SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
BỘ XÂY DỰNG
---------ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BỘ MÔN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: “Qua tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức đối
với “người cách mạng”, anh (chị) hãy liên hệ với vấn đề rèn luyện, tu dưỡng
đạo đức trong sinh viên nói riêng và thanh niên nói chung hiện nay”.
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
SVTH: Lê Quang Đạt. MSSV: 15520800055
1
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
DẪN LUẬN
1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và
giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Trong những tác phẩm,
bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói đến các phẩm chất
đạo đức. Từ thực tế của con người và xã hội Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã khái quát thành những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức cách mạng
việt Nam. Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục đạo đức cách
mạng cho thế hệ thanh niên, bởi vì “…Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một
đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội…”. Đất nước có
“sánh vai cùng các cường quốc năm châu” được hay không là phụ thuộc vào
đức và tài của thế hệ trẻ, đặc biệt là những sinh viên đang ngồi trên ghế giảng
đường đại học. Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy một bộ phận thanh
niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất
nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống
văn hóa dân tộc… chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Bởi vậy, cần thiết phải vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Mình để giáo
dục đạo đức cho sinh viên, đó là đòi hỏi khách quan và đáp ứng yêu cầu thực
tiễn hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu nội dung quan điểm của Hồ Chí Minh về các phẩm chất đạo
đức của con người Việt Nam trong thời đại mới; từ đó vận dụng vào việc xây
dựng đạo đức cho sinh viên. Kết quả nghiên cứu phục vụ cho thực hiện cuộc
vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay.
3. Ý nghĩa đề tài
Làm rõ nguồn gốc hình thành, các phân tích liên quan, nội dung tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức; đánh giá thực trạng và vận dụng tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh vào xây dựng đạo đức cho sinh viên.
2
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
4. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp sử dụng phương pháp lịch sử,
logic, hệ thống cấu trúc…
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
1.1.1. Nguồn gốc tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ truyền thống đạo đức dân
tộc, tinh hoa đạo đức nhân loại, đạo đức cộng sản Mác-Lênin và sự tu dưỡng,
rèn luyện không mệt mỏi của Hồ Chí Minh.
1.1.1.1. Truyền thống đạo đức dân tộc
Truyền thống đạo đức của dân tộc được hình thành và phát triển trên cơ
sở của chủ nghĩa yêu nước. Nhiều giá trị đạo đức từ đó được tích luỹ như: đạo
lý yêu quê hương đất nước, yêu thương, quý trọng con người; đồng cam cộng
khổ cứu giúp lẫn nhau; cần cù trong lao động sản xuất, dũng cảm hy sinh
trong đánh giặc cứu nước sống có thuỷ chung, có tình có nghĩa; uống nước
nhớ nguồn; đói cho sạch rách cho thơm rất lạc quan yêu đời nhưng cũng rất
căm ghét cái ác, căm thù bọn cướp nước hiếu thảo với cha mẹ; trọng tình
nghĩa vợ chồng, anh em, tiết kiệm và dung dị trong đời sống... Tất cả những
giá trị đạo đức ấy đã đi vào tâm hồn Hồ Chí Minh ngay từ khi còn nằm trong
nôi ngày càng nồng đượm trở thành khát vọng thôi thúc Người ra đi tìm
đường cứu nước.
1.1.1.2. Tinh hoa đạo đức nhân loại
Trước khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh tiếp thu, vận
dụng nhiều tinh hoa đạo đức như: Nho giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Mặc
gia... Người viết “học thuyết của Khổng tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức
cá nhân”. Thế nhưng Người vẫn phê phán và loại bỏ lập trường phong kiến
của Khổng Tử trên các mặt: tôn thờ chế độ phong kiến, phân biệt đẳng cấp;
trọng nam khinh nữ; phân biệt nghề nghiệp... Hồ Chí Minh còn kế thừa mặt
tiến bộ trong tư tưởng tam dân của Tôn Dật Tiên và tư tưởng tự do, bình đẳng,
3
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
bác ái của cách mạng dân chủ tư sản... để xây dựng nền đạo đức mới ở nước
ta.
Hồ Chí Minh viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu
dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Chúa Giê-su có ưu điểm là lòng bác ái
cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa
Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách "tam dân" thích hợp với điều kiện
nước ta... tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”.
1.1.1.3. Đạo đức cộng sản được thể hiện trong học thuyết MácLênin và phong trào cộng sản quốc tế
Đạo đức mà Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng nhiều nhất và có giá trị lý
luận, phương pháp luận để Người kế thừa các giá trị đạo đức khác, xây dựng
đạo đức mới là đạo đức học MácLênin - đạo đức của giai cấp vô sản.
Nội dung cơ bản của đạo đức học Mác-lênin là các phạm trù và các tiêu
chuẩn đạo đức được hình thành trên nền tảng của cách mạng vô sản, của chủ
nghĩa tập thể vô sản, lấy việc giải phóng triệt để giai cấp, dân tộc, con người
làm mục đích tối cao; coi hạnh phúc không phải chỉ là thoả mãn nhu cầu của
cá nhân mà cái chính là phục vụ cho tất cả mọi người theo tinh thần “mình vì
mọi người, mọi người vì mình”. Đây chính là điểm khác nhau căn bản, sự tiến
bộ về chất của đạo đức vô sản so với đạo đức cũ. Hồ Chí Minh đã nhận rõ
điều đó và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước ta để xây dựng
nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng ở nước ta.
1.1.1.4. Sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức không mệt mỏi của Hồ Chí
Minh
Cả cuộc đời Người là một tấm gương vĩ đại về tu dưỡng, rèn luyện đạo
đức. Quá trình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của Hồ Chí Minh đã nâng Người
lên thành bậc đại nhân, đại trí, đại nghĩa, đại dũng, đại liêm... của thế kỷ XX,
khiến kẻ thù cũng phải kính phục, bị cảm hóa và nhân loại tin tưởng noi theo.
Hồ Chí Minh không chỉ thương yêu con người và dân tộc Việt Nam, mà
còn thương yêu thương yêu nhân loại. Người không chỉ muốn cứu nước Việt
Nam mà còn muốn cứu giúp các dân tộc khác. Chính quyền Pháp nhiều lần dụ
dỗ, đe doạ, tử hình vắng mặt, nhưng Hồ Chí Minh không sợ hãi mà càng tăng
thêm quyết tâm hoạt động cách mạng. Sau này Người tâm sự: “Cả đời tôi chỉ
4
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi tổ quốc, và hạnh phúc của quốc
dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha
sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó”.
1.1.2. Vai trò của đạo đức cách mạng đối với cách mạng nước ta
- Đạo đức là cái gốc của người cách mạng
Hồ chí minh là một trong những nhà tư tưởng, một lãnh tụ cách mạng
thế giới đã bàn nhiều về vấn đề đạo đức. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, do
đó, sâu sắc, phong phú, cả về lý luận và thực tiễn, đã trở thành một bộ phận vô
giá của văn hóa dân tộc và nhân loại, một sức mạnh to lớn làm nên mọi thắng
lợi của cách mạng Việt Nam.
Khi đánh giá vai trò của đạo đức trong đời sống, từ rất sớm, Hồ Chí
Minh đã khẳng định đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người,
như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối. Người nói: “Cũng như sông thì có
nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có
gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù
tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Người cho rằng, làm cách
mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang,
nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, “Sức có mạnh thì mới gánh được
nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền
tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.
Người nói, cán bộ, đảng viên muốn cho dân tin, dân phục thì không
phải cứ “viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ
quý mến những người có tư cách, đạo đức”. “Vì muốn giải phóng cho dân tộc,
giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo
đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Người trăn trở với nguy cơ xa rời
cuộc sống, xa rời quần chúng, rơi vào thoái hóa biến chất của Đảng. Vì vậy,
Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người thường
nhắc lại ý của V.I. Lênin: Đảng cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự,
lương tâm của dân tộc và thời đại. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Mỗi đảng
viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm
5
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
liêm chính, chí công vô tư. Phải giữu gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng
đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức trong hành động, lấy hiệu
quả thực tế làm thước đo. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức bên
cạnh tài năng, gắn đức với tài, lời nói đi đôi với hành động và hiệu quả trên
thực tế. Người nói: “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản
xuất mà đo ý chí cách mạng của mình. Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông,
thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đính nâng cao sản
xuất”.
Như vậy, trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đức và tài, hồng và
chuyên, phẩm chất và năng lực thống nhất làm một. Trong đó: đức là gốc của
tài; hồng là gốc của chuyên; phẩm chất là gốc của năng lực. Tài là thể hiện cụ
thể của đức trong hiệu quả hành động.
- Đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội chưa phải là ở lý
tưởng cao xa, ở mức sống vật chất dồi dào, ở tư tưởng được tự do giải phóng,
mà trước hết là ở những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm chất của những người
cộng sản ưu tú, bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho
lý tưởng đó trở thành hiện thực.
Hồ Chí Minh cho rằng, phong trào cộng sản công nhân quốc tế trở
thành lực lượng quyết định vận mệnh của loài người không chỉ do chiến lược
và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo
đức cao quý làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành một sức mạnh vô địch.
Tấm gương đạo đức trong sáng của một nhân cách vĩ đại, song cũng rất
đời thường của Hồ Chí Minh chẳng những có sức hấp dẫn lớn lao, mạnh mẽ
với nhân dân Việt Nam, mà còn cả với nhân dân thế giới. Tấm gương đó từ
lâu, là nguồn cổ vũ động viên tinh thần quan trọng đối với nhân dân ta và nhân
loại tiến bộ đoàn kết đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ
nghĩa xã hội.
6
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
1.1.3. Nội dung chuẩn mực đạo đức cơ bản của Tư tưởng Hồ Chí
Minh về đạo đức cách mạng
1.1.3.1. Trung với nước, hiếu với dân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tận trung với nước là chuẩn mực có ý
nghĩa quan trọng hàng đầu. Đó là lẽ phải, là chân lý. Nước mất thì nhà tan,
mỗi người dân sẽ thành nô lệ. Do đó, là người công dân thì phải tận trung với
nước, tận lực phụng sự Tổ quốc: suốt đời phấn đấu, hy sinh vì độc lập tự do
của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn
nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; không phản bội, quy hàng kẻ
địch... Tận trung với nước cũng chính là tận trung với Đảng, quyết tâm đưa
đất nước phát triển theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Bởi
vì, Đảng là người đại diện cho nước, cho dân, “ngoài lợi ích của giai cấp, của
nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh trung với nước, với Đảng và hiếu với dân
là hai mặt thống nhất của một vấn đề, gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với nhau. Đã
tận trung với nước thì phải tận hiếu với dân. Tận hiếu với dân nghĩa là thấy rõ
sức mạnh, vai trò thực sự của nhân dân. Phải làm hết sức mình để nhân dân
hiểu được quyền cũng như trách nhiệm của người chủ đất nước.
Từ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” chuyển thành tận trung với nước
tận hiếu với dân, Hồ Chí Minh đã thực hiện một cuộc cách mạng về đạo đức:
“Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức
mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”.
1.1.3.2. Yêu thương và giúp đỡ con người, sống có nghĩa, có tình
Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh không chung chung, trừu
tượng mà rất cụ thể, sâu sắc và bao dung. Hồ Chí Minh chẳng những thương
yêu tất cả những người lao động, mà còn đặc biệt thương yêu những người bị
áp bức, bóc lột, bị đọa đầy đau khổ, bị nô dịch giai cấp và dân tộc. Tình
thương yêu con người của Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở lòng “trắc ẩn”,
mà còn được nâng lên ở tầm cao của nhận thức tư tưởng.
Sống có nghĩa, có tình, giúp người, cứu người, hướng tới giải phóng
triệt để con người là động cơ mạnh mẽ, là mục tiêu lý tưởng cao cả của Hồ
Chí Minh. Người nói rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ
7
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”. Do đó, để giải phóng
triệt để con người thì không chỉ đánh đổ bọn thực dân xâm lược, giải phóng
dân tộc mà còn xoá bỏ tình trạng người bóc lột người. Theo Hồ Chí Minh, để
thực hiện được mục tiêu đó thì “không có con đường nào khác con đường
cách mạng vô sản”.
1.1.3.3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Cần là thường xuyên cố gắng, luôn chăm chỉ, trong suốt cả cuộc đời.
Cần còn là biết chủ động và sắp xếp công việc có kế hoạch, có sáng tạo, biết
nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng để có thể làm việc lâu dài, đạt kết quả cao.
Cần còn được hiểu là tăng năng suất trong công tác. Cần là phải chống bệnh
chây lười biếng nhác, ỷ lại, thụ động, vô kỷ luật...
Kiệm là tiết kiệm công sức, tiền của và thời gian, sử dụng chúng sao
cho có ích nhất, hiệu quả nhất. Kiệm cũng có nghĩa là không xa xỉ, không
hoang phí, không bừa bãi trong sản xuất và đời sống. Tiết kiệm theo Hồ Chí
Minh hoàn toàn trái ngược với bủn xỉn. Người nói: “Khi không nên tiêu xài thì
một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng
bào, cho Tổ quốc thì dù hao bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng”.
Theo Hồ Chí Minh, liêm là “Không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc
của Nhà nước, của nhân dân”, “Không tham địa vị. Không tham tiền tài.
Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang
minh chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham
làm, ham tiến bộ”. Người nói: “Những người ở các công sở, từ làng cho đến
Chỉnh phủ trung ương, đều dễ tìm dịp phát tài, hoặc xoay tiền của Chính phủ,
hoặc khoét đục nhân. Đến khi lộ ra, bị phạt, thì mất hết cả danh giá mà của phi
nghĩa đó cũng không được hưởng”. Vì vậy cán bộ, công chức trong các công
sở trước hết phải giữ lấy chữ liêm làm đầu.
Chính là không tà, là thẳng thắn và đứng đắn. Theo Hồ Chí Minh: trong
xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc. Song những công việc ấy có thể chia ra
làm 2 thứ: việc CHÍNH và việc TÀ. Làm việc CHÍNH là người THIỆN, làm
việc Tà là người ÁC. Cán bộ, công chức là những người làm việc công cho
nên chính còn là sự công tâm, công đức khi giải quyết công việc. Hồ Chí
Minh nói: chớ đem của công dùng vào việc tư. Chớ đem người tư làm việc
8
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư ân, tư huệ,
hoặc tư thù, tư oán. Mình có quyền dùng người thì phải dùng người có tài
năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ chức kia.
Chớ vì sợ mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Người còn nhấn
mạnh, cán bộ, công chức phải tự mình “chính” trước mới giúp được người
khác “chính”, nếu mình không “chính” mà muốn người khác “chính” là vô lý.
Chí công vô tư: cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư và
ngược lại. Chí công vô tư là khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình
trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau, tức là lo trước thiên hạ, vui sau thiên
hạ. Người nhấn mạnh, thực hành chí công vô tư cũng có nghĩa là phải kiên
quyết chống chủ nghĩa cá nhân.
1.1.3.4. Tinh thần quốc tế trong sáng
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những đặc trưng của đạo đức cộng sản,
bắt nguồn từ vai trò của giai cấp công nhân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong
tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, chủ nghĩa quốc tế chính là quan hệ hữu nghị,
hợp tác, giúp đỡ, tương trợ với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động
các nước, với những người yêu hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới. Chủ
nghĩa quốc tế chỉ có thể tốt đẹp khi mỗi quốc gia phải phát huy tinh thần chủ
động, tự lực tự cường và phải hoàn thành nghĩa vụ quốc tế của mình, chống
chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nước lớn. Đó là tinh thần quốc tế cao đẹp mà Hồ
Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên đều phải thấm nhuần và rèn luyện
trong cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, phát triển và tiến bộ trên toàn thế giới.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã đề ra
đường lối, chủ trương đúng đắn, định hướng lâu dài cho việc bồi dưỡng tinh
thần đoàn kết quốc tế trong sáng ở mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.
1.1.4. Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới của Tư tưởng Hồ
Chí Minh về đạo đức cách mạng
- Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức
Nói đi đôi với làm, Hồ Chí Minh coi đây là nguyên tắc quan trọng bậc
nhất trong xây dựng một nền đạo đức mới. Đây cũng là biện pháp mang lại
hiệu quả cao trong việc rèn luyện đạo đức cách mạng. Đối với mỗi người, nhất
là đối với những người lãnh đạo, lời nói phải đi đôi với việc làm thì mới đem
9
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
lại hiệu quả thiết thực cho chính bản thân và có tác dụng đối với người khác.
Nếu nói nhiều, làm ít, nói mà không làm, hơn nữa nói một đằng làm một nẻo
thì chỉ đem lại hiệu quả phản tác dụng.
Đạo làm gương phải được quán triệt trong tất cả mọi đối tượng, mọi
lĩnh vực từ Đảng, Nhà nước đến nhà trường, gia đình, xã hội…Bởi vì mỗi dân
tộc, mỗi Đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn,
không nhất thiết ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và
ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa,nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân.
Hồ Chí Minh luôn quan tâm biểu dương tất cả những gương người tốt,
việc tốt. Đặc biệt Người đã tự mình nêu lên một tấm gương đạo đức trong
sáng tuyệt vời, tiêu biểu cho tinh hoa và khí phách dân tộc, được toàn dân tin
theo và thế giới ngưỡng mộ. Đó là tấm gương suốt đời phấn đấu cho lý tưởng
cứu nước, cứu dân, hết lòng yêu thương nhân dân với tinh thần “lấy dân làm
gốc”; một tấm gương suốt đời không ngừng học tập và rèn luyện, thực hiện
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nếp sống giản dị, khiêm tốn, thanh
cao…Nêu gương về đạo đức có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống, có ý
nghĩa thúc đẩy xã hội phát triển. Nói đi đôi với làm phải gắn liền với nêu
gương về đạo đức. Hồ Chí Minh đã có lần chỉ rõ: “Nói chung thì các dân tộc
phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có
giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Hồ Chí Minh cho rằng, hơn
bất cứ một lĩnh vực nào khác, trong việc xây dựng một nền đạo đức, đạo đức
cách mạng phải đặc biệt chú trọng “đạo làm gương”. Người nói: “Lấy gương
người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt
nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người
mới, cuộc sống mới”;
Trong gia đình, đó là tấm gương của bố mẹ đối với con cái, của anh chị
đối với các em; trong nhà trường, đó là tấm gương của thầy cô giáo đối với
học sinh; trong tổ chức, tập thể là tấm gương của người lãnh đạo, phụ trách,
của cấp trên đối với cấp dưới; trong xã hội là tấm gương của người này đối
với người kia, của thế hệ đi trước đối với thế hệ đi sau…
Những tấm gương đạo đức được hiểu theo nghĩa rộng. Có những tấm
gương chung và riêng, lớn và nhỏ, xa và gần. Một nền đạo đức mới chỉ được
10
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
xây dựng trên một cái nền rộng lớn, vững chắc, khi những phẩm chất đạo đức,
những chuẩn mực đạo đức đã trở thành hành vi đạo đức ngày càng phổ biến
trong toàn xã hội, mà những tấm gương đạo đức của những người tiêu biểu,
những người tốt việc tốt có ý nghĩa và tác dụng lớn lao.
Trong những năm qua, bài giảng về tư cách một người cách mạng, về
đạo đức cách mạng, về "Nói thì phải làm" của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn
nguyên giá trị. Trong kháng chiến cũng như trong công cuộc bảo vệ và xây
dựng đất nước hôm nay, nhiều cán bộ, đảng viên, nhiều người đã làm tốt
những lời Bác dạy, đã có rất nhiều tấm gương tiêu biểu về sự hy sinh, lòng
nhân ái, về cần kiệm liêm chính, chí công vô tư...
- Xây đi đôi với chống
Trong đời sống hàng ngày, những hiện tượng tốt - xấu, đúng - sai, cái có
đạo đức - cái vô đạo đức vẫn tồn tại, đan xen nhau, đối chọi nhau thông qua
hành vi của con người. Cùng với việc xây dựng những phẩm chất đạo đức tốt
đẹp, nhất thiết phải chống những biểu hiện sai trái, xấu xa, trái với những yêu
cầu đạo đức mới. Vì vậy, trong lĩnh vực đạo đức xây phải đi đôi với chống,
muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây.
Việc xây dựng đạo đức mới trước hết phải được tiến hành bằng việc
giáo dục những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức mới từ trong gia đình
đến nhà trường và ngoài xã hội; thông qua hoạt động thực tiễn; cụ thể hoá
phẩm chất đạo đức chung cho phù hợp với từng đối tượng khác nhau và điều
quan trọng là phải khơi dậy sự ý thức của mỗi người. Tức là, không ngừng
trau dồi, xây đắp, phát triển đạo đức mới, tăng cường cái đúng, cái tốt. Cái tốt
được tăng cường, phát triển thì cái xấu sẽ bị đẩy lùi. Những phẩm chất chung,
cơ bản nhất phải được cụ thể hoá cho sát với từng đối tượng. Trong việc giáo
dục đạo đức mới, phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh trong mỗi con
người để họ tự giác nhận thức được trách nhiệm của mình.
Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở chúng ta rằng, thoát thai từ một xã
hội phong kiến, thuộc địa, nhiều tàn dư của văn hoá nô dịch thực dân vẫn còn
ăn sâu, bén rễ trong xã hội mới. Vả lại trong mỗi con người, vì những lý do
khác nhau, không phải người nào cũng tốt, người nào cũng hay, mỗi người đều
có cái thiện, cái ác trong lòng. Vì vậy, phải kết hợp xây đi đôi với chống
11
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
những cái ác, tiến tới xoá bỏ, diệt trừ cái ác. Việc chống những cái xấu, cái sai,
cái vô đạo đức, phải được tiến hành bằng tự phê bình và phê bình; bằng giáo
dục, thuyết phục, bằng kỷ luật của Đảng hay bằng pháp luật của Nhà Nước.
Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc chống chủ nghĩa cá nhân, vì chủ nghĩa cá
nhân là một thứ bệnh cực kỳ nguy hiểm, nó đẻ ra hàng trăm thứ bệnh khác
như tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa, tự cao, tự đại, chuyên quyền, tham danh,
trục lợi…
Để việc xây và chống có kết quả, theo Hồ Chí Minh, phải tạo thành
phong trào quần chúng rộng rãi, thông qua phong trào quần chúng và các cuộc
vận động lôi kéo mọi người thực hiện việc xây và chống cái gì đó rất cụ thể,
rõ ràng, để mọi người tự bồi dưỡng và nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng
của mình.
- Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.
Hồ Chí Minh thường nhắc lại luận điểm “chính tâm, tu thân để trị quốc
bình thiên hạ” để vận dụng vào rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng.
Không thể chỉ trong một thời gian ngắn mà mỗi người có thể “chính tâm, tu
thân”, bởi nó là cuộc cách mạng trong bản thân mỗi con người để bỏ con
người cũ mà trở thành con người mới, bồi dưỡng tư tưởng mới để đánh thắng
tư tưởng cũ. Việc rèn luyện bền bỉ và luôn có ý thức trau dồi đạo đức cách
mạng là việc làm cần thiết và là nguyên tắc quan trọng bậc nhất đối với con
người. Theo Hồ chí Minh, đã là người thì ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ tốt,
chỗ xấu, ai cũng có thiện, có ác trong mình. Vấn đề là dám nhìn thẳng vào con
người mình, không tự lừa dối, huyễn hoặc; thấy rõ cái hay, cái tốt, cái thiện để
phát huy, thấy rõ cái dở, cái xấu để khắc phục.
Đối với mỗi người, việc tu dưỡng đạo đức phải được thực hiện trong
mọi hoạt động thực tiễn, trong mọi quan hệ xã hội.
Người viết: “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do
đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển củng cố. Cũng như ngọc
càng ngày càng sáng, vàng càng luyện càng trong”, “điều gì phải, thì cố làm
cho kỳ được, dù là việc nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái
nhỏ”. Vì vậy, phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức như việc rửa mặt
hàng ngày; phải làm kiên trì, bền bỉ, suốt đời. Bởi đạo đức cách mạng không
12
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
phải từ trên trời sa xuống,không phải tự nhiên có được, nó không phải là “tính
sẵn” mà là do quá trình nhận thức, tiếp thu kế thừa và sàng lọc từ cuộc sống,
từ thực tiễn sống động của cách mạng, “gian nan rèn luyện” mà có, do giáo
dục mà nên.
Theo Hồ Chí Minh, đã hoạt động cách mạng thì khó tránh khỏi sai lầm
và khuyết điểm. Một người dù tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu,
cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một vấn đề, không thể trông thấy và
xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề. Vì vậy mọi người phải luôn luônhọc
tập tu dưỡng để hoàn thiện bản thân là việc làm thường xuyên, việc tu dưỡng
phải gắn với thực tiễn, bền bỉ, mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh.
Người thường nhắc nhở: Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa
xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển, củng cố;
cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.
Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới gắn bó chặt chẽ với nhau; đó
là những nguyên tắc chỉ đạo mỗi người phấn đấu trở thành người có đức, có
tài để phục vụ tốt cho việc xây dựng xã hội mới ở Việt Nam.
1.2. Sinh viên học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
1.2.1. Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
- Xác định đúng vị trí, vai trò của đạo đức cá nhân
Đạo đức hiểu một cách tổng quát là toàn bộ những chuẩn mực, những
quy tắc, những quan niệm về các giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm,
danh dự, hạnh phúc, công bằng… được xã hội thừa nhận, quy định hành vi,
quan hệ giữa con người với sự nghiệp, giữa con người với nhau và giữa con
người với xã hội. Xuất phát từ bản chất, con người luôn có khát vọng hướng
tới chân, thiện, mĩ nhằm hoàn thiện bản thân. Để vươn tới sự hoàn thiện, trước
hết con người phải tự tu dưỡng hoàn thiện mình về đạo đức. Do vậy đạo đức
là yếu tố cơ bản của nhân cách tạo nên giá trị con người, vì vậy ai cũng phải tu
dưỡng hoàn thiện mình về đạo đức. Riêng đối với thế hệ trẻ, việc tu dưỡng
này còn quan trọng hơn, vì họ là “người chủ tương lai của nước nhà”, là cái
cầu nối các thế hệ – “người tiếp sức cách mạng cho thế hệ già, đồng thời là
người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”. Chính vì vậy, từ rất sớm
13
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm giáo dục đạo đức, chăm lo rèn luyện đạo
đức cho sinh viên. Nói chuyện với sinh viên, Người khẳng định: “Thanh niên
phải có đức, có tài. Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài
chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì có
ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài
ví như ông Bụt không làm hại gì nhưng cũng không có lợi gì cho loài người”.
- Kiên trì tu dưỡng theo các phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh
Cũng như cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân khác, đối với tầng
lớp sinh viên, thanh niên trí thức, Hồ Chí Minh đã sớm xác định những phẩm
chất đạo đức tối cần thiết để họ có phương hướng phấn đấu, rèn luyện. Trong
Bài nói tại Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ hai (ngày 7–5–1958), những
phẩm chất đó được Người tóm tắt trong “sáu cái yêu”: yêu Tổ quốc; yêu nhân
dân; yêu chủ nghĩa xã hội; yêu lao động; yêu khoa học và kỉ luật: Bởi vì tiến
lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỉ luật”.
Theo Hồ Chí Minh, để có được những phẩm chất như vậy, sinh viên
phải rèn luyện cho mình những đức tính như: Trung thành, tận tụy, thật thà,
trung thực và chính trực, phải xác định rõ nhiệm vụ của mình, “không phải là
hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước
nhà? Mình phải làm thế nào cho ích nước lợi nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi
ích nước nhà mà hi sinh phấn đấu chừng nào”. Trong học tập, rèn luyện, phải
kết hợp lí luận với thực hành, học tập với lao động; phải chống mọi biểu hiện
của chủ nghĩa cá nhân, chống tư tưởng háo danh, hám lợi. “Chống tâm lí ham
sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao
động chân tay. Chống lười biếng xa xỉ, chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống
kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang”. Phải trả lời được câu hỏi: Học để làm gì?
Học để phục vụ ai? Phải xác định rõ tác nào là tốt, thế nào là xấu? Ai là bạn, ai
là thù?”… Người chỉ rõ: “Đối với người, ai làm gì lợi ích cho nhân dân, cho
Tổ quốc ta đều là bạn. Bất kì là ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quát
ta tức là kẻ thù. Đối với mình, những tư tưởng và hành động có lợi ích cho Tổ
quốc, cho đồng bào là bạn. Những tư tưởng và hành động có hại cho Tổ quốc
và đồng bào là kẻ thù… Điều gì phải, thì phải cố làm cho kì được, dù là việc
nhỏ. Điều gì trái, thì hết sức tránh, dù là một điều trái nhỏ”.
14
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
1.2.2. Nội dung học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh
- Một là, học trung với nước, hiếu với dân suốt đời đấu tranh cho sự
nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người
Ngay từ thuở thiếu thời, Hồ Chí Minh đã lựa chọn một cách rõ ràng và
dứt khoát mục tiêu hiến dâng cả cuộc đời mình cho cách mạng. Người đã chấp
nhận một sự hi sinh, luôn kiên định, dũng cảm và sáng suốt để vượt qua mọi
khó khăn, “thắng không kiêu, bại không nản”, “giàu sang không quyến rũ,
nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục” nhằm thực hiện bằng
được mục tiêu đó Người nói: “Bài học chính trong đời tôi là tuyệt đối và hoàn
toàn cống hiến đời mình cho sự nghiệp giải phóng và thống nhất Tổ quốc giải
phóng giai cấp công nhân và dân tộc bị áp bức, cho sự thắng lợi của chủ nghĩa
xã hội, cho sự hợp tác anh em và hòa bình giữa các dân tộc”; “Một ngày đồng
bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Đến lúc
phải rời thế giới này, điều luyến tiếc duy nhất của Người là “không được phục
vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.
Tấm gương vì nước, vì dân, suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng
dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người của Hồ Chí Minh đã được
nhân dân thế giới và bạn bè quốc tế thừa nhận và kính phục. Họ đã dùng
những lời lẽ đẹp đẽ và trang trọng nhất để ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh:
“Nhà cách mạng triệt để”, “nhà hoạt động quốc tế thần thoại”, “một nhân vật
nổi bật nhất trong thời đại của chúng ta”, “một tấm gương sáng chói những
phẩm chất cách mạng và nhân đạo cao cả nhất”. Hiếm có một nhà lãnh đạo
nào trong những giờ phút thử thách lại tỏ ra sáng suốt, bình tĩnh, gan dạ, quên
mình, kiên nghị và dũng cảm một cách phi thường như vậy”, một con người
“mà cái chết là mầm sống của sự sống và nguồn cổ vũ đời đời bất diệt”.
- Hai là, học cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đời riêng trong
sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường.
Hồ Chí Minh thường dạy cán bộ, đảng viên phải cần, kiệm, liêm, chính,
chí công vô tư, ít lòng ham muốn vật chất. Đó là tư cách người cán bộ cách
mạng, và tự mình Người đã gương mẫu thực hiện. Suốt đời, Người sống trong
sạch thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, luôn vì nước, vì dân, vì
15
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
con người, không gợn chút riêng tư. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Hồ
Chủ tịch không có cái gì riêng. Cái gì của nước, của dân là của Người. Quyền
lợi tối cao của nước, lợi ích hàng ngày của dân là sự lo lắng đêm ngày của
Người. Gia đình của Người là đại gia đình Việt Nam.
Là lãnh tụ cách mạng, Hồ Chí Minh luôn coi khinh mọi sự xa hoa,
không ưa chuộng những nghi thức trang trọng cầu kì, suốt đời giữ một nếp
sống thanh bạch tao nhã, giản dị, khiêm tốn, khắc khổ, cần lao và tranh đấu để
mưu cầu hạnh phúc cho dân. Nói về những đức tính vĩ đại của Hồ Chí Minh,
X. Agienđê – vị Tổng thống anh hùng của nước Cộng hoà Chilê đã khái quát:
“Nếu như muốn tìm một sự tiêu biểu cho tất cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí
Minh thì đó là đức tính vô cùng giản dị và sự khiêm tốn phi thường”.
Ba là, học đức tin tuyệt đối vào sức mạnh của nhân dân, kính trọng
nhân dân và hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; luôn thân ái, vị tha, khoan
dung và nhân hậu với con người
Hồ Chí Minh có tình thương yêu bao la đối với con người. Tình thương
đó gắn liền với niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh và trí tuệ của nhân dân. Người
luôn dạy cán bộ, đảng viên việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có
hại cho dân phải hết sức tránh; phải gần dân, hiểu dân, phải học dân, kính
trọng nhân dân; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân. Người phê phán quyết liệt
đầu óc “quan cách mạng” và tự mình thường xuyên đi xuống cơ sở để tìm hiểu
“lắng nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan
trọng”. Là người có uy tín rất cao và sức hấp dẫn rất lớn, song không bao giờ
Hồ Chí Minh đặt mình cao hơn nhân dân, chỉ tâm niệm suốt đời là công bộc
của nhân dân, “như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận”.
Với tình thương yêu bao la, Hồ Chí Minh giành cho tất cả, chia sẻ với
mọi người những nỗi đau riêng. Người nói, trong “mỗi người, mỗi gia đình có
một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mọi người, mọi
gia đình thì thành nỗi đau khổ của tôi”.
Lòng nhân ái, khoan dung, nhân hậu của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ đại
nghĩa của dân tộc, nên có sức mạnh và cảm hoá to lớn trong việc xây dựng và
tái tạo lương tri. Ở Hồ Chí Minh, thương người là một tình cảm lớn. Cho nên,
khi làm cách mạng, Hồ Chí Minh đặt vấn đề tự do và hạnh phúc đi đôi. Đó
16
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
chính là biểu hiện chủ nghĩa nhân văn cộng sản vừa thánh thiện, vừa gần gũi
đã làm xúc động trái tim nhân loại và Người được suy tôn “một ông thánh
cộng sản”, “một con người của huyền thoại”. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
đã bình luận: Lòng nhân đạo, tình thương đồng bào, đó là điều sâu sắc nhất,
tốt đẹp nhất trong con người Hồ Chủ tịch.
- Bốn là, ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, quyết tâm vượt qua mọi thử
thách, gian nguy để đạt được mục đích cuộc sống.
Cuộc đời cách mạng của Hồ Chí Minh là một chuỗi năm tháng vô cùng
gian khổ. Hai lần ngồi tù, một lần đã nhận án tử hình, có giai đoạn hoạt động
rất sôi nổi, được đánh giá rất cao, có giai đoạn bị hiểu nhầm, nghi kị, không
được giao nhiệm vụ… Song, nhờ ý chí và nghị lực tinh thần to lớn, Hồ Chí
Minh đã bình tĩnh, kiên cường, chủ động vượt qua thử thách gian nguy, kiên
trì mục đích cuộc sống, bảo vệ chân lí, giữ vững quan điểm cách mạng của
mình. Người đã làm thơ để tự răn:
“Muốn nên sự nghiệp lớn
Tinh thần càng phải cao”
Dũng cảm, quyết tâm, bền bỉ, bất khuất là những đặc trưng trong nhân
cách Hồ Chí Minh. Một tờ báo nước ngoài viết: “Đằng sau cái cốt cách dịu
dàng của Cụ Hồ là một ý chí sắt thép. Dưới cái bề ngoài giản dị là một tinh
thần quật khởi anh hùng không có gì uy hiếp nổi”.
Để cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
có hiệu quả, đòi hỏi phải có sự phối kết hợp của nhiều nhân tố: sự giáo dục và
việc tự bồi dưỡng, rèn luyện của sinh viên, sự nêu gương của mọi người trong
xã hội, trong gia đình, của cán bộ, đảng viên, của các thầy, cô giáo, các cán bộ
quản lí giáo dục và sự hướng dẫn của dư luận xã hội và pháp luật. Nếu coi
thường một trong những nhân tố trên, việc học tập và rèn luyện sẽ khó đạt
được kết quả như mong muốn.
17
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG RÈN LUYỆN VÀ TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC
TRONG SINH VIÊN NÓI RIÊNG VÀ THANH NIÊN NÓI CHUNG
HIỆN NAY
2.1. Thực trạng đạo đức lối sống sinh viên hiện nay
2.1.1. Những ảnh hưởng tích cực
Đi vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế, một nền đạo đức mới đã và đang hình thành cùng với công cuộc đổi
mới của Đảng là nguồn động lực quan trọng của công cuộc phát triển đất
nước. Đó là nền đạo đức vừa phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc
như: yêu nước, thương người, song nghĩa tình trọn vẹn, cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư với những yêu cầu mới, những nội dung mới do đòi hỏi
của dân tộc và thời đại. Nhờ đó, phần lớn sinh viên, thanh niên trí thức vẫn giữ
được lối sống tình nghĩa, trong sạch, lành mạnh; khiêm tốn, luôn cần cù và
sáng tạo trong học tập; sống có bản lĩnh, có chí lập thân, lập nghiệp, năng
động, nhạy bén, dám đối mặt với những khó khăn, thách thức, dám chịu trách
nhiệm, không ỷ lại, trây lười; luôn gắn bó với nhân dân, đồng hành cùng dân
tộc, phấn đấu cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
Thứ nhất, là những con người năng động và sáng tạo. Chính sinh viên là
những người tiên phong trong mọi công cuộc cải cách, đổi mới về kinh tế,
giáo dục…Trong đầu họ luôn đầy ắp các ý tưởng độc đáo và thú vị; và họ tận
dụng mọi cơ hội để biến các ý tưởng ấy thành hiện thực. Không chỉ chờ đợi cơ
hội đến, họ còn tự mình tạo ra cơ hội.Đã có nhiều sinh viên nhận được bằng
phát minh , sáng chế; và không ít trong số những phát minh ấy được áp dụng,
được biến thành những sản phẩm hữu ích trong thực tiễn. Với thế mạnh là
được đào tạo vừa toàn diện vừa chuyên sâu, sinh viên có mặt trong mọi lĩnh
vực của đời sống kinh tế, xã hội của đất nước. Trong học tập, sinh viên không
ngừng tự đổi mới phương phấp học sao cho lượng kiến thức họ thu được là tối
đa. Không chờ đợi, thụ động dựa vào thầy cô, họ tự mình đọc sách, nghiên
cứu, lấy thông tin, tài liệu từ mọi nguồn. Phần lớn sinh viên đều có khả năng
thích nghi cao với mọi môi trường sinh sống và học tập. Họ không chỉ học tập
trong một phạm vi hẹp ở trường, lớp; giới trẻ ngày nay luôn phát huy tinh
thần học tập ở mọi nơi, mọi lúc. Không chỉ lĩnh hội tri thức của nhân loại, sinh
18
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
viên Việt Nam còn tiếp thu những cái hay, cái đẹp trong mọi lĩnh vực khác
như văn hóa, nghệ thuật… Sự năng động của sinh viên còn được thể hiện ở
việc tích cực tham gia các hoạt động xã hội như y tế, từ thiện…Ngoài giờ học,
những sinh viên-tuyên truyền viên hiến máu nhân đạo lại ngược xuôi đi lại
mang kiến thức về hiến máu đến mọi người, mọi nhà… Bằng sự năng động,
sinh viên luôn tự cập nhật thông tin, kiến thức, làm mới mình phù hợp với sự
thay đỏi và phát triển của xã hội. Rõ ràng, năng động và sáng tạo là những ưu
điểm nổi bật của sinh viên Việt Nam thời đại mới.
Thứ hai, táo bạo và tự tin. Sinh viên dám nghĩ , dám làm, dám chịu thử
thách. Các ý tưởng độc đáo không chỉ nằm trong suy nghĩ mà luôn được thử
nghiệm trong thực tế. Có thể thành công hoặc thất bại, song họ không hề chùn
bước. Với họ, mỗi lần thất bại lại làm họ tự tin hơn với nhiều kinh nghiệm
hơn. Đứng trước cha anh, họ luôn tự tin vào chính mình. Họ tin rằng với
những tri thức mình có trong tay, với những gì họ đã, đang và sẽ làm, các bậc
cha anh sẽ tự hào về họ.Tự tin nhưng không kiêu- đó chính là sinh viên Việt
Nam. Phần lớn sinh viên đều rất khiêm tốn, họ không bao giờ nghĩ rằng như
thế là mình đã hơn các bậc tiền bối. Trong suy nghĩ của họ, họ còn thiếu
nhiều lắm, nhất là kinh nghiệm và sự từng trải. Chính vì thế, khi quyết định
một điều gì, sinh viên không bao giờ quên tham khảo ý kiến của những người
xung quanh, đặc biệt là bậc cha chú của mình. Và khi đã nhận được sự ủng hộ
của lớp người đi trước, họ thêm tự tin thực hiện ý định của mình. Táo bạo
song sinh viên không hề liều lĩnh. Trước khi thực hiện một việc gì, họ luôn
tính toán, xem xét vấn đề một cách thận trọng. Nói rằng táo bạo, nghĩa là
trước đó chưa có ai dám làm, dám thử nghiệm, họ là người đầu tiên thực hiện,
chứ không phải họ đâm đầu thực hiện một việc mà họ không biết tỉ lệ thành
công của mình. Khi cảm thấy mình đã có đủ mọi điều kiện cần thiết, họ mới
bắt tay vào thực hiện. Một điều quan trọng đáng nói ở đây, đó là nếu gặp rủi ro
thất bại thì họ sẵn sàng chấp nhận như một chuyện đương nhiên tất yếu sẽ xảy
ra, tức là có thất bại thì thất bại ấy cũng nằm trong kế hoạch. Họ dám nhìn
thẳng vào thất bại và vượt qua nó. Tóm lại, táo bạo và tự tin cũng là điểm rất
đáng quý trong lối sống của sinh viên Việt Nam.
Thứ ba, phong cách độc lập trong cuộc sống cũng như trong học tập
cũng góp phần xây dựng một hình tượng đẹp về sinh viên Việt Nam. Không
19
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
giống như sinh viên các thế hệ trước chỉ biết sống phụ thuộc vào gia đình, sinh
viên ngày nay đã biết thân tự lập thân. Không chỉ riêng việc học tập, mà mọi
vấn đề khác trong cuộc sống đều được sinh viên giải quyết trong sự chủ động.
Nếu như trong quá khứ, sinh viên còn chờ đợi tiền chu cấp của gia đình mỗi
đầu tháng thì ngày nay mọi chuyện dường như đã khác đi rất nhiều. Ngoài giờ
học, họ tìm việc làm kiếm thêm tiền mua sách vở hay phục vụ cho những chi
tiêu thường ngày khác. Nhiều người không chỉ lo được cho bản thân mà còn
có thể giúp đỡ những người bạn khác thiệt thòi hơn mình, hay giúp đỡ gia
đình ngay cả khi họ vẫn còn ngồi trong gảng đường đại học. Những con
người ấy thật đáng khâm phục, xứng đáng trở thành những gương mặt tiêu
biểu đại diện cho sinh viên Việt Nam thời đại mới.
Ngoài ra, sinh viên Việt Nam còn được thừa hưởng một truyền thống
tốt đẹp của dân tộc, đó là truyền thống hiếu học. Sinh viên Việt Nam mọi thời
đại luôn ham học, ham hiểu biết. Họ khao khát tìm tòi, khám phá chân trời tri
thức. Họ say mê với những điều mới lạ.
Ngày nay tuy điều kiện học đã tốt hơn cha ông nhưng sinh viên Việt
Nam vẫn phải vượt qua nhiều khó khăn khác để đến với chân trời tri thức. Có
những người dù bị tật nguyền vẫn đi học như bao bạn bè cùng trang lứa khác,
họ không những tần mà không phế mà còn trở thành những sinh viên giỏi, làm
được nhiều điều cho gia đình, đất nước. Có những người dù gia đình gặp
nhiều khó khăn, bất hạnh, khiến họ phải bôn ba kiếm sống không được học
hành đến nơi đến chốn vẫn mang trong mình khát vọng được chiếm lĩnh tri
thức nhân loại; và khi có cơ hội họ lại đi học trở lại, với niềm hạnh phúc lớn
lao.
Ham học, ham hiểu biết chính là động lực cho việc lĩnh hội tri thức của
sinh viên. Không thỏa mãn với những gì được dạy trong truờng, họ tự mình
học thêm bên ngoài, qua sách báo, qua bạn bè khắp nơi.
2.1.2. Những ảnh hưởng tiêu cực
Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế,
do sự bùng phát của lối sống thực dụng, chạy theo danh lợi bất chấp đạo lí đã
dẫn đến những tiêu cực trong đời sống xã hội ngày càng phổ biến. Đó là: tình
trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa
20
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công
chức diễn ra nghiêm trọng”.Đó còn là tình trạng “một bộ phận cán bộ, đảng
viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừa
thiếu tính tiên phong, gương mẫu, vừa không đủ trình độ hoàn thành nhiệm
vụ”. Thêm vào đó là những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội
chưa được khắc phục, sự chống phá của thế lực phản động quốc tế nhằm thực
hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”… đã tác động không nhỏ đến đời sống đạo
đức công dân, ảnh hưởng lớn đến tâm tư, tình cảm, ý chí phấn đấu của sinh
viên, thanh niên trí thức. Hậu quả là đã có một bộ phận sinh viên phai nhạt
niềm tin, lí tưởng, mất phương hướng phấn đấu, không có chí lập thân, lập
nghiệp; chạy theo lối sống thực dụng, sống thử, sống dựa dẫm, thiếu trách
nhiệm, thờ ơ với gia đình và xã hội, sa vào nghiện ngập, hút sách; thiếu trung
thực, gian lận trong thi cử, chạy điểm, chạy thầy, chạy trường, mua bằng
cấp… Đây là những biểu hiện không thể coi thường.
Chúng ta đang sống trong thời đại mới - thời đại văn minh, khoa học,
nhất là sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ thông tin; nó đã làm cho
cuộc sống con người ngày được nâng cao. Đáng tiếc thay giá trị đạo đức đang
bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, duy vật chất, kéo theo đó là cả một hệ
lụy. Hơn nữa, giới trẻ ngày nay chạy theo lối sống hưởng thụ, mà họ cho là
hợp thời, sành điệu; họ bỏ qua những giá trị đạo đức là nền tảng cốt yếu của
con người. Vấn đề này đang là thách đố cho các nhà giáo dục cũng như những
người có trách nhiệm.
2.2. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh viên
2.2.1. Về phía bản thân
Trước hết mỗi sinh viên cần phải tự hình thành nhu cầu, động cơ phấn
đấu, rèn luyện, có ý thức học hỏi, cầu tiến, vươn lên tự khẳng định mình. Nhà
trường cần điều kiện thuận lợi để sinh viên phấn đấu, rèn luyện; các tổ chức
Đoàn, Hội sinh viên cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả,
định hướng phấn đấu cho sinh viên. Nếu nhà trường và các đoàn thể quan tâm
đáp ứng những nhu cầu chính đáng của sinh viên; giao nhiệm vụ phù hợp với
sở trường, năng lực đặc điểm tâm, sinh lý của sinh viên thì sẽ tạo điều kiện
thuận lợi để sinh viên rèn luyện đạo đức, lối sống. Bên cạnh đó, sinh viên cần
xác định sống có lý tưởng, hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ.
21
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
Bản thân mỗi người biết vượt qua những cám dỗ lôi kéo và tiêu cực xã hội,
loại bỏ những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng. Những tấm
gương sáng trong học tập, rèn luyện và hoạt động phong trào của sinh viên
được nêu gương, khen thưởng kịp thời sẽ khuyến khích, giúp sinh viên có
thêm động lực để tiếp tục học tập, tu dưỡng, rèn luyện bản thân.
Mỗi bạn trẻ chúng ta hãy sống đúng chuẩn mực đạo đức của con người,
trau dồi, học hỏi những bài học trong cuộc sống về sự công bằng, bác ái với
những người xung quanh và phải quyết tâm muốn thay đổi chính bản thân
mình. Ngoài ra, cần phải học hỏi những tấm gương của những người đạo đức
trong xã hội hiện tại.
2.2.2. Về phía gia đình
Gia đình là nơi nuôi dưỡng hình thành nhân cách đầu tiên cho mỗi con
người, là môi trường đầu tiên hình thành đạo đức cho sinh viên. Gia đình là
nơi hội tụ của truyền thống dân tộc, tình yêu quê hương, đất nước, yêu thương
con người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó trong gia đình,
thế hệ ông bà, cha mẹ phải làm gương về đạo đức, giữ gìn nề nếp gia phong,
có lối sống mẫu mực cho con cái noi theo. Gia đình đóng một vai trò rất quan
trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Gia đình là ngôi trường đầu
tiên của con người, từ đó những đứa trẻ học được nhân cách làm người. Vì
thế, muốn cho con cái trở nên tốt, gia đình phải là nơi mọi người sống yêu
thương, nâng đỡ và đùm bọc lẫn nhau. Các thế hệ cùng chung sống phải biết
quan tâm tới nhau, thì người trẻ sẽ có nền tảng đạo đức tốt. Hay nói cách khác,
giới trẻ sống trong gia đình đó sẽ rập theo nếp sống của cha ông họ. Đồng
thời, gia đình phải sống hạnh phúc, nơi đó cha mẹ và con cái sống hài hoà với
nhau, người trẻ sẽ cảm nhận được những giá trị cao đẹp như: hạnh phúc, lắng
nghe, yêu thương, tha thứ, nâng đỡ chấp nhận những khác biệt của nhau…
Bên cạnh đó, trong một thế giới đang đề cao sự thỏa mãn tức thời,
những ham muốn bản năng, thì gia đình có vai trò rất quan trọng trong việc
khơi dậy ý thức về cái tốt và cái xấu, về cái đáng làm và không nên làm.
2.2.3. Về phía nhà trường
Môi trường giáo dục nhà trường không chỉ là nơi trang bị kiến thức mà
còn phải quan tâm đến việc giáo dục nhân cách, đạo đức cho các bạn sinh
viên. Một khi nhà trường biết quan tâm đúng mức về giáo dục đạo đức cho
22
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
giới trẻ thì kết quả sẽ khả quan hơn. Cần phải giáo dục cho sinh viên biết sống
lễ phép với mọi người, biết quan tâm yêu thương mọi ngưòi.
Nhà trường cần tăng cường giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh trong các
hoạt động ngoại khoá. Kết hợp giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh với giáo dục
truyền thống, bản sắc văn hoá Việt Nam tới sinh viên. Có thể thông qua Hội
sinh viên, Liên chi đoàn các khoa để xây dựng các câu lạc bộ, đội, nhóm, diễn
đàn để trao đổi, giải đáp thắc mắc các vấn đề về tư tưởng, đạo đức Hồ Chí
Minh. Cần kết hợp giữa giáo dục những phẩm chất truyền thống như yêu
nước, lòng nhân ái, vị tha, trung hiếu, cần, kiệm... với các giá trị đạo đức mới
như chủ động, sáng tạo, tự lập, tự chủ, vượt khó.
Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ, công nhân viên trong
nhà trường cũng là một yếu tố quan trọng để góp phần giáo dục đạo đức của
sinh viên. Giáo dục đại học không chỉ giáo dục sinh viên về mặt tri thức mà
còn giáo dục cả đạo đức, lối sống cho sinh viên. Trong môi trường này, nhân
cách đạo đức sinh viên phát triển và được định hình rõ rệt. Vì vậy, nhà trường
cần phải giữ gìn kỷ cương và nề nếp học đường. Cách ứng xử của các thầy, cô
giáo đều định hướng cho sự phát triển nhân cách của sinh viên. Thầy cô giáo
phải là tấm gương sáng cho sinh viên noi theo.
Thầy, cô giáo không chỉ là người góp phần làm giàu vốn tri thức, hiểu
biết cho các thế hệ sinh viên bằng hoạt động dạy học và nghiên cứu khoa học,
mà điều quan trọng hơn là thông qua quá trình giáo dục làm hình thành ở sinh
viên những hoài bão, ước mơ, lý tưởng, tình cảm đạo đức, hun đúc trong họ
lòng tự hào dõn tộc, bản sắc văn hóa dõn tộc, ý chí vươn lên xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đặc biệt là những thầy cô giáo dạy các môn
lý luận chính trị thì nhiệm vụ giáo dục để góp phần xây dựng nhân cách đạo
đức cho sinh viên càng có vị trí quan trọng hơn.
2.2.4. Về phía xã hội
Xã hội nên quan tâm đến giới trẻ, tạo những cơ hội cho họ, giúp họ
sống theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, nhất là những người lầm lỡ, giúp họ
trở thành những con người có ích cho xã hội. Tiến sĩ Tâm lý Đinh Phương
Duy cho biết: “Giới trẻ ngày nay, không phải là họ không muốn sống cho ra
người mà còn muốn sống tốt hơn nữa”. Có người đã nói: “Cơn khát làm một
người sống lương thiện, sống đạo đức cháy âm ỉ trong tâm khảm của họ.
Chính vì thế, họ đang cần được xã hội quan tâm giúp đỡ, nhất là mở những
23
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
lớp học về cách ứng xử trong cuộc sống. Đồng thời họ mong muốn những
người có trách nhiệm nên làm gương cho họ”.
Chúng ta không thể tìm thấy nguồn gốc của đạo đức, nhân cách đạo đức
trong tư tưởng, ý thức con người hay từ một lực lượng siêu nhiên nào đó, mà
phải tìm trong chính hiện thực đời sống kinh tế - xã hội trong đó họ sống và
hoạt động. Vai trò quyết định của kinh tế đối với việc hình thành nhân cách
đạo đức đòi hỏi chúng ta phải tạo ra mảnh đất kinh tế - xã hội hiện thực trên
đó nảy sinh những chồi non tốt đẹp của nhân cách đạo đức.
KẾT LUẬN
Hồ Chí Minh đã phát triển, hoàn thiện tư tưởng học thuyết mácxít về
vai trò và sức mạnh của đạo đức, về những chuẩn mực đạo đức cơ bản và
những nguyên tắc xây dựng một nền đạo đức mới phù hợp với Việt Nam.
Những tư tưởng của Người là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Áp
dụng một cách đúng đắn, sáng tạo và linh hoạt nội dung tư tưởng về đạo đức
của người trong sự nghiệp xây dựng đạo đức, lối sống mới trong học sinh,
sinh viên Việt Nam hiện nay có ý nghĩa hết sức vô cùng to lớn đặt ra cho thực
tiễn nước ta.
Để xây dựng được một nền đạo đức mới, lối sống mới trong học sinh,
sinh viên và thanh niên nói chung cần phải có sự phối kết hợp của nhiều nhân
tố: sự giáo dục từ phía nhà trường, các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức chính
trị; sự nêu gương của mọi người trong xã hội, trong gia đình, của cán bộ, đảng
viên, của các thầy cô giáo , các cán bộ quản lý giáo dục, sự hướng dẫn của dư
luận xã hội; và việc tự tu dưỡng, rèn luyện của sinh viên. Để từ đó, xây dựng
một thế hệ trẻ vừa có đức, vừa có tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên” những chủ
nhân tương lai của đất nước, đưa đất nước ta “sánh vai với các cường quốc
năm châu” như Bác hằng mong đợi.
1.
2.
3.
4.
5.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh – NXB chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Một số webside: />24
SVTH: Lê Quang Đạt
GVHD: Th.s Nguyễn Thị Lan Chiên
/> /> />
MỤC LỤC
25