Tải bản đầy đủ (.docx) (37 trang)

BTL nguyenlihedieuhanh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (980.36 KB, 37 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

BÁO CÁO BÀI TẬP LỚN
MÔN NGUYÊN LÝ HỆ ĐIỀU HÀNH
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU VÀ TÌM HIỂU CÁC DỊCH VỤ
MẠNG CỦA HỆ ĐIỀU HÀNH WINDOWS
Nhóm thực hiện: Nhóm 13. Lớp: ĐH_KHMT1_K8
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Vương Quốc Dũng
Thành viên trong nhóm:

1.Hoàng Thị Hằng
2.Trần Thị Mến
3.Hoàng Thị Thu Nga
4.Đỗ Thị Phương
5.Phạm Thị Minh Phương

Hà Nội, Tháng 4/2015.
1


Mục Lục

MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, công nghệ thông tin ngày càng phát triển và
đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu với mỗi chúng ta. Cần thiết hơn cả là đối
với một công ty, một nhà máy xí nghiệp, một doanh nghiệp, trường học…
Việc sử dụng hệ thống máy chủ để quản trị trong doanh nghiệp ngày càng được
các doanh nghiệp trong nước áp dụng nhằm có một hệ thống hoạt động tốt, an toàn, có
độ bảo mật cao, chi phí hợp lý và thuận tiện trong việc trao đổi thông tin giữa các chi
nhánh…


Hệ điều hành Windows có nhiều các dịch vụ mạng để phục vụ các yêu cầu quản
lí. Với đề tài nghiên cứu tìm hiểu về các dịch vụ mạng trong hệ điều hành Windows,
nhóm tìm hiểu chỉ đề cập đến hai dịch vụ cơ bản trong HĐH Windows đó là: dịch vụ
phân giải tên miền DNS (Domain Name System) và dịch vụ cấp phát địa chỉ IP động
cho các máy trạm DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol).
Nội dung báo cáo bao gồm:
+Trình bày về dịch vụ DNS, cách cài đặt và cấu hình dịch vụ DNS.
+Trình bày về dịch vụ DHCP, cách cài đặt và cấu hình dịch vụ DHCP.
Nội dung của bài báo cáo được các thành viên trong nhóm tham khảo từ nhiều
nguồn trên mạng, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được nhiều góp ý của
thầy giáo và mọi người để nhóm tìm hiểu có thể hoàn thiện hơn!
Xin chân thành cảm ơn!

2


PHẦN 1. DỊCH VỤ DOMAIN NAME SYSTEM (DNS)
1.1. Tổng quan về DNS
1.1.1. Giới thiệu về DNS
Mỗi máy tính trong mạng muốn liên lạc hay trao đổi thông tin, dữ liệu cho nhau
cần phải biết rõ địa chỉ IP của nhau. Nếu số lượng máy tính nhiều thì việc nhớ những
địa chỉ IP này là rất khó khăn.
Mỗi máy tính ngoài địa chỉ IP ra còn có một tên (hostname). Đối với con người
việc nhớ tên máy dù sao cũng dễ dàng hơn vì chúng có tính trực quan và gợi nhớ hơn
địa chỉ IP. Vì thế, người ta nghĩ ra cách làm sao ánh xạ địa chỉ IP thành tên máy tính.
Ban đầu, khi DNS chưa ra đời, người ta sử dụng một file tên Host.txt, file này
được trung tâm thông tin mạng NIC ( Network Information Center ) ở Mỹ lưu giữ,
chứa thông tin về tên host và địa chỉ của host của tất cả các máy trong mạng và được
lưu ở tất cả các máy để chúng có thể truy xuất đến máy khác trong mạng. Khi đó, nếu
có bất kỳ sự thay đổi về tên host, địa chỉ IP của host thì ta phải cập nhật lại toàn bộ các

file Host.txt trên tất cả các máy. Khi hệ thống Internet phát triển, việc lưu giữ thông tin
trong một file không thể đáp ứng nhu cầu phân phối và cập nhật, vì vậy đến năm 1984
Paul Mockpetris thuộc viện USC’s Information Sciences Institute phát triển một hệ
thống quản lý tên miền mới lấy tên là Hệ thống tên miền – Domain Name.
Hệ thống tên miền này cũng sử dụng một file tên host.txt, lưu thông tin của tất cả
các máy trong mạng, nhưng chỉ được đặt trên máy làm máy chủ tên miền (DNS). Khi
đó, các máy trạm (client) trong mạng muốn truy xuất đến các client khác, thì nó chỉ
việc hỏi DNS.
Dịch vụ DNS là dịch vụ phân giải tên miền quan trọng trên Internet và trong
mạng nội bộ của các doanh nghiệp, cho phép toàn bộ máy tính và các tài nguyên trên
mạng được lưu dưới dạng tên và khi truy nhập vào hệ thống DNS sẽ chuyển từ tên
sang địa chỉ IP và ngược lại.
Như vậy, DNS có vai trò cung cấp dữ liệu với cấu trúc người dùng truy cập vào
các tài nguyên theo tên trên mạng, được thi hành như một giao thức tầng Application
trong mạng TCP/IP.
1.1.2. Cấu trúc tên miền
3


Mỗi DNS domain sẽ có một tên duy nhất, hệ thống tên trong DNS được sắp xếp
theo mô hình phân cấp và cấu trúc cây logic được gọi là DNS namespace.
Cấu trúc của hệ thống tên miền gồm có:
- Gốc (Domain root) : Nó là đỉnh của nhánh cây của tên miền. Nó có thể biểu
diễn đơn giản chỉ là dấu chấm “.”
- Tên miền cấp một (Top-level-domain) : gồm vài kí tự xác định một nước, khu
vực hoặc tổ chức. Hệ thống tên này được chia thành hai loại là gTLDs (generic Top
Level Domains) dành cho các lĩnh vực dùng chung (VD: “.com”, “.edu”,..) và ccTLDs
(country-code Top Level Domain) là các mã quốc gia của các nước tham gia Internet
(VD: “.vn”, “.us”…).
- Tên miền cấp hai (Second-level-domain): Nó rất đa dạng có thể là tên một công

ty, một tổ chức hay một cá nhân.
- Tên miền cấp nhỏ hơn (Subdomain) : Chia thêm ra của tên miền cấp hai trở
xuống thường được sử dụng như chi nhánh, phòng ban của một cơ quan hay chủ đề
nào đó.
• Phân
loại
tên
miền :
Hiện nay, hệ
thống
tên
miền cấp cao
nhất đại diện
cho các lĩnh
vực
dùng
chung
bao
gồm
nhiều
lĩnh vực:
Thương mại (Commercial) .
- edu: Giáo dục (Education) .
- net: Mạng lưới (Network).

Cấu trúc hệ thống tên miền

- int: Các tổ chức quốc tế (International Organisations).
- org : Các tổ chức khác (Other orgnizations) .
- biz: Các tổ chức thương nhân (Business Orgnisations).

- info : Phục vụ cho việc chia sẻ thông tin (Informations).
4

com:


- aero : Dành cho các nghành công nghiệp, vận chuyển hàng không (aviation
community) .
- coop : Dành cho các tổ chức hợp tác (Co-operatives)
- museum : Dành cho các viện bảo tàng .
- name: Dành cho các thông tin cá nhân .
- pro : Dành cho các lĩnh vực chuyên nghiệp (Professionals).
- mil : Dành cho các lĩnh vực quân sự (Military) .
- gov : Chính phủ (Government) .
- Mã các nước trên thế giới tham gia vào mạng internet, các quốc gia này được
qui định bằng hai chữ cái theo tiêu chuẩn ISO-3166 .Ví dụ : Việt Nam là “.vn”, Nhật
Bản là “ .jp”, Hoa Kỳ là “.us”…
• Cách đọc tên miền
Giả sử có tên miền www.abc.com.vn
Một tên miền sẽ được đọc từ trái qua phải, với tên miền nêu trên sẽ được cấu tạo
từ các nhãn www, abc, com, vn.
Mục đầu tiên của tên miền này là “www” thông thường là tên máy tính.Tiếp theo
là các tên miền cấp 3 (abc), tên miền cấp hai (com) và tên miền ở mức top-leveldomain “.vn”.
Theo cấu trúc và cách phân chia trong không gian tên miền đã trình bày ở trên,
người dùng khi gặp một tên miền hoàn toàn có thể biết tổ chức quản lý tên miền này
thuộc lĩnh vực gì, hay tên miền này do quốc gia nào quản lý... Tên miền tận cùng bằng
“.vn” do đó tên miền này thuộc domain .vn, điều này có nghĩa nó do tổ chức quản lý
tên miền của nước Việt Nam – Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) quản lý, tiếp
sau là tên miền cấp 2 “.com”, do đó tên miền này được phân cho tổ chức hoạt động
trong lĩnh vực thương mại.

• Qui tắc đặt tên miền
Tên miền nên được đặt đơn giản và có tính chất gợi nhớ với mục đich và phạm vi
hoạt động của tổ chức sỡ hữu tên miền.
Mỗi tên miền được có tối đa 63 ký tự bao gồm cả dấu chấm. Tên miền được đặt
bằng các ký tự (a-z, A-Z, 0-9) và ký tự “-”.
Một tên miền đầy đủ có chiều dài không vượt quá 255 ký tự.
1.1.3. Định nghĩa máy chủ tên miền (Name Server)
Máy chủ tên miền (name server) là máy chủ chứa cơ sở dữ liệu dùng cho việc
chuyển đổi giữa tên miền và địa chỉ IP. Như cách phân cấp của hệ thống tên miền,
tương ứng với mỗi cấp và mỗi loại tên miền có máy chủ tên miền phục vụ tên miền ở
5


cấp đó và loại tên miền đó. Máy chủ tên miền ở mức ROOT sẽ chứa cơ sở dữ liệu
quản lý tên miền ở mức top-level-domain. Ở mức quốc gia sẽ có máy chủ tên miền
quản lý domain ở mức quốc gia.
Hệ thống DNS định nghĩa hai kiểu máy chủ tên miền là máy chủ tên miền chính
(primary name server) và máy chủ tên miền phụ (secondary name server):
- Primary name server là máy chủ tên miền lấy dữ liệu cho các zone của nó từ
các file có sẵn trên máy.
- Secondary name server là máy chủ tên miền lấy dữ liệu cho các zone của nó từ
một máy chủ tên miền primary khác. Khi máy chủ secondary khởi động nó sẽ kết nối
đến máy chủ primary để lấy dữ liệu từ máy này về cho các zone mà nó quản lý. Quá
trình lấy dữ liệu từ máy primary về máy secondary được gọi là zone transfer.
1.1.4. Cách phân bổ dữ liệu quản lý Domain name.
Những root name server (.) quản lý những top-level domain trên Internet. Tên
máy và địa chỉ IP của những name server này được công bố cho mọi người biết.
Những name server này cũng có thể đặt khắp nơi trên thế giới.
1.1.5. Cơ chế phân giải tên
Vị trí của 13 ROOT name server trên thế giới


• Phân giải tên thành IP
Khi có truy vấn về một tên miền nào đó thì Root Name Server phải cung cấp tên
và địa chỉ IP của name server quản lý top-level domain (thực tế là hầu hết các root
server cũng chính là máy chủ quản lý top-level domain) và đến lượt các name server
của top-level domain cung cấp danh sách các name server có quyền trên các secondlevel domain mà tên miền này thuộc vào. Cứ như thế đến khi nào tìm được máy quản
lý tên miền cần truy vấn.
Qua trên cho thấy vai trò rất quan trọng của root name server trong quá trình
phân giải tên miền. Nếu mọi root name server trên mạng Internet không liên lạc được
thì mọi yêu cầu phân giải đều không thực hiện được.
6


Giả sử người sử dụng muốn truy cập vào trang web có địa chỉ là


+ Trước hết chương trình trên máy người sử dụng gửi yêu cầu tìm kiếm địa chỉ IP
Cơ chế
của DNS
ứng với tên miền www.google.com
tớihoạt
máy động
chủ quản
lý tên miền (name Server) cục bộ
thuộc mạng của nó (ISP DNS Server).
+ Máy chủ tên miền cục bộ này kiểm tra trong cơ sở dữ liệu của nó có chứa cơ sở
dữ liệu chuyển đổi từ tên miền sang địa chỉ IP của tên miền mà người sử dụng yêu cầu
không. Trong trường hợp máy chủ tên miền cục bộ có cơ sở dữ liệu này, nó sẽ gửi trả
lại địa chỉ IP của máy có tên miền nói trên (www.google.com).
+ Trong trường hợp máy chủ tên miền cục bộ không có cơ sở dữ liệu về tên miền

này nó thường hỏi lên các máy chủ tên miền ở cấp cao nhất (máy chủ tên miền làm
việc ở mức Root). Máy chủ tên miền ở mức Root này sẽ trả về cho máy chủ tên miền
cục bộ địa chỉ của máy chủ tên miền quản lý các tên miền có đuôi “.com”.
+ Máy chủ tên miền cục bộ gửi yêu cầu đến máy chủ quản lý tên miền có đuôi
“.com” tìm tên miền www.google.com. Máy chủ tên miền quản lý các tên miền
“.com” sẽ gửi lại địa chỉ của máy chủ quản lý tên miền google.com.
+ Máy chủ tên miền cục bộ sẽ hỏi máy chủ quản lý tên miền google.com này địa
chỉ IP của tên miền www.google.com. Do máy chủ quản lý tên miền google.com có cơ
sở dữ liệu về tên miền www.google.com nên địa chỉ IP của tên miền này sẽ được gửi
trả lại cho máy chủ tên miền cục bộ.
7


+ Máy chủ tên miền cục bộ chuyển thông tin tìm được đến máy của người sử
dụng.
+ PC của người dùng sẽ sử dụng địa chỉ IP này để mở một phiên kết nối TCP/IP
đến Server chứa trang web có địa chỉ
Có hai loại truy vấn:
+Truy vấn đệ quy (recursive query) : khi name server nhận được truy vấn dạng
này, nó bắt buộc phải trả về kết quả tìm được hoặc thông báo lỗi nếu như truy vấn này
không phân giải được. Name server không thể tham chiếu truy vấn đến một name
server khác. Name server có thể gửi truy vấn dạng đệ quy hoặc tương tác đến name
server khác nhưng phải thực hiện cho đến khi nào có kết quả mới thôi.
+Truy vấn tương tác (Iteractive query): khi name server nhận được truy vấn dạng
này, nó trả lời cho Resolver với thông tin tốt nhất mà nó có được vào thời điểm lúc đó.
Bản thân name server không thực hiện bất cứ một truy vấn nào thêm. Thông tin tốt
nhất trả về có thể lấy từ dữ liệu cục bộ (kể cả cache). Trong trường hợp name server
không tìm thấy trong dữ liệu cục bộ nó sẽ trả về tên miền và địa chỉ IP của name
server gần nhất mà nó biết.
• Phân giải IP thành tên máy tính

Để có thể phân giải tên máy tính của một địa chỉ IP, trong không gian tên miền
người ta bổ sung thêm một nhánh tên miền mà được lập chỉ mục theo địa chỉ IP. Phần
không gian này có tên miền là in-addr.arpa. Mỗi nút trong miền in-addr.arpa có một
tên nhãn là chỉ số thập phân của địa chỉ IP. Ví dụ miền in-addr.arpa có thể có 256
subdomain, tương ứng với 256 giá trị từ 0 đến 255 của byte đầu tiên trong địa chỉ IP.
Trong mỗi subdomain lại có 256 subdomain con nữa ứng với byte thứ hai. Cứ như thế
và đến byte thứ tư có các bản ghi cho biết tên miền đầy đủ của các máy tính hoặc các
mạng có địa chỉ IP tương ứng. Khi đọc tên miền địa chỉ IP sẽ xuất hiện theo thứ tự
ngược (Ví dụ nếu địa chỉ IP của máy winnie.corp.hp.com là 15.16.192.152, khi ánh xạ
vào miền in-addr.arpa sẽ là 152.192.16.15.inaddr.arpa).
1.1.6. Zone trong DNS
Khi một hệ thống tên miền được chia ra các phần nhỏ hơn để dễ quản lý đó là các
Zone. Các Zone sẽ đảm bảo việc quản lý DNS một cách dễ dàng. Như vậy, một Zone
có thể gồm một miền, một hay nhiều miền con.
Trên thực tế dữ liệu DNS được chứa trên các máy chủ Zone và thực tế dữ liệu
của DNS là dữ liệu của các Zone.
Các dạng của Zone
a) Primary Zone
Một máy chủ chứa dữ liệu Primary Zone là máy chủ có thể toàn quyền trong việc
update dữ liệu Zone.
8


b) Secondary Zone
Là một bản copy của Primary Zone, do nó chứa dữ liệu Zone nên cung cấp khả
năng resolution cho các máy có yêu cầu. Muốn cập nhật dữ liệu Zone phải đồng bộ với
máy chủ Primary.
c) Stub Zone
Dữ liệu của Stub Zone chỉ bao gồm dữ liệu NS Record trên máy chủ Primary
Zone mà thôi, với việc chứa dữ liệu NS máy chủ Stub Zone có vai trò chuyển các yêu

cầu dữ liệu của một Zone nào đó đến trực tiếp máy chủ có thẩm quyền của Zone đó.
1.1.7. Một số bản ghi dữ liệu tên miền (Resource record)
• SOA(Start of Authority)
Trong mỗi tập tin CSDL phải có một và chỉ một record SOA(start of authority).
Record SOA chỉ ra rằng máy chủ Name Server là nơi cung cấp thông tin tin cậy từ dữ
liệu có trong zone.
• Bản ghi A( Address)
Bản ghi kiểu A được dùng để khai báo ánh xạ giữa tên của một máy tính trên
mạng và địa chỉ IP tương ứng của nó. Nói cách khác, bản ghi kiểu A chỉ ra tên và điạ
chỉ IP của một máy tính trên mạng.
• Bản ghi AAAA
Bản ghi kiểu AAAA được dùng để chuyển đổi từ tên miền sang địa chỉ IPv6.
Giống như bản ghi kiểu A trong địa chỉ IPv4, một tên miền có thể được khai nhiều bản
ghi kiểu AAAA khác nhau để trỏ đến các địa chỉ IPv6 khác nhau.
• Bản ghi CNAME (Canonical Name)
Bản ghi CNAME cho phép một máy tính có thể có nhiều tên. Nói cách khác bản
ghi CNAME cho phép nhiều tên miền cùng trỏ đến một địa chỉ IP cho trước.
Để có thể khai báo bản ghi CNAME, bắt buộc phải có bản ghi kiểu A để khai báo
tên của máy. Tên miền được khai báo trong bản ghi kiểu A trỏ đến địa chỉ IP của máy
được gọi là tên miền chính (canonical domain). Các tên miền khác muốn trỏ đến máy
tính này phải được khai báo là bí danh của tên máy (alias domain).
• Bản ghi MX (Mail Exchange)
Bản ghi MX dùng để khai báo trạm chuyển tiếp thư điện tử của một tên miền.
• Bản ghi NS( Name Servver)
Bản ghi NS dùng để khai báo máy chủ tên miền cho một tên miền. Nó cho biết
các thông tin về tên miền này được khai báo trên máy chủ nào. Với mỗi một tên miền
phải có tổi thiểu hai máy chủ tên miền quản lý, do đó yêu cầu có tối thiểu hai bản ghi
NS cho mỗi tên miền.
9



• Bản ghi PTR (Pointer)
Hệ thống DNS không những thực hiện việc chuyển đổi từ tên miền sang địa chỉ
IP mà còn thực hiện chuyển đổi địa chỉ IP sang tên miền. Bản ghi PTR cho phép thực
hiện chuyển đổi địa chỉ IP sang tên miền.
1.2. Cài đặt và cấu hình DNS trong Windows Server 2003
1.2.1. Cài đặt DNS server 2003:
Có nhiều cách cài đặt dịch vụ DNS trên môi trường Windows như: Ta có thể cài
đặt DNS khi ta nâng cấp máy chủ lên Domain Controllers hoặc cài đặt DNS trên máy
stand-alone Windows 2003 Server từ tùy chọn Networking services trong thành phần
Add/Remove Program.
Khi cài đặt dịch vụ DNS trên Windows 2003 Server đòi hỏi máy này phải được
cung cấp địa chỉ IP tĩnh, sau đây là một số bước cơ bản nhất để cài đặt dịch vụ DNS
trên Windows Server 2003.
Để cài đặt một DNS Server, ta làm theo các bước sau:
- Truy cập Server với quyền Administrator
- Chọn Start  Control Panel  Add or Remove Programs.

Chọn Add/Remove Windows Components.

10


Trong hộp thoại Windows Components Wizard chọn Network Service  Nhấp
Details…

Trong hộp thoại Networking Services, tích chọn trước Domain Name System
(DNS)  Nhấp OK để xác nhận.
11



Tiếp theo nhấp Next để bắt đầu cài đặt dịch vụ DNS.

Khi cài đặt hoàn tất, nhấp Finish để kết thúc.

12


1.2.2. Cấu hình DNS Server 2003
Sau khi ta cài đặt thành công dịch vụ DNS, ta có thể tham khảo trình quản lý dịch
vụ này như sau:
Ta chọn Start  Programs  Administrative Tools  DNS.

a. Cấu hình Forward Lookup Zone
13


Quá trình Forward Lookup Zone là quá trình phân giải thuận tức là phân giải tên
thành địa chỉ IP.
Trong màn hình DNS manager, Nhấp phải chuột vào Forward Lookup Zone 
chọn New Zone…

Tại màn hình Welcome to the New Zone Wizard, nhấp Next

14


Màn hình Zone Type xuất hiện, chọn Primary zone  Next.

Trên màn hình Zone Name trong khung Zone Name nhập vào tên miền

“nhom13.edu.vn” và nhấp Next.

15


Trên màn hình Zone File nhấp Next.

Trên màn hình Dynamic Update chấp nhận giá trị mặc định (Do not allow
dynamic updates - không cho phép cập nhật động)  nhấp Next.

16


Nhấp Finish để hoàn tất quá trình cài đặt tên miền.

Sau khi được tạo tên miền sẽ xuất hiện trong DNS như sau:

b) Cấu hình Reverse Lookup Zone:
17


Sau khi ta hoàn tất quá trình tạo Zone thuận ta sẽ tạo Zone nghịch (Reverse
Lookup Zone) để hỗ trợ cơ chế phân giải địa chỉ IP thành tên máy (hostname).
Tương tự như tạo Forward Lookup Zone để tạo Reverse Lookup Zone ta thực
hiện trình tự các bước sau:
+Trên màn hình DNS Manager nhấp phải vào Reverse Lookup Zone  chọn
New Zone.
+Trên màn hình Welcome to the New Zone Wizard, nhấp vào ô Next.
+Trên màn hình Zone Type nhấp chọn Primary Zone  Nhấp Next.
+ Trên màn hình Reverse Lookup Zone Name, gõ phần địa chỉ mạng (NetID) của

địa chỉ IP trên Name Server Nhấp Next.

18


Tạo mới hay sử dụng tập tin lưu trữ cơ sở dữ liệu cho zone ngược, sau đó chọn
Next.

Hộp thoại Dynamic Update để chỉ định zone chấp nhận Secure Update,
nonsecure Update hay chọn không sử dụng Dynamic Update  Nhấp Next.

19


Chọn Finish để hoàn tất quá trình tạo zone ngược.

Sau khi ta tạo zone thuận và zone nghịch, mặc định hệ thống sẽ tạo ra hai
resource record NS và SOA.

Cấu hình New Host :
20


Khi phân giải tên Server DNS sẽ truy vấn tới Host sẽ xuất bản Website với tên
miền vừa tạo do vậy phải chỉ ra địa chỉ IP của Host này, cách làm như sau:
Trên màn hình DNS Manager trong mục Forward Lookup nhấp phải tên miền
“nhom13.edu.vn” rồi chọn New Host (A)…

Trên màn hình New Host:
+Trong khung Name nhập vào tên

“www”

Host:

+Trong khung IP Address nhập vào
IP của Host: 192.168.1.1

địa chỉ

 Nhấp nút Add Host.

Xuất hiện màn hình thông báo việc tạo New Host thành công  Nhấp OK  Done.
21


Host (A) vừa tạo sẽ xuất hiện bên cửa sổ phải:
Cấu hình
New
Alias (tên
bí danh):
Trong
Forward
Lookup
Zones
nhấp phải
chuột vào
tên miền

nhom13.edu.vn chọn New Alias (CNAME)…


22


Trên màn hình New Resource Record, trong khung Alias Name nhập vào tên
Alias là “server1”
Trong khung Full qualified domain name (FQDN) for target host: dùng nút
Browse để tìm đến nơi chứa Host có tên là “www” như trong hình  Nhấp OK để trở
lại màn hình DNS manage.

Ta sẽ thấy các bản ghi hiện trong ô bên phải:

Kiểm
tra
DNS
server
hoạt
động
đúng
chưa
bằng
lệnh:
Start
run
cmd gõ “nslookup”.

23


PHẦN 2. DỊCH VỤ DYNAMIC HOST CONFIGURATION PROTOCOL
(DHCP)

2.1. Tổng quan về dịch vụ DHCP
2.1.1. Giới thiệu về DHCP
DHCP là viết tắt của “Dynamic Host Configuration Protocol” là giao thức cấu
hình địa chỉ IP động, là phần mở rộng của Boot Protocol, DHCP có nhiệm vụ là cấp
phát địa chỉ IP động cho các máy trạm (client).
Máy tính được cấu hình một cách tự động vì thế việc sử dụng DHCP sẽ giảm
việc can thiệp vào hệ thống mạng. Nó cung cấp một cơ sở dữ liệu trung tâm để theo
dõi tất cả các máy tính trong hệ thống mạng. Mục đích quan trọng nhất là tránh trường
hợp hai máy tính khác nhau lại có cùng địa chỉ IP.
DHCP bản chất là một dịch vụ cơ sở hạ tầng có trên bất kì một hệ thống mạng
nào nhằm cung cấp địa chỉ IP và thông tin DNS server tới các "PC client" hay một số
thiết bị khác một cách tự động.
24


2.1.2. Ý nghĩa của việc sử dụng DHCP.
DHCP được sử dụng để giúp chúng ta không phải ấn định địa chỉ IP tĩnh cho tất
cả các thiết bị có trong hệ thống mạng của mình và giúp chúng ta quản lí mọi vấn đề
mà địa chỉ IP tĩnh có thể tạo ra.
Thông thường trong một mô hình mạng, người quản trị có thể cấu hình IP cho
các máy client theo hai cách là thủ công (static) và cấp phát động (dynamic). Với các
hệ thống mạng nhỏ cách thủ công có thể đáp ứng được nhu cầu ấy, nhưng với các
mạng lớn thì việc cấp phát IP một cách tự động là thiết yếu hơn cả và DHCP ra đời đáp
ứng nhu cầu ấy.
DHCP cho phép các nhà quản trị mạng có thể từ một trung tâm quản lý và tự
động mã hoá quá trình gán IP các thông số cho một mạng máy tính trong khoảng thời
gian nhất định.
Tất cả việc trao đổi thông tin giữa một DHCP server và DHCP client sẽ sử dụng
User Datagram Protocol (UDP) port là 67 và 68.
Ngoài việc cung cấp địa chỉ IP, DHCP còn cung cấp thông tin cấu hình khác, cụ

thể như DNS.
2.1.3. Một số thuật ngữ được dùng trong DHCP
DHCP client (Máy trạm DHCP): là một thiết bị nối vào mạng và sử dụng giao
thức DHCP để lấy các thông tin cấu hình như là địa chỉ mạng, địa chỉ máy chủ DNS.
DHCP server (Máy chủ DHCP): là một thiết bị nối vào mạng có chức năng trả về
các thông tin cần thiết cho máy trạm DHCP khi có yêu cầu.
BOOTP relay agents (Thiết bị chuyển tiếp BOOTP): là một máy trạm hoặc một
router có khả năng chuyển các thông điệp DHCP giữa DHCP server và DHCP client.
Binding (Nối kết): là một tập hợp các thông tin cấu hình trong đó có ít nhất một
địa chỉ IP, được sử dụng bởi một DHCP client. Các nối kết được quản lý bởi máy chủ
DHCP.
2.1.4. Cơ chế xin và cấp phát địa chỉ IP cho DHCP Client của DHCP Server
Giao thức DHCP làm việc theo mô hình client /server,
do đó quy trình cấp phát IP cho client được thực hiện qua 4
bước sau:
+IP lease request
+IP lease offer
+IP lease selection
+IP lease acknowledgement
• IP Lease Request ( Yêu cầu cấp IP)
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×