Tải bản đầy đủ (.docx) (86 trang)

Đặc điểm kịch lịch sử vũ đình long và nam xương

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (384.49 KB, 86 trang )

MỤC LỤC

1


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài
Từ đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam chuyển sang thời kì hiện đại. Sau
giai đoạn giao thời (1900-1930), văn học Việt Nam phát triển mạnh mẽ theo
hướng hiện đại hóa. Sự ra đời của Thơ mới, của tiểu thuyết và truyện ngắn,
của nghệ thuật tạo hình, sân khấu kịch nói… đã tạo nên một diện mạo mới
của nền văn học nước nhà, tạo đà cho các bước phát triển sau này. Chính vì
thế, việc nghiên cứu một cách hệ thống để hiểu đầy đủ hơn về bối cảnh lịch
sử - xã hội - văn hóa, về các tác giả đã đi tiên phong trong giai đoạn đầu của
công cuộc hiện đại hóa văn học Việt Nam là hết sức quan trọng và cần thiết.
Thực sự xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, suốt một thế kỷ qua, kịch đã tiến
một bước dài với nhiều thành tựu lớn. Sự thành công của thể loại văn học này
đã khẳng định được vị thế của nó trong tiến trình văn học dân tộc. Nhắc đến
công lao đặt nền móng cho sân khấu kịch nước nhà không thể không nhắc đến
những tên tuổi lớn như: Vũ Đình Long, Nguyễn Hữu Kim, Nam Xương, Vi
Huyền Đắc,...
Vũ Đình Long và Nam Xương là hai nhà soạn kịch nổi tiếng của Việt
Nam đầu thế kỷ XX. Nhắc đến tên tuổi của hai ông người ta nghĩ ngay đến
vai trò của những người “kéo rèm cho sân khấu kịch nước nhà”. Tuy nhiên,
ngoài sự khẳng định trên, cho đến nay, sự nghiệp của Vũ Đình Long và Nam
Xương chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ. Cho đến nay
các công trình nghiên cứu về kịch của Vũ Đình Long và Nam Xương hầu như
chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, bài bản. Các nhà nghiên cứu
thường nghiên cứu tách biệt hai tác giả Vũ Đình Long và Nam Xương chứ


không đặt họ trong thế so sánh, đối chiếu để thấy rõ hơn những đóng góp của
họ cho sự nghiệp khai hóa sân khấu kịch nước nhà. Nghiên cứu về Vũ Đình

2


Long và Nam Xương một cách song song là góp phần hiểu sâu sắc hơn
những đóng góp, cách tân của họ đối với sân khấu kịch Việt Nam.
Do sẵn lòng yêu mến thể loại kịch, đồng thời muốn giới thiệu đến bạn
đọc chân dung hai tác giả nổi tiếng của kịch Việt Nam đầu thế kỉ XX, trong
công trình này, người viết muốn phục dựng chân dung của Vũ Đình Long và
Nam Xương nhằm góp một phần nhỏ bé của mình để một lần nữa khẳng định
đóng góp của hai ông cho sân khấu kịch. Tất nhiên, sáng tác của Vũ Đình
Long và Nam Xương rất đa dạng, phong phú, song trong khuôn khổ luận văn
có hạn, chúng tôi chọn đề tài “Kịch của Nam Xương và Vũ Đình Long dưới
góc nhìn thể loại”(*) nhằm khẳng định đóng góp của hai tác giả này cho nền
kịch Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
Tính cho đến thời điểm này, số lượng các công trình nghiên cứu về
cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Vũ Đình Long và Nam Xương chưa thực
sự phong phú. Các nhà nghiên cứu chủ yếu nhìn nhận họ dưới vai trò của
“người mở đường”, “người kéo rèm cho sân khấu kịch nước nhà” song lại
chưa chỉ ra được đặc điểm về thể loại trong sáng tác của họ một cách hệ thống
để hiểu rõ hơn những đóng góp của họ.
Chúng tôi xin giới thiệu một số đánh giá quan trọng trong các công
trình về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Vũ Đình Long và Nam Xương:
Trong Từ điển văn học, trong mục từ Vũ Đình Long, Trần Hữu Tá viết:
“19.XII.1896 - 14.VXIII.1960. Nhà viết kịch Việt Nam, quê quán ở Thôn
Mục Xá, xã Cao Dương, huyện Thanh Oai, Tỉnh Hà Đông, nay thuộc tỉnh Hà
Tây, sinh tại Hà Nội... Ông vừa làm chủ nhà in Tân Dân vừa chủ trương các

báo Tiểu thuyết thứ Bảy (1934 - 1942), Phổ Thông bán nguyệt san (1936 –
(*) Do sơ xuất trong quá trình đăng kí đề tài, chúng tôi để tên của Nam Xương
trước Vũ Đình Long. Ở đây, xin chỉnh lại cho phù hợp với thời điểm xuất hiện của hai tác
giả là: “Kịch của Vũ Đình Long và Nam Xương dưới góc nhìn thể loại”.

3


1938), Tuần báo Tuổi trẻ, Truyền bá (1941 - 1943) và các loại sách như
Sách học, Quốc văn dẫn giải, Tủ sách tao đàn, Những tác phẩm hay… Với
các cơ
quan xuất bản, báo chí nói trên, ông đã tập hợp được xung quanh mình
một
đội ngũ đông đảo các nhà văn, đa số là các nhà văn lớp dưới, góp phần
nâng đỡ tài năng của họ, làm cho văn đàn Việt Nam trong những năm 30 - 40
thế kỷ XX có thêm nhiều khuôn mặt sáng giá, nhất là có thêm một khối lượng
tác phẩm to lớn, trong đó không ít cuốn để lại tiếng vang lâu dài” (7.2022).
Trong cuốn Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam trước cách
mạng tháng Tám, Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý viết: “Ngay từ khi Chén
thuốc độc mới đăng trong Hữu Thanh”, Tản Đà lúc đó là chủ bút, đã cho là vở
kịch “đáng có giá trị”. Sau khi diễn, Nguyễn Mạnh Bổng đã coi ngày hôm 22
Octobre 1921 này là một ngày kỷ niệm lớn trong văn học sử nước ta và văn
học sử nước ta sau này chép đến lối văn kịch có lẽ sẽ kể đầutừ kịch bản Chén
thuốc độc này của Vũ Đình Long. Trên báo Thực nghiệp số ra ngày 20-101921, Đại Phong cũng thừa nhận “bản kịch của ông Long lời văn không phải
là không cứng, ý nghĩa không phải là không sâu… tả được hiển nhiên sự thật,
kể cũng đã khéo, soạn mất nhiều công”. Vở Chén thuốc độc ra đời đã có tiếng
vang lớn. Đối với đương thời, Chén thuốc độc là một thành công báo hiệu
sau những lần thử thách, lần mò. Kịch nói Việt Nam đến đây đã thành hình và
chính thức gia nhập đại gia đình sân khấu Việt Nam” (20.26)
Nhà nghiên cứu Hoài Trần nhận xét: “... Trong văn học sử Việt Nam,

Vũ Đình Long trước hết đã ghi danh như người mở đường, người lĩnh ấn tiên
phong của thể loại kịch (kịch nói), một thể loại hoàn toàn mới có xuất xứ từ
truyền thống văn chương phương Tây. Năm 1921, ông sáng tác vở Chén
thuốc độc, 3 hồi công diễn trên sân khấu kịch Hà Nội ngày 22/10 cùng năm.

4


Năm 1923 ông sáng tác vở Tòa án lương tâm 4 hồi. Rất cần nhấn mạnh rằng
đây là hai vở kịch đầu tiên trong văn học Việt Nam do người Việt Nam sáng
tác, nói về những vấn đề của đời sống Việt Nam đương thời...” (lời bạt).
Còn trong mục từ “Nam Xương”, Trần Hữu Tá giới thiệu: “Nam
Xương tham gia cách mạng từ tháng Tám năm 1945, được kết nạp vào Đảng
Cộng Sản Đông Dương năm 1948, làm công tác bí mật ở các thành phố Nam
Định và Hà Nội. Năm 1954 ông được phái vào Sài Gòn công tác và hy sinh
năm 1958. Thời gian hoạt động trong vùng Hà Nội bị tạm chiếm (1948 1954), ông viết một tập truyện ngắn có giá trị phê phán tích cực (Bụi phồn
hoa), hai cuốn tiểu thuyết lịch sử đậm đà tinh thần dân tộc (Bách Việt, Hùng
Vương) và một vở kịch (Tây Thi). Dưới danh nghĩa một nhà xuất bản tưởng
tượng “Quê Hương” ông đã in được hai cuốn Bụi phồn hoa và Bách Việt
nhằm động viên bạn đọc thành phố hướng về chính nghĩa” ( 17.11).
Trong cuốn Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam của Phan Kế
Hoành và Huỳnh Lý, có viết: “ Ở cuối thời kỳ này, thời kỳ thời kỳ 1927 1930, theo cách phân kỳ của hai tác giả trên Nam Xương cũng để lại hai vở
kịch đáng chú ý là vở Chàng Ngốc và vở Ông Tây An Nam. Qua vở Ông Tây
An Nam, Nam Xương đả kích một bọn trí thức vong bản, cũng qua hai vở
kịch ấy, người ta thấy Nam Xương là người am hiểu về nghệ thuật kịch cổ
điển và có sở trường về lối hài kịch (20.42).
Bài báo của Nguyễn Hòa viết: “Bằng hai vở kịch nói Ông Tây An Nam
(1930) và Chàng Ngốc ( 1931) - Nam Xương - Nguyễn Cát Ngạc đã cùng với
Huyền Đắc và Vũ Đình Long, Nguyễn Hữu Kim... trở thành những nghệ sĩ
đầu tiên đặt nền móng cho sự ra đời của nghệ thuật kịch nói Việt Nam. Dù chỉ

là đôi dòng, nhưng tên tuổi của Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc thường được
nhắc tới trong các công trình nghiên cứu lịch sử văn học, nghiên cứu lịch sử
sân khấu Việt Nam trong những thập kỉ đầu thế kỉ XX”. (18.14)

5


Có thể nhận thấy một điều, hầu hết các công trình trên đây chỉ mới
dừng lại ở những đánh giá ngắn gọn và khái quát về Vũ Đình Long và Nam
Xương - Nguyễn Cát Ngạc cùng với những đóng góp của họ cho sân khấu
kịch nói nước nhà. Việc nghiên cứu những tác phẩm kịch dưới góc nhìn thi
pháp thể loại và đặt họ trong thế so sánh đối chiếu với nhau để thấy rõ hơn
những đóng góp của họ thì vẫn chưa có công trình cụ thể nào. Vì vậy, việc
nghiên cứu kịch của Vũ Đình Long và Nam Xương dưới góc nhìn thể loại là
hết sức cần thiết. Nó cũng chính là gợi mở cho chúng tôi thực hiện đề tài này.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu một số đặc điểm của kịch Vũ Đình Long và Nam Xương Nam
Xương dưới góc nhìn thể loại trong tương quan so sánh với nhau.
Khẳng định những đóng góp của Vũ Đình Long và Nam Xương đối với
sự hình thành và phát triển của kịch nói Việt Nam đầu thế kỷ XX.
4. Đối tượng nghiên cứu
- Các tác phẩm kịch nói của Vũ Đình Long và Nam Xương rất đa dạng
nhưng trong khuôn khổ luận văn có hạn, người viết xin tập trung vào một số
vở sau:
+ Vũ Đình Long : Tập trung vào hai vở Chén thuốc độc và Tòa án
lương tâm
+ Nam Xương : Tập trung vào hai vở Ông Tây An Nam và Chàng Ngốc
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Chỉ ra được những đặc điểm của thể loại kịch trong kịch của Vũ Đình
Long và Nam Xương.

- So sánh để chỉ ra điểm chung và riêng trong kịch của mỗi tác giả.
- Khẳng định vị trí, vai trò cùng những đóng góp quan trọng của Vũ
Đình Long và Nam Xương trong công cuộc xây dựng sân khấu kịch nước
nhà.

6


6. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tác phẩm theo đặc trưng thể loại
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
- Phương pháp so sánh đối chiếu
- Phương pháp hệ thống
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thủ mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát về kịch - kịch trong sự nghiệp sáng tác của Vũ
Đình Long và Nam Xương
Chương II: Kịch Vũ Đình Long và Nam Xương nhìn từ phương diện
nội dung
Chương III: Nghệ thuật kịch Vũ Đình Long và Nam Xương dưới góc
nhìn thể loại

7


Chương I:
KHÁI QUÁT VỀ KỊCH – KỊCH TRONG SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

CỦA VŨ ĐÌNH LONG VÀ NAM XƯƠNG
1.1. Khái quát về kịch – Tiến trình phát triển của kịch Việt Nam
1.1.1. Khái quát về kịch
Kịch là một trong ba loại hình cơ bản của văn học bên cạnh tự sự và trữ
tình. Nó không phải là một loại thể văn học đơn thuần vì nó vừa thuộc văn
học lại vừa thuộc sân khấu. Gớt cho rằng: “Trong khi xây dựng các vở kịch
của mình, chưa chắc Seechxpia đã nghĩ rằng nó sẽ nằm trước mắt độc giả,
ông nhìn thấy sân khấu trước mắt khi viết chúng. Ông nhìn thấy các vở kịch
của mình một cái gì sống và hoạt động sẽ nhanh chóng diễn qua trước mắt
người xem”. “Thông thường thì một vở kịch có hai cuộc đời: cuộc đời của
nghệ thuật ngôn từ (kịch bản văn học) và cuộc đời của nghệ thuật sân khấu.
Kịch bản là phương diện văn học của kịch, và về một phương diện nào đó, có
thể xem nó như phương án, như là chương trình sẽ được thực hiện, được biểu
diễn trên sân khấu. Nghệ thuật sân khấu mang tính chất tổng hợp, bao gồm
nhiều hoạt động của đạo diễn, diễn viên cùng với những nhân tố khác như đạo
cụ, hóa trang, ánh sáng, trang trí, âm nhạc, trong đó kịch bản cũng là một
thành tố. Chỉ khi được trình diễn trên sân khấu, vở kịch mới được sống cuộc
đời trọn vẹn của nó”. (30.155).
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi đồng chủ biên thì : “Ở cấp độ loại hình, kịch là một trong ba
phương thức cơ bản của văn học (kịch, tự sự, trữ tình). Kịch vừa thuộc sân
khấu vừa thuộc văn học. Nó vừa để diễn là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản
chính là phương diện văn học của kịch…Kịch được xây dựng trên cơ sở
những mâu thuẫn lịch sử, xã hội hoặc những xung đột muôn thuở mang tính
toàn nhân loại (như giữa thiện và ác, cao cả và thấp hèn, ước mơ và hiện

8


thực…). Những xung đột ấy được thể hiện bằng một cốt truyện có cấu trúc

chặt chẽ qua hành động của các nhân vật và theo những quy tắc nhất định của
nghệ thuật kịch. Trong kịch thường chứa đựng nhiều kịch tính, tức là những
sự căng thẳng tình huống tạo ra đối với nhân vật.” (16.167)
Trong cuốn Lí luận văn học, tập 2 do Trần Đình Sử chủ biên của Nhà
xuất bản Đại học sư phạm có viết: “Khái niệm văn học kịch được sử dụng
nhằm xác định bản chất, chức năng, đặc trưng tạo thành đời sống văn học của
kịch bản. Kịch bản là bản kịch gốc mà người ta dựa vào để dựng thành vở
diễn trên sân khấu. Sân khấu là một nghệ thuật tập thể. Tính tập thể của sân
khấu biểu hiện ở hình thức tiếp nhận vở diễn và cách thức biến kịch bản
thành một tác phẩm nghệ thuật. Người ta đưa kịch lên sân khấu chính là để
công diễn trước đám đông, để cho cả một tập thể cùng thưởng thức vở diễn
ấy. “Có tích mới dịch nên tuồng”. Kịch bản văn học là nền tảng, là bộ phận
quan trọng nhất làm nên một vở diễn.” (32.323)
Đặc trưng thể loại của văn học là kịch tính. Kịch được xây dựng trên cơ
sở những mâu thuẫn, những mâu thuẫn này dẫn đến căng thẳng gay gắt buộc
nhân vật phải đương đầu. Đó là những mâu thuẫn lịch sử xã hội hoặc những
xung đột muôn thuở mang tính toàn nhân loại như giữa thiện và ác, giữa cao
cả và thấp hèn, nhân tính và thú tính, dục vọng và lương tri, ước mơ và hiện
thực…Những hành động kịch nối tiếp phát triển lên đến đỉnh điểm và buộc
nhân vật phải giải quyết. Huỳnh Lí cho rằng: “Không có hành động, không có
kịch (…) Kịch là một chuỗi hành động nhỏ phối hợp kết thành một hành động
lớn, phức hợp (…). Hành động kịch có thể là động tác, cử chỉ, có thể là ngôn
ngữ, chủ yếu là ngôn ngữ có động tác phối hợp”.
Trong kịch, cốt truyện kịch luôn tập trung cao độ. Tính tập trung cao độ
biểu hiện trước hết ở các bộ phận cấu tạo thành cốt truyện kịch đó là hành
động được triển khai qua một hệ thống sự kiện diễn ra theo một trật tự thời

9



gian. Kịch được xây dựng chủ yếu trên những diễn biến của hành động bên
ngoài, theo nguyên tắc có sự chống đối, đấu tranh lẫn nhau của những thế lực,
của các nhân vật. Tuy nhiên, kịch cũng có hành động bên trong, qua đó, nhân
vật tự bộc lộ những suy ngẫm và chịu đựng một tình huống xung đột nội tâm
hết sức căng thẳng. Cốt truyện tập trung là cốt truyện tạo được sự thống nhất
cao giữa hệ thống sự kiện biến cố, các chi tiết tình tiết với chủ đề cơ bản và
hứng thú trung tâm mà vở diễn mang đến cho công chúng. Cốt truyện thường
đơn tuyến và có kết thúc bất ngờ.
Ở kịch, tất cả đều phải cô đọng. Cho nên, tình huống cuộc sống phản
ánh trong kịch phải là tình huống dồn nén, tập trung cao độ, chứa đựng những
mâu thuẫn xung đột căng thẳng để thông qua tình huống đó tính cách, phẩm
chất của nhân vật được bộc lộ.
Tác phẩm kịch phản ánh đời sống qua hành động và xung đột. Hành
động kịch là hành động của nhân vật nhằm thể hiện tâm lí, tính cách và ý chí
tự do của nhân vật chính, tạo nên những xung đột với nhân vật khác và với
hoàn cảnh xung quanh. Xung đột trong kịch đó là sự va chạm gay gắt, căng
thẳng giữa những lực lượng đối địch, giữa hai hoặc nhiều nhân vật, nhiều
quan điểm, nhiều thái độ khác nhau trước cùng một vấn đề, trong cùng một
tình huống. Xung đột kịch có thể là xung đột về tư tưởng, nhân cách, có khi là
xung đột giữa con người với hoàn cảnh và cũng có thể , xung đột diễn ra ngay
trong thế giới nội tâm của một con người. Các xung đột trong kịch chi phối
các hành động của các nhân vật, thúc đẩy hành động kịch phát triển và đòi hỏi
phải giải quyết.
Nhân vật kịch chủ yếu là nhân vật loại hình chúng thường được xây
dựng trên nền tảng của những phẩm chất tính cách đơn nhất hoặc tổng số của
các phẩm chất ấy. Lời của các nhân vật kịch của các nhân vật gọi là thoại gồm
ba dạng: Đối thoại, độc thoại và bàng thoại. Đối thoại là các nhân vật nói với

10



nhau. Đối thoại trong kịch phải mang tính trái chiều, đầy căng thẳng. Ngôn
ngữ đối thoại chiếm một tỉ lệ rất lớn, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong tác
phẩm kịch. Độc thoại là lời nhân vật nói với chính mình. Đây là thủ pháp
nghệ thuật để bộc lộ nội tâm nhân vật, đưa ngôn ngữ nội tâm từ bên trong ra
ngoài. Bàng thoại là lời nhân vật nói riêng với khán giả, xuất hiện rất ít trên
sân khấu. Lời thoại trong kịch phải hướng tới người xem. Vì thế lời thoại
trong kịch ngoài việc biểu hiện tính cách và hành động của nhân vật, nó còn
chứa thêm yếu tố trần thuật, cung cấp mọi thông tin về cuộc sống của nhân
vật, thông tin về cốt truyện và về nhân vật khác, xung đột và nguồn gốc các
xung đột… Ngoài ra, lời thoại trong kịch còn mang tính hành động, nó thúc
đẩy hành động kịch, tạo ra không khí căng thẳng, khắc sâu mâu thuẫn đòi hỏi
phải giải quyết.
Tóm lại, cùng với tự sự và trữ tình, kịch tồn tại như là một phương thức
cơ bản của văn học. Tuy nhiên, sự tồn tại của nó không đơn thuần mà nó là
ranh giới giữa sân khấu và văn học, vừa để đọc nhưng chủ yếu là để diễn.
Nghiên cứu về kịch người viết cũng cần cái nhìn khách quan dưới góc độ kịch
bản văn học, tức là một công trình nghệ thuật ngôn từ trong mối tương quan
với “cuộc đời sân khấu” của nó.
1.1.2. Tiến trình phát triển kịch Việt Nam
1.1.2.1. Nguyên nhân hình thành kịch Việt Nam
Tính cho đến thời điểm này, kịch nói Việt Nam cũng có ngót một trăm
năm lịch sử. Tuy là loại hình văn học trưởng thành muộn hơn song kịch Việt
Nam cũng có những bước tiến dài với nhiều những thành tựu lớn.
Trước khi kịch ra đời, ở Việt Nam không phải là không có loại hình
biểu diễn sân khấu nào tồn tại. Người ta biết chèo và tuồng là hai thể loại ca
kịch phổ biến lúc bấy giờ. Đến đầu thế kỉ XX, mới xuất hiện thêm một loại ca
kịch mới là cải lương được hình thành ở Nam Bộ trên cơ sở của Đờn ca tài tử.

11



Các loại hình nghệ thuật này tuy đã có nhiều cải biến nhưng nó vẫn không
đáp ứng được thị hiếu của các tầng lớp dân chúng bấy giờ. Song nói đến
nguyên nhân hình thành kịch nói Việt Nam ta phải nghĩ đến quá trình đô hộ
của thực dân Pháp ở nước ta. Ngay từ cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã đặt
song ách đô hộ trên đất nước ta và băt đầu công cuộc khai thác thuộc địa với
quy mô lớn. Chính điều này đã làm chuyển biến đời sống kinh tế - văn hóa xã hội nước ta một các mạnh mẽ. Qúa trình đô thị hóa dẫn đến sức phá vỡ kết
cấu xã hội. Mô hình “tứ dân” (sĩ - nông - công - thương ) dần dần bị phá vỡ,
thay vào đó là sự hình thành những giai tầng mới: công nhân và trí thức tiểu
tư sản. Một bộ phận không nhỏ trí thức Việt Nam lúc bấy giờ đã chịu sự ảnh
hưởng mạnh mẽ của văn hóa – văn minh Pháp. Họ học hỏi, họ suy nghĩ và
tiếp thu những tinh hoa văn hóa Pháp. Và tất yếu quá trình này cũng diễn ra
với văn học nghệ thuật. Cái nôi của kịch – phương Tây đã đến Việt Nam,
được các trí thức Việt Nam tiếp nhận cùng với nhu cầu phản ánh những mâu
thuẫn nội tại của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ - kịch Việt Nam ra đời. Sự ra
đời của thể loại kịch là một tất yếu khách quan bởi nhu cầu phản ánh thực tiễn
đời sống trên sân khấu mà hai thể loại văn học cũ là tuồng, chèo không còn
đáp ứng được nữa, đòi hỏi phải có một thể loại văn học mới ra đời. Kịch ra
đời trên cơ sở tiếp thu sáng tạo kịch cổ điển của phương Tây đã đáp ứng được
yêu cầu này nên nhanh chóng được công chúng Việt Nam đón nhận.
1.1.2.2 Tiến trình phát triển kịch Việt Nam tính đến 1945
Nhằm mục đích nghiên cứu hai tác giả có công khai hóa sân khấu kịch
nước nhà, trong công trình này, người viết chủ yếu dành sự quan tâm của
mình đến tiến trình phát triển kịch Việt Nam từ sơ khai đến cách mạng tháng
Tám năm 1945. Cũng như các bộ môn văn học nghệ thuật khác, kịch chịu sự
tác động mạnh mẽ của lịch sử xã hội và được chia thành hai giai đoạn: Giai
đoạn thứ nhất từ 1921 đến 1930 và giai đoạn thứ hai từ 1930 đến 1945.

12



Giai đoạn thứ nhất được đánh dấu bằng dấu mốc năm 1921, tức là năm
kịch nói chính thức được sân khấu Việt Nam kết nạp, văn học sử Việt Nam
ghi nhận sự ra đời của một thể loại văn học mới ở Việt Nam. Năm 1923, Tiểu
ban diễn kịch được thành lập với mục đích khống chế sân khấu kịch Việt Nam
để nó không ảnh hưởng đến sự cai trị của Pháp. Vì vậy, ngay từ thuở sơ khai,
kịch Việt Nam đã phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của thực dân Pháp. Ở chặng
thứ nhất này, tên tuổi đáng chú ý nhất là Vũ Đình Long với Chén thuốc độc
(1921), Tây sương tân kịch (phỏng theo Tây sương kí của Vương Thực Phủ,
năm 1922), Tòa án lương tâm (1923). Ngoài ra còn có Trần Đại Thụ với các vở
Đồng bóng, Dây oan nghiệt, Lửa đốt lòng, Dải đồng tâm; Nguyễn Ngọc Sơn
với Nỗi lòng ai tỏ, Nguyễn Từ Sơn với Tình hối… Nhìn chung đây là giai đoạn
sơ khai của nền kịch nói Việt Nam, vì vậy mà nó cũng thể hiện rõ tính chất non
yếu của mình về nội dung. Tuy nhiên, số lượng các vở kịch tăng nhanh, hoạt
động sân khấu cũng phong phú hơn. Chính điều đó đã đánh dấu mốc tạo đà
nhằm làm cho kịch phát triển mạnh mẽ hơn ở những giai đoạn về sau.
Từ năm 1930 Đảng cộng sản Đông Dương ra đời lãnh đạo nhân dân
đấu tranh giành độc lập, mở đầu một kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc.
Trước tình hình đó, thực dân Pháp càng tăng cường đàn áp, bắt bớ và đưa ra
những chính sách cai trị thâm hiểm hơn trước. Hoàn cảnh xã hội đó đã ảnh
hưởng đến phương hướng phát triển của văn học nghệ thuật. Dù vẫn ở trong
vòng kiềm tỏa của thực dân Pháp nhưng văn học vẫn chuyển biến một cách
khẩn trương và diện mạo ngày càng phong phú. “Trên đà tiến bộ chung của
văn học nghệ thuật, hoạt động kịch nói đã có nhiều bước tiến quan trọng.
Song do hoàn cảnh ra đời không thuận lợi, thời gian rèn luyện thử thách còn
ngắn ngủi, tính chất tổng hợp của nghệ thuật sân khấu đòi hỏi điều kiện hoạt
động phức tạp hơn thơ, văn, nhạc, họa mà hoàn cảnh của xã hội thuộc địa nửa
phong kiến không cho phép nên sự phát triển của kịch nói cũng chưa phải là


13


toàn diện.” (52.14). Những tên tuổi nổi lên ở giai đoạn này là: Nam Xương,
Nguyễn Hữu Kim, Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Vũ Trọng Phụng … với các
tác phẩm nổi tiếng như: Ông Tây An Nam, Chàng Ngốc, Uyên ương, Kim tiền,
Những bức thư tình, Mơ hoa, Ghen, Ngã ba, Không một tiếng vang…
Trên đây là tình hình cơ bản của kịch Việt Nam từ sơ khai cho đến
1945. Song nhắc đến tên tuổi của những người kéo rèm cho sân khấu kịch,
người ta không thể không nhắc đến tên tuổi của Vũ Đình Long, Nam Xương,
Vi Huyền Đắc, Nguyễn Hữu Kim…Trong khuôn khổ có hạn của một luận văn
cao học, người viết xin dành trọn tâm huyết của mình để nghiên cứu về hai
tác giả đầu tiên có công lớn trong sự nghiệp khai hóa sân khấu kịch nước nhà
là Vũ Đình Long và Nam Xương.
1.2. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Vũ Đình Long
1.2.1.

Cuộc đời Vũ Đình Long
Vũ Đình Long là nhà viết kịch nổi tiếng đầu thế kỉ XX. Tên tuổi của
ông được nhắc đến từ khá sớm trong các công trình nghiên cứu về văn học
Việt Nam đầu thế kỉ XX như chúng tôi đã trình bày ở phần “Lịch sử vấn đề”.
Ngoài ra, chúng tôi còn tìm thấy thông tin về ông trên các trang web tìm kiếm
của Google. Chúng tôi có thể kể đến tên của một số trang web uy tín viết về
ông như: , tonvinhvanhoadoc.vn, thethao van hoc.vn,
hanoimoi.com.vn. Tuy nhiên, nội dung của các trang web này khi viết về Vũ
Đình Long thường chỉ mang tính chất giới thiệu chứ chưa đi sâu nghiên cứu
về ông. Vì vậy, với công trình này, chúng tôi muốn được góp thêm tiếng nói
để việc nhìn nhận về vị trí, vai trò của Vũ Đình Long với kịch Việt Nam được
cụ thể, rõ ràng hơn. Theo khảo cứu của chúng tôi, tiểu sử của Vũ Đình Long
có thể tóm tắt như sau:

Vũ Đình Long sinh ngày 19 tháng 12 năm 1896, quê ở thôn Mục Xá,
xã Cao Dương, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nay thuộc thành phố Hà Nội.

14


Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học, đồng thời cũng rất
mê ca kịch dân tộc. Điều này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến con người ông. Vì
vậy mà dù đã đi học trường thuốc ngành bào chế nhưng sau đó ông lại
chuyển sang dạy học ở thị xã Hà Đông. Trong thời gian dạy học, ông có điều
kiện tham dự những buổi luận đàm văn học tại phòng khách Hồng hoa (biệt
thự của Nguyễn Đình Thông) và nó đã ảnh hưởng rất lớn đến con đường sáng
tác của ông sau này. Vở kịch nói đầu tiên Chén thuốc độc trước khi gửi đăng
tạp chí Hữu Thanh cũng đã được đem đọc tại đó. Năm 1925, 29 tuổi, Vũ Đình
Long mở hiệu sách Tân Dân. Ban đầu Tân Dân chỉ là một hiệu sách nhỏ với
số vốn 800 đồng nhưng về sau công việc kinh doanh phát đạt, ông tiếp tục mở
thêm nhà in, nhà xuất bản. Công việc làm ăn ngày càng khấm khá, Vũ Đình
Long tập hợp thêm nhiều nhà văn, nhà báo để cho ra mắt một số tờ báo thu
hút độc giả như: Tiểu thuyết thứ bảy (1934-1942), Phổ thông bán nguyệt san
(1936-1941), Tuổi trẻ, Truyền bá (1941-1943). Ông còn lập ra Tủ sách Tao
Đàn, Những tác phẩm hay, Quốc văn dẫn giải.
Sau cách mạng tháng Tám, trong lòng Hà Nội bị chiếm, Vũ Đình long
vừa viết kịch vừa tục bản Tiểu thuyết thứ bảy và Phổ thông, và tiếp tục duy trì
nhà in Tân Dân. Hòa bình lập lại, ông trở thành hội viên hội nhà văn Việt
Nam ngay khi thành lập (1957) và được bầu làm Uỷ viên ban chấp hành Hội
nghệ sĩ sân khấu Việt Nam khóa I. Ông mất ngày 14 tháng 8 năm 1960, tại Hà
Nội khi 63 tuổi.
1.2.2.

Sự nghiệp sáng tác của Vũ Đình Long

1.2.2.1 Sự nghiệp sáng tác
Vũ Đình Long sáng tác kịch ngay từ khi còn rất trẻ. Tên tuổi của ông
được biết đến với vở kịch khai ấn cho sân khấu kịch Việt Nam – Chén thuốc
độc, 1921. Lần đầu tiên, vở kịch được gửi đến Hữu thanh tạp chí vào ngày 26
tháng 7 năm 1921 và được công diễn lần đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà Nội đêm

15


22 tháng 10 năm 1921. Với dấu mốc lịch sử chói lọi này, tên tuổi của Vũ Đình
Long lập tức được chú ý. Ông Nguyễn Mạnh Bổng – Tổng thư kí hội Bắc kì
công thương đồng nghiệp nhận xét: “Văn học sử nước ta sau này chép đến lối
văn kịch có lẽ kể đầu từ bản kịch Chén thuốc độc này của ông Vũ Đình Long.
Vì kịch bản nước ta soạn theo lối mới này, ông Vũ Đình Long là người xuất
hiện thứ nhất. Bản kịch của ông trong làng văn lại là bản kịch xuất sắc hơn…
Ngày 22 tháng 10 năm 1921 này thực sự là một ngày kỉ niệm lớn trong văn
học sử nước ta về việc diễn kịch theo lối mới mà thuần nhiên dùng văn ta tả
những cảnh xã hội của ta.”
Sau thành công của vở kịch Chén thuốc độc rất nhiều các tờ báo lớn đã
đăng bài bình luận sôi nổi về vở kịch này như: Nam Phong, Thực nghiệp dân
báo, Hữu thanh tạp chí… và tiếng Pháp như L’avenir du Tonkin, Le
courrierd’ Hai phong…
Các tác phẩm chính của Vũ Đình Long gồm: Chén thuốc độc (kịch ba
hồi - 1921), Tây sương tân kịch (kịch năm hồi - 1922), Tòa án lương tâm (Bi
kịch bốn hồi - 1923), Đàn bà mới (Kịch bốn hồi - 1944), Thờ nước (1947 Việt hóa vở Servin của Hemri la vendan), Công tôn nữ Ngọc Dung (1947Việt hóa vở Lauer turiere của Emib Augier), Tổ quốc trên hết hay là tình
trong khói lửa (1949) Việt hóa vở X Horace của Corveille, Gia tài (1958 Việt hóa vở Le legrataive Universel của Regnard), Ép duyên hay Trên đường
cải tạo (1958). Ngoài ra ông còn viết sách giáo khoa: Thế giới trẻ em (1927);
Khảo luận văn học Phê bình Truyện Kiều, Luận về nghề nghiệp…
Với vai trò chủ bút của báo: Tiểu thuyết thứ bảy (1934-1942), Phổ
thông bán nguyệt san (1936- 1941), Tuần báo ích hữu (1937- 1938), Tạp chí

Tao Đàn (1937- 1938)… Vũ Đình Long đã tập hợp được một lực lượng đông
đảo các nhà văn, nhà thơ tham gia vào các tờ báo của mình. Đồng thời, ông
cũng có điều kiện để đưa những sáng tác của mình đến gần với bạn đọc hơn.

16


Tựu trung lại, sự nghiệp sáng tác của Vũ Đình Long tuy rằng chưa
phong phú nhưng với ý thức mạnh mẽ về trách nhiệm với dân tộc của một trí
thức mới, ông cũng có những đóng góp lớn trong việc phản ánh xã hội Việt
Nam đầu thế kỉ XX đặc biệt là ở thể loại kịch bản văn học.
1.2.2.2. Vị trí của kịch trong sự nghiệp sáng tác của Vũ Đình Long
Ngay từ đêm khai màn vở kịch Chén thuốc độc 22-10- 1941, Vũ
Đình Long đã nhận được những lời ca ngợi. Trên Hữu thanh tạp chí,
Nguyễn khắc Hiếu viết: “Vở kịch của ông Vũ Đình Long in ra sau đây, so
với văn giới các nước thời chưa dám biết ra làm sao. Nhưng cứ trong áng
văn chương hiện thời của ta hiện nay,thời vở kịch của ông tưởng cũng đáng
là có giá trị. Ông Vũ Đình Long cũng mang một cái văn tài như thế , sao
trước không thấy ông ra với xã hội ?... Nay, nhân một ông Vũ Đình Long
mà suy nghĩ trong xã hội chắc cũng có nhiều người mang cái văn tài đấy
hơn ông Vũ Đình Long, mà ngọc náu đầu non, châu chìm đáy bể, khiến cho
kẻ tháng ngày mong mến ngóng nước thu man mác ngọn khiêm hà. Nay,
nhân một ông Vũ Đình Long, mà tôi sinh ra vô hạn cảm khái trong văn
giới nước nhà. Cũng nhân một ông Vũ Đình Long mà tôi có một chút mừng
cho văn vận nước ta vậy… In vở kịch này của ông Vũ Đình Long tưởng cũng
là có một chút công với quốc văn…”.
Theo như cách gọi của người đương thời, đây là vở kịch được soạn
theo lối mới, tức là lối kịch nghệ Thái Tây. Cũng sau thành công của vở kịch
này, Vũ Đình Long càng say sưa nhiệt huyết hơn với kịch nghệ. Hàng loạt
các vở kịch của Vũ Đình Long ra đời ngay sau thành công của Chén thuốc

độc. Đó là các vở: Tây sương tân kịch (kịch năm hồi - 1922), Tòa án lương
tâm (Bi kịch bốn hồi - 1923), Đàn bà mới (Kịch bốn hồi - 1944), Thờ nước
(1947 - Việt hóa vở Servin của Hemri la vendan), Công tôn nữ Ngọc Dung
(1947- Việt hóa vở Lauer turiere của Emib Augier), Tổ quốc trên hết hay là

17


tình trong khói lửa (1949) Việt hóa vở X Horace của Corveille, Gia tài (1958
- Việt hóa vở Le legrataive Universel của Regnard), Ép duyên hay Trên
đường cải tạo (1958). Và cũng chính trong thời kì này, Vũ Đình Long được
biết đến với cái tên của một nhà soạn kịch theo lối mới rất thành công, đồng
thời ông cũng chính là một trong những người đặt nền móng cho nền kịch
Việt Nam.
Có thể nói, với số lượng tác phẩm kịch như đã kể trên thì sáng tác của
Vũ Đình Long chưa phải là nhiều. Nhưng nó đã đủ sức phản ánh niềm đam
mê bất tận của Vũ Đình Long đối với thể loại kịch. Sáng tác của ông bao
gồm cả kịch mô phỏng và kịch viết theo lối mới, “dùng văn ta tả cảnh xã
hội của ta”.
Giữa thời buổi hỗn mang của nền kịch Việt Nam, những vở kịch của
Vũ Đình Long chính là những viên gạch đầu tiên tạo nền móng vững chắc
cho kịch Việt Nam phát triển.
1.3. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc
1.3.1. Cuộc đời Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc
So với Vũ Đình Long thì cái tên Nam Xương xuất hiện muộn hơn, song
nhắc đến lịch sử hình thành và phát triển của kịch Việt Nam thì người ta
không thể không nhắc đến cái tên Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc.
Nam Xương tên thật là Nguyễn Cát Ngạc sinh 1905 tại Phù Khê - Từ
Sơn - Bắc Ninh. Ông là anh em ruột của ông thân sinh nhà sử học Nguyễn
Lương Bích và là chú họ đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Tổng bí thư đầu tiên của

Đảng ta. Từ nhỏ, cậu bé Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc đã tỏ ra là một đứa
trẻ hiểu biết và có tinh thần yêu nước sâu sắc. Lớn lên theo học trường Cao
đẳng công chính, ông tích cực tham gia các phong trào yêu nước của học sinh,
sinh viên trên khắp cả nước. Năm 1926, tại lễ tang Phan Châu Trinh, Nguyễn
Cát Ngạc tham gia rất tích cực và bị thực dân Pháp bắt giữ. Ra tù, ông tiếp tục

18


việc học, rồi sau đó vừa làm nghề công chính, vừa sáng tác, vừa tham gia
phong trào yêu nước. Ông cùng với Trần Huy Liệu, Nguyễn Thái Học đã từng
tham gia Nam Đồng thư xã – tổ chức đầu tiên của Việt Nam quốc dân Đảng.
Khi nhận ra con đường Việt Nam quốc dân Đảng không có tương lai, Nam
Xương tìm đến Việt Minh và tham gia hoạt động cách mạng. Phát xít Nhật
vào Đông Dương, ông bị tuyên án tử hình. Nhưng nhờ có thành công của cách
mạng tháng Tám năm 1945 mà ông được giải thoát. Chiến tranh bùng nổ, ông
lại tiếp tục lên đường với lòng nhiệt huyết vì độc lập tự do cho dân tộc. Năm
1948, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam. Dưới danh nghĩa “trí
thức dinh tê”, ông trở về Hà Nội và thực hiện nhiệm vụ bí mật của tổ chức
giao cho, vừa làm nghề công chính, vừa hoạt động tình báo. Đầu năm 1954,
ông bị lộ, bị thực dân Pháp bắt và giam giữ tại nhà giam Thanh Liệt, sau đó là
Hỏa Lò. Hòa bình lập lại ông được trả tự do và tiếp tục lên đường vào Nam
với công việc của một chiến sĩ tình báo thầm lặng. Ông mất ngày 15 tháng 2
năm 1958. Theo nguồn tin chính thức thì ông bị ốm song có một số ý kiến cho
rằng ông mất là do bị kẻ thù đầu độc. Điều này dựa trên cơ sở bức thư ông gửi
cho con trai Nguyễn Mạnh Đàm với nội dung ông đã mơ hồ cảm nhận được
cái chết của mình:
“Đàm con! Tiếc là lúc vĩnh biệt ba không gặp con. Ba hi vọng lá thư
này con đọc được. Ba không thể tiếp tục cùng con chung việc lớn. Vậy con ở
lại cố làm nốt những việc Ba thường nhắn nhủ. Kín đáo và thận trọng, càng

lên cao càng tốt. Trí lớn 20 năm nhưng chỉ cần làm trong một buổi. Đừng
hoang mang mà hỏng việc, đừng bất nhân mà hỏng nghĩa, đừng thất ý thượng
cấp mà hỏng cơ đồ. Chúc con khỏe, nghe lời ba nuôi dạy các cháu nên người
hữu dụng của đất nước. 23 giờ đêm ngày 15.2.1957, Ba - Nguyễn Cát Ngạc.”
Nước nhà thống nhất, tổ chức mới có thể gửi giấy báo tử của ông đến
gia đình. Trên giấy báo tử có ghi mức lương của ông là 105 đồng tương

19


đương với cấp bậc thiếu tá của quân đội ta lúc bấy giờ, 17 năm sau cái chết
đầy uẩn khúc của người chiến sĩ tình báo thầm lặng, Nguyễn Cát Ngạc mới
được tổ quốc vinh danh. Đồng chí Nguyễn Mạnh Khoát – Trung tá thuộc Cục
nghiên cứu Bộ tổng tham mưu trong bản xác nhận của đơn vị gửi về gia đình
hồi ấy đã viết về Nguyễn Cát Ngạc là: “Cơ sở nội thành từ 1954 đến 1958,
hòa bình lập lại do yêu cầu công tác chúng tôi phái ông vào Nam tiếp tục
công tác đến 1958 thì mất” và “ông là người tích cực công tác và hoàn thành
tốt nhiệm vụ”. Đó là những nhiệm vụ đòi hỏi sự hi sinh gian khổ. Song
Nguyễn Cát Ngạc luôn ý thức được trách nhiệm cao cả trong công việc của
mình để hoàn thành tốt. Trung tá Nguyễn Mạnh Khoát kể lại, đã có lần
Nguyễn Cát Ngạc dặn ông: “Nếu tôi hi sinh thì con trai Nguyễn Mạnh Đàm là
cơ sở để tổ chức móc nối tiếp tục hoạt động”. Như vậy, con người Nam
Xương là con người vì nước, vì dân, ông sẵn sàng hi sinh cả cuộc đời của
mình vì độc lập, tự do của tổ quốc.
Ghi nhận những đóng góp của Nguyễn Cát Ngạc, ngày 7.2.1976, Thủ
tướng Phạm Văn Đồng đã truy tặng danh hiệu liệt sĩ, Bằng tổ quốc ghi công
mang số 546 cho gia đình ông. Lễ truy điệu Nguyễn Cát Ngạc được bộ tổng
Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, bên cạnh sự có
mặt của đại diện đơn vị và gia đình còn có các nghệ sĩ cùng thời với ông như
Văn Cao, Nguyễn Xuân Sanh… Phần mộ của ông hiện ở nghĩa trang liệt sĩ

Thành phố Hồ Chí Minh.
1.3.2. Sự nghiệp sáng tác của Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc
1.3.2.1. Sự nghiệp sáng tác
Nam Xương là cây bút có sức viết dồi dào. Trước cách mạng tháng
Tám năm 1945, dưới ảnh hưởng của phong trào Duy Tân đổi mới, Nam
Xương đã có điều kiện tiếp xúc với những tinh hoa của văn học thế giới.
Ngay từ khi còn ngồi trên ghế trường Cao đẳng Công chính, ông đã có dịp

20


tiếp xúc với những hội duy tân như Khai trí tiến đức, An Nam tạp chí, Nam
Phong tạp chí… Khi làm việc dưới bộ máy chính quyền Pháp thuộc, ông vẫn
say mê với nghiên cứu văn chương, đặc biệt là kịch nói. Tiếp theo Vũ Đình
Long, Nam Xương là cái tên được người ta nhắc tới trong nỗ lực hiện đại hóa
sân khấu kịch nước nhà. Năm 1930, ông viết Ông Tây An Nam, Chàng Ngốc.
Sự ra đời của hai vở kịch này đã được công chúng nồng nhiệt đón nhận. Sau
thành công của hai vở kịch này, ông tiếp tục sáng tác nhiều vở kịch nổi tiếng
khác. Cả cuộc đời mình, Nam Xương dành trọn cho đam mê kịch nghệ, tới
mức ông ghi lên ô kính của tủ sách đầy ắp những dòng chữ “Racine,
Corneirlle, Moliere…” và: “Một dân tộc càng trí tuệ, càng biết yêu sân
khấu”.
Sau 1945, Nam Xương cho xuất bản hai tiểu thuyết lịch sử Bách Việt,
Hùng Vương và tập truyện ngắn Bụi phồn hoa. Ông còn có một bộ Sử kí Việt
Nam với bút danh Nguyễn Trúc Thanh. Nam Xương sáng tác với nhiều thể
loại nhưng thành công nhất vẫn là kịch. Điều này cũng nhất quán với niềm
đam mê kịch nghệ cuả ông như đã nói ở trên.
1.3.2.2. Vị trí của kịch trong sáng tác của Nam Xương – Nguyễn
Cát Ngạc
Về kịch bản văn học, từ xưa đến nay, người đọc vẫn biết đến hai vở

kịch nổi tiếng của ông là Chàng Ngốc (1930) và Ông Tây An Nam (1931).
Ngoài ra, trong di cảo của ông còn có các kịch bản:
-

Tây Thi ( Bi kịch năm hồi, tám cảnh)
Văn Chủng (Bi kịch năm hồi)
Tội ăn cắp ( Kịch vui)
Thuốc tê ô cấp (Kịch vui)
Gia đình ông còn cho biết, ông còn hai vở kịch khác chưa được tìm
thấy là Nói khoác (Hài kịch một hồi) và Đại gia văn sĩ (Hài kịch năm hồi).
Nhìn lại số lượng tác phẩm kịch của Nam Xương, ta thấy nó chưa phải

21


là con số ấn tượng. Nhưng với niềm đam mê của mình, Nam Xương đã cầm
bút một cách đầy nhiệt huyết. Ông luôn có ý thức sâu sắc với ngòi bút của
mình. Bằng hai vở kịch nói Ông Tây An Nam (1930) và Chàng Ngốc (1931),
Nam Xương – Nguyễn Cát Ngạc đã góp sức mình đặt những viên gạch vững
chãi đầu tiên để xây dựng nền kịch nghệ Việt Nam. Đánh giá về thành công
của vở Ông Tây An Nam, GS Hà Minh Đức nhận xét: “Nam Xương gọi Ông
Tây An Nam là hài kịch và tác giả đã thành công trong việc xây dựng một
nhân vật hài có tính cách và đặc điểm riêng. Ông Tây An Nam là nhân vật
riêng của xã hội nước nhà. Chất hài trong kịch Ông Tây An Nam của Nam
Xương bộc lộ trong chiều sâu của xung đột và tác giả biết dẫn dắt để nhân vật
tự phơi bày những nghịch lí, những trò lố lăng. Có thể xem đây là vở hài kịch
thành công trong không khí chung của sân khấu thời kì này” (13.12). Với ngòi
bút hài kịch khá sắc sảo, ông đã để lại dấu ấn của mình một cách mạnh mẽ
hơn bao giờ hết. Trong thời kì mở mang nền kịch nghệ Việt Nam, cái tên Nam
Xương luôn có một vị trí nhất định. Ông cùng với Vũ Đình Long chính là

những người đặt nền móng vững chãi đầu tiên cho sân khấu kịch nước nhà.
Tóm lại, tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp văn chương của Vũ Đình Long
và Nam Xương, ta thấy hoàn cảnh lịch sử, xã hội đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến
tư tưởng các nhà văn. Họ đều là những trí thức Tây học nhưng mang tinh thần
yêu nước sâu sắc. Dù là một chủ bút như Vũ Đình Long hay một nhà văn
chiến sĩ như Nam Xương thì ta đều thấy ở họ một điểm chung đó là tấm lòng
nồng nàn yêu nước. Được tiếp thu Tây học, được học hỏi cái hay, cái mới, cái
tinh hoa của nhân loại nhưng họ không quay lưng lại với quê hương mà luôn
dựa trên những gì học hỏi được để từng bước hiện đại hóa sân khấu kịch nước
nhà. Ở cái thời buổi nhiễu nhương đó, những người như Vũ Đình Long và
Nam Xương quả thực là những hạt ngọc của xã hội. Sẵn lòng yêu mến kịch,
yêu mến những trí thức Tây học yêu nước như Vũ Đình Long và Nam Xương,

22


chúng tôi đi sâu tìm hiểu nghiên cứu kịch của hai ông nhằm góp một phần
nhỏ bé của mình để làm rõ hơn nhứng đóng góp của hai ông cho sân khấu
kịch Việt Nam.

23


Chương II:

KỊCH VŨ ĐÌNH LONG VÀ NAM XƯƠNG NHÌN TỪ
PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG
2.1. Tóm tắt một số kịch bản tiêu biểu của Vũ Đình Long và Nam
Xương
Vũ Đình Long và Nam Xương có nhiều vở kịch nổi tiếng. Nhưng như

đã trình bày ở chương I, trong công trình này, chúng tôi xin dành trọn tâm
huyết của mình để khảo sát bốn vở kịch nổi tiếng nhất của hai ông. Đó là các
vở: Chén thuốc độc (hí kịch lối mới chia làm ba hồi), Tòa án lương tâm (bi
kịch bốn hồi, một cảnh) của Vũ Đình Long và các vở Chàng Ngốc (hài kịch
năm hồi), Ông Tây An Nam (hài kịch ba hồi) của Nam Xương. Để tiện cho
việc nghiên cứu, chúng tôi xin tóm tắt lại các vở kịch trên.
2.1.1 Tóm tắt một số vở kịch của Vũ Đình Long
Chén thuốc độc (1921) là câu chuyện xảy ra trong gia đình thầy Thông
Thu – một gia đình tư sản Âu hóa. Mọi người trong gia đình thi nhau tìm đến
những thú vui tiêu tốn tiền bạc. Cụ Thông và cô Thông đồng bóng say mê
bói toán, sẵn sàng bỏ cả bạc nghìn để đi hầu Thánh. Tới mức, cô Thông
ốm cũng nghĩ là do Thánh phạt nên phải làm lễ Tam phủ trình đồng, cô Huệ
(con gái cụ Thông) chửa hoang, bụng to cũng cho là Thánh phạt phải làm lễ
Tứ phủ trình đồng thì mới khỏi được. Còn thầy Thông Thu – trụ cột của cái
gia đình tư sản Âu hóa ấy thì say mê hát cô đầu, cờ bạc. Những cuộc ăn
chơi thâu đêm suốt sáng, lạc thú chôn vùi đã tiêu tốn phần lớn gia tài của
thầy Thông Thu. Khi nhận ra sai trái của mình, của mẹ và của vợ thì cái
thói đồng bóng đã ngấm vào máu của họ khiến thầy không có cách nào
khuyên bảo được. Gia sản cứ thế mà tiêu tán. Cuối cùng, gia đình thầy bị
mõ tòa đọc lệnh tịch biên gia sản. Cảm thấy tủi nhục, xấu hổ không còn
24


cách cứu vãn, thầy Thông Thu đã tìm đến chén thuốc độc như một cách giải
thoát đầy đau đớn cho bi kịch đời mình. Mâu thuẫn được gỡ nút một cách đầy
bất ngờ khi có một người em họ đi làm ăn bên Lào gửi biếu một cái măng đa
trị giá sáu nghìn khiến cả gia đình thầy được cứu, thầy Thông Thu thoát khỏi
bi kịch cái chết.
Tòa án lương tâm là vở kịch bốn hồi một cảnh xoay quanh câu chuyện
của gia đình thầy Ký Phú và cô giáo Qúy. Gia đình thầy Ký Phú là một gia

đình tư sản Âu hóa, chồng làm thầy kí, vợ là cô giáo. Thầy Ký Phú hết lòng
chăm lo cho gia đình, thương yêu vợ còn cô giáo thì lẳng lơ trai gái, cờ bạc.
Vì được tiếp xúc với văn hóa Tây Âu nên cô đòi phải có “bình đẳng”, phải
đảm bảo “nữ quyền”, phải “cách tân”. Nhưng đáng buồn thay những sự bình
đẳng mà cô đòi hỏi lại chỉ là đàn ông được uống rượu, đánh bạc thì tại sao
đàn bà lại không? Và cô cứ vin vào bình đẳng để mà chìm đắm mê mệt trong
cờ bạc va mối tình oan nghiệt với Ả Quay - một sinh viên trường thuốc. Để
đến được với nhau, họ đã bày mưu tính kế giết chết thầy Ký Phú. Thầy Ký
Phú chết rồi những tưởng họ sẽ thỏa mộng ước ở bên nhau mãi mãi. Nhưng
điều mà họ không bao giờ ngờ tới được là tòa án pháp luật không làm gì được
họ nhưng còn một tòa án lương tâm luôn khiến họ phải suy nghĩ, dằn vặt.
Mộng tưởng yêu đương mặn nồng tan vỡ. Thay vào đó là những bi kịch ngày
nối ngày sống trong sợ hãi, dằn vặt của tòa án lương tâm. Kết thúc vở kịch cả
cô giáo Qúy và Ả Quay đều không vượt qua được tòa án lương tâm mà tự giải
thoát cho mình bằng cái chết.
2.1.2. Tóm tắt một số vở kịch của Nam Xương
Chàng Ngốc (hài kịch năm hồi, viết năm 1930) là câu chuyện xảy ra
trong gia đình Sỉn ông - một gia đình làm nghề buôn bán nhỏ. Sỉn ông là
người keo kiệt, bủn xỉn và tham của, thấy Ngốc sinh là người có của nên ưng
thuận gả con gái cho. Nhưng cô Cỏn – con gái Sỉn ông là một cô gái tân thời

25


×