................................................26
1.3.2.2. Nhà văn tài năng.....................................................................................29
1.3.2.3. Nhà văn " vô sự".................................................................................30
1.4. Nhà văn với cuộc sống.........................................................................................31
CHƯƠNG 2 :....................................................................................................................41
QUAN NIỆM VỀ HIỆN THỰC VÀ VIỆC PHẢN ÁNH HIỆN THỰC TRONG TÁC
PHẨM VĂN HỌC...........................................................................................................41
2.1. Quan niệm về hiện thực........................................................................................41

2.1.1. Quan hệ giữa văn học và hiện thực..............................................................41
2.1.1.1. Thực tiễn là tư liệu cho tác phẩm văn học. ...........................................42
2.1.1.2. Thực tiễn là tiêu chuẩn, là thước đo nhận thức của nhà văn..................47
2.1.1.3. Thực tiễn là cảm hứng của văn học. ...................................................48
2.1.1.4. Khoảng cách giữa hiện thực cuộc sống và hiện thực trong tác phẩm văn
học........................................................................................................................49
2.1.2.Nhà văn thâm nhập cuộc sống thực tế............................................................51
2.1.2.1. Vì sao nhà văn phải thâm nhập cuộc sống thực tế.................................51
2.1.2.2. Cách thức nhà văn thâm nhập cuộc sống thực tế...................................52
2.2. Hiện thực trong văn học.......................................................................................54
2.2.1. Hiện thực trong văn học cách mạng viết về chiến tranh.............................54
2.2.1.1. Vượt lên trên cái hiện thực đang sống. ..................................................54
2.2.1.2. Hiện thực được thi vị và lý tưởng hóa....................................................55
2.2.2. Hiện thực trong văn học khi trở về với đời thường.......................................56
2.2.2.1. Sự nới rộng phạm vi hiện thực.
.......................................................56
2.2.2.2. Hiện thực đa sự, đa đoan. ..................................................................58
2.3. Yêu cầu đổi mới cách phản ánh hiện thực...........................................................59
2.3.1. Đoạn tuyệt với cách phản ánh mang tính minh hoạ......................................59
2.3.2. Tự do sáng tạo của nghệ sĩ............................................................................61
2.3.3. Nhà văn và những tìm kiếm mang tính thể nghiệm......................................62
CHƯƠNG 3:.....................................................................................................................65


-4-

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGHỀ VĂN VÀ SÁNG TÁC CỦA .........................................65
NGUYỄN MINH CHÂU.................................................................................................65
3.1. Nghề văn:............................................................................................................65
3.1.1. Viết văn là một nghề.................................................................................65

3.1.2. Về ‘‘ bản năng và ý thức của người cầm bút’’. ..........................................66
3.2. Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức..............................................................69
3.3. Về thể loại văn học...............................................................................................71
3.3.1. Tiểu thuyết.....................................................................................................72
3.3.2. Truyện ngắn...................................................................................................76
3.3.3. Những vấn đề của nghệ thuật tự sự...............................................................79
3.3.3.1. Cốt truyện trong văn xuôi tự sự..............................................................79
3.3.3.2. Bố cục tác phẩm.....................................................................................86
3.3.3.3. Tình thế truyện.......................................................................................89
3.4. Nhân vật...............................................................................................................94
3.4.1. Quan niệm của Nguyễn Minh Châu về nhân vật trong tác phẩm văn học....94
3.4.1.1. Nhân vật văn học trong chiến tranh. ......................................................95
3.4.1.2. Nhân vật trong văn học sau chiến tranh.................................................98
3.4.2. Nhân vật trong thực tế sáng tác của Nguyễn Minh Châu. ..........................101
3.4.2.1. Nhân vật thuần nhất...............................................................................101
3.4.2.2. Nhân vật phân thân, phức tạp...............................................................103
KẾT LUẬN........................................................................................................................105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................108
CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ........................................ 114


-5-

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1.1. Nguyễn Minh Châu là một trong số ít những nhà văn hiện đại Việt
Nam đã thu hút được sự chú ý mạnh mẽ, đa chiều của giới nghiên cứu, phê
bình, sáng tác cũng như công chúng yêu văn học trong và ngoài nước. Trước
1975, Nguyễn Minh Châu là nhà văn của những trang viết đậm chất sử thi và
tràn đâỳ cảm hứng lãng mạn. Thế nhưng sau đó, chính xác hơn là những năm

“tiền đổi mới” cho đến trước khi nhà văn về cõi vĩnh hằng, người ta lại tìm
đến ông với một sự ngưỡng vọng và kinh ngạc bởi những trang văn “xác thực,
đa dạng và cận nhân tình”, đưa văn chương trở về với tất cả những sự đa
dạng, phức tạp, nhiều chiều của đời sống. Điều này được phản ánh rất rõ
không chỉ thông qua sáng tác mà còn qua cả những trang tiểu luận - phê bình.
Nguyễn Minh Châu tham gia viết tiểu luận - phê bình, chân dung văn học từ
rất sớm. Cuốn sách Trang giấy trước đèn là tập hợp những bài viết được
đăng rải rác trên các báo, những ghi chép tản mạn và những bài trả lời phỏng
vấn từ năm 1969 đến tận khi ông qua đời. Tôn Phương Lan đã tập hợp lại với
ý định làm một cuốn sách riêng về mảng phê bình - tiểu luận và Nguyễn Minh
Châu tự đặt tên cho tập sách.
Cuốn Di cảo Nguyễn Minh Châu được Nhà Xuất bản Hà Nội và gia
đình công bố vào quý III năm 2009, đúng dịp kỉ niệm lần thứ hai mươi ngày
mất của ông, giúp cho những ai quan tâm đến nền văn học hiện đại Việt Nam
và tác giả Nguyễn Minh Châu có một bức chân dung hoàn chỉnh về ông, một
nhà văn chiễn sĩ suốt đời không ngừng trăn trở, lo âu về số phận con người,


-6-

về sự vận động và hướng phát triển của nền văn học nước nhà. Qua cuốn
sách, chúng ta hiểu sâu sắc hơn những quan niệm của ông về nghề văn và
nghiệp cầm bút. Đây là những quan niệm nghệ thuật chưa được công bố hoặc
nếu có thì chỉ là những ý kiến lẻ tẻ về một vài vấn đề trên báo và tạp chí.
Qua những cuốn sách trên và những bài phê bình tiểu luận của ông
chứng tỏ ông đã có cả một hệ thống quan niệm rất rõ về trách nhiệm của nhà
văn, của ngòi bút mình trước nhân dân, đất nước, trước cuộc sống.
1.2. Nguyễn Minh Châu viết phê bình - tiểu luận với một tấm lòng hăm
hở, nhiệt tình của một người lính xông pha, người đầu tiên khuấy động sự tĩnh
lặng nhiều năm liền của văn học thời hậu chiến. Cũng như những sáng tác,

tiểu luận - phê bình của Nguyễn Minh Châu là những suy ngẫm, tìm tòi, trăn
trở đầy tâm huyết, bộc lộ trực tiếp và sâu sắc tư chất nghệ sĩ và ý thức nghệ
thuật của ông. Nó vừa mang tính lập thuyết, vừa là sự chiêm nghiệm đầy trách
nhiệm trong quá trình sáng tác của nhà văn; nó vừa là sự tìm đường cho
những sáng tác vừa là sự giao thoa, hắt bóng những sáng tác của ông. Nó đã
góp phần không nhỏ vào tiến trình đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới, phát
triển văn học Việt Nam sau chiến tranh.
1.3. Sẽ là không đầy đủ đối với công việc nghiên cứu văn học đương đại
nói chung, sự nghiệp văn học của nhà văn Nguyễn Minh Châu nói riêng nếu
không nghiên cứu chuyên sâu tiểu luận - phê bình của ông. Qua những bài
tiểu luận hoặc di cảo của ông, có thể thấy rất rõ những băn khoăn, trăn trở,
những độ vênh, lệch giữa những suy nghĩ mang tính tư tưởng, triết lý nhân
sinh ...với những hình tượng nghệ thuật của ông. Nói chính xác hơn thì giữa
hình tượng nghệ thuật với những suy tư của ông về nghề viết, văn học, cuộc
đời... có những khoảng cách, khoảng trống. Hai phương diện này bổ sung cho
nhau, đem đến cho người đọc một Nguyễn Minh Châu đa diện và đầy đủ hơn.
Qua những trang viết này, chúng ta có thêm căn cứ để hiểu đúng hơn về


-7-

những hình tượng nghệ thuật của ông. Bởi những quan niệm nghệ thuật của
nhà văn tập trung rất đầy đủ và sâu sắc qua phê bình - tiểu luận. Như thế,
nghiên cứu tiểu luận - phê bình của Nguyễn Minh Châu, chúng ta sẽ có được
một cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về cuộc đời, văn nghiệp của một nhà văn
tâm huyết, tài năng trong văn học hiện đại Việt Nam.
1.4. Lịch sử vấn đề
Tìm hiểu tiểu luận - phê bình của Nguyễn Minh Châu diễn ra khá muộn
so với quá trình nghiên cứu về sáng tác của ông. Bảy năm sau ngày ông qua
đời, năm 1994, những trang tiểu luận - phê bình của ông mới được nhà nghiên

cứu Tôn Phương Lan tập hợp và cho ra mắt bạn đọc một cách đầy đủ trong
tập Trang giấy trước đèn.
Khi giới thiệu Trang giấy trước đèn, Tôn Phương Lan đã viết bài
Nguyễn Minh Châu qua phê bình - tiểu luận (tháng 9 - 1993) thay cho lời tựa
cuốn sách. Tôn Phương Lan khẳng định: “Lịch sử lý luận phê bình đương đại
sẽ nhớ đến ông với tư cách là người đầu tiên khuấy động sự tĩnh lặng hàng
bao nhiêu năm của một nền văn học thời chiến bằng tiểu luận viết về chiến
tranh” .[42- tr6]
Cũng vẫn là Tôn Phương Lan, trong Hành trình dẻo dai của một ngòi
bút đã nhận thấy: “Và cũng không nên quên rằng ở lĩnh vực lý luận phê bình
văn học, chúng ta bắt gặp vẫn Nguyễn Minh Châu ấy: trăn trở, dằn vặt, hao
tâm, tổn trí để khám phá, tìm tòi cho ra cái lẽ của nghề, của nghiệp, của thiên
chức người nghệ sĩ và văn chương” [32- tr42]. Như thế, Tôn Phương Lan là
người đầu tiên không chỉ có công biên soạn, giới thiệu phê bình tiểu luận của
Nguyễn Minh Châu mà còn là người đầu tiên phát hiện ra sự vận động trong ý
thức nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu ở mảng phê bình tiểu luận.
Hồng Diệu trong Nguyễn Minh Châu nghĩ và viết về việc viết văn (tháng
1 - 1994) cho rằng: “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh


-8-

họa của Nguyễn Minh Châu là biểu hiện của một nhà văn có tinh thần trách
nhiệm cao - tuy bài báo còn những điều cần được làm rõ, để hiểu có lý, có
tình, tránh khen chê theo cảm tính” [34,tr427]. Cách tiếp cận phê bình tiểu
luận của Nguyễn Minh Châu trong bài viết của Hồng Diệu dù đã nêu ra được
khá nhiều ván đề nhưng đó mới chỉ là một phần trong những gì nhà văn đã
“nghĩ và viết”.
PGS Phạm Quang Long trong bài viết Thái độ của Nguyễn Minh Châu
đối với con người: niềm tin pha lẫn với âu lo (năm 1996) đã khẳng định:

“Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình Nguyễn Minh Châu khi thì bằng tác
phẩm, khi thì bằng những suy nghĩ đầy tâm huyết đã nêu ra những vấn đề có
ảnh hưởng quan trọng tới cả một xu hướng phát triển của văn học nước nhà.”
[44, tr1]. Tác giả bài viết còn cho rằng nhà văn còn làm được nhiều hơn thế.
Dấu ấn ông để lại “ không phải chỉ là số đầu sách đã xuất bản mà là một vệt
tư tưởng về con người, một sự thức tỉnh cho cả xã hội và cho văn chương nói
chung” [44, tr1].
Mai Hương trong bài Nguyễn Minh Châu và di sản văn học của ông
(mùa thu năm 2000) đã chỉ ra rằng nơi bộc lộ trực tiếp, rõ nhất ý thức nghệ
thuật của Nguyễn Minh Châu chính là phần phê bình tiểu luận nên nhà nghiên
cứu đã dùng chính phần này để soi chiếu vào sáng tác của nhà văn, từ đó có
cơ sở khẳng định những đóng góp to lớn của ông đối với nền văn học cách
mạng nước nhà bằng cả “thực tiễn sáng tác và tiểu luận phê bình, bằng cả ý
thức nghệ thuật và phương thức biểu đạt”.
Nguyễn Trọng Hoàn (tháng 1 - 2002) trong bài Tiếp tục hành trình đọc
Nguyễn Minh Châu đã nhận xét: “Cùng với sáng tác là công việc được xem
như chính yếu trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Minh Châu còn
viết khá nhiều trang tiểu luận phê bình có giá trị thể hiện suy nghĩ của ông về
những phương diện khác nhau của quá trình văn học” [34, tr27].


-9-

Giáo sư Trần Đình Sử đã nhận xét về phê bình lý luận của Nguyễn Minh
Châu trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX (tháng 9 - 2004): “Giá trị của
ngòi bút phê bình của nhà văn là ở tính tư tưởng rõ ràng, chân thật, mạch lạc
của nó…nhưng vị trí cao nhất của ông là người thổi bùng ngọn lửa đổi mới
văn học của giai đoạn mới. Di sản lý luận phê bình văn học của ông được tập
hợp trong cuốn Trang giấy trước đèn.” [18, tr788]
Trong bài Cái nhìn ngược sáng từ Di cảo Nguyễn Minh Châu (năm

2009)của Tôn Phương Lan có viết: “ Di cảo Nguyễn Minh Châu không chỉ
cho chúng ta thấy được phần nào sự thật của một giai đoạn lịch sử : cuộc
chiến tranh, số phận mỗi con người, số phận mỗi dân tộc cũng như những trăn
trở, suy tư của nhà văn về trách nhiệm nghệ sĩ của mình mà qua đó chúng ta
cũng có một hình dung rõ hơn về một Nguyễn Minh Châu - một trong số các
nhà văn sớm đi đầu trong công cuộc đổi mới và cũng hiểu được vì sao ông
chọn cách đi ấy do đâu mà ông lại thành công như vậy”.
Trong chuyên luận Nhà văn Nguyễn Minh Châu và cảm hứng nhân văn
của Phạm Duy Nghĩa, tác giả đi sâu nghiên cứu chủ nghĩa nhân văn trong các
sáng tác của nhà văn và nhận ra “ Không chỉ trong địa hạt sáng tác mà cả bình
luận văn học, tư tưởng nhân văn của Nguyễn Minh Châu đã thắp lên ngọn lửa
Đankô của tình yêu thương cháy bỏng đối với con người” [20, tr5].
Bên cạnh đó chúng ta còn thấy nhiều bài viết, cuốn sách xuất bản trong
những năm gần đây cũng đề cập nhiều ý kiến xác đáng về những đóng góp
của nhà văn Nguyễn Minh Châu cả trong mảng phê bình tiểu luận, cả trong
mảng sáng tác. Như trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX ( Lý luận – phê
bình 1975 – 2000, quyển năm - tập XIII) do PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thiện
chủ biên năm 2010, cuốn Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam, tập I do
Trần Thanh Phương và Phan Thu Hương biên soạn, chuyên luận Một chặng


- 10 -

đường đổi mới lý luận văn học Việt Nam ( 1986 - 2011) của TS Cao Hồng
năm 2011…
Nhìn một cách khái quát, các bài viết tiêu biểu nghiên cứu về tiểu luận
phê bình của Nguyễn Minh Châu còn ít so với loạt bài nghiên cứu về sáng tác
của ông. Các bài viết điểm trên mặc dù đã đánh giá được một số đóng góp của
Nguyễn Minh Châu qua tập Trang giấy trước đèn nhưng mới chỉ dừng ở mức
độ riêng lẻ. Còn riêng cuốn Di cảo Nguyễn Minh Châu do mới xuất bản nên

hầu như chưa có những bài viết, những đề tài khoa học nghiên cứu. Cho đến
nay cuốn sách này giống như một cánh rừng còn nhiều bí ẩn cần được khám
phá.
Như vậy, một công trình chuyên biệt về quan niệm nghệ thuật của
Nguyễn Minh Châu qua phê bình tiểu luận từ góc độ Lý luận văn học thì chưa
có nhiều. Vì thế chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài : Quan niệm nghệ thuật qua
Di cảo và phê bình tiểu luận của Nguyễn Minh Châu nhằm đi sâu tìm hiểu
quan niệm nghệ thuật của ông, từ đó soi chiếu vào thực tế sáng tác của
Nguyễn Minh Châu để tìm hiểu những điều nhà văn đã làm được và chưa
thực hiện được giữa lý luận và thực tiễn và trong một chừng mực nào đó lý
giải về những độ vênh lệch này trong quá trình sáng tác của nghệ sĩ như một
trường hợp điển hình.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Luận văn nhằm mục đích nghiên cứu một cách hệ thống những quan
niệm nghệ thuật của nhà văn qua các tiểu luận phê bình và di cảo. Trên cơ sở
đó góp phần lý giải quá trình sáng tạo của ông từ nhiều góc độ nhằm đưa đến
một cách nhìn đa chiều hơn về một hiện tượng độc đáo của văn học dân tộc.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Luận văn tập trung vào nghiên cứu ba nội dung chính sau:
1.Quan niệm về văn học và nhà văn.


- 11 -

2.Quan niệm về hiện thực và việc phản ánh hiện thực.
3. Một số vấn đề về nghề văn và sáng tác của Nguyễn Minh Châu
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Luận văn tập trung đi sâu nghiên cứu những quan niệm nghệ thuật của
ông trong cuốn Di cảo Nguyễn Minh Châu, đó là những quan niệm nghệ thuật
chưa được công bố chính thức trước đây, hoặc chỉ là những bài viết rải rác .

Đồng thời, luận văn cũng tập trung vào nghiên cứu những trang nhật ký,
những ghi chép tản mạn của Nguyễn Minh Châu được tập hợp lại cuốn Trang
giấy trước đèn và những bài viết được in trên những tạp chí, đối chiếu, so
sánh, làm sáng tỏ thêm quá trình hình thành một cá tính sáng tạo Nguyễn
Minh Châu. Ngoài ra, luận văn này còn đi vào nghiên cứu một số vấn đề lý
luận đặt ra trong một vài sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu, từ đó soi
chiếu vào những tác phẩm của ông để nhận ra được những sự đồng nhất và
vênh chệch giữa lý luận và thực tiễn sáng tác .
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
1. Phương pháp phân loại.
2. Phương pháp phân tích, tổng hợp.
3. Phương pháp so sánh.
6. DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN.
Đây là một trong những công trình khoa học đầu tiên chọn cuốn Di cảo
Nguyễn Minh Châu làm đối tượng nghiên cứu, kết hợp với những bài phê
bình tiểu luận trước đây của ông để từ đó đưa ra quan niệm nghệ thuật của
nhà văn về văn học, về nghề văn, về nhà văn, về hiện thực và việc phản ánh
hiện thực, về các yếu tố cấu thành nên tác phẩm văn chương rồi soi chiếu vào
thực tế sáng tác của nhà văn để thấy sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
của ngòi bút Nguyễn Minh Châu…Với định hướng nghiên cứu này, luận văn


- 12 -

hy vọng đóng góp thêm một phần vào những thành tựu nghiên cứu về Nguyễn
Minh Châu ở cả phương diện lý luận và sáng tác .

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:

QUAN NIỆM VỀ VĂN HỌC VÀ NHÀ VĂN
1.1. Phê bình văn học từ cách nhìn của Nguyễn Minh Châu.
Nguyễn Minh Châu là một nhà văn đồng thời còn viết với tư cách là nhà
phê bình. Với ông, phê bình văn học là nơi để ông trình bày rõ hơn về mặt lý
thuyết những quan niệm của ông về nghề văn, đồng nghiệp và về chính mình.
Sự nghiệp phê bình của nhà văn được đánh dấu qua hàng chục bài viết và
những bài ghi chép suốt vài chục năm, tập Trang giấy trước đèn và đặc biệt là
những ghi chép của ông được giới thiệu trong cuốn Di cảo. Hoạt động phê
bình văn học đã thể hiện tinh thần trách nhiệm rất cao của ông đối với nền
văn học nước nhà. Ông đối diện với nền lý luận phê bình văn học đương đại,
nhìn thẳng, nhìn sâu vào nó với tư cách là một chủ thể sáng tạo.
Công việc phê bình văn học xuất hiện ở nước ta và thực sự có đời sống
riêng khá muộn. Phê bình văn học những năm 1930 – 1945 đã đem đến cho
đời sống văn học một không khí mới. Nhưng trong hai cuộc kháng chiến,
mảng phê bình vẫn bộc lộ nhiều khiếm khuyết về nghề, lại thường khen chê
một chiều. Sau chiến tranh giờ đây các nhà phê bình biết “chê” một cách
thuyết phục hơn như một cảnh tỉnh cho giới sáng tác. Việc làm này buộc
người cầm bút phải có trách nhiệm hơn với những cái họ viết ra, chấm dứt
kiểu phê bình đã cổ xưa quen “dĩ hòa vi quý”. Những nhà phê bình chỉ biết
khen – chê, theo Nguyễn Minh Châu, là “công việc của một người đi sau sáng
tác chờ anh ta làm được cái gì rồi hạ bút xuống bình phán” [42, tr301]. Ông
phê phán những người làm công tác phê bình “ không có chính kiến, ý kiến
riêng” [19, tr316 ].Trước thực tế của văn học, Nguyễn Minh Châu yêu cầu đổi


- 13 -

mới lý luận phê bình tức là yêu cầu lý luận “phải đi trước sáng tác một bước,
để dẫn dắt, để tác thành, chứ không phải ngồi chờ đợi và “hành nghề” căn cứ
trên những thành phẩm của người sáng tác” [42, tr302]. Đã đến lúc lý luận

phê bình phải nhìn lại mình để xem mình có đưa ra rào cản cho sáng tác
không, có góp được phần nào vào sự phát triển của văn học nước nhà không.
Phải có một tầm nhìn xa rộng để xác định được con đường, được chân lý mà
văn học cần phải đi đến. Bởi vì nhiệm vụ của lý luận phê bình là rất quan
trọng và nặng nề nhất là khi hiện nay trong lý luận phê bình còn nhiều vấn đề
về nghề nghiệp cần giải quyết.
Nguyễn Minh Châu đã khao khát trong đời sống văn học hoạt động phê
bình là nơi sáng tác tìm về với sự đồng cảm, sẻ chia, là nguồn động viên lớn.
Như thế, sẽ tránh được tình trạng “lý luận phê bình và sáng tác ngồi quay
lưng lại với nhau hay gần như thế” [42, tr304] và văn học mới sản sinh ra
những tác phẩm có giá trị nghệ thuật đích thực. Cuối cùng, để đổi mới lý luận
phê bình văn học, Nguyễn Minh Châu đòi hỏi “một không khí trao đổi tranh
luận trong văn học thật cởi mở và bổ ích” [42, tr311]. Bởi theo nhà văn, sự
thật chỉ nảy sinh trong quá trình trao đổi, tranh luận. Những trăn trở của
Nguyễn Minh Châu đã gặp gỡ với những suy nghĩ của nhà nghiên cứu phê
bình Nguyễn Ngọc Thiện sau này. Trong bài viết Động lực lớn trong thời kỳ
mới của lý luận phê bình, nghiên cứu văn học, PGS đã viết “Sự lạc hậu của lý
luận: sự chậm trễ, thiếu nhạy bén hoặc một chiều của phê bình; sự thiếu
nghiêm túc, được chăng hay chớ trong lao động nghiên cứu khoa học...là
những căn bệnh tồn tại từ nhiều năm nay, không dễ khắc phục được ngay”
[59, tr3].
Như thế, từ tư cách một người cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã đứng vào
vị trí của nhà phê bình để thấy được “cái khó” của họ, đòi hỏi người sáng tác
hãy cảm thông, chia sẻ. Đồng thời với tư cách là người cầm bút sáng tác ông


- 14 -

đưa ra cách phê bình sao cho hai hoạt động này cùng bổ trợ cho nhau , cùng
thúc đẩy văn học phát triển.

1.2. Quan niệm của Nguyễn Minh Châu về văn học.
1.2.1. Quan niệm về tính tư tưởng trong văn học
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi thì Tính tư tưởng “ chỉ mối liên hệ giữa nhà văn với các hiện tượng
được mô tả, xác định mối tương quan giữa những hiện tượng đó với lí tưởng
về cuộc sống và về con người được nhà văn khẳng định . Như vậy, tính tư
tưởng là khuynh hướng khái quát về cuộc sống cần phải có toát ra từ tác phẩm
văn học “[28, tr359].
Tính tư tưởng là linh hồn của tác phẩm văn học, nó có ý nghĩa quyết
định đối với tầm vóc và tác dụng xã hội của tác phẩm. Khơi gợi cho người
đọc tiếp tục tư duy về những vấn đề người nghệ sĩ tạo ra, tư tưởng nghệ thuật
của tác phẩm tất nhiên khác với tư tưỏng trực tiếp trong triết học hay trong xã
hội học nhưng một nền văn học, một tác phẩm văn học nếu thiếu chiều sâu tư
tưởng sẽ ít để lại những ấn tượng trong lòng người đọc. Tư tưởng của nghệ sĩ
như “cái đinh” treo cái hình tượng nghệ thuật, để nó neo lại trong trí nhớ
người đọc suốt cuộc đời. Nguyễn Minh Châu là nhà văn nhận thức rất sâu sắc
vai trò của tư tưởng trong sáng tác văn học, bởi vậy ông đã phê phán những
ngưòi cầm bút không có tính tư tưởng: “Cái sự ỡm ờ trong văn chương bây
giờ là một điêu cần đả kích , người viết đã xa rời người cày ruộng, người quai
búa, người chiến sĩ đánh giặc ”. Qua quá trình hoạt động văn nghệ, ông thấy
nhiều văn nghệ sĩ “viết dài mà chẳng nói gì cả... những người cầm súng, cầm
bút tay đã chai đi, đã từng vào sinh ra tử, nhưng khi cầm bút lại viết những cái
không phải mình đã có, những ý nghĩ thực của mình mà lại đi vay mượn tính
ỡm ờ, cái không có nội dung ” [19, tr315-316] . Chính tình hình văn học này


- 15 -

nảy sinh ra thứ văn chương“ con đẻ của tính kín miệng và xu thời ”, khôn
ngoan ngoài xã hội.

Không chỉ nhận ra một thực tế đáng lo ngại trong sáng tác văn học là
đang thiếu tính tư tưởng, nhà văn Nguyễn Minh Châu còn thẳng thắn đưa ra
hướng khắc phục làm thế nào để tác phẩm văn học có tính tư tưởng. Đó là
người nghệ sĩ phải đi thực tế, nhiều khi đi thực tế nhà văn cũng chỉ như một
người đi nhặt chi tiết mà thôi, chứ không biết “ bám theo cái luồng tư tưởng,
cái luồng nghĩ của mọi người thực sự chiến đấu và sản xuất người ta đang
nghĩ gì ? ”. Không chỉ dừng lại ở đó, Nguyễn Minh Châu còn muốn “ nhà văn
còn có sự hướng dẫn, mở đường, còn có cái phần rất lớn là mở đường tư
tưởng ” [19, tr317]. Tư tưởng của nhà văn, theo Nguyễn Minh Châu, là tiền
đề cho nghệ sĩ thành công nhưng đó không phải là thứ tư tưởng dễ dãi, ai
cũng thấy mà là tầm cao và chiều sâu của những vấn đề của thời đại, ở những
tư tưởng nhân sinh hoá thân vào câu chữ, hình tượng nghệ thuật. Cái vẻ đẹp
khai sáng, dẫn đường của tư tưởng văn học là ở đó và trong sáng tác của mình
ông cũng đã thể hiện được. Như vậy ta thấy rất rõ quan niệm đúng đắn của
nhà văn, người nghệ sĩ ấy hiểu ” tính tư tưởng là cái cuối cùng ” của một sáng
tác thì ông mới có nỗi trăn trở đến thế. Ông chỉ rõ cả nguyên nhân chủ quan
và nguyên nhân khách quan rất nặng nề dẫn đến tình trạng thiếu tính tư tưởng
của văn học, trong đó nhấn mạnh yếu tố chủ quan của người viết, với tinh
thần tự phê bình của người cầm bút đầy trách nhiệm.
Từ những nhận thức đúng đắn ấy mà trong cả cuộc đời cầm bút, nhà
văn đã thể hiện rõ nét tính tư tưởng của mình thông qua những hình tượng
nghệ thuật. Từ tác phẩm đầu tay Cửa sông đến các tiểu thuyết Dấu chân
người lính, Lửa từ nhhững ngôi nhà, Miền cháy, các tập truyện Bức tranh,
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau, đến truyện ngắn cuối cùng
Chợ tết (tháng 2/ 1988), người đọc nhận ra rất rõ khao khát và năng lực rất


- 16 -

lớn của nhà văn trong hành trình tìm kiếm những tư tưởng giàu chất nhân văn

để gửi tới con người.
1.2.2. Quan niệm về cảm xúc văn học:
Là một nhà văn nặng lòng với đời và nghề, một ngòi bút có lương tâm và
trách nhiệm, Nguyễn Minh Châu luôn muốn viết những tác phẩm có giá trị để
không phải ân hận vì “chúng ta chưa làm cho người đọc khi gấp cuốn sách
lại, người ta phải liên tưởng không dứt về cuộc đời và con người” [42, tr109].
Nhà văn đã bàn đến những cảm xúc trong tác phẩm văn học không phải từ
chủ thể mà từ vấn đề, từ tư tưởng chủ đạo của tác phẩm như giới làm nghề
vẫn nói. Cảm xúc thẩm mĩ là những trạng thái tình cảm, tâm tư của con người
trước cái đẹp, cái hay của cuộc sống trong tác phẩm văn học. Thực ra, bàn tới
cảm xúc thẩm mĩ chính là nhắc tới những giá trị chân- thiện- mĩ của tác phẩm.
Văn học giúp con người khám phá những vấn đề xã hội, những bí ẩn trong
đời sống tình cảm và tâm hồn của con người. Cảm xúc thẩm mĩ quan trọng
bởi đó là sự kết tinh của những quan niệm về cái đẹp và những giá trị nhân
sinh qua hình tượng. Một tác phẩm văn học hay một hình tượng, một câu văn,
nói như Nguyễn Minh Châu, bị trơn tuột đi khỏi trí nhớ người đọc là do nó
không gây ra một hiệu quả thẩm mĩ nào. Sự lấp lánh của hình tượng không
còn thì câu văn, dù đúng cũng rất ít gây ra một ảnh hưởng có ý nghĩa. Một tác
phẩm lớn là tác phẩm đặt ra được những vấn đề lớn về tư tưởng và quan niệm
mĩ học sâu sắc.
Nguyễn Minh Châu có quan niệm về cảm xúc văn học thật thú vị: “Cảm
xúc văn học là điểm tiếp tuyến giữa hai vòng tròn khác tâm là người viết và
người đọc”,“là điểm tiếp tuyến giữa tài năng và thực tại đời sống khách
quan”, “cảm xúc văn học là một cái gì thần thánh nhưng lại có thể giải thích
được trong một con người viết, bởi nó được tạo ra bởi vô số những nguyên
nhân hết sức minh bạch và chuẩn xác” [19, tr318].Theo kinh nghiệm của một


- 17 -


người đã nhiều năm cầm bút lăn lộn trên nhiều miền của tổ quốc, Nguyễn
Minh Châu nhận thấy khi nhà văn yêu hay ghét một người nào đó tức là anh
đã đem người đó đối chiếu với lý tưởng thẩm mĩ của chính anh, riêng anh.
“ Cảm xúc văn học là một vụ nổ lớn của tâm hồn người viết và không biết bao
nhiêu người khác tới đó nhặt mảnh vỡ để làm mảnh gương tự soi mình”[19,
tr321]. Ông hiểu rằng ở người đọc chuyện đời mà họ“ đọc chán chê trong
cuộc đời” đọng lại thành một cái gì khác như chất muối biển, họ muốn đọc
sách bởi họ muốn đem so cái chất muối của họ và của người nghệ sĩ xem có
gì đậm hơn, tức là đến với mỗi tác phẩm văn học, người đọc có dịp trải
nghiệm mình, kiểm định chính mình, mỗi tác phẩm văn học như một mảnh
gương để mgười đọc tự soi vào, từ đó nhận ra mình, hoàn thiện chính mình.
Có cảm xúc này là những trải nghiệm từ cuộc sống, được cộng hưởng, thăng
hoa thêm khi bắt gặp cảm xúc của người nghệ sĩ đã kết tinh lại trong tác
phẩm.
Trong những trang ghi chép của Nguyễn Minh Châu về Nghề văn trong
Di cảo Nguyễn Minh Châu ông còn phê phán những ngời cầm cầm bút không
có cảm xúc đồng thời chỉ ra con đường để nhà văn đến với cảm xúc văn học
và cách biểu hiện nó trong tác phẩm.
Trước tiên ông phê phán cả thơ cả văn bây giờ “ như một người khoe áo,
khoe quan sát, khoe chi tiết, khoe cảm xúc... trong sáng tác thấy nhiều chim,
nhiều mây, nhiều những thứ gì dìu dịu hiền hiền mà lại mát mẻ, nhưng thiếu
một cái gì đứt ruột đứt gan”. Đó chính là sự thờ ơ của người viết trước cuộc
sống, trước thân phận con người. Nhà văn khẳng định cảm xúc văn học chỉ
đến với người viết "trong những lúc anh chân thành với mình và với mọi
người nhất, nó chập chờn như một cánh bướm khó tính, nó là tiếng cười, tiếng
khóc, là sự giận ghét và yêu thương thật sự, là sự thổn thức trước cái đẹp"
[19,tr318].


- 18 -


Vì vậy, đỉnh điểm cảm xúc thẩm mĩ chính là sự thanh lọc tâm hồn con
người. Nguyễn Minh Châu cho rằng tác phẩm văn chương mà thiếu cái "đứt
ruột đứt gan" với đời, chỉ là "sự khoe" kĩ xảo, cảm xúc thì đó chưa phải là
văn chương đích thực. Cái lớn của một nghệ sĩ lại cũng bắt đầu từ thái độ
công dân , trách nhiệm xã hội, "đau nỗi đau nhân thế" hay nói như Xuân
Diệu trước đây là phải " cùng xương thịt với nhân dân của tôi"
1.2.3. Tính thời sự của văn học.
Nguyễn Minh Châu nhấn mạnh tới tính thời sự và cho đó là điều nhà văn
tâm đắc nhất, vì nhà văn nhận thấy thực trạng văn học sau chiến tranh của ta
đang đi sau cuộc sống. Ông khẳng định: “Tác phẩm văn học phải là một thứ
vũ khí trên mặt trận tư tưởng và ít nhiều mang tính thời sự” [42, tr43]. “Văn
học bao giờ cũng phải trả lời những câu hỏi của ngày hôm nay, bao giờ cũng
phải đối thoại với những người đương thời về những câu hỏi cấp bách của đời
sống.” [42, tr78].
Chính vì thế, thời sự trong văn học phải được hiểu như cái hiện thời,
cái đang có của hôm nay, cái mà toàn xã hội đang quan tâm, dõi theo.Tính
thời sự trong văn học mà Nguyễn Minh Châu nhắc tới phải gắn với không
gian, thời gian lịch sử đang diễn ra. “Ngày” được hiểu rộng ra là thời đại, là
năm tháng. Ngày hôm nay, tức cái khoảng thời gian hiện thời, cái nhất thời
mà người dân đang quan tâm nóng bỏng chứ không phải là những điều đã xảy
ra “ngày hôm qua”.
Tính thời sự cũng chỉ được hiểu một cách tương đối. Bởi có trường
hợp chính những vấn đề của quá khứ xa xưa nếu cho tới hôm nay vẫn là
những vấn đề mà người dân còn quan tâm, còn có ý nghĩa với cuộc sống thì
nó vẫn còn nguyên tính thời sự. Tính thời sự cần được hiểu một cách không
cứng nhắc, không phải chỉ cái hiện tại mà mà có khi là cả cái quá khứ, cái
tương lai. Chính vì thế, mỗi khi cầm bút, Nguyễn Minh Châu luôn thận trọng



- 19 -

lựa chọn viết cái gì thật cần thiết và cấp bách, kịp thời nhất đưa đến độc giả
hôm nay.
1.2.3.1.Tính thời sự là một yêu cầu của độc giả.

Đổi mới trong suy nghĩ, quan niệm của Nguyễn Minh Châu không chỉ
ở đề tài, chất liệu, cách thức viết văn… mà theo nhà văn, muốn thành công
phải đổi mới cả trong suy nghĩ của chính người cầm bút khi xác định đối
tượng của văn học. Đối tượng thưởng thức của văn học cũng mang tính thời
sự . Nó cần phải thay đổi theo thị hiếu của người đọc mỗi thời. Nguyễn Minh
Châu đã nói với những người cùng cầm bút rằng: “Đừng bao giờ nên coi nhẹ
tầm quan trọng của thị hiếu người đọc, vì chính đó là cái nôi để cho tác phẩm
thế này hoặc thế khác ra đời và sống được”[42, tr58]. Thị hiếu người đọc cho
chúng ta biết đối tượng thưởng thức của văn học mỗi thời kỳ là những ai? Họ
mong muốn được đọc những tác phẩm như thế nào? Tuy không có điều kiện
để nói kỹ hơn điều này nhưng bằng sáng tác của mình, Nguyễn Minh Châu
cho rằng nhà văn phải đổi mới cách nghĩ để hiểu đối tượng hơn, đổi mới cách
viết để đến với người đọc, bởi theo ông, người đọc cũng đang vận động và
cũng là một tác nhân để nhà văn phải đổi mới.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12.1986 thực sự mở ra một
chặng đường mới cho cách mạng Việt Nam. Từ đây, đổi mới văn học bắt đầu
được đặt ra không chỉ ở phía người cầm bút mà cả ở phía người tiếp nhận.
Đối tượng thưởng thức văn học đã khác trước. Không còn chỉ là người lính
viết về mình và cho mình nữa mà đã đủ mọi tầng lớp trong xã hội với những
đòi hỏi phức tạp hơn, yêu cầu cao hơn. Họ “là những người hết sức từng trải
về chính trị và đời sống, là những người đang xây dựng chủ nghĩa xã hội và
cầm súng đánh Mỹ. Họ là những người đã làm chủ đất nước và cuộc đời
mình”[42, tr290].



- 20 -

Chính đối tượng tiếp nhận mới, phong phú, đông đảo, có trình độ đã
khiến cho văn học Việt Nam dấy lên một không khí đổi mới chưa từng có.
Những người cầm bút đều hiểu rằng, chính người đọc là nguyên nhân quan
trọng khiến cho văn học buộc phải đổi mới bởi một nền văn học không có
độc giả là một nền văn học bị gạt ra ngoài lề cuộc sống. Đổi mới là vấn đề
sống còn lúc này để tìm lại chính mình. Đổi mới bắt nguồn từ chính nhu cầu
của đối tượng thưởng thức văn học.
1.2.3.2. Tính thời sự trong nội dung phản ánh của tác phẩm văn học.
Trong công cuộc đổi mới văn học, khi mà đối tượng thưởng thức đã
không còn đơn điệu như trước nữa, khi mà người đọc đòi hỏi phải có những
sáng tác mang hơi thở, sức sống của đời thường, thì buộc những người cầm
bút phải đổi mới về nội dung trong sáng tác của mình.
Nguyễn Minh Châu cho rằng nội dung phản ánh của văn học cũng phải
mang tính thời sự, có ý nghĩa thời sự. Vấn đề toàn dân tộc quan tâm bây giờ
là đổi mới đất nước, văn học không được né tránh những điều đó. Vấn đề mà
độc giả vẫn dành sự quan tâm nhiều nhất là chiến tranh và người lính, sự sống
còn của dân tộc mình. Ngoài ra, còn là những nội dung mà Nguyễn Minh
Châu đã viết khá thành công như thời bình với những lo toan thường nhật,
thói tật của con người, sự phức tạp của chính giới mình, những hạn chế của
văn học trong 35 năm qua.
Bàn đến những nội dung trên, Nguyễn Minh Châu đã nhận thấy tính
hai mặt của vấn đề. Người đọc quan tâm hơn tới những khía cạnh mà trước
kia văn học cố tình “né tránh” nên bây giờ nhiệm vụ của văn học phải lấp
được những “khoảng trống” của văn học thời chiến để lại. Nhưng tính thời sự
của văn học biểu hiện ở khía cạnh nội dung phản ánh cũng có tính tương đối
của nó. Không phải cứ viết về những vấn đề cuộc sống hôm nay là tác phẩm



- 21 -

đó đã mang tính thời sự. Có nhiều tác phẩm viết về một nội dung đã cũ nhưng
lại làm dấy lên làn sóng tranh luận, trao đổi.
Về đề tài chiến tranh và người lính, người đọc mong muốn được đọc
những gì chân thực nhất về cuộc chiến và con người mà trước kia vì nhiều lí
do, họ cố gắng quên đi, không đòi hỏi. Một nội dung nữa mà Nguyễn Minh
Châu rất chú tâm đổi mới, đó là cuộc sống thời bình với những lo toan thường
nhật, những thói tật của con người mà trước kia ở thời chiến, vì nhiều mối
quan tâm lớn hơn nên nó không lộ diện hoặc không có cơ hội bộc lộ hết. Về
những phức tạp của chính giới mình, Nguyễn Minh Châu cũng rất quan tâm
qua những truyện ngắn Bức tranh, Dấu vết nghề nghiệp, Sắm vai, Chiếc
thuyền ngoài xa… Nguyễn Minh Châu còn thể hiện sự đổi mới của ngòi bút
mình qua việc đề cập đến những hạn chế của văn học trong 35 năm qua. Vấn
đề nóng bỏng này đã làm dấy lên một không khí tranh luận cởi mở nhưng
cũng không kém phần gay gắt khi nhiều người cho rằng nhà văn có vấn đề về
lập trường, quan điểm. Thời sự văn học nước nhà những năm sau đổi mới nhờ
vậy mà có không khí trao đổi, tranh luận hơn chứ không tĩnh lặng như trước .
1.3. Quan niệm về nhà văn .
1.3.1. Trách nhiệm của người viết và vai trò đích thực của nhà văn.
Như mọi nhà văn chân chính, khi lựa chọn công việc cầm bút làm sự
nghiệp của đời mình, Nguyễn Minh Châu đã ý thức sâu sắc về trách nhiệm, sứ
mệnh của nhà văn trước cuộc đời. Trong những năm kháng chiến, khi cùng
với đông đảo những người cầm bút đứng vào hàng ngũ của nhân dân để đánh
giặc, nhà văn thấu hiểu trách nhiệm thiêng liêng của người cầm bút trước hết
là trách nhiệm công dân: “Khi chúng ta ngồi viết những câu văn thì bố mẹ và
anh chị em ta đang đổ mồ hôi và vắt óc nghĩ cách đánh giặc, mọi người chung
quanh ta đang đứng trên từng vị trí kháng chiến cứu nước của họ. Chúng ta
ngồi viết giữa khi kẻ thù đang châm lửa đốt nhà và kề miệng súng vào ngực



- 22 -

đứa con ta. Lẽ nào có thể làm ngơ được? Lẽ nào chúng ta có thể viết những
câu văn trái với điều nhiều người xung quanh hiện đang phải lo nghĩ để chiến
thắng giặc”. Nhưng khi công cuộc chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc
đã được hoàn thành, thì cuộc đấu tranh cho tự do và sự hoàn thiện nhân cách
của mỗi cá nhân còn phải tiếp tục lâu dài và khó khăn, nhà văn cần phải dùng
“ngòi bút của mình” trợ lực cho con người trong cuộc đấu tranh giữa thiện và
ác”.
Có thể coi những bài trong sổ tay viết văn, hoặc sách phê bình của
Nguyễn Minh Châu là những suy ngẫm nghề nghiệp, những bài viết này được
viết theo kiểu những chiêm nghiệm của một nghệ sĩ đang trên đường tìm tòi.
Tuy ở đó có những điều bây giờ nhìn lại thấy đơn giản hoặc đã bị vượt qua,
song người ta vẫn thích được đọc nó, bởi một lẽ đơn giản tác giả đã sống với
nó một cách chân thành, đã mang vào đây tất cả tâm huyết của một người cầm
bút, nó là những băn khoăn trăn trở thường trực của ông, và ông có nhu cầu
phải viết nó ra để, trước khi chia sẻ với bạn đọc, được đối diện với nó, cùng
sống với nó mà làm văn chương. Và quan trọng hơn, nó là những bằng chứng
về cuốn biên niên sử về đời văn của ông. Trong một lần trả lời phỏng vấn đầu
xuân của báo Văn nghệ, năm 1986, Nguyễn Minh Châu đã nói: ‘‘Tôi không
thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn mà lại không mang nặng trong mình
tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người. Tình yêu này của
người nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn khắc
khoải, một mối quan hoài thường trực về số phận, hạnh phúc của những
người chung quanh mình. Cầm giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn
mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của
người đời, giúp họ vượt qua những khủng hoảng tinh thần và đứng vững được
trước cuộc sống’’ [42, tr111].



- 23 -

Đối với ông, tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người
luôn thôi thúc ông cầm bút. Nhà văn có một sứ mệnh cao cả, giống như người
‘‘nâng giấc’’ cho những số phận không may, bất hạnh, bị dồn đến ‘‘bước
đường cùng’’, không lối thoát. Theo Nguyễn Minh Châu, đây thực sự mới là
nhiệm vụ của mỗi nhà văn. Nhà văn cầm bút không phải chỉ để ngợi ca, khích
lệ con người mà còn phải nâng con người dậy mỗi khi họ vấp ngã hay bị dồn
đẩy, đem đến cho họ một lòng tin, một sức mạnh mới để họ sống tiếp.
Nhà văn cho rằng ‘‘có một điều tưởng như chẳng thuộc phạm vi văn học
nhưng lại là cái gốc của văn học. Đó là tấm lòng, cái nhìn và thái độ của
người cầm bút trước cuộc sống hiện tại đang chuyển mình, trước một giai
đoạn cách mạng đang biến đổi’’[42, tr87]. Tấm lòng người nghệ sĩ, thái độ,
cách nhìn của họ trước cuộc sống mà tâm điểm là con người không chỉ được
nhà văn nhắc tới một lần. Điều này chứng tỏ nhà văn hết sức coi trọng tấm
lòng, tình cảm của người nghệ sĩ với nhân dân, dân tộc. Đối với Nguyễn Minh
Châu, người cầm bút phải là một người có tấm lòng yêu đời “yêu đến đau
đớn”, một tấm lòng yêu thương rộng lớn chứa đựng cả thập loại chúng sinh,
gần giống những điều Nguyễn Du đã từng nói hàng trăm năm trước.
Trong những ghi chép của mình, Nguyễn Minh Châu nhiều lần bày tỏ
những suy nghĩ, trăn trở của mình về trách nhiệm của người viết. Ngay từ
năm 1969, Nguyễn Minh Châu đã trăn trở về sự thay đổi trong nhận thức
trước thực tiễn đời sống. Ông cho rằng văn học cần có sự chuyển mình vì ông
cho rằng văn học viết về chiến tranh theo khuynh hướng sử thi thường mang
đậm dấu ấn ca ngợi đơn thuần khiến cho cách nhìn về con người chưa thật
toàn diện : “Trong cuộc chiến đấu để giành lại đất nước với kẻ thù bên ngoài
hai mươi năm nay, ta rèn cho dân tộc ta biết bao nhiêu đức tính tốt đẹp như
lòng dũng cảm, sự xả thân vì sự nghiệp của tổ quốc… Nhưng bên cạnh đó hai

mươi năm nay, ta không có thì giờ để nhìn ta một cách thật kỹ lưỡng. Phải


- 24 -

chăng bên cạnh những đức tính tốt đẹp thì tính cơ hội, nịnh nọt, tham lam,
ích kỷ, phản trắc, vụ lợi còn được ẩn kín và có lúc ngấm ngầm phát triển đến
mức gần như lộ liễu?” [19,tr336]. Ngày 31-3-1973 qua những trải nghiệm sâu
sắc của mình, ông viết: “Khả năng mưu cầu cho hạnh phúc thì có hạn nhưng
khả năng chịu đựng đau khổ cuả con người ta thì không cùng. Hãy viết một
cái gì về sự chịu đựng của con người, cái sức chứa của con người, cái dung
tích như một đại dương, tâm hồn con người có thể chứa đựng đau khổ nhọc
nhằn, bi đát, chờ đợi, hy vọng, thất vọng…” [19, tr323]. Ông còn nhận thấy
nhà văn có những điểm khác biệt với nhà khoa học, mặc dù cả hai cùng giống
nhau trong quá trình lao động, sáng tạo. Đối với thành công về phát minh của
nhà khoa học thì đại đa số chỉ có một thái độ chấp thuận và khi đã ra kết quả,
coi như đã xong, tình cảm của mọi người chỉ là lòng khâm phục kính trọng
đối với nhà bác học, nhà kĩ sư đó. Nhưng đối với một tác phẩm văn học dù
thành công rực rỡ đi chăng nữa thì sau khi đọc xong , dù đồng tình hay không
nhưng người đọc vẫn bàn cãi, suy ngẫm tiếp, lên án hoặc ca ngợi. Hiệu ứng
của tác phẩm vẫn còn mãi với thời gian nhưng cũng đặt lên vai họ một trách
nhiệm lớn lao. Sứ mệnh của nhà văn thật cao cả: “Nhà văn nói về con người,
nói về hiện tượng mà không riêng nhà văn, người nào cũng băn khoăn về ý
nghĩa về sự tồn tại mình, tức là đời sống của mình. Việc đó là dĩ nhiên và
đồng thời cũng khiến cho nhà văn vinh dự” [19,tr324]. Nguyễn Minh Châu
đưa ra quan niệm: “tiêu chuẩn của nào để định ra anh ta là một nhà văn? Mỗi
người viết có thể đưa ra một định nghĩa với những tiêu chuẩn của một người
cầm bút chân chính. Riêng ý tôi, có một điều bất kỳ một người cầm bút nào
cũng không có quyền thiếu, đó là tinh thần trách nhiệm với con người, với
cuộc sống. Nhà văn là một người rất nặng nợ với đời” [19,tr325] .Từ đó

Nguyễn Minh Châu xác định rất rõ nhiệm vụ của mình là “ phải có trách
nhiệm với con người”.


- 25 -

Khi Đại hội nhà văn diễn ra ( 1988), ông cũng nêu ra những suy ngẫm
đầy trăn trở về vai trò của nhà văn trong những năm tiếp theo trước sự đổi
mới của đất nước: “Sau 30 năm chiến tranh, dân tộc ta làm anh hùng, và đến
bây giờ dân tộc ta đang bắt đầu một hành trình mới – hành trình tự hoà mình
với nhân loại – có thể nói bây giờ ta mới học trở lại làm người . Nói gì thì nói
ta cũng chỉ là một mảnh của nhân loại. Trong bối cảnh đó, văn học ta sẽ làm
gì, nên làm gì, phải làm gì? Để đem dân tộc ta hào đồng với nhân loại”
[19,tr355]. Những suy nghĩ ấy đã cho ta thấy một Nguyễn Minh Châu có tầm
nhìn xa như thế nào, ông dám nói thẳng cái yếu của cả một dân tộc, cả một
nền văn học nước nhà trong suốt thời kỳ dài: quá đề cao mình mà quay lưng
lại với thế giới, ngủ quên trong hào quang chiến thắng mà không nhìn thẳng
vào bao đau thương, mất mát, xương máu để đổi lấy chiến thắng của bao con
người. Ý tưởng này được Nguyễn Minh Châu triển khai trong bài viết “ Hoà
đồng cùng nhân loại” in trên tạp chí Văn nghệ số 2/1988 vói những suy nghĩ
có tác động không nhỏ đến nhận thức của nhiều người. Nhà văn ví công cuộc
đổi mới tư duy của dân tộc hiện nay giống như một cuộc “trở mình”, một
cuộc “thoát xác đầy đau đớn, đầy cực nhọc”. Làm thế nào để “ chúng ta đừng
dè bỉu, ngờ vực, chế giễu và phê phán một cách thương hại tất cả những ai
trên thế giới sống khác chúng ta, khác với lối nghĩ, lối sống của Việt Nam anh
hùng. Từ đó có xu hướng không chấp nhận, chối bỏ bất cứ những cái gì khác
với chúng ta” [42,tr124],
1.3.2. Một số kiểu nhà văn theo quan niệm của Nguyễn Minh Châu:
Nguyễn Minh Châu là một nhà văn rất nghiêm túc trong vấn đề nghề
nghiệp và thường băn khoăn tìm tòi để nâng cao chất lượng sáng tác. Ông

hiểu trang viết của bản thân và nhiều đồng nghiệp không khỏi có những non
yếu, trong đó, chỗ yếu đáng kể là thiếu bản lĩnh văn hóa của chính những
người cầm bút. Cuộc sống của nhân dân, đất nước trong những năm này,


×