Tải bản đầy đủ (.pdf) (35 trang)

Một số biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Anh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (451.35 KB, 35 trang )

HỒ SƠ THAM DỰ CHƯƠNG TRÌNH
"TRI THỨC TRẺ VÌ GIÁO DỤC"
-----***-----

Tên công trình, sáng kiến: "MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH
CỦA TRƯỜNG TRUNG CẤP CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI"
Họ và tên tác giả: Dương Duy Trường
Tên Cơ quan (Đơn vị): Trường Trung cấp Công nghiệp Hà Nội
Địa chỉ: Số 73, Đường Cổ Bi, Huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội
Điện thoại: 0986 195 886

Năm sáng tạo: 2016

0


MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN
TIẾNG ANH CỦA TRƯỜNG TRUNG CẤP CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, ngoại ngữ đã thực sự trở thành một phương
tiện giao tiếp hữu ích, vừa nối dài mối quan hệ vừa rút ngắn khoảng cách giữa
các nước; là chìa khoá mở cửa kho tàng tri thức nhân loại, góp phần to lớn trong
công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế.
Đánh giá cao vai trò của ngoại ngữ trong xu thế hội nhập toàn cầu, Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng “Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống
giáo dục quốc dân giai đoạn 2008- 2020”, trong đó, xác định vai trò quan trọng
của ngoại ngữ đối với thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế của đất nước và đưa
ra những nhiệm vụ trọng tâm của việc dạy và học ngoại ngữ giai đoạn 20082020, cũng như nêu rõ yêu cầu sản phẩm đào tạo đối với bậc giáo dục chuyên


nghiệp là: “...học sinh có năng lực và có đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật lao động
và tác phong lao động hiện đại, có khả năng sử dụng ngoại ngữ, nhất là tiếng
Anh trong học tập và làm việc tương đương với học sinh ở các nước phát triển
trong khu vực, đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu lao động và khả năng cạnh tranh
nhân lực của đất nước”
Quản lý hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ có ý nghĩa vô cùng quan
trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường. Quản lý tốt
hoạt động dạy - học môn ngoại ngữ sẽ giúp giáo viên và học sinh có những bước
đi đúng đắn trong từng khâu của quá trình dạy học nhằm đạt được các yêu cầu
do mục tiêu giáo dục đề ra.
Tuy nhiên, việc dạy và học ngoại ngữ nói chung, tiếng Anh nói riêng ở các
trường Trung cấp chuyên nghiệp còn nhiều bất cập. Nhiều giáo viên còn sử dụng
phương pháp “chay”, chưa đầu tư nhiều cho bài giảng nên chưa lôi cuốn, hấp
dẫn học sinh. Học sinh sợ và lười học tiếng Anh, do bản chất nhút nhát, cộng với
ngại giao tiếp. Một bộ phận lớn học sinh chỉ chú trọng học để đối phó với thi
cử. Về phía nhà trường, chưa quản lý sát sao giờ giảng của giáo viên dạy tiếng
1


Anh, chưa chú trọng, khuyến khích việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực
để nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh. Việc đầu tư và sử dụng trang thiết
bị hiện đại phục vụ cho việc dạy và học còn hạn chế ...
Trường Trung cấp Công nghiệp Hà Nội mỗi năm đào tạo hàng trăm học
sinh các chuyên ngành trong lĩnh vực: Kế toán, Thương mại điện tử, Điện công
nghiệp dân dụng, Công nghệ kĩ thuật ô tô; Công nghệ kĩ thuật cơ khí; Cơ điện
tử. Kĩ thuật thiết bị y tế. Tuy là một ngôi trường “non trẻ”, nhưng trong những
năm qua, Nhà trường đã cung cấp một nguồn lao động khá lớn và có tay nghề
vững vàng cho Thủ đô và đất nước.
Là một môn học cơ bản và bắt buộc, tuy nhiên, chất lượng dạy và học bộ
môn tiếng Anh vẫn chưa thực sự đáp ứng được mục tiêu nâng cao chất lượng

đào tạo của Nhà trường, vì thế, sản phẩm đào tạo chưa thực sự đáp ứng nhu cầu
của thị trường lao động chất lượng cao. Một trong những nguyên nhân cơ bản
của hiện tượng trên đó là Nhà trường chưa có những biện pháp hữu hiệu để quản
lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh.
Vì vậy, việc nghiên cứu để đề xuất “Một số biện pháp quản lý nâng cao
chất lượng dạy học môn Tiếng Anh của trường Trung cấp Công nghiệp Hà Nội”
là rất cần thiết.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1. Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.1. Quản lý
1.1.1 Khái niệm:
Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản
lý thông qua các chức năng: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra nhằm thực
hiện được mục đích đặt ra, phù hợp với quy luật khách quan.
1.1.2 Chức năng của quản lý gồm:
- Chức năng lập kế hoạch.
- Chức năng tổ chức.
- Chức năng chỉ đạo.
2


- Chức năng kiểm tra, đánh giá
1.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường
1.2.1 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức
và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục lên đối tượng quản lý giáo dục nhằm
thực hiện được mục đích giáo dục đặt ra.
1.2.2 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là quản lý một hệ thống xã hội- sư phạm chuyên biệt.

Đó là những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý
đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về
các mặt xã hội- kinh tế, tổ chức- sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế
hệ đang trưởng thành
2. Dạy học, Quản lý hoạt động dạy học
2.1. Dạy học:
2.1.1. Hoạt động dạy:
Là tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình HS lĩnh hội kiến thức, hoàn thiện
và phát triển nhân cách HS. Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy được biểu hiện ra
với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển sự học tập của HS giúp cho họ nắm được
kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ... Hoạt động dạy tuân theo chương trình
quy định.
2.1.2. Hoạt động học:
Là quá trình tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh khái niệm khoa học, bằng
cách đó hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách toàn diện. Vai trò
tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực tự lực và sáng tạo
dưới sự điều khiển của thầy nhằm chiếm lĩnh khái niệm khoa học. Khi chiếm
lĩnh khái niệm khoa học bằng hoạt động tự lực sáng tạo, HS đồng thời đạt được
3 mục đích bộ phận đó: trí dục, phát triển tư duy và năng lực hoạt động.
Nội dung của hoạt động học bao gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của các
môn học, bằng phương pháp đặc trưng của môn học, của khoa học đó đối với

3


phương pháp nhận thức, phương pháp chiếm lĩnh khoa học để biến kiến thức
của nhân loại thành học vấn của chính bản thân.
2.2. Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý các thành tố của quá trình dạy học.
Khi đó, nội dung quản lý của Hiệu trưởng hướng vào: quản lý việc thực hiện

mục tiêu, chương trình, kế hoạch dạy học; quản lý việc thực hiện nội dung dạy
học; quản lý phương pháp, phương tiện dạy học; quản lý người dạy; người học;
quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học.
Quản lý hoạt động dạy học là việc thực hiện các chức năng cơ bản của
nhà quản lý: kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra đánh giá hoạt động dạy học
3. Chất lượng, chất lượng giáo dục và biện pháp
3.1. Chất lượng
Chất lượng dùng để chỉ những giá trị vật chất, giá trị sử dụng của một vật
phẩm, một sản phẩm trong hệ quy chiếu với một chuẩn giá trị nào đó có tính quy
ước, có tính xã hội. Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu, mà nhu cầu
thì luôn biến động nên chất lượng cũng luôn biến động theo thời gian, không
gian và điều kiện sử dụng. Vậy chất lượng có tính thời gian, không gian và gắn
với sự phát triển.
3.2. Chất lượng dạy học
Chất lượng dạy học chính là chất lượng thực hiện mục tiêu, nội dung dạy
học được thể hiện thông qua các phẩm chất, năng lực, kỹ năng của người học và
đáp ứng yêu cầu của xã hội.
3.3. Biện pháp
- Biện pháp quản lý (managerial measure): là tổ hợp các cách thức tiến
hành của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm khai thác và sử
dụng có hiệu quả các tiềm năng, cơ hội của đối tượng quản lý để đạt mục tiêu
quản lý.
Như vậy, biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh là
cách làm, giải quyết của nhà quản lý liên quan đến việc kế hoạch hoá, tổ chức,

4


chỉ đạo và kiểm tra nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh đáp ứng
yêu cầu xã hội trong hệ thống được quản lý.

4. Dạy học tiếng Anh ở các trường Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN)
4.1. Mục tiêu dạy học Tiếng Anh ở trường TCCN
Đối với bậc TCCN, không chỉ dạy - học tiếng Anh cơ sở thông thường,
mà quan trọng hơn là phải dạy và học tiếng Anh chuyên ngành. Tiếng Anh
chuyên ngành dành cho mục đích giao tiếp nghề nghiệp cụ thể. Ví dụ: dạy tiếng
Anh chuyên ngành ở Trường Trung cấp Công nghiệp Hà Nội cho các ngành
công nghệ kĩ thuật. Trên cơ sở kiến thức tiếng Anh phổ thông đã được trang bị,
nhà trường củng cố, ôn tập những kiến thức tiếng Anh mà HS đã được học và có
thể phát triển ở mức độ cao hơn. Đó là, ngoài việc được trang bị những kiến
thức tiếng Anh cơ bản, HS còn được trang bị kiến thức tiếng Anh chuyên ngành
để phục vụ thiết thực cho công việc sau khi ra trường.
4.2. Nội dung dạy học Tiếng Anh ở trường TCCN
Chương trình dạy học môn ngoại ngữ phải đáp ứng được mục tiêu giáo
dục nghề nghiệp ở trung cấp; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu
trúc nội dung bộ môn, phương pháp và hình thức dạy học môn ngoại ngữ, cách
thức đánh giá kết quả dạy học đối với môn học của giáo dục nghề nghiệp và
phải bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình khác.
4.3. Phương pháp và phương tiện dạy học môn Tiếng Anh ở trường TCCN
4.3.1. Về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học:
Trong quá trình giảng dạy tiếng Anh, GV chủ yếu sử dụng phương pháp
vấn đáp đàm thoại, phương pháp hoạt động nhóm, phương pháp trắc nghiệm
khách quan trong kiểm tra, đánh giá để giúp HS khi học tiếng Anh có thể phát
huy hết khả năng của mình một cách tốt nhất, đồng thời phát huy khả năng nhạy
bén, tư duy và sáng tạo, nhất là kỹ năng thực hành Tiếng.
Ngoài ra, thông qua các hoạt động ngoại khoá, như: tổ chức các câu lạc
bộ tiếng Anh, tổ chức Festival tiếng Anh, tổ chức các kỳ thi Olympic tiếng Anh,
thi hát, kể chuyện bằng tiếng Anh, giao lưu với các trung tâm ngọai ngữ nhằm
giúp cho học sinh có thêm nhiều cơ hội sử dụng và trau dồi kiến thức tiếng Anh
5



của mình. Việc mời giáo viên hoặc chuyên gia nước ngoài cộng tác trong giảng
dạy tiếng Anh ở các trường TCCN rất quan trọng.
Như vậy, việc dạy học tiếng Anh ở các trường TCCN không chỉ có vai trò
thoả mãn nhu cầu giao tiếp thông thường mà còn giúp HS sau khi ra trường sẽ tự
tin hơn trong công việc khi làm việc với các đối tác nước ngoài, tạo nhiều cơ hội
cho HS trong xu thế hội nhập.
4.3.2. Về phương tiện dạy học tiếng Anh:
- Giáo trình dạy học: Hiện nay, đối với môn tiếng Anh hệ TCCN chưa có
giáo trình chuẩn sử dụng chung cho các trường, mà do các trường tự biên soạn.
Một số trường trung cấp có thể giao cho GV tự biên soạn, xây dựng chương
trình Anh văn cơ bản và chuyên ngành giảng dạy tại trường theo chương trình
khung của Bộ hoặc áp dụng một số tài liệu nước ngoài tham khảo có sẵn trên thị
trường.
- Về CSVC, TBDH: CSVC và TBDH tiếng Anh ở trường TCCN đòi hỏi
phải có phòng học và thực hành Tiếng chuyên biệt. Đó là phòng học có đầy đủ
các trang thiết bị hiện đại như: đầu video, tivi, băng đĩa, đài cassette, màn
chiếu…Mỗi HS có một ô ngồi riêng biệt, được ngăn cách bởi vách cách âm và
kết nối trực tuyến với GV và các học viên khác. Bên cạnh đó, phòng học còn có
nơi để thực hiện hoạt động nhóm và các hoạt động giao lưu khác.
5. Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường Trung cấp
chuyên nghiệp
5.1. Mục tiêu quản lý:
- Làm cho môn tiếng Anh thực sự trở thành môn học có vai trò quan trọng
và thiết thực trong chương trình đào tạo, góp phần đào tạo người lao động chất
lượng cao, có khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh một cách thuần thục;
- Việc quản lý hoạt động dạy và học tiếng Anh ở TCCN sao cho môn học
được thực hiện đúng chương trình, nội dung; kế hoạch đào tạo đã được phê
duyệt;
- Làm cho cán bộ quản lý, GV và HS nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng

của tiếng Anh trong xu thế hội nhập, từ đó yêu cầu GV phải thực hiện đúng mục
6


tiêu; đầy đủ nội dung, chương trình môn học; phải thường xuyên áp dụng các
phương pháp dạy học mới đối với môn học; phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu
về kiểm tra, đánh giá, cũng như yêu cầu HS nghiêm túc học tập và đạt kết quả
tốt.
5.2. Nội dung quản lý gồm:
- Quản lý việc thực hiện mục tiêu dạy học
- Quản lý thực hiện chương trình và nội dung dạy học
- Quản lý đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
- Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học
- Quản lý nề nếp học tập của học sinh
6. Thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường Trung cấp
Công nghiệp Hà Nội
6.1. Giới thiệu về Trường Trung cấp Công nghiệp Hà Nội
Trường Trung cấp Công nghiệp Hà Nội là đơn vị sự nghiệp giáo dục
chuyên nghiệp, trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hà Nội, trường đặt
mục tiêu đào tạo như sau: đào tạo những cán bộ có có trình độ trung cấp: vững
về kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành thành thạo, có phẩm chất đạo đức
tốt, tác phong nghề nghiệp, nếp sống lành mạnh, sống và làm việc theo Hiến
pháp và pháp luật; biết vận dụng chuyên môn vào thực tế.
6.2. Thực trạng về Bộ môn tiếng Anh của nhà trường
Bộ môn tiếng Anh hiện nay có 07 GV cơ hữu và 03 GV thỉnh giảng, trong
đó 01 GV có trình độ Thạc sỹ, 02 GV đang học cao học, còn lại là trình độ Đại
học. Hàng năm, các GV đều được cử tham gia tập huấn phương pháp giảng dạy
hiện đại và tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật chương trình, nội dung mới của môn
học.

6.3. Thực trạng hoạt động dạy môn tiếng Anh của giáo viên
6.3.1. Thực trạng thực hiện các nhiệm vụ của giáo viên
Để đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ của GV tiếng Anh, chúng tôi tiến
hành phát phiếu điều tra đối với 15 CBQL và 53 GV (07 GV bộ môn tiếng Anh).
7


Đối với tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện nhiệm vụ của GV, khảo sát theo năm
mức: tốt, khá, trung bình, chưa tốt, kém và gán điểm như sau:
+ Tốt :

4 điểm

+ Khá:

3 điểm

+ Trung bình :

2 điểm

+ Chưa tốt:

1 điểm

+ Kém:

0 điểm

Tiêu chí thực hiện nhiệm vụ được thiết kế theo 5 mức độ:

+ Mức độ tốt: từ 3.5 - 4.0
+ Mức độ khá; từ 2.5- 3.4
+ Mức độ TB: từ 1.5 - 2.4
+ Mức độ chưa tốt : từ 1.0 – 1.4
+ Mức độ kém: không có điểm
Kết quả GV tiếng Anh (07 người) tự đánh giá về mức độ thực hiện nhiệm
vụ của mình được thể hiện ở bảng 6.1
Bảng 6.1: Tự đánh giá của GV tiếng Anh về mức độ thực hiện các nhiệm
vụ của mình
TT Nội dung

Đánh giá

Tốt

Khá TB

Chưa







tốt


Kém



Điểm
TB


X

Thứ
bậc

1
2
3
4

Soạn giáo án theo hướng đổi mới
Dự giờ rút kinh nghiệm
Sinh hoạt bộ môn
Kiểm tra, đánh giá kết quả học

3
4
2
3

3
2
2
3


1
1
3
1

0
0
0
0

0
0
0
0

3.29
3.43
2.9
3.29

2
1
5
2

5
6

tập của học sinh
Sử dụng thiết bị dạy học

Làm đồ dùng dạy học

3
2

2
2

1
2

1
1

0
0

3.0
2.42

4
6

( Nguồn: Kết quả điều tra tháng 8- 2015)
Kết quả khảo sát về ý kiến đánh giá của CBQL và GV bộ môn khác (61
người) về mức độ thực hiện nhiệm vụ của GV tiếng Anh được thể hiện ở bảng
6.2.

8



Bảng 6.2: Đánh giá của CBQL và GV bộ môn khác về mức độ thực hiện
các nhiệm vụ của giáo viên tiếng Anh
TT Nội dung

Đánh giá

Tốt

Khá TB

Chưa







tốt


Kém

Điểm
TB






X

Thứ
bậc

1
2
3
4

Soạn giáo án theo hướng đổi mới
Dự giờ rút kinh nghiệm
Sinh hoạt chuyên môn
Kiểm tra, đánh giá kết quả học

25
24
21
22

21
22
16
23

13
13
20
12


2
2
3
4

0
0
0
0

3.13
3.11
2.86
3.03

1
2
5
3

5
6

tập của học sinh
Sử dụng thiết bị dạy học
Làm đồ dùng dạy học

17
12


26
27

13
16

5
6

0
0

2.9
2.73

4
6

( Nguồn: Kết quả điều tra tháng 8- 2015)
6.4. Thực trạng hoạt động học môn Tiếng Anh của học sinh
Qua trao đổi trực tiếp và phát phiếu hỏi 200 HS để xin ý kiến các em về
thực trạng học tập tiếng Anh của HS, chúng tôi thu được kết quả như sau:
a) Nhận thức về sự cần thiết học tiếng Anh cũng như mục đích học bộ
môn này:
- 145/200 HS (chiếm 72.5%) cho rằng, học tiếng Anh là rất cần thiết
- 35/200 HS (chiếm 17.5%) cho rằng, học tiếng Anh là cần thiết:
- 20/200 HS (chiếm 10%) cho rằng, học tiếng Anh là không cần thiết
b) Nhận thức về vai trò của các kỹ năng thực hành tiếng Anh:
Đối với các kĩ năng thực hành tiếng Anh, đa số HS cho rằng, cả bốn kĩ

năng: “nghe, nói, đọc, viết" đều rất quan trọng. Trong đó, HS chỉ chú trọng việc
làm bài tập ngữ pháp, luyện các dạng bài trước khi làm bài kiểm tra. HS rất ngại
sử dụng hai kĩ năng "nghe" và "nói" vì tâm lý ngại giao tiếp bằng tiếng Anh và
không thường xuyên được luyện hai kỹ năng này. Cơ hội giao tiếp với người
nước ngoài ít cũng là rào cản cho việc thực hành hai kỹ năng nói trên.
c) Về các phương pháp dạy học tiếng Anh:
Trong các tiết tiếng Anh, HS hứng thú với các phương pháp như: vấn đáp,
đàm thoại, hoạt động nhóm, dạy có phương tiện hiện đại hỗ trợ... bởi theo các
em, những phương pháp dạy học đó mang một không khí thoải mái, cởi mở giữa
9


thầy và trò trong lớp. Do đó, học sinh có thể tiếp thu bài dễ dàng mà không bị áp
lực căng thẳng.
d) Về hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập:
Đa số HS được hỏi đều trả lời rất hứng thú với phương pháp kiểm tra trắc
nghiệm. Tuy nhiên, nếu GV lạm dụng phương pháp này, sẽ đem lại kết quả kiểm
tra không chính xác. HS dễ nhắc bài nhau, khoanh đáp án không cần suy nghĩ kĩ,
giảm khả năng tự luận, như: viết câu theo cấu trúc, điền từ, đọc hiểu…
đ) Về kết quả học tập môn tiếng Anh của HS:
Kết quả học tập môn tiếng Anh của HS trong 3 năm học gần đây có nhiều
chuyển biến tích cực, được thể hiện qua bảng 6.3
Bảng 6.3: Kết quả học tập môn tiếng Anh của HS trường Trung cấp Công
nghiệp Hà Nội 3 năm học gần đây
(Đơn vị tính %)
Năm học
2012- 2013
2013 - 2014
2014 - 2015


Xếp loại
Xuất sắc
4.5
3.8
5.2

Giỏi
15
18
17.5

Khá
17
20
18

TB Khá Trung bình
36
24
32
30.9
31.5
25.8

Yếu, kém
3.5
5.3
2.0

7. Thực trạng quản lý hoạt động dạy - học môn Tiếng Anh tại trường

Trung cấp Công nghiệp Hà Nội
7.1. Thực trạng về quản lý hoạt động dạy của GV tiếng Anh
7.1.1. Quản lý việc thực hiện mục tiêu dạy học
Để đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu môn học của GV tiếng Anh,
chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra đối với 15 CBQL và 53 GV.
Đối với tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu môn học của GV
tiếng Anh, khảo sát theo năm mức: tốt, khá, trung bình, chưa tốt, kém và tính
theo tỷ lệ %
Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 7.1, như sau:
Bảng 7.1: Đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện mục tiêu môn
học của GV tiếng Anh
10


TT

Mức độ thực hiện mục tiêu

1

Tỷ lệ
Số lượng

%

Tốt

15

22.05


2

Khá

39

57.36

3

Trung bình

12

17.65

4

Chưa tốt

2

2.94

5

Kém

0


0

(Nguồn: điều tra tháng 9 - 2015)
7.1.2. Quản lý thực hiện chương trình và nội dung dạy học
Để đánh giá mức độ thực hiện chương trình và nội dung môn học của GV
tiếng Anh, chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra đối với 15 CBQL và 53 GV.
Đối với tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện chương trình và nội dung môn
học của GV tiếng Anh, khảo sát theo năm mức: tốt, khá, trung bình, chưa tốt,
kém và tính theo tỷ lệ %
Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 7.2, như sau:
Bảng 7. 2: Đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện chương trình
và nội dung môn học của GV tiếng Anh
TT

Mức độ thực hiện chương trình,

Tỷ lệ

nội dung môn học

Số lượng

%

1

Tốt

54


79.41

2

Khá

12

17.65

3

Trung bình

2

2.94

4

Chưa tốt

0

0

5

Kém


0

0

(Nguồn: điều tra tháng 9 - 2015)
7.1.3. Quản lý đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
Để đánh giá mức độ đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của
GV tiếng Anh, chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra đối với 15 CBQL và 53
GV. Đối với tiêu chí đánh giá mức độ đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức
11


dạy học của GV, khảo sát theo năm mức: tốt, khá, trung bình, chưa tốt, kém và
tính theo tỷ lệ %
Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 7.3, như sau:
Bảng 7.3: Đánh giá của CBQL và GV về mức độ đổi mới phương pháp,
hình thức tổ chức dạy học của GV tiếng Anh
TT

Tỷ lệ

Mức độ đổi mới phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học

Số lượng

%

1


Tốt

20

29.41

2

Khá

35

51.47

3

Trung bình

11

16.18

4

Chưa tốt

2

2.94


5

Kém

0

0

(Nguồn: tác giả điều tra tháng 9 năm 2015)
7.1.4. Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị dạy học
Để đánh giá mức độ quản lý CSVC và TBDH của BGH, chúng tôi tiến
hành phát phiếu điều tra đối với 15 CBQL và 53 GV.
Đối với tiêu chí đánh giá mức độ quản lý CSVC và TBDH của BGH,
khảo sát theo năm mức: tốt, khá, trung bình, chưa tốt, kém và tính theo tỷ lệ %
Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 7.4
Bảng 7.4: Đánh giá của CBQL và GV về mức độ quản lý
CSVC và TBDH của BGH
TT

Mức độ thực hiện

1

Tỷ lệ
Số lượng

%

Tốt


37

54.41

2

Khá

23

33.82

3

Trung bình

8

11.77

4

Chưa tốt

0

0

5


Kém

0

0

(Nguồn: tác giả điều tra tháng 9 năm 2015)
7.1.5. Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học
12


Để đánh giá mức độ thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học
của GV tiếng Anh, chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra đối với 15 CBQL và
53 giáo viên.
Đối với tiêu chí đánh giá mức độ thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá kết
quả dạy học của GV tiếng Anh, khảo sát theo năm mức: tốt, khá, trung bình,
chưa tốt, kém và tính theo tỷ lệ %
Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 7.5, như sau:
Bảng 7.5: Đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện công tác kiểm
tra, đánh giá kết quả dạy học của GV tiếng Anh
TT

Mức độ thực hiện

1

Tỷ lệ
Số lượng


%

Tốt

18

26.47

2

Khá

36

52.94

3

Trung bình

11

16.18

4

Chưa tốt

3


4.41

5

Kém

0

0

(Nguồn: điều tra tháng 9 - 2015)
7.2. Thực trạng quản lý hoạt động học tiếng Anh của HS
7.2.1. Quản lý hoạt động học tiếng Anh trên lớp
Tại nhà trường, GV tiếng Anh là người trực tiếp quản lý hoạt động học
của HS ở trên lớp nên việc quản lý sẽ sát sao thực tế hơn. Tuy nhiên, có những
thầy cô dạy bộ môn còn chưa thật nhiệt tình trong việc thuyết phục, động viên
HS học tập hoặc quá cứng nhắc trong kiểm tra, đánh giá dẫn tới việc HS ngại
học tiếng Anh và trở nên lười biếng. Cũng có những HS ngay từ đầu đã xem nhẹ
vai trò và tầm quan trọng của môn học nên rất thiếu ý thức học tập, không có
phương pháp học tập, do đó chất lượng học tập không cao. Điều đó, gây rất
nhiều khó khăn cho GV giảng dạy bộ môn.
7.2.2. Quản lý học tậpTiếng Anh ngoài giờ và tự học của HS

13


Qua trao đổi với HS, một số GVCN và GV trực tiếp giảng dạy bộ môn,
thì việc học tiếng Anh ngoài giờ và tự học của HS rất hạn chế và kém hiệu quả.
Chỉ có một số ít HS yêu thích bộ môn và thấy cần thiết phải học nên có tham gia
học thêm tiếng Anh tại các trung tâm và trường đại học khác. Với những đối

tượng này, vì ý thức được tầm quan trọng của bộ môn nên các em tự học là
chính và có thái độ học tập đúng đắn. Phần lớn, các em khác cho rằng, không
cần thiết phải học tiếng Anh nên thường xuyên không ôn lại, xem lại bài và làm
bài tập về nhà sau mỗi buổi học. Vì vậy, chất lượng học tập không cao.
7.2.3. Quản lý học tập tiếng Anh của HS thông qua hoạt động ngoại khóa
Quản lý việc học tập tiếng Anh của HS chủ yếu được thực hiện trong giờ
học chính khóa và thông qua các hình thức kiểm tra, đánh giá. Tuy nhiên, quản
lý học tập tiếng Anh của HS thông qua hoạt động ngoại khóa cũng là hình thức
rất hiệu quả và đánh giá được đúng thực chất chất lượng học tập của nhiều HS
khi tham gia.
8. Đánh giá chung về thực trạng
Trên cơ sở phân tích thực trạng dạy- học tiếng Anh của trường Trung cấp
Công nghiệp Hà Nội trong xu thế hội nhập hiện nay, khảo sát các số liệu thực tế
đối chiếu với cơ sở lý luận và thực tiễn cho phép chúng tôi rút ra nhận xét sau:
8.1. Ưu điểm và hạn chế
8.1.1. Ưu điểm
- Đối với đội ngũ CBQL: BGH, phòng đào tạo, khoa Cơ bản và Bộ môn
tiếng Anh đều có nhận thức đúng đắn về tính cấp thiết của việc quản lý dạy - học
tiếng Anh đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường trong xu thế hội nhập hiện
nay.
BGH nhà trường đã có nhiều biện pháp quản lý hiệu quả đối với chất
lượng dạy- học tiếng Anh tại trường
- Đối với GV tiếng Anh: có ý thức, tinh thần trách nhiệm và tìm tòi, sáng
tạo trong công tác giảng dạy; luôn nâng cao ý thức tự học hỏi, trau dồi chuyên
môn, nghiệp vụ.

14


- Đối với học sinh: Đa số HS ý thức và thái độ học tập tốt và cố gắng

trong học tập. Có nhiều HS đạt giải trong các kỳ thi học sinh Giỏi thành phố
Trong các Hội thi ngoại khóa của Nhà trường, nhiều HS đã thể hiện rất tốt khả
năng tiếng Anh và rất tự tin trong giao tiếp với GV hoặc người nước ngoài.
8.1.2. Hạn chế
- Công tác quản lý dạy- học tiếng Anh của BGH và phòng Đào tạo còn
nhiều bất cập, chưa cụ thể và đồng bộ, chưa theo quy trình; công tác xây dựng
và chỉ đạo thực hiện kế hoạch dạy- học tiếng Anh còn hạn chế nên ảnh hưởng
lớn đến chất lượng dạy - học tiếng Anh tại nhà trường .
- Việc quản lý xây dựng và thực hiện kế hoạch của Bộ môn chưa sâu, chưa thường xuyên, việc kiểm tra hồ sơ giảng dạy của GV chưa đều đặn và chưa có
quy chế thưởng, phạt rõ ràng nên chưa khích lệ, động viên các GV.
- Chỉ đạo việc áp dụng những kiến thức được bồi dưỡng vào trong giảng
dạy còn chưa kịp thời và hiệu quả.
- Chỉ đạo việc thiết kế giáo án theo PP đổi mới, chỉ đạo hoạt động dạy học
trên lớp, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HSSV vẫn chưa sát sao, chưa
thường xuyên, liên tục và cụ thể. Do đó vẫn có những trường hợp GV Bộ môn
mắc khuyết điểm sai lầm khi soạn bài giảng bài và trong quá trình đánh giá kết
quả học tập của HSSV.
- Công tác đầu tư CSVC- TBDH cho dạy- học tiếng Anh còn chưa được
quan tâm đúng mức nên ảnh hưởng tới việc vận dụng PPDH mới. Ngoài ra, do
CSVC - TBDH còn nghèo nàn, đơn điệu nên chưa tạo động lực học tập cho HS.
- Việc xây dựng và lồng ghép các nội dung tiếng Anh chuyên ngành vào
giảng dạy gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm tài liệu, hiểu về nội dung, đặc
điểm từng ngành,nghề. Do đó nhà trường cần trang bị cho các GV các tài liệu
tham khảo về nghề nghiệp chuyên môn để GV áp dụng vào trong giảng dạy.
- Các hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn về nội dung và hình thức nên
chưa thu hút được đông đảo HS tham gia.
- Công tác kiểm tra, đánh giá chậm được đổi mới nên chưa hiệu quả nên
chưa thúc đẩy phòng trào dạy- học tiếng Anh.
15



- Đối với việc quản lý quá trình học tập của HSSV: quản lý việc học tập
ngoại ngữ của HSSV trong nhà trường còn chưa hiệu quả, đôi khi còn mang tính
hình thức. Tinh thần sáng tạo tự giác trong học tập của các em chưa cao. Đặc
biệt là việc quản lý HSSV tự học còn kém. Cơ chế thi đua khen thưởng chưa tạo
động lực thực sự trong quá trình học tập cho HSSV.
8.2. Nguyên nhân của các hạn chế
8.2.1. Nguyên nhân chủ quan
- Một số CB, GV và HS chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của việc dạy
và học tiếng Anh trong thời kỳ hội nhập. Vì vậy, nhiều GV bộ môn khác còn thờ
ơ với hoạt động dạy và học tiếng Anh; nhiều GVCN chưa nhắc nhở, đôn đốc HS
lớp mình chủ nhiệm trong việc học tập môn tiếng Anh; nhiều HS chưa thực sự
chăm chỉ học tập nên kết quả học tập chưa cao, chưa thể hiện đúng năng lực tâm
huyết của thê hệ trẻ trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
- Năng lực xây dựng kế hoạch và tổ chức, chỉ đạo triển khai, thực hiện kế
hoạch của BGH và các bộ phận còn nhiều hạn chế.
- Năng lực quản lý hoạt động học tiếng Anh của GV bộ môn chưa đạt yêu
cầu.
8.2.2. Nguyên nhân khách quan
- Nhận thức của HS đối với việc tự rèn luyện, tự bồi dưỡng tri thức còn
nhiều hạn chế nên gây nhiều khó khăn cho hoạt động dạy - học tiếng Anh của
Nhà trường
- Việc dạy - học tiếng Anh bằng các hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn
về nội dung và hình thức nên chưa thu hút đông đảo HS tham gia
- Một số GV còn chậm đổi mới phương pháp giảng dạy, chủ yếu vẫn là
phương pháp thuyết trình, tính liên hệ thực tiễn chưa cao chưa thực sự tạo được
sự hứng thú trong học tập dẫn đến tình trạng một số SV học đối phó
Từ việc phân tích thực trạng và các nguyên nhân cơ bản của thực trạng,
chúng tôi thấy rằng, hoạt động dạy và học tiếng Anh của nhà trường đã đạt được
những kết quả nhất định, tuy nhiên cũng không tránh khỏi còn hạn chế, nhiều

bất cập trong công tác quản lý. Vì vậy, nhà trường cần quan tâm hơn nữa đến
16


chất lượng dạy - học tiếng Anh của GV và HS. Đồng thời, cần đưa ra những
biện pháp quản lý hợp lý, có tính khả thi để thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục của
Nhà trường.
III.

TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP

1. Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh của nhà
trường
1.1. Nâng cao nhận thức của CBQL, GV và HS về vai trò của dạy và học
Tiếng Anh trong thời kỳ hội nhập
1.1.1. Mục tiêu của biện pháp
- Nhằm nâng cao nhận thức cho CBQL và GV nhà trường về vai trò của
tiếng Anh trong thời kỳ hội nhập, từ đó, nâng cao chất lượng dạy - học tiếng Anh
của Nhà trường trong giai đoạn tiếp theo.
- Thông qua các hoạt động học tập chính khóa và ngoại khóa, người
CBQL nâng cao nhận thức cho GV và HS nhà trường về vị trí, vai trò và tầm
quan trọng của tiếng Anh trong xu thế hội nhập hiện nay.
1.1.2. Nội dung của biện pháp
- Tổ chức các hoạt động tuyên truyền bằng nhiều hình thức về vai trò to
lớn, vị trí quan trọng của tiếng Anh trong đội ngũ GV và HS.
- Nhà quản lý cần tạo động lực thôi thúc GV dạy tiếng Anh nhiệt tình hơn,
chất lượng tốt hơn, cũng như khuyến khích HS học tiếng Anh siêng năng hơn,
hiệu quả hơn và tự giác hơn.
1.1.3. Cách thức thực hiện biện pháp
- Thông qua các hoạt động tuyên truyền chính khóa và ngoại khóa

+ Đối với GV: lồng ghép việc tuyên truyền vai trò, vị trí của tiếng Anh
thông qua các cuộc họp, hội thảo toàn trường, các buổi sinh hoạt của khoa Cơ
bản hoặc Bộ môn.
+ Đối với HS: GV cần chú trọng việc nâng cao nhận thức cho HS về tầm
quan trọng của bộ môn trong mỗi khoá học, bài học và tiết học. Đây cũng được
coi là một nghệ thuật sư phạm của người thầy. Bởi nếu chúng ta làm cho các em

17


nhận thức đúng vấn đề, nghĩa là đã hé mở một sự thành công trong công việc
giảng dạy.
Bên cạnh đó, Bộ môn cần kết hợp với phòng Đào tạo, khoa Cơ bản và
Đoàn TN nhà trường để tổ chức các hoạt động ngoại khoá tiếng Anh nhằm thu
hút, lôi cuốn HS tự giác học tập, luyện tập, thực hành bộ môn này. Đồng thời,
HS còn có cơ hội nâng cao nhận thức về mức độ cần thiết, quan trọng của tiếng
Anh.
Các hình thức ngoại khóa có thể là: Festival tiếng Anh, Olympic tiếng
Anh, CLB tiếng Anh, góc học tập tiếng Anh; tổ chức các buổi Seminar thảo luận
theo chủ đề (có thể mời chuyên gia người nước ngoài, các GV và HSSV của nhà
trường và các trường bạn tham gia); tổ chức tham quan thực hành Tiếng tại các
trung tâm tiếng Anh có uy tín hoặc tại các Công ty có người nước ngoài làm
việc,…
Ngoài ra, thông qua các đợt sinh hoạt tập trung toàn trường, Lễ khai giảng
và bế giảng, các buổi đại hội đoàn trường, đại hội chi đoàn, sinh hoạt các chi
đoàn, sinh hoạt lớp đều có thể kết hợp tuyên truyền về vị trí, vai trò tầm quan
trọng của tiếng Anh trong xu thế hội nhập hiện nay.
- Sử dụng đòn bẩy khen thưởng
Nhà quản lý cần thiết phải sử dụng đòn bẩy khen thưởng một cách thích
hợp xác đáng và kịp thời nhằm tạo động lực trong cả GV và HS.

Tuy nhiên, việc khen thưởng phải đúng người, đúng việc. Nhà quản lý cần
làm cho mọi người thấy rằng mỗi cá nhân (GV hay HS) đã có nhiều nỗ lực để
đạt được kết quả phải dựa vào các tiêu chí đã thống nhất từ trước; BGH cũng
cần có những hình thức khen thưởng cho phù hợp với mỗi cá nhân và mỗi tập
thể. Khen chê đúng sẽ tạo động lực thúc đẩy sự cố gắng vươn lên tạo sự công bằng
trong tập thể.
- Tạo môi trường dạy học thân thiện, cởi mở
Nghĩa là BGH cần xây dựng cho mọi người nề nếp làm việc và học tập có
kỉ cương theo đúng quy chế. Làm cho mọi thành viên trong tổ chức sống có
thiện chí với nhau, tin cậy nhau, thương yêu bao dung lẫn nhau; sống và làm
18


việc trong một tập thể đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Có như vậy, mọi
người sẽ nỗ lực làm việc và mong muốn sẽ đóng góp hết mình vào công việc
chung.
1.1.4. Điều kiện thực hiện biện pháp
Trước hết, BGH phải nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của tiếng Anh
trong xu thế hội nhập, từ đó tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao
nhận thức cho CBGV và HS về tầm quan trọng của tiếng Anh.
- BGH cần thường xuyên cập nhật các văn bản của cơ quan cấp trên
hướng dẫn về công tác giảng dạy tiếng Anh.
- Các lực lượng trong trường tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền
nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của tiếng Anh thông qua các hoạt động
chính khóa và ngoại khóa.
- Các GV tiếng Anh có trình độ và năng lực sư phạm đạt chuẩn trở lên
1.2. Tăng cường quản lý hoạt động sinh hoạt chuyên môn của Bộ môn
tiếng Anh
1.2.1. Mục tiêu của biện pháp
Thông qua hoạt động tổ chuyên môn, thực hiện tốt việc nâng cao nhận

thức, bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho GV, bám sát thường xuyên việc kiểm
tra thực hiện kế hoạch GV, nắm bắt được những thuận lợi, khó khăn của GV
nhằm có phương hướng, biện pháp quản lý cụ thể, từ đó nâng cao chất lượng
dạy học tiếng Anh
1.2.2. Nội dung của biện pháp
- Ngay từ đầu năm học, Bộ môn cần xây dựng kế hoạch chung của Bộ
môn theo học kỳ.
- Tổ chuyên môn triển khai thực hiện kế hoạch giảng dạy tiếng Anh theo
kế hoạch năm học của Nhà trường.
- Kiểm tra, đánh giá hoạt động chuyên môn của Bộ môn tiếng Anh.
1.2.3. Cách thức thực hiện biện pháp

19


- Tổ trưởng chuyên môn phải xây dựng kế hoạch, các chỉ tiêu và biện
pháp cụ thể. Trên cơ sở đó, tổ hướng dẫn GV xây dựng kế hoạch cá nhân phù
hợp kế hoạch bộ môn.
- Yêu cầu các GV phải thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ như nề nếp kỷ
cương dạy học, việc thực hiện chương trình, soạn bài, giờ lên lớp, kiểm tra đánh
giá kết quả học tập của HS.
- Tăng cường duy trì sinh hoạt tổ chuyên môn hàng tuần, hàng tháng để
nắm bắt kịp thời những thông tin về đường lối, chủ trương, cơ chế, chính sách,
những nội dung, quy định... của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở
Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, của nhà trường đối với môn tiếng Anh.
- Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, GV có cơ hội trao đổi, thảo
luận về kiến thức chuyên môn, PPDH cũng như các nghiệp vụ khác. Bên cạnh
đó, tăng cường công tác dự giờ của bộ môn. Bởi thông qua hoạt động này, GV
sẽ học hỏi lẫn nhau và rút kinh nghiệm về PPDH cũng như kiến thức chuyên
môn.

- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch của GV tiếng
Anh. Việc đánh giá kết quả hoạt động của bộ môn sẽ làm cơ sở bình xét thi đua
của mỗi cá nhân, của tập thể, khoa, bộ môn vào các đợt thi đua của nhà trường.
Kiểm tra, đánh giá hoạt động của Bộ môn nghiêm túc, thường xuyên sẽ làm tăng
ý thức trách nhiệm thực hiện kế hoạch của Bộ môn.
1.2.4. Điều kiện thực hiện biên pháp
BGH xác định đúng vai trò quan trọng của sinh hoạt chuyên môn để có kế
hoạch kiểm tra, đánh giá thường xuyên nhằm đôn đốc, nhắc nhở kịp thời. Đồng
thời, tạo điều kiện cho bộ môn sinh hoạt chuyên môn đầy đủ, đại diện BGH có
thể tham gia sinh hoạt chuyên môn của bộ môn.
Tổ trưởng bộ môn và GV nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của sinh
hoạt tổ chuyên môn và nghiêm túc thực hiện
1.3. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ
GV dạy Tiếng Anh của nhà trường
1.3.1. Mục tiêu của biện pháp
20


Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những công tác vô cùng quan trọng, có ý
nghĩa nâng cao chất lượng đội ngũ GV. Bồi dưỡng nhằm bổ sung cập nhật, đào
tạo tiếp tục và đào tạo lại về chuyên môn, nghiệp vụ cho GV.
Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV nhằm mục đích đáp ứng tối đa
cho yêu cầu, mục tiêu đã đề ra, khắc phục những hạn chế, thiếu sót về mặt quan
điểm, nội dung phương pháp dạy học.
GV có thêm cơ hội cập nhật kiến thức, những tiến bộ của khoa học công
nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu về đào tạo được mở rộng hiện nay của nhà trường.
1.3.2. Nội dung của biện pháp
- Bồi dưỡng cho GV phải thể hiện được chủ yếu những mặt cơ bản sau:
+ Có tâm: Yêu nghề, yêu quý HS, có khả năng hoà đồng giúp đỡ đồng
nghiệp, có tinh thần cộng tác, hỗ trợ giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện

nhiệm vụ.
+ Có trí thức: Giỏi nghề, năng động, sáng tạo.
+ Có kỹ năng: Có khả năng vận dụng thành thạo những tri thức chuyên
môn vào hoạt động dạy học, nghiên cứu khoa học.
+ Có phương pháp khoa học: Làm việc theo khoa học, tổ chức tốt các
hoạt động một cách khoa học.
+ Có sức khoẻ để đảm bảo thực hiện tốt công việc.
- Các GV cần phải bồi dưỡng về các kỹ năng như:
+ Bồi dưỡng kỹ năng dạy học trên lớp, kỹ năng hướng dẫn HS hoạt động,
kỹ năng tạo tình huống có vấn đề, kỹ năng thực hành và kỹ năng ra đề kiểm tra
theo kiểu trắc nghiệm, trắc nghiệm tự luận.
+ Bồi dưỡng và rèn luyện kỹ năng soạn giáo án, nhất là giáo án điện tử
+ Bồi dưỡng và rèn luyện các kỹ năng chung mang tính công cụ như kỹ
năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại vào dạy học, kỹ năng khai thác
thông tin trên mạng, kỹ năng tham gia hội thi nghiên cứu tài liệu...
1.3.3. Cách thức thực hiện biện pháp
- Ngay từ đầu năm học, BGH kết hợp với phòng Tổ chức và phòng Đào tạo &
Công tác HS xây dựng kế hoạch bồi dưỡng về chuyên môn cho GV trên cơ sở căn
21


cứ vào trình độ hiện có của GV, căn cứ vào kế hoạch giảng dạy của GV, căn cứ
vào những điều kiện khác như lứa tuổi, điều kiện về gia đình, nhu cầu được bồi
dưỡng của bản thân mỗi GV….
- Tổ chức các lớp bồi dưỡng tại trường cho GV bằng cách mời các chuyên
gia nước ngoài, các giảng viên ở các trường đại học, học viện. Ngoài ra, nhà
trường có thể liên kết đào tạo với một số trường đào tạo của nước ngoài để gửi
số GV đi bồi dưỡng chuyên môn theo chuyên đề hoặc dự án.
- Nhà quản lý khuyến khích các GV tự học, tự bồi dưỡng như học chuyên
môn trực tuyến qua hệ thống mạng vi tính.

- Nhà trường cần thường xuyên tổ chức các buổi thảo luận, trao đổi kinh
nghiệm giảng dạy giữa các GV trong toàn trường. Các GV có cơ hội thấy được
những cái hay, cái tốt, hữu ích của những bài giảng giỏi, tiết dạy hay của trường
hay thành phố, quốc gia. Nhà trường có thể mời những chuyên gia về lĩnh vực
phương pháp dạy học để tư vấn, bồi dưỡng cho GV các kỹ năng dạy học, soạn
bài. Khoa và tổ môn thường xuyên lên kế hoạch dự giờ để trao đổi, rút kinh
nghiệm giảng dạy.
1.3.4. Các điều kiện thực hiện biện pháp
- BGH thường xuyên cập nhật các thông tin của cơ quan quản lý giáo dục
cấp trên về yêu cầu bồi dưỡng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho GV tiếng
Anh để kịp thời cử GV tham gia.
- BGH Nhà trường hỗ trợ kinh phí để Bộ môn, khoa mua các tài liệu
giảng dạy cho GV tự học nâng cao trình độ.
- BGH khuyến khích, tạo điều kiện cho GV học tập nâng cao trình độ.
- Để GV sử dụng thành thạo và khai thác hiệu quả các phương pháp và
thiết bị dạy học hiện đại vào dạy học, nhà trường cần có kế hoạch cho GV học
và tự học các lớp vi tính. Cần có cơ chế khen thưởng rõ ràng, thích đáng nhằm
khuyến khích GV tiếng Anh và các GV khác tích cực tham gia các lớp bồi
dưỡng và tự bồi dưỡng.
- GVBM luôn có tính thần trách nhiệm trong công tác nâng cao chuyên
môn, nghiệp vụ và sẵn sàng tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng
22


1.4. Chỉ đạo việc xây dựng và lồng ghép nội dung tiếng Anh chuyên
ngành vào giảng dạy cho phù hợp với đặc điểm đào tạo của trường chuyên
nghiệp
1.4.1. Mục tiêu của biện pháp
Nhằm đề cao vai trò và tầm quan trọng của tiếng Anh chuyên ngành trong
xu thế hội nhập hiện nay; tạo điều kiện cho GV trong công tác xây dựng nội

dung, chương trình tiếng Anh chuyên ngành phù hợp với đặc điểm và điều kiện
của Nhà trường; đồng thời khuyến khích, thu hút HS tích cực học tập tiếng Anh
chuyên ngành để đáp ứng yêu cầu công việc trong giai đoạn hiện nay.
1.4.2. Nội dung của biện pháp
- Xây dựng kế hoạch lồng ghép nội dung tiếng Anh chuyên ngành vào các
hoạt động chính khóa và ngoại khóa.
- Xây dựng nội dung và hình thức dạy – học tiếng Anh chuyên ngành lôi
cuốn, thu hút, thú vị tạo ra sự hào hứng và động lực cho HS tích cực tham gia
học tập.
1.4.3. Cách thức thực hiện biện pháp
- BGH cần chỉ đạo Bộ môn xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức về
nghề cho GV tiếng Anh; đi khảo sát thực tế tại các trung tâm, đơn vị liên kết.
Đồng thời, bố trí các chuyên gia, kỹ sư thuyết minh và tư vấn trong quá trình đi
thực tế. Các đồng chí GV phải ghi chép và tổng hợp, phân tích những nội dung
đó, sau đó chọn lọc những nội dung nào cần đưa vào giảng dạy để chuyển sang
tiếng Anh cho phù hợp.
- GV tiếng Anh chủ động khai thác và đọc tài liệu kỹ thuật chuyên ngành.
Nhà trường phải cung cấp nguồn tài liệu chuyên ngành cho GV hoặc GV có thể
tự sưu tầm và tự khai thác.
- BGH chỉ đạo Bộ môn giảng dạy khối lượng tiếng Anh chuyên ngành
phù hợp với yêu cầu của ngành nghề và trình độ của HS
- Các GV nên dạy thử những nội dung chuyên ngành, sau đó phải có sự
bổ sung, điều chỉnh kịp thời ở những khoá học sau.

23


- BGH chỉ đạo các GV tăng cường kiểm tra HS đối với nội dung tiếng
Anh chuyên ngành thông qua kiểm tra hàng ngày, kiểm tra hết môn nhằm giúp
HS nắm chắc kiến thức và có thể vận dụng vào thực tiễn.

- BGH chỉ đạo GV lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với những nội
dung tiếng Anh chuyên ngành để nâng cao chất lượng dạy - học.
1.4.4. Điều kiện thực hiện biện pháp
- BGH tạo mọi điều kiện cho GVBM thực hành giảng dạy tiếng Anh
chuyên ngành
- GVBM luôn nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm trong công tác giảng
dạy
1.5. Chỉ đạo việc áp dụng những phương pháp dạy học tiếng Anh hiện đại
nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
1.5.1 Mục tiêu của biện pháp
Nâng cao năng lực chuyên môn vào hiệu quả giảng dạy của các GV; áp
dụng thành công, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học hiện đại theo quan
điểm đổi mới, phù hợp với xu thế của thời đại và yêu cầu của xã hội.
1.5.2. Nội dung của biện pháp
Đổi mới PPDH không phải là thay cái cũ bằng cái mới mà là sự kế thừa
và sử dụng một cách có chọn lọc, sáng tạo hệ thống phương pháp dạy học truyền
thống. Đổi mới PPDH còn là đổi mới kỹ thuật thực hiện PPDH hiện đang sử
dụng trong nhà trường.
Đổi mới PPDH cần đạt trong mối quan hệ biện chứng với sự đổi mới mục
tiêu, nội dung, chương trình SGK và thiết bị dạy học, đặc biệt là năng lực người
dạy.
Một số những PPDH tiếng Anh tích cực như: dạy và học phát hiện và giải
quyết vấn đề; dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ; dạy học phương pháp thực
nghiệm, dạy học với sự hỗ trợ của các thiết bị hiện đại như máy tính, đầu đĩa
hình, đài cassette, máy chiếu overhead, projector, vật thật...
1.5.3. Cách thức thực hiện biện pháp

24



×