Tải bản đầy đủ (.pdf) (57 trang)

Báo cáo tốt nghiệp Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã tại huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (773.49 KB, 57 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật và toàn cầu hóa kinh tế
yếu tố con người và vấn đề quản lý con người đang ngày càng được quan tâm chú
trọng như là yếu tố chính quyết định sự phát triển. .Khoa Quản lý lao động là một
trong những khoa có chất lượng dạy và học tốt của trường Đại học Lao động Xã hội.
Để nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng dạy và học cho sinh viên trong nhà trường
nói chung và trong toàn khoa nói riêng thì việc cho sinh viên năm thứ tư đi thực tập
thực tế ở các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp là giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh
viên sau khi kết thúc phần học lý thuyết tại trường. Thực tập tốt nghiệp giúp sinh viên
vận dụng kiến thức lý luận đã học được ở trường vào thực tế nhằm phân tích, lý giải
và giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra, qua đó củng cố và nâng cao kiến thức đã
được trang bị, làm quen với công tác quản lý. Từ quá trình thực tập thực tế để sinh
viên có thể học hỏi được nhiều kinh nghiệm, có kinh nghiệm thực tế, rút ngắn khoảng
cách giữa lý thuyết và thực tế nhằm chuẩn bị đầy đủ kiến thức và hành trang vững
vàng cho tương lai sau này.
Qua quá trình tìm hiểu thực tế sinh viên đã lựa chọn đăng ký xin thực tập tại
Phòng nội vụ của UBND huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Đây là một phòng ban có
chức năng tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước các
lĩnh vực: tổ chức; biên chế các cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà nước; cải cách hành
chính; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ công chức viên chức nhà
nước; cán bộ công chức xã, thị trấn; hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà
nước, tôn giáo; thi đua khen thưởng.
Là một sinh viên đang học trong Khoa Quản lý lao động trường Đại học Lao
động Xã hội bản thân sinh viên nhận thấy đây là một môi trường tốt để em có thể học
hỏi kinh nghiệm trong quá trình thực tập thực tế.
Như chúng ta đã biết trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay việc xây dựng một
bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả là một điều rất cần thiết. Công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ công chức trong những năm qua đã trở thành mối quan tâm chung của
cán bộ công chức, giúp cán bộ công chức không ngừng hoàn thiện về phẩm chất đạo
đức, tư tưởng chính trị, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước. Là cơ quan đại diện của Nhà


nước về lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước, UBND huyện Kim Bôi rất chú trọng
về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức xã khối chính quyền tại huyện Kim
Bôi, tỉnh Hòa Bình. Tuy nhiên việc đào tạo, bồi dưỡng vẫn còn nhiều bất cập đòi hỏi
phải nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện, góp phần nâng cao công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức trên địa bàn huyện.
Vì vậy em đã chọn đề tài: “ Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức
cấp xã tại huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình” làm đề tài nghiên cứu chuyên sâu của
mình.
1


Nội dung: Báo cáo tốt nghiệp gồm 2 phần chính:
Phần 1: Khái quát chung về đơn vị thực tập và tổ chức công tác quản trị nhân lực
ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
Phần 2: Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã tại huyện Kim
Bôi, tỉnh Hòa Bình
Kết cấu Phần 2 bao gồm những nội dung chính sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức
cấp xã
Chương 2. Thực trạng công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã
tại huyện Kim Bôi.
Chương 3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo và bồi dưỡng
cán bộ công chức cấp xã trong địa bàn huyện Kim Bôi.
Để thực hiện được chuyên đề này em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
TS.Nguyễn Duy Phúc đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn và cho em những lời khuyên
quý báu trong quá trình thu thập và xử lý thông tin để hoàn thành tốt chuyên đề tốt
nghiệp của mình. Đồng thời gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Trưởng phòng, Phó trưởng
phòng cùng tập thể cán bộ đang công tác tại Phòng Nội vụ huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa
Bình đã tiếp nhận, giúp đỡ chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em được tiếp cận,
tìm hiểu thực tế tại địa phương về thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công

chức xã, thị trấn của huyện trong những năm qua để hoàn thành nội dung Chuyên đề
thực tập của mình.
Tuy nhiên do sự hiểu biết và kiến thức còn hạn chế nên bài báo cáo còn nhiều
thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các cô, chú,
anh, chị và các bạn sinh viên để bài viết hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !

2


PHẦN 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP & TỔ CHỨC CÔNG
TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC Ở Ở HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH.
1.1 Tổng quan về phòng Nội vụ huyện Kim Bôi.
1.1.1. Thông tin chung về đơn vị.
Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2013 cơ cấu tổ chức các cơ quan chuyên môn
khối hành chính thuộc UBND huyện Kim Bôi gồm có 18 phòng ban chuyên môn.
Mỗi phòng ban đều có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau. Trong đó phòng
Nội vụ là một cơ quan quan trọng có chức năng tham mưu giúp UBND huyện thực
hiện chức năng quản lý nhà nước tại các lĩnh vực như: tổ chức, biên chế các cơ quan
hành chính, sự nghiệp nhà nước, cải cách hành chính…
Địa chỉ: Thị trấn Bo, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Điện thoại: 02183.871694
1.1.2. Tóm lược quá trình hình thành và phát triển.
Năm 1959 huyện Kim Bôi được tách ra từ huyện Lương Sơn. Cùng với sự thành
lập đó Ban Tổ chức chính quyền (nay là Phòng Nội vụ) cũng được thành lập, giữ vai
trò là cơ quan chuyên môn giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước
về công tác tổ chức chính quyền và công tác khác trên địa bàn huyện theo quy định.
Đến năm 1987 Ban tổ chức chính quyền sáp nhập với hai ban là Ban Lao động,
Ban Thương binh xã hội thành Phòng Tổ chức- Lao động Thương binh Xã hội.
Năm 1990 phòng lại tách ra thành hai phòng đó là Phòng tổ chức và phòng Lao

động thương binh – Xã hội
Đến năm 1995 thì sáp nhập với phòng Lao động Xã hội thành phòng Tổ chứcLao động Xã hội sau đổi tên thành Phòng Nội vụ- Lao động Thương binh Xã hội.
Sau nhiều lần sáp nhập và chia tách theo quyết định của chủ tịch UBND tỉnh
năm 2000 phòng tách ra làm ba phòng Phòng Tổ chức, Phòng Lao động - Thương
binh Xã hội và phòng Bảo hiểm.
Đến năm 2008 thực hiện theo quy định của Nghị định 172/2004/NĐ-CP ngày 29
tháng 9 năm 2004 của chính phủ. Phòng Tổ chức được đổi tên thành Phòng Nội vụ
Từ tháng 6 năm 2008 đến nay thực hiện quy định của Nghị định số 14/2008/NĐCP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên
môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Thông tư 04/2008/TT BNV ngày 04 tháng 6 năm 2008 Thông tư Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Nội vụ thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Nội vụ thuộc
UBND cấp huyện. Phòng Nội vụ huyện Kim Bôi được thành lập.

3


1.1.3. Sơ đồ bộ máy tổ chức
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức Phòng Nội vụ huyện Kim Bôi
Trưởng phòng

Phó trưởng phòng

Chuyên

Chuyên

viên

viên

Phó trưởng phòng


Chuyên
viên

Chuyên
viên

Cán bộ
hợp
đồng

(Nguồn: Phòng nội vụ huyện Kim Bôi)
1.1.4. Đặc thù của đơn vị ảnh hưởng tới công tác quản trị nhân lực.
- Công tác chính quyền: Trong năm 2013 Phòng Nội vụ đã tham mưu cho UBND
huyện tổ chức tổng kết công tác xây dựng chính quyền cơ sở năm 2012 và hướng dẫn
các xã, thị trấn đăng ký chỉ tiêu chính quyền năm 2013, tổ chức khen thưởng cho 17
đơn vị chính quyền trong sạch, vững mạnh năm 2013, tham mưu cho UBND huyện
xây dựng và ban hành kế hoạch xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh
năm 2013 và tổ chức đôn đốc, kiểm tra các xã, thị trấn xây dựng kế hoạch sao cho cụ
thể, chi tiết và phù hợp với điều kiện thực tế của từng đơn vị.
- Công tác cải cách thủ tục hành chính và Văn thư lưu trữ: Tham mưu cho
UBND huyện xây dựng kế hoạch cải cách hành chính huyện Kim Bôi năm 2013; tổ
chức kiểm tra việc thực hiện Quy chế hoạt động và giải quyết thủ tục hành chính theo
cơ chế “Một cửa”, “một cửa liên thông”. Tham mưu cho UBND huyện ban hành và
Kế hoạch văn thư lưu trữ năm 2013 và đôn đốc các cơ quan đơn vị thực hiện.
- Công tác tổ chức cán bộ được Phòng thực hiện tốt trong năm Phòng Nội vụ đã
tham mưu cho UBND huyện thực hiện các kết luận của Ban thường vụ huyện uỷ về
luân chuyển, điều động công tác; tiếp nhận và điều động số cán bộ công chức đã được
tỉnh tuyển dụng về công tác tại UBND huyện; tuyển dụng 55 viên chức sự nghiệp
giáo dục; 72 giáo viên mầm non theo hướng dẫn của tỉnh. Phối hợp với phòng Giáo

dục & Đào tạo cân đối chỉ tiêu bổ sung giáo viên mầm non hợp đồng đóng BHXH
năm 2013 cho các trường mầm non trên địa bàn huyện.

4


Đăng ký quỹ tiền lương quý II, IV, duyệt quỹ tiền lương và thực hiện chế độ
nâng lương thường xuyên và trước hạn năm 2013 cho cán bộ công chức viên chức cơ
quan UBND huyện. Đối với công chức cấp xã, Phòng đã hướng dẫn xây dựng quỹ
tiền lương năm 2013, nâng lương chuyển ngạch cho cán bộ công chức các xã, thị trấn
năm 2013; tổng hợp và xét duyệt tại Sở Nội vụ. Tổ chức điều động, xét tuyển viên
chức của Trung tâm theo đúng quy định. Phối hợp với Thanh tra huyện triển khai Kê
khai tài sản năm 2013 và tổ chức tổng hợp bàn giao theo quy định.
- Công tác quản lý Nhà nước về Thanh niên và quản lý hội: Năm 2013, Phòng đã
tham mưu cho UBND huyện xây dựng báo cáo rà soát thực trạng số lượng, chất
lượng thanh niên trên đại bàn huyện tạo điều kiện để xây dựng chương trình phát triển
thanh niên của huyện giai đoạn 2012-2015. Công tác quản lý nhà nước về các hội trên
đại bàn huyện được thực hiện tương đối hiệu quả.
- Công tác Thi đua Khen thưởng - Tôn giáo: Công tác xây dựng các báo cáo tổng
kết, sơ kết công tác thi đua, khen thưởng cũng được phòng thực hiện đầy đủ ngoài ra
Phòng cũng hướng dẫn các tập thể, các cá nhân có thành tích hoàn thiện các thủ tục,
hồ sơ cần thiết đề nghị UBND tỉnh, chính phủ khen thưởng. Công tác quản lý nhà
nước về tôn giáo năm 2013 đạt được kết quả đáng kể
1.2 Thực trạng tổ chức công tác Quản trị nhân lực.
1.2.1 Bộ máy thực hiện nhiệm vụ chuyên trách công tác quản trị nhân lực.
1.2.1.1 Tên gọi: Phòng Nội vụ
Phòng Nội vụ huyện Kim Bôi là cơ quan được giao nhiệm vụ đảm nhiệm về công tác
quản trị nhân lực và thực hiện các nhiệm vụ khác mà cấp trên giao phó. Đây là cơ
quan làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm phát huy vai trò lãnh đạo
của tập thể UBND; đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân các thành viên liên quan.

1.2.1.2. Chức năng nhiệm vụ
Phòng Nội vụ huyện Kim Bôi là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện có
chức năng tham mưu giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước các
lĩnh vực; tổ chức biên chế các cơ quan hành chính sự nghiệp nhà nước, cải cách hành
chính, chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà
nước; cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu
trữ nhà nước; tôn giáo; thi đua - khen thưởng.
Phòng Nội vụ có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại
kho bạc Nhà nước để giao dịch chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công
tác của UBND, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn,
nghiệp vụ của Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình
Phòng Nội vụ huyện Kim Bôi là một trong những phòng ban chuyên trách có vai
trò quan trọng đối với sự hoạt động của huyện, đây là cơ quan được UBND huyện
giao phó nhiều nhiệm vụ quan trọng.
5


Phòng có nhiệm vụ trình UBND huyện ban hành quyết định chỉ thị; quy hoạch,
kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện
các nhiệm vụ thuộc lình vực quản lý nhà nước được giao.
Tham mưu giúp UBND quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức các
cơ quan chuyên môn huyện theo hướng dẫn của UBND tỉnh, phân bổ chỉ tiêu biên
chế hành chính, sự nghiệp hàng năm. Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng biên
chế hành chính sự nghiệp. Trình UBND huyện quyết định thành lập, sáp nhập, giải
thể các tổ chức sự nghiệp.
Giúp UBND huyện và các cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện việc bầu cử
đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân theo phân công của UBND huyện và
hướng dẫn của UBND tỉnh.
Thực hiện các thủ tục để Chủ tịch UBND huyện phê chuẩn các chức danh lãnh
đạo của UBND xã, thị trấn; giúp UBND huyện trình HĐND huyện thông qua trước

khi trình các cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Tham mưu giúp UBND huyện trong việc tuyển dụng sử dụng, điều động, bổ
nhiệm, bổ nhiệm lại, đánh giá, thực hiện chính sách, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên
môn nghiệp vụ và kiến thức quản lý đối với cán bộ công chức viên chức. Thực hiện
việc tuyển dụng, quản lý công chức xã, thị trấn và thực hiện chính sách đối với cán
bộ, công chức và cán bộ không chuyên trách xã, thị trấn theo phân cấp.
Giúp UBND huyện thực hiện quản lý nhà nước về tổ chức và hoạt động của hội
và tổ chức phi chính phủ trên địa bàn. Hướng dẫn kiểm tra các cơ quan, đơn vị trên
địa bàn cấp huyện chấp hành chế độ, quy định của pháp luật về công tác văn thư, lưu
trữ; hướng dẫn, kiểm tra chyên môn, nghiệp vụ về thu thập, bảo vệ, bảo quản và tổ
chức sử dụng tài liệu lưu trữ đối với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện và lưu trữ
huyện, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo và công tác tôn giáo trên địa bàn.
Chủ trì phối hợp với các cơ quan chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước về tôn giáo trên địa bàn theo phân cấp của UBND tỉnh và theo quy định của
pháp luật. Tham mưu đề xuất với UBND huyện tổ chức các phong trào thi đua và
triển khai thực hiện chính sách khen thưởng trên địa bàn huyện, xây dựng, quản lý và
sử dụng Quỹ thi đua, ken thưởng theo quy định của pháp luật.
1.2.1.3 Nguồn nhân lực của phòng Nội vụ huyện Kim Bôi năm 2013
Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2013 phòng Nội vụ huyện Kim Bôi có 8 người
bao gồm có 1 trưởng phòng, 2 phó trưởng phòng, 3 chuyên viên và 2 cán bộ hợp
đồng. Trong đó có 4 người là cán bộ nam giới, 4 người là cán bộ nữ. Các vị trí lãnh
đạo là 1trưởng phòng nữ, 1 phó trưởng phòng nữ và 1 phó trưởng phòng nam. Số cán
bộ nhân viên chuyên trách công tác quản trị nhân lực là 4 người chiếm 50 % số cán
bộ trong phòng như vậy chứng tỏ công tác quản trị nhân lực khá được quan tâm. Tuy
6


nhiên so với khối lượng công việc rất lớn của phòng thì số lượng cán bộ thực hiện
công tác quản trị như vậy là hơi ít khối lượng công việc của mỗi cán bộ là tương đối

nhiều.
Bảng 1.2: Bảng thông tin nhân lực phòng Nội vụ huyện Kim Bôi năm 2013

STT

Họ và tên

Tuổi

Giới
tính

Chức vụ

Trình độ

Kinh
nghiệm

1

Nguyễn Thị Khương

43

Nữ

Trưởng phòng

Đại học


20

2

Quách Anh Tuấn

43

Nam

P. trưởng phòng

Đại học

20

3

Vũ Thị Thủy

44

Nữ

P. trưởng phòng

Đại học

21


4

Nguyễn Mậu Thành

31

Nam

Chuyên viên

Đại học

9

5

Lê Thị Hải Yến

33

Nữ

Chuyên viên

Đại học

11

6


Nguyễn Thị Ngọc Ánh

34

Nữ

Chuyên viên

Đại học

12

7

Trần Thị Hà

30

Nam

Cán bộ hợp đồng

Đại học

6

8

Đinh Trọng Duy


31

Nam

Cán bộ hợp đồng

Đại học

6

(Nguồn: Phòng nội vụ huyện Kim Bôi)
Tất cả cán bộ trong phòng đều là trình độ Đại học. Đây là điều kiện quan trọng trong
việc tiếp thu các tiến bộ khoa học công nghệ, các kiến thức quản lý mới được dễ dàng
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công việc. Trưởng phòng và Phó trưởng
phòng đã từng đảm nhiệm ở các vị trí trưởng, phó ban, ngành trong UBND huyện,
như vậy cũng có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý, lãnh đạo, điều hành từ đó sử
dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của đơn vị.
Các cán bộ trong phòng đều là những người có kinh nghiệm trong xử lý công
việc với cán bộ trẻ nhất là có 6 năm kinh nghiệm cao nhất là 20 năm. Tuổi đời của các
cán bộ phân tán khá đồng đều và tương đối trẻ. Với tuổi đời như vậy sẽ có rất nhiều
lợi thế trong việc học tập nâng cao trình độ, năng động tiếp thu những phương pháp
mới trong công tác quản trị nhân lực. Tuy nhiên, các cán bộ trẻ lại có một số hạn chế
như chưa có nhiều kinh nghiệm trong công việc, chưa nhạy bén trong việc xử lý các
tình huống trong thực tế…
1.2.1.4 Năng lực cán bộ đảm nhiệm công tác Quản trị nhân lực.
Phòng Nội vụ đảm nhận một khối lượng công việc lớn vì vậy mỗi cán bộ trong
phòng đều được phân công chịu trách nhiệm từng lĩnh vực riêng. Cán bộ chuyên trách
công tác quản trị nhân lực trong phòng là 4 người. Điều này thể hiện công tác quản trị
nhân lực đã được phòng chú trọng và quan tâm.


7


Bảng 1.3: Bảng thông tin năng lực cán bộ chuyên trách công tác Quản trị nhân
lực Phòng Nội vụ năm 2013.

Stt

Họ và Tên

Chức danh

Trình
độ

Chuyên môn

Kinh
nghiệm

Đại học

Quản lý kinh tế

20

1

Nguyễn Thị Khương Trưởng phòng


2

Vũ Thị Thủy

Phó trưởng
phòng

Đại học

Quản lý kinh tế

21

3

Nguyễn Mậu Thành

Chuyên viên

Đại học

Quản trị nhân lực

9

4

Lê Thị Hải Yến


Chuyên viên

Đại học

Công tác hành
chính

11

( Nguồn: Phòng Nội vụ huyện Kim Bôi)
Cán bộ thực hiện công tác quản trị nhân lực của Phòng Nội vụ có trình độ
chuyên môn cao, đều có trình độ đại học, thâm niên công tác tương đối dài, đội ngũ
lao động trẻ, năng động trong công việc. Bên cạnh đó các cán bộ trong phòng không
ngừng học hỏi nâng cao trình độ về ngoại ngữ, tin học, lý luận chính trị, quản lý nhà
nước nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo trong công tác .
Các cán bộ chuyên trách công tác quản trị nhân lực gồm có trưởng phòng, phó
trưởng phòng những người có thâm niên công tác, đã từng công tác tại nhiều phòng
ban trong huyện nên nhiều kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực đây là một điều kiện khá
thuận lợi trong công tác quản trị nhân lực.
Nhận xét: Đội ngũ cán bộ chuyên trách đều là những người có trình độ chuyên môn
cao, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần cầu tiến cao, có khả năng đảm nhận các
nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên thâm niên của đội ngũ cán bộ ngắn nên kinh nghiệm
có lẽ còn chưa cao nhưng với tinh thần trách nhiệm cao, họ sẽ đạt đến những thành
công nhất định.
1.2.2 Thực trạng phân công công việc trong bộ phận chuyên trách công tác quản
trị nhân lực.
Hiện nay các nhân viên trong phòng nội vụ của huyện Kim Bôi đều được phân
công công việc theo đúng chuyên môn nhiệm vụ của mình trong đó các công việc
được phân công cho từng nhân viên cụ thể như sau:
Trưởng phòng Nguyễn Thị Khương: Có nhiệm vụ trình UBND cấp huyện ban

hành quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, chương
trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quản lý được giao. Tổ
chức, bộ máy, tham mưu giúp UBND cấp huyện trong việc tuyển dụng, sử dụng, điều
động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà
8


nước và cán bộ chuyên trách công chức xã, thị trấn. Quản lý tổ chức, biên chế, thực
hiện chế độ, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng
về chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý
của phòng Nội vụ theo quy định của pháp luật và theo phân cấp của UBND cấp
huyện.
Phó trưởng phòng Vũ Thị Thủy: Giúp trưởng phòng hướng dẫn, kiểm tra việc
quản lý, sử dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ chuyên trách, công chức, cán
bộ không chuyên trách xã, thị trấn. Đánh giá thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
về chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức quản lý đối với cán bộ chuyên trách, công
chức xã, thị trấn.
Chuyên viên Nguyễn Mậu Thành : Phụ trách về mảng công tác thi đua khen
thưởng, giúp việc cho Trưởng phòng, đề xuất tổ chức các phong trào thi đua và triển
khai thực hiện chính sách khen thưởng của Đảng và Nhà nước trên địa bàn huyện;
làm các nhiệm vụ của công tác khen thưởng cấp huyện, hướng dãn, kiểm tra, đôn đốc
việc thực hiện kế hoạch, nội dung thi đua, khen thưởng trên địa bàn huyện.
Giúp việc cho trưởng phòng xây dựng chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức
các cơ quan chuyên môn cấp huyện theo hướng dẫn theo hướng dẫn của UBND
huyện cấp tỉnh. Xây dựng đề án thành lập, sáp nhập, giải thể các tổ chức sự nghiệp
trình cấp có thẩm quyền quyết định. Phân bổ chỉ tiêu biên chế hành chính sự nghiệp
hàng năm. Hướng dẫn kiểm tra việc quản lý sử dụng biên chế hành chính sự nghiệp.
Chủ trì phối hợp với phòng Giáo dục & Đào tạo trong việc tuyển dụng, sử dụng,
điều động, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển đối với cán bộ quản lý và giáo viên.
Đánh giá và thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và

kiến thức quản lý đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước.
Chuyên viên Lê Thị Hải Yến: Phụ trách về tổ chức, bộ máy ( giúp việc cho
trưởng phòng trong việc tuyển dụng, sử dụng, điều động, bổ nhiệm, luân chuyển đối
với cán bộ chuyên trách, công chức xã, thị trấn). Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử
dụng và thực hiện chính sách đối với cán bộ chuyên trách, công chức xã, thị trấn.
Đánh giá thực hiện chính sách, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và
kiến thức quản lý đối với cán bộ chuyên trách, công chức xã, thị trấn.
Nhận xét chung: Như đã nói ở phần trên công tác quản trị nhân lực của phòng
hiện nay khá được quan tâm, số lượng công việc phân công cho từng cán bộ được
quy định một cách cụ thể chi tiết. Tuy nhiên với khối lượng công việc khá lớn mà số
lượng cán bộ chuyên trách vẫn còn ít một số cán bộ chưa được đào tạo đúng chuyên
môn nhiệm vụ nên quá trình làm việc vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
1.3. Thực trạng hệ thống chính sách nhân sự của đơn vị
1.3.1 Chính sách tuyển dụng nhân lực
1.3.1.1. Tổ chức bộ máy.
9


Cơ cấu tổ chức quản lý của Phòng Nội vụ được thiết lập theo mô hình kiểu trực
tuyến, trưởng phòng là người đứng đầu có quyết định cao nhất, thứ hai là hai phó
trưởng phòng và các chuyên viên. Phòng có 3 chuyên viên đều chịu sự chỉ đạo trực
tiếp của trưởng phòng, phó trưởng phòng về nhiệm vụ được phân công. Giữa trưởng
phòng và các nhân viên trong phòng đều có mối liên hệ mật thiết với nhau, trên cơ sở
thực hiện những nhiệm vụ cụ thể nhằm hoàn thành mục đích chung đã đề ra. Để đảm
bảo cho bộ máy của Phòng hoạt động có khoa học và hiệu quả. Phòng Nội vụ huyện
Kim Bôi đã thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo chủ chốt của phòng. Kết
quả bỏ phiếu giới thiệu tín nhiệm cán bộ lãnh đạo phòng đã được Huyện uỷ phê duyệt
đối với 3 đồng chí cho chức danh Trưởng phòng, Phó trưởng phòng.
1.3.1.2 Phân tích công việc, định mức lao động.
Hoạt động phân tích công việc đã được Phòng tiến hành thể hiện dưới các bảng

mô tả công việc xây dựng chi tiết chức năng, nhiệm vụ cụ thể của phòng và cho từng
cán bộ. Tiến hành thực hiện giao chỉ tiêu biên chế cán bộ năm 2013 cho cơ quan Văn
phòng huyện xây dựng cơ cấu ngạch công chức, ba tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ
đối với từng chức danh để làm cơ sở cho công tác tuyển dụng, đào tạo bồi dưỡng và
bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức do phòng quản lý. Cán bộ, công chức của
Phòng nội vụ huyện Kim Bôi đều có chức danh, nhiệm vụ cụ thể, có bảng tên đặt tại
bàn làm việc và đeo thẻ công chức theo quy định. Phòng thực hiện chế độ làm việc và
nghỉ ngơi theo quy định của Nhà nước.
Như vậy trong công tác Tổ chức bộ máy đã được Phòng quan tâm chú trọng tuy
nhiên vẫn còn nhiều hạn chế và chưa khoa học, hợp lý.
1.3.1.3. Hoạch định.
Hoạch định nhân lực là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nguồn nhân lực,
đưa ra các chính sách và thực hiện các chương trình, hoạt động bảo đảm cho tổ chức
có đủ nhân lực với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc có năng
suất, chất lượng và hiệu quả cao.
Hàng tuần, tháng, quý phòng đã xây dựng kế hoạch làm việc và phân công
nhiệm vụ đến từng cán bộ. Trưởng phòng đề ra mục tiêu, phương hướng công tác cho
tuần và tháng tiếp theo và phương thức để đạt mục tiêu đó, trên cơ sở lấy ý kiến đóng
góp tham mưu của toàn bộ nhân viên trong Phòng đồng thời phổ biến các chủ trương,
chính sách, chế độ mới của Nhà nước và nhiệm vụ mới phát sinh ở địa phương. Từ đó
các lãnh đạo cũng như cán bộ chuyên viên phòng đã xác định được nhiệm vụ mà
mình phải hoàn thành trong tuần, trong tháng đó để phòng hoàn thành tốt công việc
cấp trên giao. Mỗi tháng phòng tổ chức hội ý lãnh đạo và họp phòng 1 lần để kiểm
điểm, đánh giá những việc đã thực hiện trong tháng và xây dựng phương hướng hoạt
động cho tháng tiếp theo. Công tác hoạch định của phòng đã được chú trọng và quan
tâm vì vậy mà công việc của phòng diễn ra có trọng tâm thúc đẩy khả năng hoàn
thành công việc.
10



1.3.1.4. Tuyển mộ, tuyển chọn.
Thu hút nhân lực là một trong những khâu quan trọng trong quá trình quản trị
nhân lực nhằm tuyển dụng những người có trình độ đáp ứng được các yêu cầu đặt ra
từ lực lượng lao động xã hội vào làm việc trong một cơ quan, tổ chức. Phòng nội vụ
có chức năng tham mưu giúp UBND huyện trong việc tuyển dụng đối với cán bộ
công chức, viên chức trong toàn huyện. Để thực hiện mục tiêu thu hút nhân lực đáp
ứng đầy đủ yêu cầu cho công việc theo chỉ đạo của UBND huyện, phòng Nội vụ đã
tiến hành tuyển mộ và tuyển dụng cán bộ theo đúng qui định của nhà nước dựa trên
căn cứ vào nhu cầu công việc, kế hoạch biên chế được duyệt và nguồn tài chính của
đơn vị từ đó xây dựng kế hoạch tuyển dụng và quyết định hình thức thi tuyển hoặc xét
tuyển.
- Về tuyển mộ nhân lực:
Tuyển mộ là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao
động bên ngoài và bên trong tổ chức để lựa chọn lao động cho các vị trí làm việc còn
trống của tổ chức. Tuyển mộ giúp tổ chức khai thác được các nguồn tuyển mộ, qua đó
tuyển dụng được người lao động đáp ứng với các yêu cầu do tổ chức đặt ra; giúp
những lao động giỏi đến với tổ chức; giúp tổ chức tiết kiệm được nguồn lực và nâng
cao hiệu quả hoạt động.
Quá trình tuyển mộ của phòng cũng được tiến hành theo đúng qui định của nhà
nước trước 30 ngày tổ chức tuyển dụng, phòng nội vụ phải thông báo công khai về
tiêu chuẩn, điều kiện, số lượng, chức danh cần tuyển, nội dung của hồ sơ dự tuyển
trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương để mọi người biết và đăng ký
- Về tuyển chọn nhân lực:
Tuyển chọn nhân lực về thực chất là việc lựa chọn ứng viên cho các vị trí làm
việc trống của tổ chức nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra của tổ chức đó cho các chức danh
công việc cần tuyển dụng. Mục đích của tuyển chọn là tuyển được người lao động có
kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm phù hợp với yêu cầu của chức danh công việc cần
tuyển, có khả năng hòa nhập nhanh với công việc và thực hiện nhiệm vụ được giao.
Hằng năm phòng Nội vụ tổ chức các đợt thi công chức, viên chức trong toàn
huyện để từ đó tìm ra được những nhân viên đáp ứng đủ tiêu chuẩn làm việc trong bộ

máy nhà nước.
Quá trình tuyển chọn chuyên viên cho phòng được thực hiện theo đúng quy trình
tuyển chọn, bao gồm các bước: Tiếp nhận và sàng lọc hồ sơ; Phỏng vấn sơ bộ; Kiểm
tra, trắc nghiệm; Phỏng vấn tuyển chọn; Khám sức khỏe; Phỏng vấn của lãnh đạo;
Kiểm tra thông tin; Tham quan, giới thiệu công việc; Ra quyết định tuyển chọn..

11


1.3.2 Chính sách đào tạo phát triển nhân lực
Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động tiếp thu và rèn luyện
các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
của mình.
Phát triển là hoạt động học tập nhằm mở ra cho người lao động những công việc
mới dựa trên định hướng phát triển trong tương lai của tổ chức
Đào tạo và phát triển nhân lực là hoạt động cần thiết để duy trì và nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện để tổ chức duy trì và liên tục phát
triển. Mục tiêu của đào tạo và phát triển nhân lực là nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ và thái độ lao động của người lao động, qua đó giúp tổ chức sử dụng có
hiệu quả tối đa nguồn nhân lực hiện có nhằm thực hiện tót các mực tiêu được đặt ra
trong hiện tại cũng như tương lai của tổ chức.
Phòng Nội vụ đã hướng dẫn rà soát, thống kê chất lượng đội ngũ cán bộ công
chức theo từng lĩnh vực, chuyên môn theo hàng năm. Ban tổ chức Huyện ủy và phòng
Nội vụ được sự ủy nhiệm của thường trực Huyện ủy và thường trực UBND huyện ban
hành các văn bản đối với các loại hình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức các cấp
đến lãnh đạo cơ quan, cấp ủy, chi bộ, đảng bộ cơ sở. Trên cơ sở được sự đồng ý của
đơn vị cơ sở, Ban tổ chức Huyện ủy và Phòng Nội vụ thẩm định về tiêu chuẩn, điều
kiện, nhu cầu đào tạo sau đó tổng hợp trình Thường trực Huyện ủy, Thường trực
UBND huyện xem xét quyết định. Sau khi được thường trực UBND huyện, Thường
trực Huyện ủy đồng ý. Ban tổ chức và Phòng Nội vụ thông báo đến các đơn vị có cử

cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng.
Nhận thấy rõ tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng Phòng đã thường
xuyên quan tâm đến chất lượng đội ngũ cán bộ công chức trong toàn huyện đặc biệt là
năng lực của cán bộ công chức xã, thị trấn để quá trình thực hiện công việc được tốt
hơn.
1.3.3 Chính sách thù lao lao động
1.3.3.1. Thù lao.
Phòng Nội vụ là cơ quan hành chính sự nghiệp, nguồn tiền lương dùng để chi trả
cho cán bộ, nhân viên của phòng được lấy từ nguồn ngân sách nhà nước thông qua
phòng Tài chính của huyện. Hiện nay các chế độ về lương, thưởng, phụ cấp, phúc lợi
cho các cán bộ phục vụ trong huyện đều được tính theo đúng qui định của nhà nước
về mức lương cho công chức, viên chức nhà nước. Cán bộ công chức thuộc chỉ tiêu
biên chế được xếp theo bảng lương hành chính, ban hành kèm theo Nghị định số
204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính Phủ, hưởng lương theo thang bảng
lương do Nhà nước quy định đối với cán bộ, công chức, viên chức theo Thông tư liên
tịch số 01/2005/TTLT-BNV-BTC ngày 05/01/2005 của liên bộ Bộ Nội vụ, Bộ Tài

12


chính. Tuy nhiên điều này như vậy hơi cứng nhắc không khuyến khích được tinh thần
làm việc cho cán bộ công nhân viên.
1.3.3.2. Chế độ khen thưởng.
Áp dụng theo quy định của nhà nước về thi đua khen thưởng, hàng năm xét cán
bộ nhân viên làm viêc tích cực đạt kết quả tốt, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ
được giao, có hình thức khen thưởng xứng đáng.
Khen thưởng về việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chuyên môn hàng năm (Bằng
khen UBND tỉnh trở lên). Chiến sỹ thi đua cấp tỉnh (5 năm 1 lần). Chiến sỹ thi đua cơ
sở (xét hàng năm). Giấy khen của Giám đốc Sở (xét hàng năm)
1.3.3.3 Công tác phúc lợi.

UBND huyện luôn chú trọng tới công tác phúc lợi cho cán bộ công nhân viên
trong cơ quan luôn đảm bảo cho các cán bộ làm việc trong cơ quan luôn được hưởng
đầy đủ chế độ bảo hiểm xã hội. Ngoài ra UBND huyện cũng đã đầu tư xây dựng khu
vui chơi, giải trí trong khuôn viên cơ quan như: sân cầu lông, bóng bàn…Nhân viên
của phòng có thể giải trí tại đây, vào các ngày lễ như: ngày 8/3, 26/3… phòng tạo
điều kiện và khuyến khích các cán bộ, nhân viên tham gia các giải thi đấu cầu lông,
liên hoan văn nghệ toàn huyện. Bên cạnh đó hàng năm phòng tổ chức đi tham quan
du lịch đây là dịp để mọi người hiểu nhau và hiệp tác trong công việc tốt hơn.
1.3.4 Quản lý AT-VSLĐ tại nơi làm việc
Trong những năm qua công tác bảo hộ lao động luôn được nhà nước ta chú trọng
và quan tâm với mục đích chủ yếu là đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, chăm lo cải
thiện điều kiện lao động, phòng chống tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, bảo vệ
tính mạng và sức khỏe cho người lao động.
Là một đơn vị cơ quan nhà nước công việc chủ yếu là làm việc trong văn phòng
nên phòng không có bộ phận chuyên trách về lĩnh vực này. Tuy nhiên không vì thế
mà công tác bảo hộ lao động không được chú trọng. Ban lãnh đạo luôn chú trọng việc
bố trí phòng làm việc sao cho hợp lý như sắp xếp vị trí bàn làm việc, bàn uống
nước… một cách phù hợp và thuận tiện nhất. Hệ thống ánh sáng, thông gió cũng được
chú ý và trang bị đầy đủ nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho nhân viên trong phòng làm
việc hiệu quả. Ngoài ra, tại phòng làm việc cũng được trang bị bình chữa cháy nhân
viên của phòng cũng được tham gia các buổi huấn luyện về công tác phòng cháy chữa
cháy theo kế hoạch của Ủy ban nhân dân huyện.
1.3.5 Quan hệ lao động trong tổ chức.
Công tác xây dựng cơ chế đối thoại trong tổ chức hiện nay cũng được ban lãnh
đạo khá quan tâm. Cơ chế đối thoại trong cơ quan rất phong phú với nhiều hình thức
như đối thoại trực tiếp hay đối thoại gián tiếp cụ thể như: hòm thư góp ý, họp lấy ý
kiến nhân viên… Định kì cuối tuần, cuối tháng, cuối quí hay cuối năm ban lãnh đạo
thường tiến hành các buổi họp mặt gặp gỡ với các nhân viên để họ có thể hiểu nhau
13



hơn giải quyết các nhu cầu khúc mắc của nhân viên tạo điều kiện thuận lợi để hoàn
thành tốt công việc được giao.
Hiện nay cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin phòng đã tiến hành làm
hòm thư góp ý qua mạng việc này đã giúp cho các nhân viên trong cơ quan tiếp xúc
nhiều hơn với ban lãnh đạo và cũng giúp cấp trên hiểu rõ hơn tâm tư nguyện vọng của
các nhân viên cấp dưới.
Tuy nhiên việc tiến hành xây dựng cơ chế đối thoại bằng hòm thư góp ý hiện nay
vẫn chỉ mang tính hình thức chưa mang lại hiệu quả thực sự của nó. Việc họp bàn
định lỳ nhắc nhở và lấy ý kiến nhân viên trong phòng còn chưa được hiệu quả chủ
yếu là lãnh đạo nhắc nhở, việc bày tỏ ý kiến của nhân viên vẫn còn hạn ché.
1.4 Định hướng phát triển của đơn vị và thách thức trong công tác quản trị nhân
lực của phòng nội vụ huyện Kim Bôi
1.4.1. Định hướng phát triển của Phòng Nội vụ huyện Kim Bôi
Trong thời gian tới Phòng Nội vụ huyện Kim Bôi cần tập trung thực hiện có hiệu
quả một số nhiệm vụ sau:
Tham mưu cho UBND tổ chức Hội nghị tổng kết công tác chính quyền trong
sạch vững mạnh năm 2014, khen thưởng đơn vị chính quyền trong sạch năm 2014,
Xây dựng Kế hoạch xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch, vững mạnh năm 2014 và
đôn đốc các xã, thị trấn thực hiện.
Tham mưu cho UBND huyện xây dựng và đăng ký các chỉ tiêu tuyển dụng công
chức hành chính năm 2014.
Phối hợp với Phòng Giáo dục & Đào tạo trong công tác điều động, luân chuyển
cán bộ, giáo viên cho năm học 2014-2015.
Thực hiện đăng ký quỹ tiền lương quý II, IV nâng lương, chuyển ngạch cho cán
bộ công chức cơ quan Ủy ban nhân dân huyện, duyệt quỹ tiền lương năm 2014, duyệt
nâng lương chuyển ngạch cho cán bộ công chức cấp xã theo lịch của Sở Nội vụ.
Tổng hợp hồ sơ đề nghị UBND tỉnh khen thưởng các tập thể nhân cá thành tích
xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ năm 2014; hướng dẫn các cơ quan đơn vị, các xã,
thị trấn đăng ký, ký giao ước thi đua năm 2014, khen thưởng kịp thời những gương

người tốt, việc tốt trong phong trào thi đua và nhân rộng điển hình tiên tiến; Phát
động các phong trào thi đua chuyên đề, đột xuất, ngắn hạn, dài hạn, nhằm tập trung
giải quyết những nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất và những vấn đề xã hội quan tâm;
Thực hiện tốt các chính sách về thi đua khen thưởng theo Nghị định 42/2010/NĐ-CP
ngày 15/4/2010 của Chính Phủ.
Thực hiện công việc chuyên môn theo Quy định.

14


1.4.2. Thách thức trong công tác Quản trị nhân lực ở Phòng Nội vụ huyện Kim Bôi
Nhận thức vai trò quan trọng của công tác quản trị nhân lực Phòng Nội vụ đã có
những định hướng như sau:
Trong những năm tới phòng Nội vụ và trưởng phòng có nhiệm vụ tham mưu
giúp Uỷ ban nhân dân huyện: Tiến hành tổng kết công tác xây dựng chính quyền
trong sạch vững mạnh năm 2012 rút ra những kinh nghiệm và đề ra phương hướng
xây dựng chính quyền cơ sở trong sạch vững mạnh trong năm tới, khen thưởng biểu
dương những đơn vị, cá nhân có thành tích thi đua tốt.
Tiến hành đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ công chức cấp xã,
huyện, thị trấn. Cố gắng thực hiện tốt các mục tiêu nhiệm vụ cấp trên giao phó.Thực
hiện việc tuyển dụng, quản lý cán bộ, công chức theo quy định của Luật cán bộ, công
chức, Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn liên quan khi có hiệu lực từ năm
2010.
Tổ chức, hướng dẫn các cơ quan đơn vị thuộc UBND huyện thực hiện tốt công
tác thi đua - khen thưởng trên địa bàn huyện nhằm khuyến khích, động viên kịp thời
tổ chức, cá nhân lập thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua yêu nước theo
định kỳ trong thời gian tới.
Tổ chức tốt việc thực hiện củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy theo quy định của
pháp luật và hướng dẫn của cơ quan chuyên môn cấp trên. Đào tạo, bồi dưỡng bảo
đảm trang bị đủ kiến thức quy định theo tiêu chuẩn cho công chức lãnh đạo, quản lý

và công chức các ngạch hành chính.
Cán bộ công chức được trang bị đầy đủ kỹ năng nghiệp vụ theo yêu cầu công vụ
và có khả năng hoàn thành có chất lượng nhiệm vụ được giao bảo đảm tổ chức thực
hiện thành công các mục tiêu phát triển của huyện. Công chức thừa hành công vụ phải
được bồi dưỡng kỹ năng quản lý hiện đại, bảo đảm có đủ năng lực tổ chức thực thi
hiệu quả nhiệm vụ trong bối cảnh mới.
Thực hiện việc tuyển dụng, quản lý cán bộ, công chức theo quy định của Luật
cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các văn bản hướng dẫn liên quan khi có hiệu
lực từ năm 2010.
Tổ chức, hướng dẫn các cơ quan đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân huyện thực hiện
tốt công tác thi đua - khen thưởng trên địa bàn huyện nhằm khuyến khích, động viên
kịp thời tổ chức, cá nhân lập thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua yêu nước
theo định kỳ trong thời gian tới.

15


PHẦN 2: CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC
CẤP XÃ TẠI HUYỆN KIM BÔI TỈNH HÒA BÌNH
Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức cấp
xã.
1.1 Các khái niệm có liên quan.
1.1.1 Cán bộ công chức.
Theo quy định của Luật cán bộ công chức ban hành ngày 13/11/2008, chính thức có
hiệu lực từ ngày 01/01/2010 và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm
2009 của Chính phủ đã quy định một số điều về cán bộ, công chức như sau:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ,
chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây
gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung

là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính
trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội
nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng;
trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan
chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là
đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì
lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
pháp luật.
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam,
được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy
ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội;
công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên
môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước. Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây :
- Bí thư, phó bí thư đảng uỷ;
- Chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân;
- Chủ tịch, phó chủ tịch uỷ ban nhân dân;
- Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh;
- Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam;
- Chủ tịch hội đồng nhân dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường thị trấn có hoạt
động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có Tổ chức hội nông dân Việt Nam ).
16


- Chủ tịch hội cựu chiến binh Việt Nam.

Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh
chuyên môn, nghiệp vụ thuộc uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước. Công chức cấp xã có các chức danh sau đây :
- Trưởng công an;
- Chỉ huy trưởng quân sự;
- Văn phòng – thống kê;
- Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường ( đối với phường, thị trấn) hoặc địa
chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường ( đối với xã);
- Tài chính – kế toán;
- Tư pháp – hộ tịch;
- Văn hoá – xã hội.
1.1.2 Đào tạo, bồi dưỡng
Đào tạo là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động tiếp thu và rèn luyện
các kỹ năng cần thiết để thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
của mình.
Bồi dưỡng là quá trình trang bị cập nhật những kiến thức mới, bổ sung những
kiến thức còn thiếu, lạc hậu để nâng cao trình độ năng lực phẩm chất cho người được
bồi dưỡng. Đồng thời củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kĩ
năng chuyên môn nghề nghiệp để hoạt động có hiệu quả hơn
1.2 Mục tiêu và nguyên tắc của công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức.
1.2.1 Mục tiêu của công tác đào tạo.
Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước thành thạo về chuyên môn, nghiệp
vụ, tận tụy với công vụ, có trình độ quản lý tốt, đáp ứng yêu cầu của việc kiện toàn và
nâng cao hiệu quả của bộ máy quản ý nhà nước. Nhằm làm cho cán bộ công chức đạt
đủ các tiêu chuẩn quy định đối với từng ngạch công chức.
Trang bị những kiến thức, kĩ năng, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ,
công chức góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ công chức chuyên nghiệp, có đủ năng
lực xây dựng một nền hành chính tiên tiến hiện đại.
Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức vững mạnh, có đủ năng lực tổ chức, công
tâm với nhiệm vụ, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, tăng cường mối quan hệ

giữa chính quyền với nhân dân nâng cao trách nhiệm công tác, ý thức tổ chức kỉ luật
và đạo đức công vụ của cán bộ công chức.
1.2.2 Nguyên tắc của công tác đào tạo.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phải tuân theo quy định đối với từng
ngạch công chức Nhà nước, từng chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý huyện trong
từng thời kì.

17


Đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào vị trí việc làm, tiêu chuẩn của ngạch công
chức, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và nhu cầu xây dựng, phát triển nguồn
nhân lực của cơ quan, đơn vị.
Bảo đảm tính tự chủ của cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng công chức trong hoạt
động đào tạo, bồi dưỡng.
Kết hợp cơ chế phân cấp và cơ chế cạnh tranh trong tổ chức đào tạo, bồi dưỡng.
Đề cao vai trò tự học và quyền của công chức trong việc lựa chọn chương trình
bồi dưỡng theo vị trí việc làm.
Bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả.
Ngày nay việc nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, khắc phục những
yếu kém trong trình độ chuyên môn, để từ đó giúp mỗi cán bộ công chức thực hiện tốt
nhiệm vụ được giao. Tập trung trang bị, bổ sung những kiến thức, kĩ năng cơ bản về
quản lý hành chính nhà nước.
Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải phù hợp với từng đối tượng cụ
thể, phù hợp với từng chức danh nhiệm vụ, và tiêu chuẩn quy định về trình độ quản lý
nhà nước. Nội dung phải thiết thực gắn với rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ hành chính và
xử lý tình huống mà cán bộ công chức phải thực hiện trong quá trình thực hiện công
vụ.
1.3 Nội dung của công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức.
Căn cứ vào hệ thống các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành về công tác

đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức mang tính hướng dẫn, chỉ đạo cho các
cơ quan nhà nước, các địa phương, thực hiện lựa chọn đúng đối tượng đưa đi đào tạo.
Vì vậy chúng ta có thể xác định rõ đối tượng tham gia đào tạo, bồi dưỡng.
Tổ chức đào tạo tiền công vụ cho công chức dự bị. Công chức trong thời gian tập
sự phải được đào tạo trang bị kiến thức về nền hành chính nhà nước, pháp luật, kỹ
năng hoạt động công vụ. Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng trang bị kỹ năng lãnh đạo, quản
lý trước khi đề bạt, bổ nhiệm.
Cán bộ làm công tác lãnh đạo, trưởng, phó, các phòng ban, công chức, viên chức
làm công tác chuyên môn tại các đơn vị hành chính sự nghiệp của nhà nước. Cán bộ
không chuyên trách cấp xã, cán bộ thôn, bản và tổ dân phố. Công chức làm việc tại
đơn vị hành chính sự nghiệp của nhà nước đang trong thời gian tập sự.
Để vấn đề nghiên cứu được tập trung em chỉ tập trung nghiên cứu vào đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã, thị trấn trên địa bàn huyện Kim Bôi.
1.3.1 Xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo
1.3.1.1 Nội dung đào tạo
Theo Nghị định số:18/2010/NĐ-CP của chính phủ quy định đào tạo bồi dưỡng cán bộ
công chức gồm những nội dung sau đây:
+ Đào tạo lý luận chính trị.

18


+ Đào tạo kiến thức pháp luật; kiến thức, kĩ năng quản lý nhà nước và kiến thức
quản lý chuyên ngành.
+ Đào tạo kiến thức, kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ.
+ Đào tạo ngoại ngữ, tin học, tiếng dân tộc.
Các nội dung đào tạo, bồi dưỡng này được xây dựng và chuyển tải qua hệ thống
các giáo trình, tài liệu học tập gồm những kiến thức cơ bản, quan trọng nhằm giúp
người học lĩnh hội các tri thức một cách tốt nhất để phục vụ cho công việc của họ.
Về lý luận chính trị: Cán bộ công chức được trang bị các kiến thức về chủ

trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước nhằm đảm bảo xây dựng đội ngũ
cán bộ công chức nhà nước có lập trường chính trị vững vàng, thái độ chính trị đúng
đắn, phẩm chất đạo đức tốt. Tổ chức phổ biến các văn kiện, nghị quyết của Đảng, bồi
dưỡng cập nhật, nâng cao trình độ lý luận theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
Về kiến thức pháp luật; kiến thức, kĩ năng quản lý nhà nước và kiến thức quản lý
chuyên ngành: Cán bộ công chức được cung cấp các thông tin, văn bản pháp luật mới
để hiểu, nắm bắt, tuyên truyền và thực hiện tốt các quy định của pháp luật; các kiến
thức về quản lý nhà nước như: tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, bộ máy hành chính nhà nước, pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa,
công vụ, công chức và viên chức, cải cách hành chính, quy chế làm việc của cơ quan
nhà nước, bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng quản lý chuyên ngành và vị trí việc làm theo
chế độ bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu hằng năm, bồi dưỡng văn hóa công sở …Những
nội dung đào tạo, bồi dưỡng đó nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ công chức vững
mạnh, theo kịp những thách thức mà nền kinh tế thị trường đặt ra.
Về kiến thức kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ: Đây là một trong nội dung đào tạo,
bồi dưỡng vô cùng quan trọng, không thể thiếu. Bởi nó quyết định đến chất lượng,
hiệu quả công việc. Do đó, tùy từng vị trí công việc, chức danh cụ thể mà xây dựng
nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp, nhằm không ngừng nâng cao
trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức.
Về kiến thức về tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc: Từ xu thế hội nhập, toàn cầu
hóa và mục tiêu xây dựng một nền hành chính hiện đại vì vậy các kiến thức, kĩ năng
về ngoại ngữ, tin học, ngày càng trở nên quan trọng. Đặc biệt đối với cán bộ công
chức làm công tác quan hệ quốc tế. Kiến thức và tiếng dân tộc cũng rất là quan trọng
đối với các cán bộ công chức làm việc tại các vùng dân tộc thiểu số. Ngoài kiến thức
kĩ năng về tin học, ngoại ngữ thì cán bộ công chức cần trang bị cho mình rất nhiều
những kĩ năng khác như: kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng quản lý hồ sơ, kĩ năng
thuyết trình, kĩ năng soạn thảo văn bản… Đó chính là các công cụ đắc lực giúp đội
ngũ cán bộ công chức thi hành tốt nhiệm vụ của mình.
1.3.1.2 Phương pháp và hình thức đào tạo bồi dưỡng.
Đào tạo bồi dưỡng bằng phương pháp tích cực, phát huy tính tự giác, chủ động

và tư duy sáng tạo của người học, tăng cường trao đổi thông tin, kiến thức và kinh
nghiệm giữa giảng viên với học viên và giữa các học viên.
19


Theo các quy định hiện hành của Nhà nước hiện nay thì có 4 chế độ đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ công chức chính là: Hướng dẫn tập sự đối với công chức trong thời
gian tập sự. Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức. Đào tạo bồi dưỡng theo tiêu
chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý. Bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu kiến thức, kỹ năng
chuyên ngành hàng năm (thời gian thực hiện là 01 tuần/01 năm; một tuần được tính
bằng 05 ngày học, một ngày học 08 tiết).
Các chế độ đào tạo này được tổ chức theo các hình thức dưới đây, cụ thể là:
+ Tập trung
+ Vừa làm vừa học
+ Bán tập trung
+ Đào tạo từ xa
1.3.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức.
Công tác đào tạo nhân lực chịu sự tác động của nhiều yếu tố. Các yếu tố có thể từ con
người, thị trường lao động, từ các mục tiêu hoạt động của tổ chức, triết lí quản lý của
các nhà quản lý…Cụ thể như:
- Thị trường lao động: Thị trường lao động là một trong những yếu tố giúp cung
ứng nhân lực cho các tổ chức, doanh nghiệp. Nếu thị trường lao động phát triển và
đảm bảo cung ứng đủ nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng thì sẽ góp phần
giảm gánh nặng cho doanh nghiệp và trong công tác đào tạo. Ngược lại nếu thị trường
lao động không đảm bảo cung ứng về số lượng và chất lượng các doanh nghiệp lại tốn
nhiều chi phí đào tạo để phù hợp với yêu cầu công việc.
- Quy định của pháp luật Nhà nước, sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa
phương, cơ sở trong công tác đào tạo, bồi dưỡng: Hiện nay nhà nước đã đặt ra quy
định liên quan đến công tác đào tạo của cán bộ, công chức cấp xã nói riêng và cán bộ,
công chức nhà nước nói chung để từ đó các cơ quan, tổ chức đối chiếu làm căn cứ

thực hiện công tác đào tạo của mình. Sự quan tâm trong lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy
phải thể hiện bằng chương trình, kế hoạch hành động, nghị quyết chuyên đề về công
tác đào tạo, bồi dưỡng; tổ chức triển khai thực hiện, trong đó có sự phân công, phân
nhiệm rõ ràng; thường xuyên theo dõi, giám sát, kiểm tra, đồng thời có những sự điều
chỉnh khi cần thiết. Trong phạm vi cơ quan, đơn vị, vai trò của cấp ủy, thủ trưởng đơn
vị thể hiện từ công tác quy hoạch cán bộ, xem xét nhu cầu, cử cán bộ công chức đi
đào tạo, bồi dưỡng các khóa thích hợp đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ,
công chức dành kinh phí và thời gian cần thiết cho quá trình học tập.
- Khả năng tài chính: Kinh phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng do ngân sách
Nhà nước cấp, được phân bổ cho các cấp chính quyền, các bộ, ngành, địa phương và
tiếp tục được phân bổ đến các cơ quan, đơn vị trong hệ thống hành chính nhà nước.
Cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng được hưởng nguyên lương. Như
vậy, Nhà nước bao cấp toàn bộ kinh phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức. Đây là sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi
dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
- Trình độ cán bộ, công chức địa phương: Một đội ngũ cán bộ, công chức có
trình độ cao, đầy đủ yêu cầu về lý luận chính trị thì sẽ giảm bớt được gánh nặng cho
20


công tác đào tạo. Nếu một đội ngũ cán bộ còn yếu kém, thiếu sót về nhiều mặt thì sẽ
rất cần có nhiều chương trình đào tạo để nhằm bồi dưỡng nâng cao hiệu quả khả năng
làm việc cho họ.
- Chiến lược phát triển đội ngũ của địa phương: Vấn đề sử dụng cán bộ cũng là
một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đào tạo. Trong quá trình sử dụng cán
bộ, công chức có thể được luân chuyển, thuyên chuyển tới nhiều vị trí công việc khác
nhau điều đó yêu cầu phải đào tạo lại các cán bộ đó sao cho phù hợp với công việc
được giao. Tuy nhiên đây cũng có thể là một hình thức đào tạo nhằm giúp cho các cán
bộ có thể học tập ngay trong quá trình làm việc để trau dồi kinh nghiệm.
- Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội: mỗi địa phương với điều kiện tự

nhiên và kinh tế xã hội khác nhau sẽ có yêu cầu khác nhau đối với cán bộ, công chức
cấp cơ sở. Vì vậy tương ứng với điều kiện cụ thể của địa phương mình ban lãnh đạo
sẽ có các chính sách đào tạo phù hợp để đáp ứng được yêu cầu đó.
1.3.1.6. Quy trình đào tạo
Sơ đồ 2.1: Quy trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức
Xác định nhu cầu đào tạo, kế hoạch đào tạo

Tổ chức quá trình đào tạo

Đánh giá kết quả các lớp đào tạo, chương trình đào tạo

Đánh giá hiệu quả đào tạo
(Nguồn: TS. Lê Thanh Hà, 2009, Quản trị nhân lực II,)
Với sơ đồ quy trình đào tạo bồi dưỡng như trên ta thấy một quy trình đào tạo, bồi
dưỡng bao gồm 4 bước chính:
Bước 1: Xác định nhu cầu đào tạo, kế hoạch đào tạo.
Đây là giai đoạn đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng bởi đào tạo, bồi dưỡng phải
xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Cần phải xác định nhu cầu đào tạo về số lượng và xác
định các kiến thức lỹ năng cần đào tạo. Nhu cầu ở đây có thể là do tổ chức, muốn
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hoặc do chính người lao động ở tổ chức đó. Nhu
cầu đào tạo về nội dung gì sẽ là căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng, xác định đúng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng sẽ là cơ sở quan trọng để tổ chức
xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng cán bộ công chức.

21


Trên cơ sở nhu cầu, kế hoạch của cơ quan tổ chức cán bộ tiến hành xây dựng kế
hoach chương trình đào tạo cho cán bộ. Kế hoạch đào tạo cần phải có đầy đủ các nội
dung sau: Sự cần thiết phải đào tạo, nội dung đào tạo, thời gian, địa điểm đào tạo, cơ

sở vật chất, đội ngũ giảng viên, dự trùf kinh phí đào tạo, danh sách những người dự
kiến đào tạo, dự kiến phương pháp đào tạo... Kế hoạch càng chi tiết càng hạn chế tối
đa rủi ro trong quá trình thực hiện kế hoạch. Trong kế hoạch chương trình đào tạo, bồi
dưỡng cần xác định những điều kiện thuận lợi khi tiến hành thực hiện kế hoạch. Đồng
thời, dự báo trước những khó khăn để có phương án giải quyết.
Bước 2: Tổ chức quá trình đào tạo.
Sau khi chuẩn bị đầy đủ các bước chuẩn bị thực hiện quá trình đào tạo, bước tiếp
theo chính là tiến hành tổ chức đào tạo. Tùy từng đối tượng mà ta có thể có các
phương pháp đào tạo khác nhau.
Bước 3: Đánh giá kết quả các lớp đào tạo, chương trình đào tạo.
Sau khi tổ chức đào tạo thì tiến hành đánh giá kết quả các lớp đào tạo, chương
trình đào tạo. Việc đánh giá này có thể là đánh giá từ phía giảng viên (mức độ nắm
vững kiến thức được truyền thụ của học viên, mức độ chuyên cần, công tác tổ chức
phục vụ...), đánh giá của người quản lý lớp (mức độ nghiêm túc của giảng viên, mức
độ nghiêm túc và nhiệt tình của học viên...), dánh giá từ phía học viên ( tổ chức lớp,
chuẩn bị tài liệu, nội dung, phương pháp...) Việc đánh giá này có thể thực hiện qua
phiếu đánh giá.
Bước 4: Đánh giá hiệu quả công tác đào tạo.
Đây là bước cuối cùng trong quy trình đào tạo có thể đánh giá hiệu quả, thái độ,
hành vi của người lao động sau quá trình đào tạo cụ thể là sự thay đổi năng suất, chất
lượng, hiệu quả lao động và sự thay đổi hành vi, thái độ lao động so với trước khi đào
tạo. Việc đánh giá không chỉ thông qua kết quả đào tạo mà còn đánh giá ở tất cả giai
đoạn. Có như vậy mới đảm bảo tính khả thi cao của công tác đào tạo, bồi dưỡng.
1.2.3 Sử dụng sau đào tạo và đánh giá hiệu quả
Một chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức thành công, đạt hiệu quả
cần căn cứ vào nhiều yếu tố, việc đánh giá kết quả đào tạo là rất vần thiết vì từ đó ta
có thể biết được hiệu quả của công tác đào tạo. Để làm tốt công tác đánh giá này thì
cần phải đưa ra các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá hiệu quả công tác này như:
- Sự thay đổi về số lượng và chất lượng cán bộ được đào tạo.
Chỉ tiêu đánh giá thông qua số lượng, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công

chức. Thể hiện qua chất lượng văn bằng, chứng chỉ sau đào tạo, bồi dưỡng và sự thay
đổi về chất lượng và hiệu quả công việc của cán bộ công chức so với trước khi đào
tạo và tỷ lệ hoàn thành công việc đúng hoặc trước thời hạn có chất lượng tốt hơn
trước khi đào tạo.
- Sự thay đổi chất lượng và hiệu quả lao động so với trước khi đào tạo.

22


- Tỷ lệ công việc được hoàn thành đúng hoặc trước thời hạn với chất lượng cao so với
trước khi đào tạo
- Tỷ lệ lao động có thể hoàn thành những công việc mới sau đào tạo
- Số lượng, tỷ lệ lao động sau đào tạo được mở rộng công việc hoặc đảm đương tốt
các vị trí công việc mới.
- Tỷ lệ lao động có sáng kiến thay đổi lề lối và cách thức làm việc.
- Tỷ lệ lao động có chất lượng công việc cao hơn hẳn so với trước khi đào tạo.
- Sự thay đổi thái độ và hành vi lao động so với trước khi đào tạo (thường được thực
hiện thông qua các bảng hỏi điều tra)
Sự thay đổi về thái độ và hành vi làm việc của đội ngũ cán bộ công chức so với
trước khi đào tạo được thể hiện ở mức độ nhiệt tình của đội ngũ cán bộ công chức với
công việc được tăng lên so với trước khi đào tạo. Mức độ phù hợp giữa nội dung
chương trình với yêu cầu của tiêu chuẩn ngạch ,chức vụ lãnh đạo, quản lý và yêu cầu
vị trí việc làm, tránh tình trạng đào tạo tràn lan không phù hợp so với yêu cầu thực tế
đặt ra. Các tiêu chí có thể sử dụng để đánh giá mức độ thay đổi hành vi của người lao
động sau đào tạo gồm:
- Sự thay đổi thái độ của người lao động khi nhận việc so với trước khi được đào
tạo. Thái độ khi nhận việc có vui vẻ, thoải mái, và khi nhận công việc có tự tin, tích cực
hơn không…Kết quả của yếu tố này có thể dựa trên bảng phỏng vấn người lao động và
người quản lý.
- Tỷ lệ cán bộ, công chức có cách tiếp cận mang tính chuyên nghiệp hơn so với

trước khi đào tạo.
- Mức độ nhiệt tình của cán bộ, công chức tham gia công việc tăng lên so với
trước khi đào tạo (có thể phỏng vấn người quản lý trực tiếp để xác định)
Chương 2. Thực trạng công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức cấp xã
tại huyện Kim Bôi.
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức cấp

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên.
Huyện Kim Bôi, nằm ở phần phía đông của tỉnh Hòa Bình, có vị trí từ 20°32' đến
20°49' vĩ độ bắc và 105°22' đến 105°43' kinh đông, có tổng diện tích tự nhiên là
551,0338 km². Phía bắc giáp huyện Lương Sơn, phía tây và tây bắc giáp các huyện:
Lạc Sơn, Tân lạc, Kỳ Sơn và Thành phố Hòa Bình, phía nam giáp huyện Lạc Thủy,
phía đông giáp huyện Mỹ Đức của Thành phố Hà Nội ( Hà Tây cũ).
Địa hình huyện Kim Bôi khá phức tạp, bị chia cắt bởi hệ thống khe suối. Huyện Kim
Bôi có 2/3 diện tích là đồi, núi với độ cao trung bình so với mực nước biển là 310 m,
có độ nghiêng chung theo hướng từ tây bắc xuống đông nam. Tại Kim Bôi có một số
vùng núi đá vôi, núi đã xanh, vách dốc thẳng đứng, với nhiều ngọn núi cao có khi tới
hàng nghìn mét. Cao nhất là đỉnh núi Cốt Ca cao 1.800m. Tại các vùng núi đã vôi, do
23


kết quả của hiện tượng caxtơ hóa nên có những hang động cổ xưa nối dài từ quả núi
này sang quả núi khác. Dựa vào địa hình và sự phân bố dân cư, Kim Bôi được chia
thành 3 vùng:
Vùng đông bắc của huyện gồm các xã: Tú Sơn, Đú Sáng, Bắc Sơn, Hùng Tiến,
Nật Sơn, Sơn Thủy và Vĩnh Tiến. Vùng này chủ yếu là địa hình đồi núi thấp, núi đá
vôi xen kẽ với các vùng đất hẹp, khá bằng phẳng. Dọc theo chân vùng đồi núi là các
mảnh ruộng bậc thang nhỏ, đứt đoạn.
Vùng trung tâm của huyện gồm các xã: Vĩnh Đồng, Trung Bì, Thượng Bì, Hạ
Bì, Kim Tiến, Kim Bình, Kim Sơn, Nam Thượng, Kim Truy và thị trấn Bo. Vùng này

địa hình chủ yếu là những cánh đồng, bưa bãi được bao bọc bởi những dãy núi thấp.
Vùng ven đường 21: gồm các xã còn lại. Đây là vùng tiếp giáp với đồng bằng có
những cánh đồng nhỏ, bằng phẳng, thuận lợi cho trồng lúa nước và cây ăn quả các
loại.
Kim Bôi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang nhiều nét đặc trưng
của khí hậu miền Tây Bắc. Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3, nhiệt độ trung
bình từ 16° đến 22°C, khí hậu khô hanh, độ ẩm thấp, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm
cao.
Trong tổng số 68.074 ha (Số liệu năm 2008) đất toàn huyện, diện tích đất nông
nghiệp là 10.611 ha (chiếm 15,58%); diện tích đất lâm nghiệp là 22.563,8 ha (chiếm
33,15%); diện tích đất chuyên dùng là 2463,5 ha (3,62%); diện tích đất ở là 1.039 ha
(1,52%); diện tích đất chưa sử dụng, sông suối và núi đá là 31.397,3 ha (46,13%).
Các loại đất được hình thành từ các loại đá trầm tích biến chất như phiến thạch,
sa thạch, đá vôi và mác ma trung tính. Các loại đất xói mòn trơ sỏi đá, đất feralit biến
đổi do trồng lúa nước và các loại đất phù sa sông suối chiếm diện tích không lớn.
Rừng ở Kim Bôi có các loại gỗ quý hiếm như: đinh, lim, sến, táu, vàng tâm.
Trong rừng còn nhiều loài thú: hổ, báo, hươu, nai, vượn, khỉ, trăn, tê tê ... Thảm cỏ
phân bố rải rác, nghèo nàn về chủng loại, chủ yếu là cỏ tranh và lau lách, được hình
thành từ quá trình phát nương làm rẫy, bỏ hóa của con người.
Khoáng sản ở Kim Bôi khá phong phú như: Vàng, đồng, chì, than, nguồn nước
khoáng tự nhiên ... Các loại vàng, than có trữ lượng khá lớn, nằm rải rác trong huyện,
hiện nay đã và đang được khai thác. Nguồn nước khoáng rất giàu khoáng chất, có lợi
cho sức khỏe, có giá trị chữa bệnh và gần đây đã dược khai thác tốt, đem lại nguồn lợi
kinh tế đáng kể. Ngoài ra còn có trữ lượng đá vôi lớn là nguồn nguyên liệu xây dựng
có giá trị.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế xã hội.
Về mặt hành chính huyện Kim Bôi có 28 xã, thị trấn. Các xã trên địa bàn huyện
Kim Bôi có quy mô địa giới hành chính và dân số khác nhau. Có xã có từ 10.000 đến
15.000 người, có xã chỉ có 2.000 đến 3.000 dân. Dân số trong huyện chủ yếu làm
nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp với các mặt hàng nổi tiếng như mành cọ, chiếu

trúc…Trên địa bàn huyện có hai tuyến đừng quốc lộ sô 2, quốc lộ 70 và tuyến đừng
sắt Hà Nội- Yên Bái chạy qua. Đây là điều kiện để huyện mở rông giao lưu và phát
triển kinh tế vùng. Trong những năm gần đây mặc dù phải đối mặt với những khó
khăn, thử thách do lạm phát và suy giảm kinh tế cùng với những diễn biến khắc
24


nghiệt của thời tiết song với sự cố gắng, nỗ lực của huyện, tình hình kinh tế trên địa
bàn huyện luôn giữ đựơc mức tăng trưởng khá ổn định. Một số chỉ tiêu quan trọng
đều đạt và vượt kế hoạch: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 10,8%,
thu nhập bình quân đầu người đạt 9,4 triệu/năm, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo
hướng tích cực, do việc chú trọng đưa các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất nên
năng xuất sản phẩm ngành nông lâm nghiệp tăng nhanh. Song song với sự phát triển
kinh tế, huyện luôn trú trọng đào tạo, đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho địa
phương.
Tuy nhiên huyện Kim Bôi còn đứng trước nhiều khó khăn, thử thách đó là: điểm
xuất phát thấp, sản xuất nhỏ lẻ, sản xuất vẫn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, chất
lượng sản xuất hàng hóa chưa cao. Nguồn thu ngân sách không ổn định, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế còn chậm, tỷ trọng ngành nông – lâm nghiệp chiếm tỉ lệ cao, tỷ trọng
công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại du lịch còn thấp chưa tạo
được khâu đột phá trong phát triển kinh tế. Các xã trong huyện còn nghèo một số xã
thuộc diện vùng 3 như Hợp Đồng, Thung Rếch, Cuối Hạ….
Qua những thuận lợi và khó khăn trên ta thấy được sự cần thiết phải có một đội
ngũ cán bộ công chức xã có trình độ và lòng tận tụy để có thể triển khai đến nhân dân
thực hiện các chế độ, chính sách đặc thù để phát triển kinh tế - xã hội, dảm bảo an
ninh quốc phòng, xóa đói giảm nghèo nhằm cải thiện đời sống vật chất của nhân dân,
giảm sự chênh lệch về trình độ phát triển so với các vùng khác trong cả nước. Và
cũng do điều kiện phát triển kinh tế của các xã nên có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu
quả đào tạo và chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ công chức xã.
2.1.3 Thị trường lao động.

Thị trường lao động là một trong những yếu tố giúp cung ứng nhân lực cho các
cơ quan, tổ chức. Hàng năm với khối lượng sinh viên được đào tạo chính quy ra
trường rất đông đây chính là một nguồn nhân lực kế cận khá dồi dào để bổ sung vào
bộ máy hành chính nhà nước. Hiện nay, huyện Kim Bôi cũng rất quan tâm tới lực
lượng này và có nhiều chính sách nhằm thu hút lực lượng này nhất là các sinh viên
khá giỏi về công tác việc trên địa bàn huyện. Điều này cũng góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo cán bộ công chức
2.1.4 Chủ trương của Đảng,Nhà nước về công tác đào tạo nhằm nâng cao chất lượng
cán bộ
Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của công tác đào tạo cán bộ, công chức
tương ứng với từng giai đoạn phát triển của đất nước nhà nước ta đã đưa ra rất nhiều
các quyết định liên quan đến công tác đào tạo của cán bộ, công chức nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ công chức về mọi mặt như:
Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của chính phủ về đào tạo bồi
dưỡng cán bộ công chức với các nội dung chính quy đinh về nội dung, mục tiêu,
nguyên tắc, chế độ, tổ chức, kinh phí và các vấn đề có liên quan tới công tác đào tạo

25


×