Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Nghiên cứu tác phẩm đạo giáo nguyên lưu của hòa thượng phúc điền (TT)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (487.9 KB, 27 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TUẤN CƢỜNG
(Pháp danh Thích Minh Nghiêm)

NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM ĐẠO GIÁO NGUYÊN LƯU
CỦA HÕA THƢỢNG PHÖC ĐIỀN
Chuyên ngành: Hán Nôm
Mã số:

62.22.01.04

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI – 2016


Công trình được hoàn thành tại Học viện Khoa học Xã hội

Người hướng dẫn khoa học 1: PGS.TS. Nguyễn Tá Nhí
Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS. Hoàng Thị Ngọ

Phản biện 1: PGS.TS. Tạ Ngọc Liễn
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Chung
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Văn Thịnh

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng bảo vệ luận án cấp Học viện
họp tại: Học viện Khoa học Xã hội
Vào hồi



ngày

tháng

năm

Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngay từ những năm đầu công nguyên, đạo Phật đã được truyền bá rộng
rãi ở Việt Nam. Truyện Quốc sư Thông Biện trong sách Thiền uyển tập anh 禪
苑集英 kể chuyện Thiền Sư Thông Biện dẫn lời Pháp sư Đàm Thiên nói với
Tùy Văn đế rằng: "Xứ Giao Châu có đường thông sang Tây Trúc. Khi Phật
pháp mới đến Giang Đông chưa khắp, thì ở Luy Lâu đã có có tới 20 ngôi bảo
tháp, độ được hơn 500 vị sư tăng và dịch được 15 quyển kinh rồi". Sách cũng
nhắc đến tên các vị cao tăng thời ấy là Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi
Cương Lương, Mâu Bác. Câu chuyện cho thấy Phật giáo Ấn Độ đã trực tiếp
truyền vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc. Sách Cổ Châu Pháp Vân Phật bản
hạnh 古 珠 法 雲 拂 版 行 lại cho biết Pháp sư Khâu Đà La đến truyền
đạo ở Việt Nam từ thời Sĩ Vương (187 - 226). Ngoài ra Phật giáo còn truyền
từ Trung Quốc sang Việt Nam bằng các môn phái Tịnh Độ Tông, Mật Tông,
Luật Tông, Thiền Tông. Đặc biệt là Thiền Tông với các phái Lâm Tế, Thảo
Đường đã đến truyền giáo ở đất Đại Việt từ thời Lý Trần. Khi sang truyền

giáo, các vị tăng sĩ mang theo cả Tam tạng kinh điển để giảng thụ. Sau này
nhà nước Đại Việt giành được quyền cai quản đất nước lại trực tiếp cử sứ bộ
sang Bắc quốc thỉnh kinh. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết các vương
triều Lý, Trần, Lê đều thấy cử các đoàn sứ bộ đi thỉnh kinh, giúp cho Phật
giáo nước ta có được các bộ Tống tạng 宋 藏, Nguyên tạng 元 藏, Minh tạng
明 藏. Ngay đến năm Vĩnh Hựu (1736 - 1740) đời vua Lê Ý Tông, triều đình
còn cử Thiền sư Tính Tuyền đi sang Quảng Châu Trung Quốc thỉnh được 152
bộ kinh, lục.
Để trợ duyên cho các vị sơ cơ nhập đạo, nhiều vị tôn túc Hòa thượng đã
dụng công biên soạn ra các sách công cụ giúp cho việc học tập chữ Hán,
nghiên cứu Tam tạng kinh điển. Tác phẩm Đạo giáo nguyên lưu (từ đây viết
tắt là ĐGNL) do Hòa thượng Phúc Điền biên soạn là một trong những loại
sách công cụ đó. Đi sâu vào nghiên cứu tác phẩm ĐGNL chúng tôi thấy sách
đã sưu tập hàng loạt các bài giảng của Hòa thượng Phúc Điền trong các kỳ an
cư kết hạ. Mỗi tiểu truyện của các vị cao tăng thạc đức, mỗi đóng góp cho


2
Phật Pháp của các vị Hoàng đế, Hiền tướng, Đại phu ghi trong sách đều có thể
dùng làm một bài giảng sinh động mà các vị tu sĩ mới nhập đạo rất dễ tiếp thu
ghi nhớ. Chúng tôi rất tâm đắc lời dạy của Hòa thượng trong bài tựa sách Kim
cương Bát nhã Ba La mật kinh: "Lũ trẻ thơ khi mới đi học đem vấn đề chi hồ
giả dã ra hỏi nghĩa thày giáo. Thày giáo cũng dùng chi hồ giả dã để dạy bảo
lũ học trò. Lũ trẻ thơ chậm chạp bước vào, còn người thông minh cao kiến thì
bước được ra. Trong vòng vào ra ấy, nghĩa lý đều có đầy đủ cả. Do vậy phải
thấy buổi sơ cơ của người ta cũng như buổi sơ cơ của chính mình. Hãy xem
cái tuổi ấu thơ của ta để mà biết được tuổi ấu thơ của người khác. Hãy xem
lúc trưởng thành của bản thân để mà thấy được tuổi trưởng thành của người
khác". Những lời dạy đó, thực sự thấu đạt tình người, do vậy chúng tôi quyết
tâm đi sâu nghiên cứu tác phẩm ĐGNL, hy vọng có thể tìm thấy nhiều kinh

nghiệm quý giá giúp cho các vị tăng ni tham học ở các trường Trung cấp, Học
viện Phật học và đặc biệt là ở các trường hạ trong kỳ an cư hàng năm.
Là một tu sĩ Phật giáo đã có hơn 20 tuổi hạ, ngay từ khi mới xuất gia,
NCS đã được sư phụ Hòa thượng Thích Viên Thành quan tâm chỉ bảo cho đi
tham học, ngoài việc học giáo lý lại được cho học thêm chữ Hán. Đến nay,
NCS lại được Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam phân công làm
Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Phú Thọ trông coi hàng
trăm ngôi chùa cổ, quản lý hàng trăm các tu sĩ Phật giáo và hàng trăm ngàn
các tín đồ Phật tử tại gia, do vậy NCS luôn chăm chắm tìm học kinh nghiệm
của các cao tăng thạc đức tiền bối, nhằm giúp cho các tu sĩ mới sơ cơ có được
phương pháp tu đạo hiệu quả nhất. Với suy nghĩ như trên, nghiên cứu sinh đã
chọn đề tài Nghiên cứu tác phẩm Đạo giáo nguyên lưu của Hòa thượng Phúc
Điền làm đề tài luận án Tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu sách ĐGNL nhằm cung cấp nhiều tư liệu quí cho việc nghiên
cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam.
- Tác phẩm ĐGNL có thể coi là bộ giáo trình giảng dạy trong các trường
hạ. Qua việc tiếp thu những tinh hoa của tác phẩm, có thể áp dụng hiệu quả vào
việc giáo dục đào tạo tăng tài.


3
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là hai văn bản ĐGNL kí hiệu A.2675 và kí
hiệu A.1825 hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và nội dung phản
ánh. Ngoài ra, còn có bản ĐGNL tại thư viện chùa Quán Sứ, Hà Nội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chính của đề tài là nghiên cứu nội dung phản ánh
trong tác phẩm ĐGNL của Hòa thượng Phúc Điền, như: Nguồn gốc của đạo

Phật, Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam. Bên cạnh đó, còn nghiên cứu, giới thiệu
quá trình đào tạo tăng tài của Hòa thượng thông qua việc xây dựng các cơ sở
khắc in kinh Phật, biên soạn giáo trình giảng dạy…
Phạm vi nghiên cứu còn đề cập đến các tác phẩm khác của Hòa thượng
Phúc Điền, như: Kim Cương kinh giải âm, Di Đà kinh giải âm, Khóa hư lục
giải âm, Thiền lâm bảo huấn giải âm, Hộ pháp luận giải âm, Tam giáo nhất
nguyên giải âm, Thái căn đàm diễn âm, Sa di luật nghi giải nghĩa, …
4. PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Phƣơng pháp luận
Khi trình bày một cách có hệ thống tam giáo đồng nguyên có từ thời Lý
Trần, các nhà nghiên cứu lớp trước đã đặt ra cơ sở lý thuyết và tìm hiểu
nghiên cứu so sánh với tác phẩm kinh điển Phật học, đặc biệt là của các Thiền
sư Trung Hoa. Khi nghiên cứu tác phẩm ĐGNL của Hòa thượng Phúc Điền,
NCS vận dụng kinh nghiệm này để tiến hành nghiên cứu khảo sát, trên cơ sở
đó sẽ tìm ra những đóng góp quan trọng của Hòa thượng Phúc Điền với việc
tìm hiểu lịch sử Phật giáo Việt Nam và sự nghiệp đào tạo tăng tài.
Đồng thời NCS vận dụng quan điểm của Đảng và nhà nước đối với Tôn
giáo tín ngưỡng, đặc biệt quan điểm cho rằng đạo Phật luôn đồng hành cùng
dân tộc. Nghiên cứu ĐGNL cũng là để khai thác giá trị của các thư tịch cổ,
góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong khi tiến hành viết luận án, chúng tôi sử dụng các phương pháp
chính như sau: Phương pháp văn bản học Hán Nôm, Phương pháp nghiên cứu
liên ngành, Phương pháp điền dã thực tế.


4
5. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
- Luận án giới thiệu khái quát về công tác đào tạo tăng tài của Hòa
thượng, trong đó nói rõ về Hòa thượng đã biên soạn ra sách công cụ giúp cho

người học nhanh chóng hiểu biết chữ Hán, nắm được giáo lý.
- Luận án giới thiệu đầy đủ những nội dung chính có trong tác phẩm
ĐGNL. Để giúp cho người học có những nhận thức đầy đủ về ba thứ tôn giáo
thời bấy giờ, Hòa thượng đã tuyển chọn được những mẩu chuyện trích trong
nhiều kinh điển của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, không cần phải giảng giải
nhiều lời, mà nội dung trong các truyện ngắn đó rất dễ hiểu, như là giới sát và
khuyến thiện.
- Luận án cũng đi sâu vào phân tích để thấy tư tưởng Tam giáo đồng
nguyên phản ánh rất rõ trong tác phẩm ĐGNL. Có thể nói tư tưởng Tam giáo
đồng nguyên trước kia vẫn chỉ là một thứ triết học cao siêu dành cho những
người có trí thức, thì đến ĐGNL tác giả đã sử dụng thứ ngôn ngữ bình dị dễ
hiểu, đã đưa về với những người sơ cơ học đạo. Không chỉ giúp cho các tu sĩ
Phật giáo có được tài liệu chính thống để học tập, Hòa thượng Phúc Điền còn
quan tâm nhiều đến các Phật tử hàng tại gia. Có thể nói đến ĐGNL, thì tư
tưởng Tam giáo đồng nguyên có từ thời lập quốc, kéo dài hàng ngàn năm, đã
được hệ thống đúc kết lại thành những quan điểm chính thống.
6. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
- Về lí luận: Cung cấp những cứ liệu khoa học để góp phần tìm hiểu lịch
sử công việc khắc in kinh Phật, quá trình đào tạo tăng tài và truyền bá đạo
Phật. Qua đó góp phần tìm hiểu lịch sử Phật giáo tại Việt Nam và mối quan hệ
giữa Phật giáo và các tôn giáo khác
- Về thực tiễn: Góp phần cung cấp tư liệu cho những vị tu hành đang học
chữ Hán và tìm hiểu giáo lý nhà Phật tại các trường Sơ cấp, Trung cấp, Cao
cấp Phật giáo. Qua đó, giúp ích cho công tác đào tạo tăng tài trong bối cảnh xã
hội đương đại.
7. CƠ CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án bao gồm các phần: Mở đầu, Kết luận, 04 chương thuộc nội dung
chính của luận án; Danh mục các bài viết công bố của tác giả, Tài liệu tham
khảo, Phụ lục.



5
CHƢƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Đây là tác phẩm nghiên cứu về Phật giáo do một vị Thiền sư Việt Nam
biên soạn, có niên đại rõ ràng, tư liệu phong phú đáng tin cậy, nên về nội dung
tác phẩm và tác giả biên soạn đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên
cứu khoa học xã hội và đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu giới thiệu
về tác giả và tác phẩm này.
1.1. Nghiên cứu về tác giả
Ngay ở đầu bản in đã thấy ghi tên tác giả là Bồ Sơn Đại Giác thiền tự
Lâm Tế pháp phái Độ điệp Phúc Điền Hòa Thượng Sa môn An Thiền soạn
(nghĩa là: Độ điệp Phúc Điền Hòa thượng Sa môn An Thiền thuộc pháp phái
Lâm Tế ở chùa Đại Giác xã Bồ Sơn biên soạn). Cách ghi này đã làm cho
người đọc hiểu khác nhau, một là: cho rằng Sa môn An Thiền và Hòa thượng
Phúc Điền là hai vị Thiền sư khác nhau; hai là: cho rằng Sa môn An Thiền và
Hòa thượng Phúc Điền là chỉ vào cùng một vị Thiền sư. Tuy vậy, một số
nghiên cứu lại nhằm vào hai vấn đề:
1.1.1. Hòa thượng Phúc Điền và Sa môn An Thiền là hai vị Thiền sư
khác nhau: có 3 công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Việt Nam Phật
giáo sử luận (Nguyễn Lang, 1978), Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Viện Triết
học, năm 1988.), Thiền sư Việt Nam (1992).
1.1.2. Hòa thượng Phúc Điền và Sa môn An Thiền chỉ là hai tên gọi
của một vị Thiền sư: Có 2 luận văn Thạc sĩ (năm 1998 và 2006), 1 sách
chuyên khảo của Lê Mạnh Thát năm 2005.
1.2. Nghiên cứu về tác phẩm
1.2.1. Nghiên cứu về tác phẩm Đạo giáo nguyên lưu
Có 2 luận văn, 4 sách khảo cứu về tác phẩm ĐGNL.
1.2.2. Nghiên cứu các tác phẩm khác của Hòa thượng Phúc Điền

Đã có 5 luận văn, luận án nghiên cứu về tác phẩm này dưới nhiều góc độ
khác nhau. Nhìn chung các công trình nghiên cứu những tác phẩm khác của
Hòa thượng đều nhằm vào các tác phẩm diễn Nôm như Thích Diệu Hòa với
Tam giáo nhất nguyên giải âm, Thích Thiện Hải với Thái căn đàm diễn âm,


6
Nguyễn Văn Thanh với Hộ pháp luận diễn âm. Các tác giả đều thống nhất
nhận định rằng Hòa thượng Phúc Điền rất thành công trong việc diễn âm kinh
luật.
1.3. Định hƣớng nghiên cứu của luận án
Sau khi tìm hiểu khảo sát kết quả nghiên cứu của các học giả đi trước, NCS
thấy cần thiết phải xác định rõ định hướng cho bước đi tiếp theo của mình là: 1.
Tiến hành khảo cứu kỹ thêm về văn bản ĐGNL; 2. Khai thác kinh nghiệm giảng
dạy chữ Hán và truyền thụ giáo lý của Hòa thượng Phúc Điền; 3.Tiếp thu nghiên
cứu tư tưởng Tam giáo đồng nguyên của các tổ đời xưa.
Tiểu kết:
1. Sách ĐGNL cung cấp nhiều tư liệu quý giá để tìm hiểu đạo Phật Việt
Nam, thế nhưng từ trước đến nay chưa được các học giả quan tâm nghiên cứu.
Các công trình của các học giả lớp trước mới chỉ đề cập đến vấn đề thời điểm
đạo Phật du nhập vào Việt Nam.
2. Hòa thượng Phúc Điền và Sa môn An Thiền chỉ là hai tên gọi của một
vị Thiền sư.
3. Đã có hai học viên cao học lựa chọn đề tài từ ĐGNL là Thích Minh
Tâm với đề tài Tìm hiểu lịch sử Phật giáo Việt Nam qua bản Đạo giáo nguyên
lưu, đã sử dụng tư liệu ở 44 trang trong tổng số 162 trang ở quyển Thượng.
NCS trước đây khi viết luận văn Thạc sĩ Nghiên cứu hệ thống thuật ngữ Phật
học gốc tiếng Phạn trong tác phẩm Đạo giáo nguyên lưu của Hòa thượng
Phúc Điền đã sử dụng 24 trong tổng số 164 trang của quyển Hạ. Như vậy còn
lại 118 trang của quyển Thượng, 140 trang ở quyển Hạ và toàn bộ 184 trang

của quyển Trung chưa được nghiên cứu. Do vậy có thể nói những giá trị tiềm
tàng trong tác phẩm còn được ít người biết đến. NCS sẽ tập trung công sức
tìm tòi nghiên cứu để khai thác toàn bộ kinh nghiệm tu đạo của Hòa thượng
gửi lại trong 549 trang sách để giới thiệu rộng rãi.
CHƢƠNG 2:
SỰ NGHIỆP ĐÀO TẠO TĂNG TÀI CỦA HÕA THƢỢNG PHÖC ĐIỀN
2.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Trong thế kỷ XVIII, đất nước có nhiều biến động, cuộc chiến tranh Trịnh
Nguyễn kéo dài mấy trăm năm đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của


7
Phật giáo. Năm 1771 ba anh em họ Nguyễn ở ấp Tây Sơn là Nguyễn Nhạc,
Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ tiến hành khởi nghĩa làm lung lay chính quyền họ
Nguyễn ở Đàng Trong. Năm 1774 chúa Trịnh Sâm nhận biết thời cơ đã đến,
liền cử danh tướng Hoàng Ngũ Phúc đem 20 vạn quân vượt qua sông Gianh tiến
vào giải phóng Phú Xuân, thu non sông về một mối. Sau đó quân Tây Sơn do
Nguyễn Huệ chỉ huy tiến hành giải phóng Phú Xuân, rồi thừa thế kéo ra Thăng
Long làm sụp đổ Vương triều Lê Trịnh. Nhà Thanh ở phương bắc từ lâu đã có ý
định thôn tính Đại Việt, nhân cơ hội này đã sai Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn
Sĩ Nghị đem 29 vạn quân sang đánh, chúng mượn tiếng là phù Lê dẹp Tây Sơn.
Thực may cho dân tộc ta, trong lúc nguy cấp lại biết tập hợp dưới ngọn cờ của
anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, nên đã phá tan được đạo quân hung hãn đó. Nhà
Tây Sơn nắm quyền cai quản đất nước, chưa thực thi được nhiều biện pháp tích
cực xây dựng đất nước thì chúa Nguyễn ở Đàng Trong lại dựa vào thế lực bên
ngoài là các nước phương Tây đánh phá triều đình Tây Sơn. Đất nước Đại Việt lại
rơi vào cảnh chiến tranh loạn lạc, mãi đến năm 1802 nhà Nguyễn do vua Gia
Long chỉ huy mới thống nhất đất nước, dựng nên triều Nguyễn. Tình hình chiến
tranh diễn ra liên tục như vậy đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của Phật
giáo. Sau 20 năm thống nhất đất nước, phải đến năm 1820 Hoàng đế Minh Mệnh

mới có điều kiện quan tâm đến Phật giáo. Năm 1835 nhà vua cho tuyển chọn các
vị sư tăng khắp ba miền Bắc, Trung, Nam về kinh đô Phú Xuân, để xét duyệt cấp
cho Giới đao Độ điệp. Hòa Thượng Phúc Điền, tác giả của bộ sách ĐGNL là một
trong những người đã được mời về kinh đô Phú Xuân trong dịp này.
2.2. Quá trình tu tập của Hòa thƣợng Phúc Điền
Hòa thượng Phúc Điền sinh năm 1784 tại làng Bạch Sam, huyện Sơn Minh
phủ Ứng Hòa trấn Sơn Nam Thượng. Từ năm 12 tuổi, Hòa Thượng đã đến ở
chùa. Trong quá trình tu tập, ngài từng tu trì ở chùa Đại Bi xã Thịnh Liệt huyện
Thanh Trì; chùa Pháp Vân xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn trấn
Kinh Bắc; Năm 1835, Hoàng đế Minh Mệnh ở kinh đô Phú Xuân biết đến danh
tiếng của ngài, liền ban chiếu mời ngài vào kinh đô giảng pháp. Tại đây Hòa
thượng cũng đã được làm quen với các Phật tử là quan lại của triều đình, như
Thượng thư Nguyễn Đăng Giai. Nhờ đó sau này trở về Bắc, ngài đã đi hóa
duyên ở nhiều nơi, đều nhận được sự trợ duyên đắc lực của vị Thượng thư này.


8
Năm 1840, Thượng Thư Nguyễn Đăng Giai được điều ra làm Tổng đốc Ninh
Thái. Gia đình Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai ở Phú Xuân rất mến mộ đạo Phật,
nên khi đến Bắc Ninh ông đã cho xây dựng chùa Đại Giác ở xã Bồ Sơn huyện
Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, rồi xuống chùa Pháp Vân mời Hòa thượng Phúc Điền
về trông coi Phật sự ở chùa. Tại đây Hòa thượng ngoài việc giảng đạo cho Phật
tử tại gia và các môn đệ của mình, còn chú ý đến việc khắc ván in sách để
hoằng dương đạo pháp. Nhiều vị sư tăng ở các chùa lớn quanh vùng đã tìm đến
đây để học pháp với Hòa thượng Phúc Điền, như: Thiền sư Thông Huyền ở chùa
Hàm Long huyện Quế Dương tỉnh Bắc Ninh; Đại sư Chiếu Phương ở chùa Tam
Huyền huyện Thanh Trì, Hà Nội; Đại sư Phổ Quang ở chùa Thiên Hưng xã La
Phù huyện Từ Liêm tỉnh Sơn Tây (nay là Hà Nội)...
2.3. Quá trình đào tạo tăng tài:
2.3.1. Xây chùa lớn làm cơ sở giảng dạy

Trong vòng ba mươi năm giữa thế kỷ XIX, Hòa thượng đã xây dựng được
hàng chục ngôi chùa lớn, đủ sức chứa hàng trăm vị tăng ni đến tu học, nhất là
những mùa an cư kết hạ hàng năm. Các ngôi chùa lớn được xây dựng có thể kể
như: Chùa Đại Giác ở xã Bồ Sơn; Chùa Đại Quang xã Phú Nhi; Chùa Liên Trì
Hải Hội; Chùa Liên Phái ở Hoàng Mai...
2.3.2. Biên soạn giáo trình giảng dạy
Trong quá trình tu tập, Hòa thượng Phúc Điền đã bỏ rất nhiều công sức để
sưu tầm tư liệu, soạn giáo trình để đi sâu vào học chữ Hán. Tiếp theo đó là đi
sâu vào tìm hiểu giáo lý của nhà Phật để ứng dụng vào việc học tập. Công việc
của ngài thể hiện qua các việc sau:
2.3.2.1. Biên soạn giáo trình giảng dạy chữ Hán
Qua ĐGNL chúng tôi thấy Hòa thượng Phúc Điền từng sử dụng các sách
như Thiên tự văn 千 字 文, Tam thiên tự lịch đại quốc âm 三 千 字歷 代 國
音 , để làm giáo trình dạy chữ Hán. Hai cuốn sách dạy chữ Hán của người thế
tục này là sách viết thông dụng thời bấy giờ đã được Hòa thượng chỉnh lý và
cho khắc in xếp ở dưới quyển Hạ của bộ Tam giáo nguyên lưu. Công đoạn thứ
hai là dựa vào những kinh nghiệm học tập chữ Hán của mình, Hòa thượng đã
biên soạn ra nhiều Bảng tra cứu để giúp cho người học ghi nhớ, và tra cứu khi
cần thiết. Ví dụ: Từ Cam lộ 甘 露 được giải thích là thuốc bất tử; Từ Liên hoa


9
蓮 華 được ví như người quân tử. Có trường hợp soạn giả tách một thành ngữ
có sẵn trong tiếng Hán, thành hai đơn vị từ song âm tiết để giải thích, ví dụ: Xảo
ngôn 巧言 : nói khéo; Lệnh sắc 令色 : tốt dáng.
Đi sâu vào tìm hiểu các Bảng tra cứu này, chúng tôi thấy ngay thời hiện
đại số học sinh đi học ngoại ngữ, không chỉ tiếng Trung mà cả tiếng Anh, tiếng
Nga, tiếng Pháp cũng vận dụng. Chúng tôi nhận thấy những bảng dùng để ghi
nhớ chữ Hán loại này rất có ích đối với người học chữ Hán, đặc biệt là đối với
các tu sĩ Phật giáo.

Ngoài ra các Bảng kiểm tự, Bảng đối chiếu các chữ giống nhau dễ gây
nhầm lẫn. Bảng giải thích các từ thông dụng trong tiếng Hán... đều rất đắc dụng
cho những người học chữ Hán. Đây có thể xem là bộ từ điển giải thích của chữ
Hán rất hữu ích.
2.3.2.2. Giáo trình truyền thụ giáo lý
Trong quá trình giảng dạy, Hòa thượng đã biên soạn thành những mẩu
chuyện ngắn gọn dễ đi vào lòng người, ví dụ: Đế Vương sư 帝 王 師 (làm thầy
bậc đế vương); Bạch nhật thăng thiên 白 日 升 天 (bay lên trời giữa ban
ngày); Thần vãng hình tồn 神 往 形 存 (thần hồn lìa khỏi xác mà xác thân
vẫn còn)...
2.3.3. Khắc in kinh Phật dùng làm tài liệu tham khảo
Khi hành hóa đến đâu Hòa thượng đặc biệt quan tâm đến việc dùng ngay tự
viện ở nơi đó làm cơ sở in ấn kinh sách. Sách Thiền uyển truyền đăng lục do
chính Hòa thượng biên soạn đã giới thiệu hàng chục trung tâm in ấn đó, như
chùa Bồ Sơn, chùa Pháp Vân ở tỉnh Bắc Ninh; chùa Đại Quang xã Phú Nhi,
chùa Hoàng Vân ở tỉnh Sơn Tây; chùa Liên Trì Hải Hội, chùa Liên Phái ở tỉnh
Hà Nội. Số ván khắc in này được nhiều thế hệ Thiền sư Việt Nam lưu giữ, sử
dụng rất có hiệu quả.
Tiểu kết
Hòa thượng Phúc Điền sinh thời rất quan tâm đến việc đào tạo tăng tài, nhờ
vào sự trợ duyên của Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai, Hòa thượng cho xây dựng
nhiều ngôi chùa lớn có qui mô hàng trăm gian vừa là nơi khắc in kinh sách để
hoằng dương chính pháp, vừa là nơi cho chư tăng trong Sơn môn tu tập. Hòa
thượng còn biên soạn hàng chục bộ sách dùng làm tài liệu học tập cho chư tăng,


10
đồng thời còn đứng ra tổ chức khắc ván in kinh ở các chùa Đại Giác, Đại
Quang, Liên Trì Hải Hội, Liên Tông. Hiện nay trong kho sách của Viện Nghiên
cứu Hán Nôm và thư viện chùa Quán Sứ Hà Nội còn lưu giữ được 30 đầu sách

in các cơ sở in nêu trên.
Sách ĐGNL gồm ba quyển, dày 549 trang, ngoài phần giải thích về nguồn
gốc của ba thứ tôn giáo Nho, Thích, Lão đang thịnh hành thời bấy giờ ra, sách
còn lại là phần hướng dẫn người sơ cơ nhập đạo, học chữ Hán, học giáo lý.
Những tác phẩm do Hòa thượng biên soạn thời bấy giờ đã giúp ích rất nhiều
cho việc đào tạo tăng tài và hoằng dương Phật Pháp. Đặc biệt ngày nay những
bộ sách này được xem là những tư liệu quí giá để chúng ta đi sâu vào tìm hiểu
nghiên cứu Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo thời Nguyễn nói riêng.
Chƣơng 3
NỘI DUNG PHẢN ÁNH
TRONG TÁC PHẨM ĐẠO GIÁO NGUYÊN LƢU
3.1. Vài nét về văn bản ĐGNL
Sách ĐGNL do Hòa thượng Phúc Điền biên soạn được khắc in đời
Nguyễn, hiện còn hai bản in đang lưu giữ tại kho sách của Viện Nghiên cứu
Hán Nôm: Một bản ký hiệu A.2675, khổ 34x22cm; Một bản ký hiệu A.1825,
khổ 33x22cm và thư viện chùa Quán Sứ, Hà Nội.
Nội dung cả hai bản đều bàn về nguồn gốc của Phật giáo, Nho giáo và Lão
giáo. Người viết tựa cho sách là cư sĩ Đại Phương họ Nguyễn, tức Tổng đốc
Nguyễn Đăng Giai.
3.1.1. Bản ký hiệu A.2675
Ba quyển Thượng, Trung, Hạ đóng gộp làm một tập, gồm 549 trang, có
ghi bài tựa do Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai viết, bài Tiểu dẫn do Hòa thượng
Phúc Điền soạn. Phần nội dung của tác phẩm được phân làm ba quyển Thượng,
Trung, Hạ. Mỗi quyển đều bắt đầu đánh số trang riêng.
Quyển Thượng, nhan đề là Đạo giáo nguyên lưu quyển Thượng 道 教 源
流卷上, soạn giả là Hòa thượng Phúc Điền. Quyển này được chia làm nhiều đề
mục nhỏ: Nguồn gốc ra đời của Phật Thích Ca; sơ lược lịch sử phát triển của
Phật giáo Việt Nam qua các đời Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn; các
kinh sách nhà Phật, các Phật tích, các dòng Thiền ở Việt Nam. Quyển Trung,



11
nhan đề là Đạo giáo nguyên lưu quyển Trung 道 教 源 流卷中, do Hòa
thượng Phúc Điền biên tập. Nội dung trình bày các vấn đề về Nho giáo. Quyển
Hạ, nhan đề là Đạo giáo nguyên lưu quyển Hạ 道

教 源 流卷下, do Hòa

thượng Phúc Điền biên tập. So với cách ghi ở quyển Thượng và quyển Trung
thì ở quyển Hạ có sự khác biệt chút ít, là chữ phả ở hai quyển trên đã được thay
bằng chữ phái. Ở trang cuối có dòng chữ ghi Đạo giáo nguyên lưu quyển Hạ
chung 道 教 源 流卷下 終. Nội dung giới thiệu về Đạo giáo và các vấn đề
có liên quan đến Nho và Phật.
3.1.2. Bản ký hiệu A.1825
Ba quyển Thượng, Trung, Hạ đều được đóng bìa giấy học sinh màu xanh.
Nhìn chung hai bản A.2675 và A.1825 là bản đồng dạng, đều được in từ một bộ
ván khắc in năm Thiệu Trị thứ 5 (1845). Ván in để ở chùa Đại Giác xã Bồ Sơn
tỉnh Bắc Ninh. NCS chọn bản A.1825 làm bản chính để tiến hành nghiên cứu,
trong đó có đối chiếu so sánh với bản A.2675.
3.1.3. Bản chùa Quán Sứ, Hà Nội
Hiện ở Thư viện chùa Quán Sứ chỉ còn một bộ gồm 3 quyển Thượng,
Trung, Hạ đóng riêng lẻ giống như bản A.1825 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
Quyển Thượng được mang ký hiệu Ht.13, quyển Trung Ht.14, quyển Hạ Ht.15.
Đây là tập sách cũng được in ra từ bộ ván in khắc năm 1845, ván in để ở chùa
Đại Giác xã Bồ Sơn.
3.2. Về tên gọi của tác phẩm
3.2.1. Đạo giáo nguyên lưu:
Tên sách ĐGNL này được nhắc đến lần đầu tiên trong bài Tiểu dẫn do
chính tác giả viết. Hiện ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn giữ được hai văn bản
là A.1825 và A.2676. Cả hai bản này đều được in năm 1845, đóng gộp chung cả

ba quyển Thượng, Trung, Hạ. Hoặc như ở Thư viện chùa Quán sứ tại Hà Nội
chỉ giữ được một bản, song ba quyển Thượng, Trung, Hạ lại đóng rời ra và
mang ba ký hiệu khác nhau là Ht.13, Ht.14 và Ht.15.
3.2.2. Tam giáo quản khuy lục
Tên gọi Tam giáo quản khuy lục xuất hiện ở bài tựa do Tổng đốc Nguyễn
Đăng Giai viết để ở đầu quyển Thượng. Nguyên văn ghi: Tam giáo quản khuy
lục tự, bài tựa viết năm Ất Tỵ niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1845). Do chỉ viết tóm


12
tắt về ba thứ tôn giáo nên Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai ghi nhận là Tam giáo
quản khuy có nghĩa là: nhìn Tam giáo qua chiếc ống sậy. Đây là cách viết
khiêm tốn của các nhà nho thời trước.
3.2.3. Tam giáo thông khảo
Sách ĐGNL là bản chung về Tam giáo, Phật, Nho, Đạo. Do vậy các học giả
đời sau đều hiểu đây là bộ sách luận bàn về tam giáo. Khi viết về lịch sử Phật giáo
Việt Nam, học giả Nguyễn Lang, trong bộ Lịch sử Phật giáo Việt Nam đã ghi
nhận Hòa thượng Phúc Điền là tác giả của tác phẩm Tam giáo thông khảo và
nhận định Hòa thượng là người khảo xét đầy đủ về Tam giáo. Đây là một ý kiến
đánh giá rất cao về công việc biên soạn của Hòa thượng Phúc Điền.
3.3. Nguồn gốc của đạo Phật
3.3.1. Tổng quan về đạo Phật
Tổng quan giới thiệu về đạo Phật được Hòa thượng Phúc Điền phác họa
những nét chính giới thiệu về thời điểm đạo Phật truyền vào Trung Quốc là niên
hiệu Vĩnh Bình đời Hán Minh Đế. Điều đó đủ để thấy ý tứ sâu sắc của Hòa
thượng Phúc Điền muốn nói rằng đạo Phật được truyền vào Việt Nam sớm hơn.
Ở quyển Thượng tác giả lập hẳn một tiểu mục giới thiệu về Phật giáo đưa vào
Việt Nam từ thời Hùng Vương. Ngoài việc dẫn truyện Chử Đồng Tử trong tác
phẩm Lĩnh Nam trích quái của Vũ Quỳnh ra, tác giả còn dẫn cả Báo cực truyện
để nói việc quần thần nhà Tùy nói với Tùy Văn Đế rằng, đạo Phật ở xứ Giao

Châu đã hưng thịnh hơn ở nội địa.
3.3.2. Kinh Phật lưu truyền ở Việt Nam
Nguồn kinh Phật mà tác giả biết được đưa vào trong ĐGNL, một là số kinh
Phật mới đi thỉnh về từ Trung Quốc, hai là số kinh Phật hiện đang lưu giữ tại các
chùa Việt Nam.
3.3.2.1. Kinh sách mới vâng chiếu triều đình xin về
Ở quyển Thượng sách ĐGNL tác giả đặt hẳn ra một mục Phụng chiếu cầu
pháp. Sách viết vào khoảng niên hiệu Vĩnh Hựu (1735 - 1740), nói rằng Hoà
thượng Tính Tuyền, sư tổ đời thứ hai ở chùa Liên Phái nhận chiếu chỉ của triều
đình sang chùa Khánh Vân ở núi Đỉnh Hồ tỉnh Hồ Nam nước Đại Thanh để học
đạo và đưa kinh sách về lưu giữ tại chùa Càn An, huyện Vĩnh Thuận thành


13
Thăng Long. Số sách được liệt kê có 152 đầu sách, như: Phật bản hạnh, 60
quyển; Đại bi tâm sám Xá lị tháp, 2 quyển...
3.3.2.2. Kinh sách lưu giữ ở các chùa Việt Nam
Toàn bộ số sách kinh Phật được tác giả phân ra làm bốn loại là Kinh, Luật,
Luận, Lục. Về kinh có 85 bộ. Về luật, có 26 bộ. Về luận, có 6 bộ .Về lục, có 62
bộ. Đặc biệt trong các bộ Phật lục này có đến chục tác phẩm là do người Việt
Nam biên soạn, như: Thiền uyển tập anh lục, Khóa hư lục, Trần triều Tam tổ
thực lục, Kế đăng lục, Thượng sĩ ngữ lục, Cổ Châu lục, Đạo giáo nguyên lưu,
Tại gia tu trì Tam giáo nguyên lưu... Đặc biệt ở phần Kinh Phật, tác giả lại xếp tác
phẩm Lĩnh nam chích quái vào hạng mục Kinh Phật. Điều này cho thấy các Thiền
sư Việt Nam rất quan tâm đến thời điểm đạo Phật du nhập vào Việt Nam.
3.3.3. Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam
Sách ĐGNL giới thiệu về quá trình hoằng dương Phật pháp ở Việt Nam từ
khi đạo Phật mới truyền vào đất này cho đến đời Nguyễn.
3.3.3.1. Khởi đầu Thiền học ở Việt Nam
Theo tác giả thì đạo Phật truyền vào Việt Nam từ thời Hùng Vương tương

đương với thời Tần, Hán của Trung Quốc. Tác giả dựa vào sự tích Chử Đồng
Tử trong sách Lĩnh Nam chích quái và cho rằng ngay từ thời Hùng Vương đã có
Thiền sư Phật Quang truyền giáo vào Việt Nam. Tiếp đến tác giả lại cho rằng
nhà sư Khâu Đà La cũng chính là Phạn tăng truyền giáo ở Việt Nam thời Hùng
Vương.
3.3.3.2. Các môn phái thời Bắc thuộc
Theo Hòa thượng Phúc Điền thì trước khi chúng ta giành được quyền độc
lập tự chủ, thì đạo Phật đã thịnh hành ở Việt Nam. Sách cho biết nổi tiếng nhất
là phái Vô Ngôn Thông. Thiền sư Vô Ngôn Thông được Thiền sư Bách Trượng
truyền cho diệu pháp. Đến năm Canh Tý niên hiệu thứ 18 đời Đường Đức Tông
ngài đến truyền đạo ở chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng và hình thành một phái
Thiền học...
3.3.3.3. Các môn phái thời Tự chủ
Thời Đinh có Khuông Việt Thiền sư. Thời Tiền Lê có Pháp Thuận Thiền
sư. Đến thời Lý có vua Lý Thái Tông, vua Lý Nhân Tông, vua Lý Anh Tông...
và nhiều vị Thiền sư nổi tiếng như Thiền sư Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ,


14
Giác Hải... Đến thời Trần các vị hoàng đế có công tích với đạo Phật là: vua Trần
Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh
Tông... Trong sách, tác giả cũng đề cập đến hàng loạt các vị cao tăng thạc đức
như Tuệ Trung Thượng sĩ, Huyền Quang Quốc sư, Vô Trước Quốc Sư... Tuy
thế trong tác phẩm, Hòa thượng không nhắc nhiều đến Thiền phái Trúc Lâm ở
Yên Tử.
- Phật giáo đời Nguyễn
Người được nhắc đến là Hiếu Vũ Hoàng đế Nguyễn Phúc Chu. Khi tại vị
ngài đã cho xây dựng chùa Thiên Mụ. Đến thời vua Gia Long (1802 - 1820) lại
cho tôn tạo chùa Thiên Mụ có qui mô rất lớn. Đến đời Minh Mệnh (1820 1840), đã cho xây dựng hàng loạt những ngôi chùa lớn ở kinh thành và các tỉnh
lân cận.

3.3.3.4. Phần giải thích về các thuật ngữ Phật học
Để giúp cho các môn đệ có điều kiện tiếp cận với kinh sách nhà Phật, Hòa
thượng đã giải thích về các thuật ngữ thường sử dụng. Đây chính là những kinh
nghiệm mà Hòa thượng thu lượm được trong quá trình tu tập của mình. Người
đọc, người học sẽ có cảm giác rằng tìm trong thiên kinh vạn quyển không thấy,
mà lại thấy trong ĐGNL của Hòa thượng Phúc Điền.
3.3.4. Nguồn gốc của đạo Nho
3.3.4.1. Giới thiệu tóm tắt về đạo Nho
Ở quyển Trung tuy nói là giới thiệu về nguồn gốc của đạo Nho, song tác
giả lại hết sức kiệm lời, chỉ dùng vẻn vẹn hơn một trang giấy với 600 chữ Hán
để giới thiệu.
3.3.4.2. Tiểu truyện Khổng Tử
Phần tiểu truyện viết ở đây không phải là việc giới thiệu về tiểu sử của
Khổng Tử chép trong Khổng Tử thế gia của sử gia Tư Mã Thiên đời Hán, mà là
những mẩu truyện liên quan đến Khổng Tử do tác giả trích lục từ Bách gia chư
tử. Tác giả dùng đến mười trang giấy để viết về Khổng Tử, đồng thời có nêu ra
nhận định đánh giá của mình.
3.3.4.3. Nhà nước phong kiến đối với đạo Phật
Trong phần ĐGNL, tác giả cũng sưu tập nhiều mẩu chuyện về việc các vị Đế
vương học đạo Thiền, các chuyện quần thần tham Thiền. Tác giả đặc biệt quan tâm


15
đến các chính sách ủng hộ Phật pháp của các bậc quân vương. Bên cạnh đó, Hòa
thượng cũng sưu tầm nhiều mẩu chuyện nói tới việc các quan lại phản đối đạo Phật
và chú ý đến việc ghi chép sự tích của những người phá hoại Phật pháp sẽ có được
kết quả không tốt đẹp.
3.3.4.4. Các triều Vua Việt Nam ủng hộ Phật pháp
Trong quyển Trung của sách ĐGNL, tác giả cũng giới thiệu vắn tắt về các
vương triều Việt Nam ủng hộ Phật pháp để giúp cho người học thấy được sự

quan tâm của vương triều đối với Phật pháp. Riêng đối với triều Nguyễn, tác giả
cũng chỉ lược ghi công đức của mấy vị vua đầu triều đã quan tâm đến việc xây
chùa độ tăng.
3.3.4.5. So sánh đạo Phật với đạo Nho
Sự suy nghĩ của Hòa thượng Phúc Điền cũng được nhiều người đời nay tán
thưởng. Các nhà khoa học cho rằng trong kinh Phật đã nói đến thế giới vi mô và
thế giới vĩ mô rồi. Họ dẫn trong kinh điển nhà Phật nói, thế giới vũ trụ nhiều
không sao kiểm soát được hết. Nhận định về hành vi đạo đức của con người thì
đạo Phật có được những nhận thức sâu sắc hơn đạo Nho.
3.3.5. Nguồn gốc của đạo Lão
Phần giới thiệu nguồn gốc của đạo Lão được tác giả xếp vào quyển Hạ.
Sách dày 192 trang, bao gồm hai phần. Phần đầu giới thiệu về nguồn gốc của
đạo Lão, phần hai là các bảng từ giải thích hướng dẫn cách học chữ Hán phục
vụ cho hàng sơ cơ nhập đạo.
3.3.5.1. Giới thiệu tóm tắt về Lão Trang
Sử sách đời sau còn ghi chép nhiều sự tích liên quan đến sự ra đời của Lão
Tử giúp cho đất nước hưng thịnh. Về sau đến thời Chiến Quốc có nhà tư tưởng
Trang Chu ra đời tuân theo học thuyết của Lão Tử biên soạn sách Nam Hoa
kinh, vì thế các học giả đời sau còn gọi đạo Lão là đạo Lão Trang.
3.3.5.2. Nội dung chính của đạo Lão Trang
Nội dung chính của đạo Lão Trang được thể hiện trong hai tác phẩm Đạo
đức kinh của Lão Tử và Nam hoa kinh của Trang Tử.
3.3.5.3. Các vị Hoàng đế Trung Hoa ủng hộ Đạo giáo
Sách dẫn, vua Đường Thái Tông nhiều lần ban sắc chỉ mời các vị đạo sĩ
vào triều tham khảo ý kiến cai trị quốc dân; Vua Cao Tổ nhà Đường đi đến


16
Quốc Tử Giám, rồi cho mời bác sĩ Từ Khoáng, Sa môn Huệ Thừa, Đạo sĩ Lưu
Tiến Thiện cùng đến đàm đạo; Vua Thái Tông nhà Đường nhân ngày Thiên địa

khánh tiết của Hoàng đế mời quan Tế tửu Khổng Dĩnh Đạt, Sa môn Huệ Tịnh,
Đạo sĩ Thái Khoáng cũng đến nhà Hoằng Văn đường để bàn luận về Tam giáo..
3.3.5.4. Phê phán tư tưởng sai lệch của các phần tử tà đạo
Do Đạo giáo gắn liền với đạo tu tiên cho nên bị nhiều người lợi dụng để mê
hoặc quần chúng làm rối loạn xã hội. Hòa thượng gọi những hạng người đó là yêu
ngụy. Khi nói về tà đạo, Hòa thượng giải thích người được gọi là tà đạo cũng là
những người đi theo đường chính, nhưng có xu hướng nghiêng về bên tả, khiến
cho công việc trở nên nặng nề.
3.3.5.5. Các bảng tra từ ngữ
Trong ĐGNL, Hòa thượng đã lập ra bảng từ giúp cho người học chữ Hán
như bảng đối chiếu Phạn Hoa danh nghĩa, bảng tra các từ khó, bảng dịch các từ
tiếng Hán sang tiếng Việt ghi bằng chữ Nôm.
Tiểu kết
1. Trong sách ĐGNL, Hòa thượng là một vị Thiền sư nên khi viết cũng tập
trung vào tán dương công đức của đức Phật, còn đạo Nho và đạo Lão thứ yếu,
thậm chí Hòa thượng còn thẳng thắn phê phán những hành động không vì lợi
ích của quần chúng của vị khoe danh đạo sĩ như Lý Tư đời Tần, Trương Giác
đời Hán.
2. Khi viết Hòa thượng không xếp theo thứ tự thời gian, cũng không xếp
theo các chuyên mục hoặc đề mục nào cả, điều này đã được Tổng đốc Nguyễn
Đăng Giai phát hiện ra khi viết bài tựa. Sau khi nghiên cứu tìm hiểu kỹ nội dung
của tác phẩm chúng tôi biết được rằng đây là bài giảng của Hòa thượng Phúc
Điền trong các dịp an cư kết hạ thời đó.
3. Tác giả đã sử dụng rất nhiều tư liệu quí trong kinh điển đạo Phật, vào
kinh điển của đạo Nho, đạo Lão. Sự việc này cho chúng ta một gợi ý khi hướng
dẫn cho tăng ni sinh ở trường trung cấp Phật giáo và cao cấp Phật học, cũng nên
tuyển chọn những kinh điển của Nho giáo để bổ trợ.
4. Các bảng tra cứu ở cuối quyển Hạ cũng được xem là những tài liệu giúp
ích rất nhiều cho việc giảng dạy và học tập chữ Hán, đặc biệt là các bảng Phạn
Hoa danh nghĩa, Bảng tra chữ khó, Bảng quốc âm.



17
Chƣơng 4
GIÁ TRỊ CỦA TÁC PHẨM ĐẠO GIÁO NGUYÊN LƯU
4.1. Giá trị khi tìm hiểu về lịch sử Phật giáo Việt Nam
Trong ĐGNL, Hòa thượng Phúc Điền đã giới thiệu lịch sử Phật giáo Việt
Nam một cách tương đối đầy đủ. Bắt đầu từ các vấn đề khởi nguồn của đạo Phật
cho đến ở các danh sơn bảo sái; từ việc khắc in kinh sách cho đến các môn phái
truyền thừa ở Việt Nam đều được tác giả giới thiệu trong tác phẩm của mình, vì
thế khi đọc toàn bộ tác phẩm ĐGNL chúng ta rất dễ nhận ra rằng, đây là công
trình giới thiệu khái quát về lịch sử Phật giáo Việt Nam.
4.1.1. Thời điểm đạo Phật truyền vào Việt Nam
Từ những năm 70 của thế kỷ XX các nhà nghiên cứu Phật học của hai
miền Nam Bắc đều thống nhất cho rằng đạo Phật được truyền vào Việt Nam từ
thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên bằng hai con đường: Một là Phật giáo từ Ấn
Độ truyền sang, tiêu biểu là nhà sư Khâu Đà La đến giảng đạo ở thành Luy Lâu
thời Sĩ Nhiếp làm Thái thú Giao Châu, với sự xuất hiện của truyền thuyết Tứ
Pháp rất nổi tiếng. Con đường thứ hai mà Phật giáo truyền vào Việt Nam từ đất
Trung Hoa. Đến thời Tống trở về sau, các chi phái của Thiền Tông như Lâm Tế,
Tào Động lần lược được truyền sang Giao Châu. Gần đây,các nhà nghiên cứu
Phật học lại cho rằng đạo Phật được truyền vào Việt Nam sớm hơn. Các tác giả
đều viện dẫn trong sách Lĩnh Nam chích quái, nói việc Chử Đồng Tử được
Thiền sư Phật Quang thu nạp làm môn đệ, và cho rằng Phật giáo truyền vào
Việt Nam từ thời Hùng Vương. Trong sách ĐGNL, Hòa thượng Phúc Điền
cũng đã ghi nhận thời điểm đó.
Do được Trung ương Giáo hội Phật giáo phân công phụ trách Giáo hội
Phật giáo tỉnh Phú Thọ, NCS đã nhiều năm đến tìm hiểu tham quan ở nhiều
ngôi chùa cổ trong toàn tỉnh và cũng nhiều lần nghe các Phật tử địa phương kể
lại sự tích ngài Chử Đồng Tử tu hành đạo Phật từ thời Hùng Vương. Nghe nói

là vậy, song hỏi đến chứng cứ thì các Phật tử đều trả lời là chỉ thấy khẩu truyền
thôi. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đặc biệt là Khảo cổ,
Lịch sử, Hán Nôm thời gần đây vẫn chưa có bước tiến mới. Chúng ta vẫn chỉ có
chứng cứ xác thực ghi nhận Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu Công


18
nguyên mà thôi. Tuy thế NCS cũng rất hy vọng trong thời gian tới các nhà khoa
học có thể tìm thấy chứng cứ đủ sức thuyết phục.
4.1.2. Các tông phái Phật giáo
Trong sách ĐGNL Hòa thượng Phúc Điền giới thiệu các tông phái chính
như sau: (1)Vô Ngôn Thông; (2) Các danh tăng đời Lý; (3) Các danh đức triều
Trần; (4) Phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi; (5) Môn phái Tuyết Đậu; (6) Phái Ứng
Thuận, (7) Thánh chúa ở bản triều đối với đạo Phật.
4.1.3. Hệ thống kinh sách Phật giáo
Tác giả đã giới thiệu rất tỷ mỉ số kinh Phật đó có từ hai nguồn: (1) Số kinh
sách đi thu lượm từ nước Thanh đem về; (2) Số kinh Phật đang lưu hành ở nước
ta thời bấy giờ như đã giới thiệu ở trên. Hòa thượng Phúc Điền đã tiến hành
dịch hàng chục bộ sách có giá trị như Kim cương kinh giải âm, Hộ Pháp luận
giải âm, Thái căn đàm giải âm. Đặc biệt, Hòa thượng còn quan tâm đến những
tác phẩm do Thiền sư và các học giả Việt Nam biên soạn, do vậy đã tổ chức
phiên dịch một số bộ sách có giá trị như Khóa hư lục của Vua Thái Tông đời
Trần, sách Tam giáo nhất nguyên của Trạng nguyên Trịnh Tuệ đời Lê…
4.2. Giáo trình giảng giải đạo pháp ở các trƣờng Hạ
4.2.1. Nội dung phong phú đa dạng
Nội dung giới thiệu một số vấn đề chính như: 1/ Giảng giải về giáo lý nhà
Phật; 2/ Khuyến tu... Ngoài ra, trong ĐGNL, tác giả còn chép rất nhiều câu
chuyện để cho thấy công quả mà người tu theo đạo có được là hết sức lớn lao. Tác
giả đã dãi bày tâm tư tình cảm của mình, khuyến khích các vị hàng sơ cơ nên tu
theo đạo Phật.

4.2.2. Hình thức nghệ thuật
Hòa thượng Phúc Điền rất giỏi dùng lối văn nghị luận trong khi phản bác các
tư tưởng chống đối lại Phật pháp. Tác giả thường đưa ra những câu chuyện trích
từ trong kinh sách của người hỏi để cật vấn. Chẳng hạn như khi giảng giải về
thuyết luân hồi của đạo Phật, tác giả thường trích những kinh điển của nhà Nho
để phản bác những nhà Nho không tin vào thuyết luân hồi.
4.3. Khẳng định ba thứ tôn giáo Thích, Nho, Đạo đều có cùng một
nguồn gốc


19
4.3.1. Coi Phật giáo là quan trọng nhất
Tuy chủ điểm sách nói rằng ba thứ tôn giáo đều có cùng một nguồn gốc,
nhưng chủ ý của tác giả cho rằng chỉ có một mà thôi, đó là đạo Phật, còn hai thứ
đạo Nho, đạo Lão chỉ là thể hiện những phương pháp giáo hóa khác của đạo Phật.
4.3.2. Hai tôn giáo Nho và Lão đều quy theo đạo Phật
Tuy coi trọng Phật giáo, coi Phật giáo là chủ đạo hướng dẫn Nho giáo và
Đạo giáo đi đúng con đường mà đức Phật chỉ ra nhưng có chỗ Hòa thượng vẫn
còn nhận Nho giáo, Phật giáo hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Qua ĐGNL, Hòa
thượng đưa những dẫn chứng trong truyện luân hồi, truyện địa ngục và những
việc làm giống nhau giữa đạo Phật và đạo Nho cũng đều là để chứng minh cho
nhận định cho Tam giáo đồng nguyên.
4.4. Phƣơng pháp dịch thuật của Hòa thƣợng Phúc Điền đƣợc phản
ánh rõ nét trong sách ĐGNL
Về những tác phẩm do Hòa thượng biên soạn chúng ta chỉ có thể tìm thấy
một số sách như sau: Đạo giáo nguyên lưu, Tại gia tu trì tam giáo nguyên lưu,
Thiền uyển kế đăng lục, Giới sát phóng sinh văn... Ngoài ra còn có một số tác
phẩm dịch thuật, như Kim cương kinh giải âm, Hộ pháp luận giải âm, Thái căn
đàm giải âm... Nhiều tác phẩm do người Việt biên soạn cũng được Hòa thượng
chú ý giới thiệu như sách Khóa hư lục của Hoàng đế Trần Thái Tông, sách Tam

giáo nhất nguyên của Trạng nguyên Trịnh Tuệ. Ngay cả những tác phẩm do
Hòa thượng biên soạn cũng được lựa chọn làm đối tượng để diễn dịch. Đặc biệt
Hòa thượng còn soạn hẳn ra bảng tra các từ Hán Việt để tiện cho công tác dịch
thuật.
4.4.2. Về nội dung các từ được tuyển chọn cho thấy tác giả đã được học
tập các bộ kinh điển của Nho gia, mà chủ yếu là Tứ thư Ngũ kinh và Nhị thập tứ
sử. Có thể khái quát rằng, đây là những từ rất thông dụng, cũng chính là thể
nghiệm của tác giả trong quá trình tu tập đã thu thập được nhiều từ liên quan
đến Phật giáo giúp cho người học có được những vốn tri thức cần thiết để tiếp
xúc với kinh Phật.
4.4.2. Về phương pháp dịch thuật
Bảng quốc âm ở trong quyển Hạ đã cung cấp cho người đọc một khối
lượng từ rất đáng kể. Có rất nhiều từ ở trong các thư tịch cổ nhất là trong Tứ


20
thư, Ngũ kinh của nhà Nho, khi chuyển đổi sang tiếng Việt, người đọc thường
lúng túng. Nhận xét chung về bảng từ này chúng ta thấy nhiều lợi ích cho công
tác phiên dịch biên dịch.
Tiểu kết:
1. Sách ĐGNL có thể xem là bộ sách viết về lịch sử Phật giáo Việt Nam có
niên đại sớm nhất mà chúng ta biết được, Hòa thượng Phúc Điền đã tập trung
trình bày vấn đề: 1/ Thời điểm Phật giáo du nhập vào Việt Nam bắt đầu từ thời
Hùng Vương; 2/ Phật giáo Việt Nam đã sử dụng một hệ thống kinh Phật viết
bằng chữ Hán, chữ Nôm hết sức phong phú.
2. Các tông phái Phật giáo truyền thừa ở Việt Nam
Trong quyển thượng, tác giả cũng lần lượt giới thiệu về các tông phái chính
truyền pháp ở Việt Nam như Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Thảo Đường…
3. Chủ trương Tam giáo nhất nguyên: Tuy viết là Tam giáo đồng nguyên,
Tam giáo nhất nguyên nhưng Hòa thượng luôn quan niệm tam giáo chỉ là một.

Xét về hình thức lẫn nội dung, Hòa thượng Phúc Điền có quan điểm đồng nhất
với Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai, tuy là nói ba thứ tôn giáo nhưng thực chất chỉ
có một mà thôi, đó là Phật giáo.
4. Đây là bộ giáo trình giảng dạy trong các kỳ an cư kết hạ
Trong các kỳ an cư đó ngoài việc tuyển chọn bộ kinh để thuyết giảng ra
các vị Cao tăng thạc đức còn tuyển chọn từ nhiều kinh luận khác, thậm chí cả
ngoại điển như sách của Nho giáo, Lão trang. ĐGNL của Hòa thượng Phúc Điền
với hơn 549 trang, tác giả đã sưu tầm được hơn bảy trăm mẩu chuyện bổ ích,
những câu chuyện ngắn gọn nhưng có nội dung sâu sắc. Đến nay đọc lại chúng ta
vẫn nhận được chân giá trị của nó, có điều là các bài giải này đều ghi bằng chữ
Hán, chữ Nôm, do vậy cần thiết phải phiên âm dịch nghĩa để phổ biến rộng rãi.


21

KẾT LUẬN
Sách ĐGNL do Hòa thượng Phúc Điền biên soạn vào hồi đầu thế kỷ thứ
XIX, trên cơ sở tập hợp các bài giảng trong các kỳ an cư kết hạ. Sách đã được
Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai viết tựa giới thiệu và đặt tên là Tam giáo quản
khuy, rồi cho khắc in năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) tại cơ sở chùa Đại Giác xã Bồ
sơn, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Hiện ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu
giữ được hai văn bản ký hiệu A 1825 và A 2647, sách đóng rời làm ba quyển,
Thượng, Trung, Hạ, dày 549 trang khổ lớn 34 × 22cm.
1. Tác giả sách ĐGNL là Hòa thượng Phúc Điền. Hòa thượng sinh năm Giáp
Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45 (1784) đời Lê Hiển Tông tại thôn Trung Thịnh
xã Bạch Sam huyện Sơn Minh phủ Ứng Hòa, nay thuộc xã Trường Thịnh, huyện
Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình lương thiện, họ Vũ, Hòa
thượng sớm chịu cảnh mồ côi, nên đến năm 12 tuổi đã xuất gia đến ở chùa Đại Bi
xã Thanh Liệt huyện Thanh Trì. Sau này khi lớn lên Hòa thượng lần lượt trụ trì ở
các chùa lớn như Đại Giác, Đại Quang, Hoàng Vân, Liên Trì Hải Hội, Liên Tông.

Lúc mới xuất gia, Hòa thượng được đặt pháp danh là An Thiền sau khi thụ cụ túc
giới đặt hiệu là Mật Nhân. Năm 1835 Hòa thượng vâng theo chiếu chỉ của vua
Minh Mệnh vào kinh thành Huế tham dự lớp tập huấn rồi được triều đình ban sắc
phong Độ điệp Phúc Điền Hòa thượng. Trong quá trình tu tập và đào tạo tăng tài
Hòa thượng đã biên soạn rất nhiều sách. Ngoài sách ĐGNL ra, Hòa thượng còn
biên soạn sách Giới sát phóng sinh văn, Tại gia tu trì tam giáo nguyên lưu.
2. Hòa thượng đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo tăng tài, để tạo điều kiện
cho tăng ni học tập, Hòa thượng đã vận động các Phật tử tín thí công đức để xây
dựng hàng loạt những ngôi chùa lớn có qui mô hàng trăm gian, như chùa Đại
Giác ở xã Bồ Sơn tỉnh Bắc Ninh có qui mô rộng đến 230 gian, chùa Liên Trì
Hải Hội ở xã Cựu Lâu tỉnh Hà Nội gồm 235 gian, chùa Đại Quang ở xã Phú Nhi
tỉnh Sơn Tây gồm 168 gian. Các tổ đình lớn này đủ sức dung chứa hàng trăm
tăng ni đến học trong các kỳ an cư kết hạ.
3. Để cung cấp tài liệu học tập cho tăng ni trong các hạ trường, Hòa thượng
còn dụng công phiên dịch một số các bộ kinh, bộ luận quan trọng ra tiếng Việt
ghi bằng chữ Nôm, hầu hết các bảng dịch Nôm đó đều được Hòa thượng cho


22
chỉnh lý khắc in và lưu hành rộng rãi. Hiện trong kho sách của Viện Nghiên cứu
Hán Nôm còn lưu giữ được hàng chục đầu sách do Hòa thượng diễn âm.
Hòa thượng còn đặc biệt quan tâm đến những bộ sách do người Việt Nam
biên soạn, nên rất chú ý đến diễn âm các bộ sách đó, ví dụ như:
- Sách Khóa hư lục của Hoàng đế Trần Thái Tông, sách Tam giáo nhất
nguyên của Trạng nguyên Trịnh Tuệ đời Lê.
Các bản dịch của Hòa thượng không chỉ giúp cho các vị tu sĩ Phật giáo dễ
dàng tiếp thu giáo lý của đức Phật, mà còn cung cấp nhiều tư liệu quí giá để các
học giả đời nay nghiên cứu về chữ Nôm tiếng Việt.
4. Sách ĐGNL có nội dung phong phú cung cấp nhiều tư liệu quí cho việc
nghiên cứu Phật giáo Việt Nam nên đã được các nhà nghiên cứu lớp trước đặc

biệt quan tâm, đã trích dẫn những tư liệu quan trọng để chứng minh cho các
luận điểm khoa học của mình như:- Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Học giả
Nguyễn Lang.- Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Giáo sư Nguyễn Tài Thư.- Thiền
sư Việt Nam của Hòa thượng Thích Thanh Từ.- Lịch sử Phật giáo Việt Nam của
Tiến sĩ Lê Mạnh Thát.
Gần đây các học viên cao học trong các cơ sở nghiên cứu thuộc Viện Hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam cũng quan tâm đến tác phẩm ĐGNL, nên đã sử
dụng tư liệu trong sách làm đề tài luận văn Thạc sĩ như: Thạc sĩ Thích Minh
Tâm với luận văn Tìm hiểu lịch sử Phật giáo Việt Nam qua tác phẩm Đạo giáo
nguyên lưu, Thạc sĩ Nguyễn Tuấn Cường với luận văn Nghiên cứu các thuật
ngữ Phật học gốc tiếng Phạn qua bảng Phạn Hoa danh nghĩa trong sách Đạo
giáo nguyên lưu.
5. Sách ĐGNL có thể coi là bộ sách giới thiệu về lịch sử Phật giáo Việt
Nam. Các tư liệu ghi chép tác phẩm giúp người đọc có những hiểu biết thời điểm
Phật giáo du nhập vào Việt Nam là thời Hùng Vương. Sách cũng giới thiệu tổng
quan về các tông phái truyền giáo ở Việt Nam như Võ Ngôn Thông, Tỳ Ni Đa
Lưu Chí, Thảo Đường. Sách cũng cung cấp nhiều tư liệu cho biết các vương triều
phong kiến của Việt Nam từ Đinh, Lê, Lý, Trần, cho đến Hậu Lê, Nguyễn luôn
luôn ủng hộ Phật pháp. Đặc biệt là vương triều Nguyễn đã ban bố nhiều chính
sách mở đường cho Phật giáo. Tác giả của sách ĐGNL rất quan tâm giới thiệu về
Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai đã có nhiều đóng góp cho Phật pháp.


23
6. Sách ĐGNL ngoài việc giới thiệu khái quát về đạo Phật còn giới thiệu
tóm tắt về đạo Nho và đạo Lão. Tác giả luôn luôn chủ trương ba thứ tôn giáo
Thích, Nho, Lão là có cùng một nguồn gốc. Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai trong
bài tự văn cũng thống nhất quan điểm cho rằng tuy gọi là ba thứ tôn giáo nhưng
thực chất chỉ là một mà thôi. Cái gọi là Nho giáo, Lão giáo cũng chỉ là những
hình bóng thể hiện Giáo lý của nhà Phật. Do chủ trương như vậy nên khi biên

tập sắp xếp các vấn đề thì tác giả đã dùng hoàn toàn quyển Thượng viết về Phật
giáo, đồng thời cũng dành phần lớn giấy mực ở quyển Trung và quyển Hạ cũng
viết về những vấn đề liên quan đến Phật giáo, còn phần trình bày về Nho giáo
và Lão giáo viết rất vắn tắt.
Những tư liệu lịch sử hiện còn như sách Đại Việt sử ký toàn thư, Việt Sử
lược, Lê triều thông sử, Lịch triều hiến chương loại chí… đều cung cấp những
tư liệu xác định vai trò của ba thứ tôn giáo đó là ngang bằng nhau. Sách ĐGNL
của Hòa thượng Phúc Điền được người đương thời gọi là Tam giáo quản khuy
lục, và người đời sau gọi là Tam giáo thông khảo, nhưng thực chất chỉ hoàn
toàn viết về Phật giáo. Hai thứ tôn giáo kia, Nho giáo và Lão giáo tuy cũng có
tên gọi đầy đủ đấy nhưng thực chất chỉ là thứ tô điểm thêm cho đạo Phật mà
thôi.
7. Tác phẩm ĐGNL có thể coi là bộ giáo trình giảng dạy trong các hạ
trường. Đạo Phật truyền bá vào Việt Nam có thời gian hàng ngàn năm, không
gian khắp ba miền Bắc, Trung, Nam. Đời nào cũng xuất hiện các vị cao tăng
thạc đức làm Đường chủ giảng tập ở các trường hạ, chẳng còn được là bao. Do
vậy ĐGNL có thể xem là viên ngọc quí cho đến bây giờ vẫn lấp lánh soi đường
cho bao lớp hậu thế. Tuy vậy do việc biên tập sắp xếp còn chưa thực rõ ràng,
người đọc muốn dẫn ra một tư liệu quan trọng thì phải lần mò tìm trong bộ sách
dày đến 549 trang thì thực chẳng dễ chút nào. Hơn nữa sách lại viết bằng chữ
Hán hàm ý sâu sắc, ngay cả người có chút vốn liếng chữ Hán đọc vào còn có
chỗ khó lý giải. Do vậy để có thể sử dụng tốt tài liệu này nghiên cứu sinh thấy
cần thiết phải dịch ra tiếng Việt và sắp xếp chỉnh lý lại để tiện cho việc tra cứu.
Đây là hướng mở của đề tài, NCS nhận thấy bản thân cần đứng ra gánh lấy
trách nhiệm này để giúp cho hậu thế nhận biết được công đức của Hòa thượng


×