BÀI LÀM
1. Thực trạng về phát triển Thủy Lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long,
một số giải pháp và so sánh với thực trạng vùng đồng bằng sông Hồng
1.1 Thực trạng về phát triển Thủy Lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long
a. Những thành tựu đã đạt được của ngành thủy lợi trong 40 năm qua ở
đồng bằng sông Cửu Long từ năm 1975 đến nay
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một khu vực rộng lớn với hơn
17 triệu dân chủ yếu sinh sống bằng nghề nông, nằm ở hạ lưu sông Mekong,
một trong nhưng con sông dài nhất trên thế giới (4.200 km), chảy qua 6 nước:
Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, diện tích lưu
vực khoảng 795.000 km2. Phù sa sông Mekong đã bồi đắp nên 1 vùng đồng
bằng châu thổ rộng lớn phía hạ lưu, riêng phần ở nước ta – ĐBSCL có diện tích
39.400 km2, chiếm 5% diện tích sông Mekong và bằng 12% diện tích cả nước.
Do đặc tính của một vùng đất bằng phẳng, trũng, thấp, mới được bồi đắp
bởi sông Mekong, ĐBSCL có những đặc điểm riêng biệt. Với diện tích 3,9
triệu ha nhưng có từ 1,4 đến 1,9 triệu ha hàng năm bị ngập lụt với độ sâu từ 0,5
đến 4,5 m, kéo dài 3-5 tháng mùa mưa (từ tháng 8 đến tháng 11); đồng bằng
còn có 1,4-1,6 triệu ha bị xâm nhập mặn trong thời gian 2-5 tháng mùa khô với
độ mặn trung bình 4 g/l, mặn xâm nhập sâu vào các cửa sông và nội đồng
khoảng 40-50 km. Ngoài 2 yếu tố trên, còn có khoảng 1,9 triệu ha đất bị nhiễm
phèn, 0,7 triệu ha đất chua mặn và 0,96 triệu ha đất phù sa. Những khu vực bị
nhiễm mặn, nhiễm phèn nghiêm trọng nhất bao gồm Đồng Tháp Mười, Tứ giác
Long Xuyên và Bán đảo Cà Mau. So với cả nước, ĐBSCL có cơ sở hạ tầng
thuộc loại yếu kém, chủ yếu là giao thông đường thủy, nhiều vùng đất bị chia
cắt bởi hệ thống kênh rạch đan xen.
Để khắc phục tình trạng trên, đòi hỏi phải đầu tư xây dựng nhiều
hệthống thủy lợi để hạn chế tác hại của lũ lụt, ngăn mặn, điều tiết nước ngọt để
giảm phèn, cải tạo đồng ruộng, mở rộng diện tích canh tác… nhưng cho đến
năm 1975 vẫn chỉ có kênh Vĩnh Tế nổi tiếng được xây dựng năm 1819 dưới
thời vua Gia Long, do vậy mặc dù đã khai phá được diện tích đất canh tác rộng
lớn khoảng trên dưới 2 triệu ha, nhưng phần lớn vẫn chỉ gieo cấy lúa một vụ,
năng suất thấp, hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, năm 1975 sản lượng
lương thực toàn đồng bằng chỉ đạt 5,14 triệu tấn
Sau ngày đất nước thống nhất, Nhà nước đã có những quyết sách đúng
đắn về đầu tư, xây dựng hạ tầng, giao thông, thủy lợi để phát triển mạnh mẽ
tiềm năng của ĐBSCL, đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật đưa ĐBSCL trở
thành vựa lúa lớn nhất cả nước. Nhiều công trình thủy lợi được xây dựng nhằm
1
phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, ngăn mặn, rửa chua, cấp nước sinh hoạt,
chỉnh trị lòng sông, bảo vệ bờ sông, bờ biển, mở rộng diện tích canh tác. Nhờ
sự giúp sức của hệ thống các công trình thủy lợi. ĐBSCL đã mở rộng diện tích
canh tác lúa từ 2 triệu ha gieo trồng một vụ lên 2,6 triệu ha đất nông nghiệp đủ
điều kiện gieo trồng từ một vụ đến ba vụ lúa và trồng xen kẽ các vụ màu, cây
ăn quả, tùy thuộc vào các vùng sinh thái khác nhau, với diện tích được tưới cả
năm lên đến 4,2 triệu ha. Từ chỗ phụ thuộc vào thiên nhiên, năng suất lúa bình
quân hàng năm chỉ đạt khoảng trên dưới 2 tấn/ha, đến năm 2000 năng suất đã
đạt 4,2 tấn và năm 2010 đạt được 5,47 tấn/ha (vụ đông xuân cho năng suất cao
nhất đạt 6,5 triệu tấn/ha). Những năm qua, trung bình mỗi năm sản lượng lúa
tăng thêm hơn 0,5 triệu tấn và đến năm 2014 sản lượng lúa ĐBSCL đạt 25,2
triệu tấn. Ngoài trồng lúa, một phần diện tích đất đã được chuyển đổi để nuôi
trồng thủy sản, đưa sản lượng thủy sản nuôi trồng tại ĐBSCL lên 2,4 triệu tấn,
trong đó có 1,2 triệu tấn cá tra và 440 ngàn tấn tôm là nguyên liệu chủ yếu
phục vụ cho chế biến xuất khẩu đạt giá trị khoảng 5 tỷ USD (theo số liệu thống
kê năm 2014).
Cũng tại ĐBSCL đã thể hiện rõ nhất việc nghiên cứu và áp dụng khoa
học và công nghệ vào sản xuất, điển hình là việc cải tạo đất chua phèn. Năm
1976, đã có rất nhiều ý kiến khác nhau cho rằng, chỉ có thể cải tạo đất chua
phèn bằng vôi và cần từ 20 đến 30 tấn cho một ha, nhưng trong hoàn cảnh
ĐBSCL lúc bấy giờ với yêu cầu cải tạo cho hàng triệu ha đất vùng Tứ giác
Long Xuyên và Đồng Tháp Mười thì áp dụng cách này là điều không tưởng.
Ngành thủy lợi đã nghiên cứu và sử dụng giải pháp thủy lợi, tuy vậy, cũng có
rất nhiều ý kiến phản đối cho rằng, xổ phèn ở nơi này thì phèn lại xuất hiện ở
nơi khác… Song nhờ có những nghiên cứu và quyết định đúng đắn, chúng ta
đã thành công, và chỉ một vài năm sau đã cho những kết quả đầu tiên mà đồng
ruộng mang lại, đời sống của người dân được cải thiện là những minh chứng
xác đáng nhất.
Có thể khẳng định, qua 40 năm phục vụ phát triển ĐBSCL, ngành thủy
lợi đã được đầu tư lớn nhất và cũng là ngành có những đóng góp thiết thực
nhất, hiệu quả nhanh nhất đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội cho một
khu vực rộng lớn có hơn 17 triệu dân, chủ yếu sinh sống bằng nghề nông.
b. Những thách thức đặt ra
Bên cạnh những kết quả to lớn đạt được trong 40 năm qua, chúng ta
cũng nhận thấy đời sống của đại bộ phận người dân ở ĐBSCL vẫn chưa được
sung túc và đang đứng trước nhiều thách thức mới, đòi hỏi cần được nghiên
cứu và tập trung nguồn lực để giải quyết nhiều vấn đề đặt ra.
Một là, những năm gần đây, tình trạng ngập úng đã diễn ra ở nhiều
thành phố, thị trấn và vùng dân cư ven biển do mưa, thủy triều và lũ nguồn, dẫn
2
đến nhiều khó khăn cho việc cung cấp nước sạch, cho cơ sở hạ tầng và hệ
thống giao thông… gây nên những lo lắng, bức xúc cho người dân, nhất là ở
các khu vực đô thị. Nhà nước và các địa phương cũng đã và đang phải chi
nhiều khoản ngân sách lớn cho việc đối phó với tình trạng trên. Điều này đòi
hỏi ngành thủy lợi cần tiếp tục nghiên cứu và tham mưu cho các cấp chính
quyền những giải pháp phù hợp để hạn chế những thiệt hại nêu trên.
Hai là,một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của thủy lợi là
cung cấp nước sinh hoạtcho nhân dân trong vùng. Sau nhiều nỗ lực nhưng đến
naymới có khoảng 60-70%dân cư ở các thị trấn, thị xã, thành phố ở ĐBSCL
đượccungcấp nước sạch. Trong khi đó, dân cư vùng nông thôn chỉ có nước hợp
vệ sinh với tỷ lệ khoảng 40%, chủ yếu được khai thác từ nước ngầm và nước
mưa. Điều này đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân. Khó
khăn lớn là việc khai thác nước ngầm thường gặp phải nước nhiễm phèn,
nhiễm mặn. Việc khai thác nước ngầm ở nhiều địa phương để sinh hoạt và nuôi
trồng thủy sản là một trong những nguyên nhân làm cho mặt đất bị sụt lún, rõ
rệt nhất là Bán đảo Cà Mau mặt đất đang bị sụt lún trung bình mỗi năm khoảng
từ 2 đến 3 cm.
Ba là,theo đánh giá của Liên hợp quốc, trong điều kiện biến đổi khí hậu
và nước biển dâng với tốc độ như hiện nay thì ĐBSCL sẽ bị mất khoảng 40%
diện tích đất canh tác vào cuối thế kỷ này nếu không có những giải pháp hữu
hiệu để đối phó ngay từ bây giờ. Hiện tượng nước biển ngày càng dâng cao
cộng với mặt đất một số vùng đang bị sụt lún sẽ làm cho những khó khăn bị
cộng hưởng và tăng lên gấp bội, đòi hỏi phải có những nghiên cứu chu đáo về
nhiều mặt không chỉ cho hôm nay mà phải dự báo được cho nhiều năm sau.
Theo dự báo, có thể các hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu sẽ
làm cho lượng mưa tăng lên vào mùa mưa và giảm đi vào mùa kiệt. Điều này
chắc chăn sẽ gây nên không ít khó khăn cho vùng ĐBSCL, nhất là việc chống
ngập lụt vào mùa mưa, hạn hán và xâm nhập mặn vào mùa khô.
Bốn là, sông Mekong trước khi chảy vào ĐBSCL đã chảy qua 5 nước ở
vùng thượng lưu. Trước đây dòng chảy và lượng phù sa hàng năm biến đổi
không nhiều, sau nhiều năm khảo sát, chúng ta đã nắm được những quy luật
tương đối của nó và đã xây dựng nhiều công trình để ngăn lũ, phân lũ kịp thời,
lợi dụng lũ để cải tạo đồng ruộng, rửa mặn, tiêu phèn, tăng nguồn phù sa cho
đồng ruộng và canh tác theo mùa vụ phù hợp để không bị thiệt hại vào mùa
nước dâng, đồng thời cũng khắc phục được nạn thiếu nước cho các vụ gieo
trồng trong mùa kiệt. Song hiện nay và trong tương lai, tình trạng nguồn nước
chảy về đồng bằng sẽ có nhiều biến đổi đáng kể do những công trình tích nước
và sử dụng nước vùng thượng lưu. Theo báo cáo của Ủy hội sông Mekong, do
sự phát triển nhanh về công nghiệp và nông nghiệp, các nước vùng thượng lưu
3
như Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia đã và đang xây dựng
thêm nhiều hồ chứa phục vụ thủy điện và nông nghiệp. Tất cả các hồ chứa ở
dòng chính và phụ lưu chiếm từ 14 đến 17% tổng trữ lượng hàng năm của sông
Mekong. Ngoài ra, còn một số dự án chuyển nước từ sông Mekong sang các
lưu vực khác, những dự án này khi hoàn thành sẽ chuyển đi khoảng 7-10% lưu
lượng nước từ dòng chính. Nhu cầu nước từ các quốc gia vùng thượng nguồn
sông Mekong ngày càng tăng nhanh, sử dụng nước năm 2010 so với năm 2000
đã tăng 10,9%, dự báo đến năm 2030 nhu cầu sẽ tăng lên đến 35%.Những thay
đổi dòng chảy và hệ sinh thái do nhu cầu sử dụng nước ở vùng thượng lưu
ngày càng lớn sẽ ảnh hưởng đáng kể đến việc phòng chống lũ lụt, quản lý nước
tưới cũng như hệ sinh thái ở ĐBSCL. Điều đó đòi hỏi ngay từ bây giờ phải có
những nghiên cứu, đưa ra những dự báo và các giải pháp ứng phó trong những
năm sắp tới.
Năm là, những mâu thuẫn trong quá trình phát triển nhanh của ĐBSCL
đã dần dần bộc lộ: sự gia 4ang dân số, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa,
nhu cầu về nâng cao đời sống của người dân đòi hỏi nhu cầu sử dụng nước
ngọt ngày càng 4ang, căng thẳng nhất là trong mùa khô, đặc biệt ở vùng ven
biển và vùng trung tâm của đồng bằng. Mâu thuẫn giữa yêu cầu cung cấp nước
lợ cho nuôi trồng thủy sản và nước ngọt cho sản xuất lúa, vườn cây ăn quả, rau
màu… trong thực tế đã làm ảnh hưởng tiêu cực đến cả hai ngành đang là thế
mạnh của đồng bằng, cộng với nguồn nước thải công nghiệp và chăn nuôi bị ô
nhiễm không được xử lý đã dẫn đến lây nhiễm sâu bệnh cho ruộng lúa, hoa
màu và vùng nước nuôi trồng thủy sản. Nhiều cánh rừng phòng hộ, rừng ngập
mặn đã được người dân chuyển đổi thành những đầm ao nuôi thủy sản đã làm
mất đi hệ sinh thái đa dạng của rừng ngập mặn, gây nên những tổn hại lớn đến
môi trường; nhiều đoạn bờ sông, bờ biển bị sạt lở làm mất đi nhiều nhà cửa,
ruộng vườn, đất đai, hoa mầu, công trình giao thông… đồng thời, kéo theo
nhiều hệ lụy về kinh tế - xã hội khác.
Sáu là,các nhà khoa học cần tham mưu cho các cấp chính quyền địa
phương, nâng cao nhận thức về giữ gìn môi trường đang dần đổi thay do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan để có những định hướng kịp thời trong
việc chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, các loại cây lương thực, cây ăn quả, hoa
màu… phù hợp với tình hình biến đổi khí hậu, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật,
hiện đại hóa công tác thủy lợi, nghiên cứu điều chỉnh hệ thống thủy lợi hiện có
để đáp ứng cho các nhu cầu ngày càng cao, phục vụ tốt hơn nữa cho việc phát
triển các loại sản phẩm chủ lực ở mỗi tiểu vùng mà trước mắt là nuôi thủy sản
công nghiệp, lúa đặc sản trên cánh đồng mẫu lớn, trái cây xuất khẩu. Nhanh
chóng thu hút đầu tư vào phát triển sản xuất nông sản, thủy sản 4ang hóa bằng
4
công nghệ hiện đại, công nghệ thân thiện với môi trường, đáp ứng các yêu cầu
của thị trường trong nước và xuất khẩu.
Bảy là,cần có những chương trình nghiên cứu dài hạn về chuyển dịch
mùa vụ, cây trồng, vật nuôi để “sống chung với lũ” và tiếp tục phát triển trong
điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng; thiết lập hệ thống khảo sát, theo dõi
và dự báo, cảnh báo những ảnh hưởng bởi tác động của thiên tai, môi trường.
Trước mắt cần tập trung nghiên cứu xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống
đê biển, đê sông; rừng phòng hộ, hệ thống cống ngăn mặn, giữ ngọt, hệ thống
giao thông thủy bộ, hệ thống tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng
thủy sản theo hướng hiện đại và kết hợp đa mục tiêu. Để thực hiện điều này đòi
hỏi các nhà khoa học của các ngành kinh tế, kỹ thuật cần có sự phối hợp chặt
chẽ trong việc xây dựng các công trình đồng bộ, đảm bảo lợi ích trước mắt và
lâu dài.
Tám là,các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà khoa học cần tiếp tục
nghiên cứu để phát huy những lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, lợi thế về
nguồn nhân lực, phát huy truyền thống hơn 300 năm của các thế hệ cha ông –
những người đã đổ nhiều mồ hôi, xương máu để khai phá và gìn giữ “đất
phương nam”, những người luôn lạc quan yêu đời, 5ang cảm trong chiến đấu,
năng động 5ang tạo, cần cù trong lao động để biến những thách thức, khắc
nghiệt của thiên nhiên thành cơ hội mới, không ngừng tạo ra những sản phẩm
nông nghiệp độc đáo, có hàm lượng khoa học và công nghệ cao được ưa
chuộng trên thị trường trong nước và thế giới, mang lại thu nhập tương xứng,
đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật chất và tinh thần cho người dân ĐBSCL.
40 năm qua, ngành thủy lợi không ngừng phấn đấu phục vụ phát triển
kinh tế - xã hội ĐBSCL, chúng ta đã làm được nhiều việc mang lại những hiệu
quả thiết thực, đồng thời chúng ta cũng có được những bài học kinh nghiệm
quý giá. Song, hiện nay vùng đất dễ tổn thương này đang đứng trước những
biến đổi mới do thiên nhiên, môi trường và do con người gây ra. Trước những
thách thức này, đòi hỏi mỗi cán bộ quản lý, cán bộ khoa học ngành thủy lợi cần
có tư duy mới, 5ang tạo mới, tiếp tục phục vụ tốt hơn nữa sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội ĐBSCL trên một tầm cao mới.
1.2 Một số giải pháp
a. Giải pháp phi công trình
Xây dựng lại tiêu chuẩn thiết kế, tần suất thiết kế các công trình, đê bao bờ
bao chống lũ và ngăn mặn… trong điều kiện mới có tính đến biến đổi khí hậu.
Xây dựng qui trình vận hành các công trình chống lũ và ngăn mặn nhằm
quản lý nước tốt hơn trong điều kiện nguồn nước ngày càng khan hiếm, từng
bước tự động hóa cập nhập các thông tin về nước và chất lượng nước.
Nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan đơn vị quản lý hệ thống thủy lợi
nhằm quản lý hiệu quả hơn hệ thống công trình.
5
Nghiên cứu thiết lập các mô hình quản lý nước với qui mô lớn, không bị
giới hạn bởi ranh giới tỉnh để chủ động điều tiết nước, cho các vùng ven biển
trong điều kiện biến đổi khí hậu, ví dụ hình thành các Ban Quản lý nước Nam
Sông Hậu; Vĩnh Long - Trà Vinh; Tiền Giang - Long An…
Song song với các giải pháp về thủy lợi, cần thực hiện đồng bộ các giải
pháp khác nhằm tăng năng suất, sản lượng, ổn định đời sống của người trồng
lúa và hạn chế sử dụng lương thực cho các mục đích khác như:
Giảm thiểu mất đất nông nghiệp cho đô thị hóa và phát triển công
nghiệp;
Nâng cao sản lượng bằng giải pháp giống thích nghi, có được bộ giống
cây trồng chịu được lợ và mặn, nhất là lúa;
Giảm tỷ lệ tổn thất sau thu hoạch, hỗ trợ sấy khô sau thu hoạch cho nông
dân;
Có chính sách khuyến nông hiệu quả, có chính sách ưu đãi đối với
những người trồng lúa;
Giảm áp lực lương thực ở ĐBSCL, tăng sản lượng lương thực ở các
vùng khác.
b. Giải pháp khoa học công nghệ thủy lợi:
Xây dựng chương trình nghiên cứu nhằm cung cấp đầy đủ luận cứ khoa
học phục vụ cho tính toán quy hoạch thủy lợi tổng thể và chi tiết, lượng hóa
các biên tính toán khi giải bài toán thủy lực (dự báo tăng giảm cao trình đỉnh
triều, chân triều khi nước biển dâng...), tăng cường năng lực công tác dự báo.
Đẩy mạnh công tác ứng dụng chuyển giao công nghệ mới tiến tiến vào
xây dựng công trình, kết cấu công trình, vật liệu mới, công cụ quản lý và điều
khiển.
Khoa học công nghệ thủy lợi gắn với KHCN nông nghiệp, lâm nghiệp
nhằm giải quyết bài toán tổng thể về kinh tế - xã hội – môi trường vùng
ĐBSCL.
c. Trữ nước ngọt bằng các hồ nhân tạo
Giải pháp này đã được một số tổ chức, cá nhân đề xuất với mục đích xây
dựng đào một số hồ ở những vùng ngập sâu nơi mà sản xuất nông nghiệp kém
hiệu quả như ở Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên, một số khu vực
rừng U Minh (Cà Mau), những vùng trũng này có thể tạo ra các hồ chứa tới vài
tỷ mét khối nước
d. Xây dựng các công trình ngăn sông quy mô vừa
Để ngăn mặn và trữ nước cho từng vùng, kết hợp chống hạn đi kèm với
ngăn mặn. Hiện tại, đại đa số các công trình vùng ĐBSCL đã và đang được quy
hoạch xây dựng theo hướng này. Theo đó, các công trình thủy lợi đã ngăn được
một số nhánh sông nhỏ chảy vào sông lớn (hoặc ngăn được một số sông vừa),
6
bỏ ngõ sông lớn thoát lũ và chấp nhận cho mặn xâm nhập. Như thế, ngăn mặn
chưa thật triệt để vì dòng mặn còn xâm nhập sâu vào nội địa và trong nhiều
trường hợp nếu nguồn nước ngọt phía thượng lưu bị thiếu hụt thì khả năng “tập
hậu” mặn là rất lớn khi đó việc ngăn mặn ở các sông nhỏ sẽ kém hiệu quả rất
nhiều. Mặt khác, theo hướng này sẽ không có khả năng khai thác nguồn nước
ngọt dồi dào ở những dòng sông lớn.
Xây dựng các công trình thủy lợi theo hướng này sẽ phát huy tác dụng
tốt khi kết hợp với công tác xây dựng các hệ thống đê vùng khép kín. Ưu điểm
nổi bật của giải pháp này là công trình xây dựng đơn giản, mức đầu tư xây
dựng thấp, hiệu quả xây dựng công trình sớm phát huy, phù hợp với điều kiện
kinh tế của nước ta hiện nay.
e. Ngăn các cửa sông lớn
Đây là giải pháp mang tính chiến lược, lâu dài. Giải pháp này sẽ hình
thành hai hướng quản lý khai thác nguồn nước.
Hướng thứ nhất:
Ngăn mặn giữ ngọt, tiêu úng thoát lũ triệt để (mang tính chất Ngăn
mặn). Theo hướng này, tất cả các dòng sông lớn ở vùng ĐBSCL đều được xây
dựng. Việc ngăn các sông lớn sẽ mang lại hiệu quả như sau:
Ngăn được xâm nhập mặn cả về nước mặt và thấm mặn.
Trữ được lượng nước ngọt khá lớn (hàng chục tỷ m3 nước) do đó sử
dụng được phần lớn lượng nước ngọt do thượng nguồn đổ về.
Gạn triều tiêu úng cải tạo đất thuận lợi.
Cải thiện được khả năng thoát lũ (tốt hơn) vì biến dòng sông thành 1
chiều, không phải tiêu lượng nước triều chảy vào như trước đây.
Phương pháp ngăn các sông lớn này sẽ biến ĐBSCL thành đồng bằng
vùng nước ngọt ở phía trên và vùng mặn ở phía dưới gần biển.
Hướng giải quyết này sẽ cho phép ta giải quyết triệt để vấn đề xâm nhập
mặn, cải thiện rất tốt vấn đề thoát lũ (khả năng thoát lũ sẽ tốt hơn rất nhiều).
Tuy nhiên cần phải nghiên cứu đánh giá một cách đầy đủ hơn về tác động môi
trường, chuyển đổi cơ cấu sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp của một bộ phận
lớn dân cư do sự chuyển đổi giữa vùng sinh thái mặn - ngọt hoặc lợ - ngọt. Mặt
khác để giải quyết được theo hướng này, cần một lượng kinh phí rất lớn. Đây là
những trở ngại to lớn khi nghiên cứu giải quyết theo hướng triệt để.
Hướng thứ hai:
Ngăn lần lượt một hoặc một số sông lớn. Những sông còn lại vẫn tiếp
tục được quản lý khai thác theo quy hoạch. Giải pháp này mang tính chất Kiểm
soát mặn. Đây là giải pháp mang tính trung hòa.
Một số vùng sẽ được ngọt hóa hoàn toàn giống như Hướng thứ nhất.
Một số vùng sẽ vẫn nằm trong tình trạng nước lợ nhưng bản đồ cơ cấu vùng
7
sản xuất này sẽ bị biến đổi do ảnh hưởng của việc ngăn một số dòng sông lớn
đã bổ sung lượng nước ngọt đáng kể cho phía thượng lưu công trình. Lưu
lượng này sẽ được điều tiết sang các nhánh sông khác trong hệ thống theo sơ
đồ thủy lực mạng để đẩy mặn xuống sâu hơn về phía biển. Nhờ vậy việc kiểm
soát mặn sẽ được chủ động hơn. Nhược điểm của hướng này là ngăn mặn, giữ
ngọt không triệt để. Tuy nhiên theo phương án này có khá nhiều mặt ưu điểm:
Phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay (kinh phí và trình độ khoa học thiết bị
chỉ đáp ứng xây dựng được lần lượt từng con sông); Không gây xáo trộn quá
nhiều và đột ngột về đời sống kinh tế - xã hội trong cả vùng (so với Hướng thứ
nhất đã phân tích ở trên).
Hiện nay ở Hà Lan, vẫn tồn tại cả 2 hình thức công trình ngăn mặn giữ
ngọt (Ngăn mặn) và hệ thống công trình kiểm soát mặn như đã phân tích ở trên
và thực tiễn cho thấy đã phát huy hiêu quả rất lớn.
1.3 So sánh với thực trạng đồng bằng sông Hồng
a. Thực trạng đồng bằng Sông Hồng
Mặc dù phía thượng nguồn sông Hồng có nhiều hồ chứa đã và sẽ cùng
tham gia điều tiết mực nước cho sông Hồng về mùa kiệt chống hạn cho hạ du.
Nhưng thực tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà mực nước trên hệ thống
sông Hồng kể từ sau khi xây dựng các công trình thủy điện ở thượng nguồn
ngày càng bị hạ thấp.
Xu thế chung đối với vùng hạ du của các công trình Thủy điện ở thượng
nguồn là bên cạnh sự giảm sút về nguồn nước thì yêu cầu về mực nước trong
sông về mùa khô cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Thực tế, sau khi có các hồ
chứa lòng sông sẽ bị xói sâu (hiện tượng xói nước trong), mực nước lại càng
xuống thấp. Mặt khác, tình trạng khai thác cát một cách bừa bãi và quá mức độ
cho phép càng làm trầm trọng thêm vấn đề hạ thấp mực nước trên sông về mùa
kiệt. Theo kết quả khảo sát, hiện nay trên sông Hồng hiện tượng hạ thấp mực
nước so với trước khi có hồ Hòa Bình đã xẩy ra rất nghiêm trọng, có nơi mực
nước đã hạ xuống tới 2m so với trước đây. Về lâu dài, đối với hệ thống sông
Hồng trong mùa khô có hai vấn đề cần phải tìm cách khắc phục đó là tình trạng
giảm nguồn nước và tình trạng bị hạ thấp mực nước. Tình trạng khô hạn trên hệ
thống sông Hồng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp. Vụ
đông xuân 2006-2007 các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc bộ có khoảng
142.000-242.000 ha khó khăn về nguồn nước tưới. Tại các địa phương có công
trình thuỷ lợi lớn cũng vẫn có khoảng 123.000ha không đủ nước tưới. Giải
pháp chống hạn duy nhất hiện nay vẫn là tích cực nạo vét kênh mương và làm
thuỷ lợi nội đồng. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hàng năm đã phải
bổ sung hàng chục (có năm lên đến hàng trăm) tỷ đồng để giúp người dân
8
chống hạn. Các ngành chức năng cũng đã phối hợp tính toán, điều tiết xả nước
các hồ ở thượng nghuồn với lưu lượng khoảng 1200m3/s (có lúc lên đến
2000m3/s) để bổ sung nguồn nước và tăng mực nước hạ du hệ thống sông
Hồng-Thái Bình nhằm giữ mực nước ổn định.
Sự cạn kiệt nguồn nước trên sông Hồng cũng đã ảnh hưởng rất lớn đến
vấn đề giao thông thủy. Những năm gần đây, mực nước trên sông Hồng giảm
đi rõ rệt sông Hồng nhiều đoạn hoàn toàn trơ đáy, đã khiến cho giao thông thủy
hoàn toàn bị tê liệt.
Như vậy, bức tranh thiếu hụt nguồn nước đối với đồng bằng sông Hồng
đã khá rõ ràng. Đồng bằng sông Hồng là vùng kinh tế, chính trị, văn hoá và xã
hội quan trọng của đất nước trong đó có thủ đô Hà Nội, là nơi có mật độ dân số
cao ở nước ta. Vì vậy, việc quản lý khai thác nguồn nước sông Hồng phục vụ
sản xuất, phát triển kinh tế xã hội có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong sự
phát triển chung của cả nước.
b. So sánh
Đồng bằng sông Hồng được khai thác lâu đời hơn rất nhiều so với
ĐBSCL nên hệ thông thủy lợi được đầu tư xây dựng hơn nhiều, hiện nay có rất
nhiều thế thống thủy lợi lớn phục vụ sản xuất nhưng hệ thống Thủy lợi Bắc
Hưng Hải, hệ thông thủy lợi Sông Nhuệ…Được quy hoạch chi tiết đầy đủ hơn
rất nhiều, tuy nhiên cũng đang xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn nước như đã
trình bày ở trên
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên khác nhau nên 2 vùng có điểm
mạnh điểm yếu riêng, có những vấn đề cần xử lý riêng biệt nên việc xây dựng
và phát triển thủy lợi có nhiều điểm khác nhau. Cần ứng dụng khoa học kỹ
thuật khác nhau.
2. Bài tập 2
Dùng phương pháp nhân tử ra Lagrange và ma trận viền Hessian để tìm cực trị
hàm 3 biến: u = f ( x; y; z ) = x + 2 y + 3 z
Thỏa mãn hai điều kiện: x − y + z = 1 và x 2 − y 2 = 1
GIẢI
L( x; y; z; λ ; µ ) = x + 2 y + 3z + λ ( x − y + z − 1) + µ ( x 2 + y 2 − 1) = 0
9
Lx = 0
1 + λ + 2 µ x = 0
L = 0
y
3 − λ + 2 µ y = 0
Lz = 0 ⇒ 3 + λ = 0
L = 0
x − y + z −1 = 0
λ
Lµ = 0 x 2 + y 2 − 1 = 0
Xét hệ:
CÓ HAI NGHIỆM
2
x = 29
5
y
=
−
29
29 + 7
z =
29
λ = −3
µ = 29
2
⇒ M0 = (
2
x = − 29
5
y
=
29
hoặc
29 − 7
z =
29
λ = −3
µ = − 29
2
2
5
29 − 7
29
;−
;−
; −3;
)
2
29
29
29
2
5
29 + 7
29
;
;−
; −3; −
) là điểm tới hạn của L
2
29 29
29
Và M 1 = ( −
Ta có ma trận viền Hessian:
0
0
H A ( M ) = g1x
g1 y
g1z
0
0
g2 x
g2 y
g2 z
g1x
g2 x
Lxx
Lyx
Lzx
g1 y
g2 y
Lxy
Lyy
Lzy
g1z 0 0
1
÷
g2z ÷
0 0 2x
Lxz ÷ = 1 2 x 2 µ
÷
Lyz ÷ −1 2 y 0
Lzz ÷
0
1 0
−1
2y
0
2µ
0
1
÷
0÷
0÷
÷
0÷
0÷
TRƯỜNG HỢP 01:
0
0
0
0
1
4
H A (M 0 ) =
29
−1
10
−
29
1
0
1
4
29
29
−1
10
−
29
0
0
29
0
0
1
0÷
÷
÷
0÷
÷
÷
0÷
÷
÷
0÷
10
Ở đây n = 3; m = 2 do đó ta cần tính n − m = 1 tử thức chính sau cùng đó là
∆5 (M 0 ) :
0
0
∆5 (M 0 ) = H A (M 0 ) =
= −1×
∆5 (M 0 ) =
0
0
1
4
29
1
4
29
−1
10
−
29
1
0
29
−1
10
−
29
0
0
29
0
0
4
29
4
29
10
−
29
29
10
29
0
0
29
−
1
0
0
0
0
= 1×
0
0
0
=
116
>0
29
4
29
10
−
29
1
4
29
−1
10
−
29
1
29
0
0
0
29
0
0
116
2
5
29 − 7
> 0 Do đó điểm P0 (
;−
;
) là điểm cực tiểu của f
29
29
29
29
với các điểm đã cho và f ct = f ( P ) = 3 − 29
0
TRƯỜNG HỢP 02:
0
0
0
0
1
4
−
H A (M 1 ) =
29
−1
10
29
1
0
1
4
−
29
− 29
0
0
−1
10
29
0
1
0÷
÷
÷
0÷
÷
÷
÷
− 29 0 ÷
÷
0
0÷
Ở đây n = 3; m = 2 do đó ta cần tính n − m = 1 tử thức chính sau cùng đó là
∆5 (M 0 ) :
11
0
0
∆5 (M1 ) = H A (M1 ) =
0
0
1
−
−1
1
0
= −1× −
∆5 (M 1 ) = −
4
29
10
29
− 29
−1
10
29
0
0
− 29
0
0
0
1
4
−
29
4
29
10
29
0
0
− 29
10
29
0
0
− 29
−
4
29
=−
1
0
0
0
0
= 1×
−
4
29
10
29
1
4
−
29
−1
10
29
1
− 29
0
0
0
0
− 29 0
116
<0
29
116
2
5
29 + 7
< 0 Do đó điểm P1 (−
;
;
) là điểm cực đại của f
29
29 29
29
với các điểm đã cho và f cd = f ( P ) = 3 + 29
1
3. Bài tập 3
Dùng phương pháp hình học để tìm GTLN và GTNN của hàm F = 5 x1 + 3x2
2 x1 − x2 ≥ −2
− x + x ≥ 1
1 2
Trong miền xác định bởi 3x1 + 2 x2 ≤ 6
x1 , x2 ≥ 0
GIẢI
- Vẽ đường thẳng: 2 x1 − x2 + 2 = 0
Ta giữ nguyên nửa mặt phẳng chứa O, bỏ nửa kia
- Vẽ đường thẳng: − x1 + x2 − 1 = 0 . Ta giữ nguyên mặt phẳng không chưa
O, bỏ nủa kia
12
- Vẽ đường thẳng: 3 x1 + x2 − 6 = 0 .Ta giữ nguyên mặt phẳng chứa O, bỏ nửa
kia
- Vẽ đường thẳng: x1 = 0, x2 = 0
2x
1
-x
2
+2
=0
x2
+
-x 1
A(
B(
)
-1
0
)
D(
C(
x2
=
)
)
x1
- Đường thẳng d: 5 x + 3 x = 0 có véc tơ pháp tuyến nr = 5;3
( )
1
2
- Tọa độ của A là giao của 2 đường thẳng
2
x1 =
2
x
−
x
+
2
=
0
1 2
2 18
7
⇒
⇒ A= ; ÷
7 7
3 x1 + 2 x2 − 6 = 0 x = 18
2
7
- Tọa độ của D là giao của 2 đường thẳng
4
x1 =
− x1 + x2 − 1 = 0
4 9
5
⇒
⇒D= ; ÷
5 5
3 x1 + 2 x2 − 6 = 0 x = 9
2
5
Ta có:
13
2 18 64
F ( A) = F ; ÷ =
7 7 7
F ( B ) = F ( 0; 2 ) = 6
F ( C ) = F ( 0;1) = 3
4 9
F ( D ) = F ; ÷ = 31
5 5
Vậy :
GTLN của hàm F = 31
GTNN của hàm F = 3
14