Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

Người tiến hành tố tụng trong cơ quan tòa án nhân dân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (551.12 KB, 26 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TẠ THỊ NGỌC ĐIỆP

NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG
CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 40

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


Công trình được hoàn thành tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN TUÂN

Phản biện 1: ........................................................................
Phản biện 2: ........................................................................

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2015

Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tư liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội




MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ
TỤNG HÌNH SỰ TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN ................7
1.1. Khái niệm, vị trí, vai trò và nguyên tắc hoạt động của người
tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân ............... 7
1.1.1. Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án
nhân dân.................................................................................................... 7
1.1.2. Vị trí, vai trò của người tiến hành tố tụng hình sự trong Tòa án nhân dân ..... 9
1.1.3. Các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng
hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân ................................................. 11
1.2. Mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng hình trong cơ
quan Tòa án nhân dân ......................................................................... 19
1.2.1. Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án, Phó Chánh án Tòa án .......... 19
1.2.2. Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án ....... 20
1.3. Khái quát các quy định của pháp luật về người tiến hành tố tụng
các vụ án hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân từ năm 1945
đến nay ................................................................................................... 23
1.3.1. Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân trong giai
đoạn từ năm 1945 đến năm 1988 ........................................................... 24
1.3.2. Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân theo quy
định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và năm 2003 ........................... 26

1.4. Người tiến hành tố tụng hình sự trong luật tố tụng hình sự một
số nước trên thế giới ............................................................................. 28
Kết luận chương 1 ............................................................................................ 39
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH
TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN
DÂN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
ĐẮK LẮK ............................................................................................. 40
2.1. Những quy định pháp luật về người tiến hành tố tụng trong cơ
quan Toà án nhân dân ......................................................................... 40
2.2. Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm............................................................ 44
1


2.2.1. Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử .............................................................. 44
2.2.2. Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân
trong phiên tòa xét xử sơ thẩm ............................................................... 49
2.3. Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
những người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án
nhân dân trong giai đoạn xét xử phúc thẩm ...................................... 56
2.4.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về người tiến hành tố tụng hình sự
trong cơ quan Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk............... 59
2.4.1. Tình hình tổ chức, cán bộ ngành Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk............... 59
2.4.2. Kết quả đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
người tiến hành tố tụng trong xét xử vụ án hình sự trong cơ quan

Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ........................................... 63
2.4.3. Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân trên
địa bàn tỉnh Đăk Lăk .............................................................................. 69
2.4.4. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện
các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến
hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án ............................................ 76
Kết luận chương 2 ............................................................................................ 81
Chương 3: NHỮNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP NHẰM NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA
NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN
NHÂN DÂN........................................................................................... 82
3.1.
Những yêu cầu cải cách tư pháp nhằm nâng cao chất lượng xét
xử vụ án hình sự của những người tiến hành tố tụng hình sự
trong cơ quan Toà án nhân dân .......................................................... 82
3.2.
Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình
sự của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án
nhân dân ................................................................................................ 90
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự của những người tiến hành tố
tụng hình sự trong cơ quan Tòa án trong Bộ luật tố tụng hình sự............. 90
3.2.2. Các giải pháp khác nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự
của những người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân ......... 97
Kết luận chương 3 .......................................................................................... 100
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 103

2



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tòa án là trung tâm và là bộ mặt của nền tư pháp ở mỗi quốc gia. Kết quả
trong hoạt động xét xử là thước đo cho tính công bằng và mức độ đảm bảo các
quyền dân chủ và quyền con người góp phần vào việc thực hiện pháp luật đảm
bảo công bằng và giữ gìn trật tự xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật
đối với những hành vi phạm tội nguy hiểm cho xã hội. Xây dựng Nhà nước pháp
quyền và cải cách tư pháp với vai trò trung tâm của hệ thống Tòa án là một chủ
trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng
khẳng định “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục,
nâng cao đạo đức”, Đại hội lần thứ IX của Đảng một lần nữa khẳng định: “Nhà
nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà
nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”. Quán triệt chỉ đạo của Đảng, tiếp thu
những tư tưởng mới về Nhà nước pháp quyền cũng như thực tiễn công cuộc Đổi
mới và hội nhập của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay, Hiến pháp năm 2013
kế thừa những thành tựu lập hiến của các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980
và 1992 vẫn tiếp tục khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư
pháp, vị trí trọng tâm của hoạt động xét xử trong các hoạt động tư pháp.
Theo quy định tại Điều 33 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm
2003 thì người tiến hành tố tụng trong cơ quan Toà án gồm có Chánh án, Phó
Chánh án Toà án, Thẩm phán và Thư ký Toà án. Là một trong các chủ thể của
tố tụng hình sự (TTHS), những người tiến hành tố tụng (THTT) trong cơ quan
Tòa án có vai trò quan trọng, mang tính quyết định trong quá trình chứng minh,
giải quyết vụ án hình sự. Những người THTT có nhiệm vụ, quyền hạn khác
nhau, nhưng hoạt động của họ có mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau và
đều có trách nhiệm là nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công
minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan
người vô tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích

hợp pháp của công dân.
Thực tiễn tố tụng hình sự nước ta cho thấy mặc dù định hướng cải cách tư
pháp của Đảng và Nhà nước rõ ràng và nhận được sự đồng thuận cao, đồng thời
hiến pháp đã ghi nhận xét xử là chức năng duy nhất của tòa án nhưng trong
nghiên cứu lập pháp và hoạt động áp dụng vẫn chưa có sự đồng nhất trong việc
tiếp cận vấn đề này. Hệ quả dẫn tới trong khoa học pháp lý và thực tiễn công
tác tố tụng tồn tại song song nhiều quan điểm, cách thức tiến hành còn khác
nhau về tổ chức, hoạt động xét xử của tòa án. Điều này có thể lý giải bởi hai
nguyên nhân cơ bản: Ở góc độ luật thực định, Bộ luật tố tụng hình sự và các
văn bản hướng dẫn hiện hành vẫn còn tồn tại những bất hợp lý trong phân định
chức năng của các chủ thể tiến hành tố tụng, điển hình trong đó nhiều quy định
buộc Tòa án phải chịu trách nhiệm chứng minh tội phạm và thực hiện những
3


công việc bên phần sân công tố; hoặc quy định chưa rõ ràng hoặc qui định chưa
đẩy đủ các quyền năng để Tòa án có thể thực hiện được “tròn trịa” vai trò trọng
tài, người phân xử. Ở góc độ các chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự,
năng lực, trách nhiệm chưa cao của một bộ phận cán bộ thực hiện công tác tố
tụng cùng với cơ chế, phương thức giải quyết án tại nhiều cơ quan tiến hành tố
tụng chưa thực sự khoa học và đúng với quy trình tố tụng cũng là nguyên nhân
làm nảy sinh nhiều hạn chế trong công tác xét xử.
Tỉnh Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, Việt Nam có diện
tích 13.140km²; dân số gần 2.000.000 người. Cơ cấu tổ chức của ngành Tòa án
tỉnh Đắk Lắk hiện nay gồm: TAND tỉnh Đắk Lắk có 05 Tòa chuyên trách, 03
phòng giúp việc và 15 Tòa án cấp huyện. Toàn ngành TAND tỉnh Đắk Lắk có
322 công chức, trong đó có 291 người trình độ đại học. Trong những năm qua,
cùng với ngành Tòa án toàn quốc, TAND tỉnh Đắk Lắk đã không ngừng nỗ lực
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Chất
lượng hoạt động xét xử đã được nâng lên từng bước, góp phần giải quyết tốt các

tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội tại địa phương, tại môi trường ổn định, thuận lợi cho sự phát triển
kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhận thấy tầm quan trọng về lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu
vai trò, chức năng, nhiệm vụ của những người THTT trong cơ quan Tòa án
trong hệ thống pháp luật về tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả mạnh dạn chọn đề
tài luận văn thạc sỹ là: “Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án (trên
cơ sở số liệu tại địa bàn tỉnh Đăk Lăk)”.
2. Tình hình nghiên cứu
Vai trò, chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ giữa người tiến hành tố tụng
trong cơ quan Tòa án với các chủ thể tham gia tố tụng hình sự khác là một trong
những vấn đề được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu. Sau khi BLTTHS
năm 2003 có hiệu lực thi hành đã có một số công trình nghiên cứu đề cập các
khía cạnh liên quan tới đề tài này như:
- “Giáo trình luật tố tụng hình sự”, của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội;
- “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, do GS.TS Võ
Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004;
- “Trình tự thủ tục giải quyết các vụ án hình sự”, của Mai Thanh Hiếu và
Võ Chí Công, Nxb Lao động, Hà Nội;
- “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự (Xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm)”, Th.S Đinh Văn Quế, Nxb Tổng hợp Thành
phố Hồ Chí Minh, 2007;
Tuy nhiên, các công trình đó mới nhằm đến những khía cạnh nhất định
của người tiến hành tố tụng mà chưa nghiên cứu toàn diện và đề xuất hoàn thiện
những bất cập mà khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố
tụng trong cơ quan Tòa án đã và đang gặp phải, nhất là trong quá trình cải cách
hệ thống tư pháp hiện nay.
4



3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến
hành tố tụng trong cơ quan Tòa án trong hoạt động tố tụng hình sự và thực
trạng về chất lượng người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án trong hoạt
động xét xử án hình sự trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk.
Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án
hình sự thông qua việc đổi mới hoạt động của người tiến hành tố tụng trong cơ
quan Tòa án trong thời gian tới.
Để đạt mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về nhiệm vụ, quyền hạn của
người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án trong BLTTHS.
- Thực trạng áp dụng các quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền hạn
của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án vào xét xử vụ án hình sự
trong từng giai đoạn.
- Các giải pháp hoàn thiện các quy định của BLTTHS về nhiệm vụ, quyền
hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhằm nâng cao chất
lượng xét xử vụ án hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ
quan Tòa án và những vấn đề trong công tác xét xử và áp dụng pháp luật trong
giải quyết vụ án hình sự của từng chủ thể người tiến hành tố tụng trong cơ quan
Tòa án qua thực tiễn tại tỉnh Đắk Lắk.
Trên cơ sở mục đích, đối tượng nghiên cứu đã xác định phạm vi nghiên
cứu của đề tài chủ yếu tập trung vào những vấn đề tố tụng hình sự liên quan đến
nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án và thực
tiễn áp dụng từ năm 2009 đến năm 2014 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nhằm phát
hiện những tồn tại, hạn chế cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
xét xử của Tòa án, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục nguyên nhân, phát
huy những thành tựu, đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của hoạt động xét

xử các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân địa phương, đồng thời đề xuất các
giải pháp để đảm bảo cho xét xử các vụ án hình sự của TAND đúng pháp luật,
phù hợp với tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin, chủ yếu sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phân
tích và tổng hợp, lịch sử. Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp của
các bộ môn khoa học khác. Hệ thống các phương pháp trên được sử dụng cụ thể
như sau: Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng để giải quyết nhiệm
vụ đặt ra ở các chương của luận văn.
6. Đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhiệm vụ,
5


quyền hạn của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nói chung
và hoạt động xét xử vụ án hình sự trên địa bàn TAND tỉnh Đắk Lắk nói riêng.
Luận văn lần đầu tiên đưa ra những luận cứ khoa học để làm sáng tỏ một cách
hệ thống vấn đề thực trạng mà người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án đã
và đang xét xử vụ án hình sự trong những năm qua và đưa ra những giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự được tốt hơn để từ đó có thể
giúp cho người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án giải quyết vụ án hình sự
được tốt hơn. Luận văn đồng thời phân tích làm rõ những kết quả, hạn chế,
nguyên nhân của những hạn chế trong việc xét xử vụ án hình sự trong thời gian
qua của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án.
7. Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn góp phần xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn trong chất
lượng xét xử vụ án hình sự của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án.
Luận văn có thể được xây dựng làm cơ sở hình thành nên các chính sách nhằm
nâng cao hiệu quả chất lượng hoạt động tố tụng hình sự. Luận văn có thể là tài liệu

tham khảo trong nghiên cứu và trong công tác xét xử những vụ án hình sự.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về người tiến hành tố tụng hình sự trong
cơ quan Tòa án nhân dân.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về những người tiến hành tố tụng hình
sự trong cơ quan Tòa án nhân dân và thực tiễn áp dụng trên
địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Chương 3: Những yêu cầu cải cách nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ
án hình sự của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan
Tòa án nhân dân.

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
HÌNH SỰ TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm, vị trí, vai trò và nguyên tắc hoạt động của người tiến
hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân
1.1.1. Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án
nhân dân
Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục có sự tham gia
của nhiều chủ thể, trải qua nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau với nhiều cơ quan
tiến hành tố tụng khác nhau mà trong đó vị trí, vai trò của mỗi cơ quan là khác
nhau. Mỗi giai đoạn tố tụng đều có những đặc điểm đặc trưng và thể hiện một
hướng nhất định của hoạt động tố tụng. Cơ quan tham gia vào trình tự tố tụng
6


hình sự này được gọi là cơ quan tiến hành tố tụng. Tòa án nhân dân là một trong
những cơ quan tiến hành tố tụng có vị trí, vai trò quan trọng, là cơ quan cuối

cùng kết thúc một quá trình tố tụng.
Người tiến hành tố tụng hình sự nói chung là những người đại diện các cơ
quan tiến hành tố tụng thực hiện những nhiệm vụ trong các giai đoạn tố tụng
(khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự) nhằm đảm bảo giải
quyết vụ án hình sự theo đúng pháp luật tố tụng hình sự quy định, bảo vệ lợi ích
của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Người tiến hành tố tụng là một trong các chủ thể của tố tụng hình sự, có
vai trò quan trọng, mang tính quyết định trong quá trình chứng minh, giải quyết
vụ án hình sự. Những người THTT có nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, nhưng
hoạt động của họ có mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau và đều có trách
nhiệm là nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời
mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân. Trên cơ sở phân loại theo các cơ quan THTT thì có người THTT trong Cơ
quan điều tra, người THTT trong cơ quan Viện kiểm sát và người THTT trong
cơ quan Toà án.
Theo phân loại tại Điều 33 BLTTHS năm 2003, ngoài các chức danh tư
pháp như Thẩm phán,Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, BLTTHS năm 2003
còn quy định những chức danh lãnh đạo của Toà án là người tiến hành tố tụng.
Do đó, có thể hiểu rằng, những người đại diện cho cơ quan Tòa án có thẩm
quyền tiến hành xét xử vụ án hình sự là người THTT. Khi tiến hành những hoạt
động cụ thể trong việc xét xử các vụ án hình sự và thi hành các bản án, quyết
định của Toà án, Tòa án phải thông qua những con người cụ thể, những người
đó gọi là người tiến hành tố tụng.
Như vậy, người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án cũng như việc quy
định về quyền, nghĩa vụ của họ được đề cập từ rất sớm trong lịch sử lập pháp
Việt Nam. Theo quy định của pháp luật có thể hiểu như sau về người tiến hành tố
tụng trong cơ quan Tòa án: “Người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa
án là người được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm, được bầu hoặc cử theo quy
định của pháp luật có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm tiến hành xét xử các

vụ án hình sự của Toà án theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định.”
1.1.2. Vị trí, vai trò của người tiến hành tố tụng hình sự trong Tòa án
nhân dân
Là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, hệ thống Tòa án nhân dân của Việt
Nam thực hiện chức năng duy trì và bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ tài sản của
Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của
công dân. Các chức danh THTT trong cơ quan Tòa án bao gồm Chánh án, Phó
Chánh án Toà án và Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án có vai trò
quan trọng, mang tính quyết định trong quá trình chứng minh, giải quyết vụ án
hình sự. Như vậy, vai trò của người THTT trong cơ quan Tòa án có thể coi là
7


người duy nhất được Nhà nước, cụ thể là Tòa án giao trách nhiệm thực hiện các
hành vi tố tụng trong hoạt động khởi tố, xét xử vụ án hình sự, khi thực hiện
nhiệm vụ chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được
pháp luật bảo vệ. Người tiến hành TTHS là người có vai trò quan trọng, giữ vị
trí trung tâm trong hoạt động TTHS.
1.1.3. Các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố
tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng
hình sự
Theo nguyên tắc này thì khi giải quyết vụ án hình sự mọi hoạt động tố
tụng của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án phải được tiến hành theo
trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS bảo đảm phát hiện chính xác, nhanh
chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội; không để lọt tội
phạm, không làm oan người vô tội.
Thứ hai, khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật
Đây là một nguyên tắc Hiến định, rất quan trọng trong hoạt động xét xử.

Tuy nhiên hiện nay nguyên tắc này còn bị xem nhẹ, chưa có cơ chế phù hợp
cho Thẩm phán, Hội thẩm thực sự độc lập. Việc can thiệp vào hoạt động xét xử
không phải là hiếm. Do vậy nhiều nơi Thẩm phán và Hội thẩm chưa thực sự
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử.
Thứ ba, nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án
Nguyên tắc này ghi nhận những người tham gia tố tụng được pháp luật
bảo đảm quyền bình đẳng với nhau và với Kiểm sát viên trong việc đưa ra
chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án nhằm
chứng minh cho quan điểm, ý kiến của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Thứ tư, nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
Nguyên tắc này khẳng định chỉ có Tòa án mới có quyền kết tội một con
người đó bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Khi chưa có bản án kết tội
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, không một người nào bị coi là có tội. Chỉ
có người đã bị Tòa án tuyên bố phạm tội mới bị áp dụng hình phạt và việc áp
dụng hình phạt phải do Tòa án thực hiện
Thứ năm, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
BLTTHS quy định các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện
pháp pháp luật quy định để tìm ra sự thật khách quan của vụ án một cách khách
quan, toàn diện, đầy đủ. Nguyên tắc này còn quy định trách nhiệm chứng minh
tội phạm thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Hiện nay trong
các nhà nghiên cứu pháp lý có ý kiến nên bỏ quy định trách nhiệm chứng minh
tội phạm của Tòa án trong BLTTHS.
Thứ sáu, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng
hoặc người tham gia tố tụng
8


Nguyên tắc này đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải đảm bảo vô tư
khi làm nhiệm vụ. Nếu HĐXX không vô tư, khách quan có thể sự thật của vụ

án sẽ không được rõ ràng, việc áp dụng pháp luật sẽ không chính xác, ảnh
hưởng tới uy tín của nhà nước, sự nghiêm minh của pháp luật, quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, công dân.
Ngoài các nguyên tắc trên HĐXX cũng phải tuân thủ theo các nguyên tắc
khác của BLTTHS.
1.2. Mối quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng hình trong cơ
quan Tòa án nhân dân
1.2.1. Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Chánh án, Phó Chánh án Tòa án
Chánh án là người tổ chức công tác xét xử của Tòa án, quyết định phân
công Thẩm phán, Hội thẩm giải quyết, xét xử vụ án hình sự, quyết định việc thay
đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên tòa. Khi Chánh án vắng mặt một
Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh
án. Mối quan hệ này mang tính đan xen giữa hành chính và tố tụng. Trong hoạt
động tố tụng, không có quy định nào buộc Thẩm phán hay Hội thẩm phải chịu sự
chỉ đạo của Chánh án hay Phó Chánh án khi xét xử. Khi xét xử, Thẩm phán và
Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tuy nhiên trong thực tế tại không ít
các Tòa án trước khi xét xử hoặc sau phần tranh luận, trước khi nghị án, Thẩm
phán phải báo cáo nội dung vụ án với Chánh án hoặc Ủy ban thẩm phán để xin
đường lối giải quyết vụ án, thậm chí là duyệt trước mức án. Việc làm này ảnh
hưởng đến tính độc lập của HĐXX.
1.2.2. Mối quan hệ giữa Thẩm phán với Hội thẩm nhân dân, Thư ký
Tòa án
Nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án
được quy định khá rõ tại Điều 39, 40, 41 của BLTTHS và cũng có những quyền
hạn, trách nhiệm riêng của mình có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xét xử
vụ án hình sự.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa cũng có những quyền hạn, trách nhiệm riêng của mình có ảnh hưởng không
nhỏ đến việc giải quyết vụ án hình sự. Thẩm phán được phân công làm chủ tọa
phiên tòa có quyền ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Quyết định này là căn cứ

xác lập vị trí pháp lý của những người tiến hành tố tụng. Trên cơ sở đó, Thẩm
phán, Hội thẩm mới có những quyền hạn, trách nhiệm mà pháp luật quy định cho
các thành viên HĐXX. Tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là thành viên
của HĐXX, phần lớn hoạt động của chủ tọa phiên tòa là thay mặt HĐXX thực
hiện các quyền hạn, trách nhiệm của HĐXX. Chủ tọa phiên tòa thực hiện tốt các
hoạt động này cũng là HĐXX thực hiện tốt quyền hạn và trách nhiệm của mình.
Thư ký Tòa án là người làm thư ký tại phiên tòa. Tại phiên tòa Thư ký Tòa
án có trách nhiệm ghi biên bản phiên tòa, thực hiện các yêu cầu của HĐXX. Hoạt
động của Thư ký Tòa án góp phần bảo đảm cho việc giải quyết vụ án trong việc
thực hiện kế hoạch xét xử và ra bản án có căn cứ. Thư ký Tòa án cũng có sự độc
9


lập nhất định đối với HĐXX. Họ phải ghi biên bản phiên tòa trung thực, chính
xác, không thể phản ánh sai diễn biến phiên tòa để "hợp pháp hóa" chứng cứ hay
làm sai lệch nội dung vụ án. Tuy nhiên, hiện nay việc bố trí vị trí ngồi cho Thư ký
Tòa án tại các phiên tòa cũng chưa hợp lý dễ gây hiểu lầm Thư ký Tòa án cũng là
thành viên của HĐXX, cần phải nghiên cứu để bố trí lại vị trí ngồi của Thư ký Tòa
án cho phù hợp, qua đó cũng thể hiện rõ vị trí trung tâm của HĐXX.
1.3. Khái quát các quy định của pháp luật về người tiến hành tố tụng
các vụ án hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân từ năm 1945 đến nay
Ra đời chính thức vào ngày 13/9/1946, hệ thống Toà án của nước ta đã
lần lượt trải qua những cải cách về tổ chức và hoạt động: theo quy định của
Hiến pháp năm 1946, Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/05/1950 của Chủ tịch nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà, Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Toà án nhân
dân năm 1960, Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm
1981, Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001), các luật tổ
chức Toà án nhân dân năm 1992 và năm 2002. Trong quá trình xây dựng hệ
thống Tòa án, các quy định liên quan tới thẩm quyền, chức năng và nhiệm vụ
của những người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án cũng có nhiều thay đổi

qua thời gian. Trọng tâm của những thay đổi này nằm ở chức danh Thẩm phán
và các Hội thẩm, Thư ký Tòa án.
1.3.1. Người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân trong
giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988
Giai đoạn này chưa có BLTTHS nhưng các văn bản thời bấy giờ như các
văn bản: Sắc lệnh 33/C ngày 13/9/1945 của Chủ tịch nước thiết lập các Tòa án
quân sự; Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/1/1946 của Chủ tịch nước về tổ chức các
ngạch Thẩm phán; Hiến pháp năm 1946; Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 của
Chủ tịch nước về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, Hiến pháp năm 1959;
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960; Thông tư số 2421-TC ngày
29/12/1961 và Thông tư số 16-TATC ngày 29/7/1974 của TANDTC đều có
những nội dung ghi nhận việc xét xử phải được thực hiện bằng một tập thể.
Trong đó có những văn bản xác định HĐXX có nhiệm vụ quyết định mọi vấn đề
về nội dung cũng như về thủ tục tố tụng trong phiên tòa. HĐXX quyết định theo
đa số, trên nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm ngang quyền nhau.
1.3.2. Người tiến hành tố tụng theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 1988 và năm 2003
Hiến pháp năm 1980 và BLTTHS năm 1988 đều ghi nhận các nguyên tắc:
Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, khi xét xử Hội thẩm
nhân dân ngang quyền với Thẩm phán; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật. BLTTHS năm 2003 trên cơ sở kế thừa BLTTHS
năm 1988, đồng thời cũng có một số thay đổi, xác định rõ chức năng nhiệm vụ
của những người tiến hành tố tụng, quy định chặt chẽ, cụ thể hơn về quyền hạn,
trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng. Sửa đổi các trình tự, thủ tục tố
tụng cụ thể, rõ ràng, có tính khả thi hơn, đề cao tính tranh tụng hơn. Về thành
10


phần HĐXX và các nguyên tắc hoạt động của HĐXX cơ bản được giữ nguyên
theo quy định của BLTTHS năm 1988.

1.4. Người tiến hành tố tụng trong luật tố tụng hình sự một số nước
trên thế giới
Thủ tục tố tụng của các nước trên thế giới hiện nay phân chia thành hai hệ
thống chủ yếu đó là: Hệ thống tố tụng thẩm vấn (hay còn gọi là hệ thống tố tụng
xét hỏi) và hệ thống tố tụng tranh tụng. Tuy nhiên có quan điểm cho rằng có ba
hệ thống ngoài hai hệ thống trên còn có hệ thống tranh tụng pha trộn.
Mô hình tố tụng tranh tụng chủ yếu được áp dụng ở các nước theo hệ
thống pháp luật án lệ, là một trong các mô hình tố tụng hình sự phổ biến hiện
nay trên thế giới; bảo đảm sự bình đẳng tuyệt đối giữa bên buộc tội và bên bào
chữa trong suốt quá trình đi tìm sự thật vụ án. Thể hiện tính công bằng cao, thể
hiện qua vai trò bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Mô hình tranh tụng
thể hiện ở mức độ cao hơn sự tôn trọng quyền cơ bản của công dân. Vai trò của
luật sư giúp giảm đi sự lạm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Mô hình tố tụng thẩm vấn được phổ biến rộng rãi nhất trong thời đại chế
độ chuyên chế. Với bản chất không đặt nặng hình thức như tố tụng tranh tụng,
tố tụng thẩm vấn coi sự thật sau cùng của vụ án là mục đích được mong chờ, do
đó, những sai phạm không đáng kể trong thủ tục có thể được bỏ qua nếu mục
đích chứng minh tội phạm vẫn được giải quyết.
Ngoài hai mô hình tố tụng nêu trên còn tồn tại mô hình tố tụng pha trộn.
Mô hình tố tụng pha trộn là mô hình tố tụng có sự đan xen, kết hợp của cả hai
cách thức tổ chức hoạt động tố tụng hình sự nêu trên.
Mỗi mô hình tố tụng hình sự đều có những ưu thế và những hạn chế của nó.
Cho đến nay, các quốc gia đều có sự thay đổi hệ thống tố tụng của mình cho phù
hợp với sự phát triển xã hội. Tìm mọi cách phát huy những điểm mạnh, hạn chế
những nhược điểm trong mô hình tố tụng mà mình đã lựa chọn.

Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
HÌNH SỰ TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK

2.1. Những quy định pháp luật về người tiến hành tố tụng trong cơ
quan Toà án nhân dân
Ngày 24-11-2014, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khoá XIII đã thông qua Luật Tổ chức Toà án nhân dân. Đây là
một trong những đạo luật quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước được Quốc hội
thông qua theo tinh thần Hiến pháp mới. Điều 3 Luật Tổ chức Toà án nhân dân
năm 2014 quy định theo hướng chuyên môn hoá nhưng linh hoạt, tránh cồng
11


kềnh, gây tốn kém, lãng phí. Thẩm phán được Nhà nước trao cho nhiều quyền hạn
và trách nhiệm để thực hiện nhiệm vụ của mình. Trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ của mình Thẩm phán có thể có nhiều quyết định hoặc hành động có liên quan
đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và công dân. Do vậy Nhà
nước quy định tiêu chuẩn của một Thẩm phán rất chặt chẽ theo khoản 1 Điều 67
Luật Tổ chức TAND năm 2014. Về nhiệm kỳ của Thẩm phán cũng được kéo dài
hơn theo định hướng đã được xác định trong các văn kiện của Đảng; cụ thể:
“Nhiệm kỳ đầu của các Thẩm phán là 05 năm; trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc
được bổ nhiệm vào ngạch Thẩm phán khác thì nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm.”
Bên cạnh các nội dung nêu trên, Luật tổ chức Toà án nhân dân quy định
chỉ thành lập một Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia để bảo
đảm chất lượng đồng đều giữa các ứng viên được tuyển chọn, đề nghị bổ nhiệm
làm Thẩm phán; quy định thành lập Hội đồng thi tuyển chọn Thẩm phán sơ cấp,
Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán cao cấp để tổ chức các kỳ thi tuyển chọn
Thẩm phán, kỳ thi nâng ngạch Thẩm phán.
Các quy định về Hội thẩm cũng có những bổ sung quan trọng nhằm khắc
phục những tồn tại, bất cập hiện nay trong tổ chức và hoạt động của Hội thẩm
Tòa án nhân dân; bảo đảm việc tham gia của Hội thẩm vào công tác xét xử là
phương thức để nhân dân thực hiện quyền tư pháp; đồng thời, thực hiện quyền
giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử. Theo đó, khoản 1 Điều Luật tổ

chức Tòa án nhân dân năm 2014 không quy định việc Tòa án quản lý Hội thẩm
mà Hội thẩm được tổ chức thành Đoàn Hội thẩm. Đoàn Hội thẩm hoạt động
theo quy chế do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành.
Ngoài các nội dung nêu trên, trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm
2014 còn có các quy định cụ thể về các chức danh Thư ký Tòa án, Thẩm tra
viên; quy định về bảo đảm hoạt động của Tòa án nhân dân và hiệu lực thi hành
của Luật tổ chức Tòa án nhân dân. Tại khoản 1 Điều 92 Luật tổ chức Tòa án
nhân dân năm 2014.
Bên cạnh đó, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng đã quy định rõ
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của những người tiến hành tố tụng
nói chung và trong cơ quan Tòa án rất chi tiết tại Điều 38, 39, 40, 41 Bộ luật tố
tụng hình sự.
2.2. Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm
2.2.1. Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử theo hai cấp,
đó là cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm. BLTTHS đã dành Chương
XVII gồm có 8 điều (từ Điều 176 đến Điều 183) quy định về giai đoạn chuẩn bị
xét xử sơ thẩm.
12


Chánh án Tòa án phân công Thẩm phán giải quyết hồ sơ vụ án làm Chủ tọa
phiên tòa, có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ, nghiên cứu hồ sơ và tiến hành chuẩn
bị xét xử. Trong giai đoạn này Thẩm phán phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để đảm
bảo mọi quyết định của mình có căn cứ, hợp pháp và phù hợp với quy luật khách
quan. Trong đó thẩm phán được phân công nghiên cứu toàn bộ hồ sơ, đánh giá

toàn bộ các tài liệu đã được cơ quan điều tra, VKS thu thập. Đồng thời cũng
trong giai đoạn này đã có sự hiện diện của bên bào chữa: bị cáo, luật sư, người
bào chữa khác. Ở giai đoạn này, mặc dù chưa chính thức có sự đấu tranh công
khai của các bên đối lập, HĐXX chưa được thành lập nhưng giai đoạn này vẫn
có sự hiện diện và thực hiện chức năng của bên buộc tội, bào chữa. Nghiên cứu
hồ sơ là bước rất quan trọng đối với xét xử theo trình tự sơ thẩm, Thẩm phán
phải nghiên cứu toàn bộ, toàn diện hồ sơ để hoàn thiện hồ sơ, giải quyết vụ án.
Bộ luật Tố tụng hình sự đã ấn định thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm đối với
các tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm
trọng khác nhau. Đối với vụ án phức tạp Chánh án Tòa án có thể gia hạn thời
hạn chuẩn bị xét xử. Chính vì vậy, người tiến hành tố tụng khi nghiên cứu hồ sơ
phải nắm chắc về thời hạn chuẩn bị xét xử để chủ động nghiên cứu hồ sơ vụ án
tránh trường hợp "để quên" hồ sơ hoặc để quá hạn luật định. Trong thời hạn quy
định tại Điều 151 BLTTHS Thẩm phán phải ra một trong số các quyết định
như: Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Quyết định đình chỉ vụ án, Quyết
định tạm đình chỉ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Các quy định về chuẩn bị xét xử giúp cho người tiến hành tố tụng trong
cơ quan Toà án có cách nhìn nhận, sự đánh giá nhất định có tính bao quát về vụ
án, các vấn đề cần phải làm sáng tỏ; giúp Hội đồng xét xử nói chung, Thẩm
phán riêng khi ra phiên tòa có tính chủ động hơn để điều khiển phiên tòa theo
đúng trình tự thủ tục, bám sát nội dung vụ án. Nâng cao hiệu quả tranh tụng tại
phiên tòa. Chính vì vậy, luật tố tụng hình sự đã quy định khá cụ thể về nhiệm
vụ, quyền hạn của từng người tiếng hành tố tụng trong cơ quan Tòa án giai
đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, tạo ra hành lang pháp lý để giải quyết vụ án
chính điều đó đã hạn chế rất nhiều án hủy về lỗi nghiên cứu hồ sơ vụ án.
2.2.2. Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân trong phiên
tòa xét xử sơ thẩm
Đây là giai đoạn trung tâm nhất thể hiện rõ nét nhiệm vụ, quyền hạn của
người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án. Theo quy định của BLTTHS hiện

hành thì phiên toà xét xử sơ thẩm chia thành các phần sau đây: phần thủ tục,
phần xét hỏi; phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng, nghị án và tuyên án.
BLTTHS quy định thủ tục bắt đầu phiên tòa do chủ tọa phiên tòa thực
hiện. Trong phần này chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm kiểm tra căn cước của
những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng đối tượng tham gia phiên tòa như
đúng bị cáo, người bị hại, người làm chứng …trong vụ án. Giải thích cho những
người tham gia tố tụng biết rõ về những quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên tòa.
13


Giải quyết các yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định,
người phiên dịch nhằm đảm bảo sự vô tư, khách quan của những người tiến
hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch. Đảm bảo mọi chứng cứ, tài
liệu, vật chứng sẽ được xem xét đầy đủ.
Quy định của pháp luật trong phần này cũng thể hiện vị trí, vai trò của
HĐXX là người "trọng tài", là người quyết định khi xem xét, giải quyết yêu cầu
của các bên. Đây cũng là quyền hạn, trách nhiệm rất quan trọng của HĐXX tại
phần thủ tục bắt đầu phiên tòa.
Tại phần xét hỏi: Được quy định tại chương XX của BLTTHS. Kết quả
xét hỏi là một trong những căn cứ quan trọng nhất để HĐXX ra bản án, quyết
định. HĐXX có vị trí đặc biệt quan trọng trong phần thủ tục xét hỏi tại phiên tòa
và có rất nhiều quyền hạn, trách nhiệm trong phần này. HĐXX nổi lên là người
hỏi chính và hỏi toàn bộ các vấn đề của vụ án. Về trình tự xét hỏi luật quy định,
chủ tọa phiên tòa là người hỏi trước, sau đó các Hội thẩm hỏi rồi mới tới các người
khác có quyền hỏi. HĐXX có thể nghe kết luận giám định, đánh giá của người
giám định tại phiên tòa. HĐXX cũng có thể xem xét vật chứng, công bố các tài
liệu có trong hồ sơ, xem xét tại chỗ nơi xảy ra vụ án hoặc các nơi có liên quan.
HĐXX cũng phải tạo điều kiện cho những người có quyền hỏi khác như Kiểm sát
viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự xét hỏi những người
tham gia tố tụng về vụ án. Việc xét hỏi phải bảo đảm khách quan, toàn diện, đầy

đủ làm căn cứ cho việc ra bản án của Tòa án chính xác, đúng pháp luật.
Kết thúc phần xét hỏi khi kiểm tra các tình tiết của vụ án đã được xét hỏi
đầy đủ rồi, không ai đề nghị xét hỏi về vấn đề gì thêm thì chủ tọa tuyên bố kết
thúc phần xét hỏi chuyển sang phần tranh luận tại phiên tòa. Phần tranh luận tại
phiên tòa là phần rất quan trọng, ở đó các bên căn cứ vào những chứng cứ đã
được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa để đưa ra lý lẽ, lập luận nhằm chứng minh
cho quan điểm của mình là đúng, có căn cứ pháp luật. HĐXX có trách nhiệm
nghe ý kiến của các bên tham gia tranh luận và hướng cho các bên tranh luận
đúng nội dung vụ án và đối đáp các ý kiến. Việc tranh luận của các bên sẽ giúp
cho HĐXX có đánh giá đúng về vụ án.
Nghị án là việc HĐXX thảo luận tại phòng nghị án, thông qua bản án
hoặc quyết định giải quyết vụ án. Chỉ có thành viên của HĐXX mới có quyền nghị
án, HĐXX phải thảo luận và biểu quyết khi ra bản án, quyết định.Khi nghị án,
Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, biểu quyết theo đa số,
Thẩm phán là người biểu quyết sau cùng.
Tuyên án là việc HĐXX nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết đối với
một vụ án, do vậy hoạt động này thể hiện tính quyền lực cao. Bản án được
tuyên đọc cho tất cả những người tham gia phiên tòa nghe. Khi HĐXX tuyên án
thể hiện sự tính uy nghiêm nên pháp luật quy định. Trách nhiệm của HĐXX khi
tuyên án là phải tuyên đọc bản án to, rõ ràng, chính xác, thể hiện sự uy nghiêm.
Sau khi tuyên án HĐXX có thể giải thích thêm về các quyết định của bản án và
quyền kháng cáo bản án.
14


2.3. Quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
những người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Toà án nhân dân
trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
Theo quy định tại Ðiều 244 BLTTHS năm 2003 thì HÐXX phúc thẩm chỉ
gồm có ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội

thẩm. Việc quy định thành phần HÐXXPT như vậy cũng xuất phát tính chất của
các cấp xét xử, vì cấp xét xử phúc thẩm là xét xử lại vụ án nhằm khắc phục
những sai sót của Toà án cấp sơ thẩm. Thành phần HĐXXPT khi xét xử bắt
buộc phải có các Thẩm phán. Trong trường hợp cần thiết HĐXXPT có thể thêm
hai Hội thẩm.
Đối với bất kỳ HĐXX nào Chủ tọa phiên tòa phải là Thẩm phán, pháp luật
không quy định Hội thẩm được làm chủ tọa phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa là người
điều khiển việc xét xử tại phiên tòa và duy trì kỷ luật tại phiên tòa. Ngoài các
thành viên chính thức của HĐXX, HĐXX còn có thể có các thành viên dự
khuyết. Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết phải có mặt tại phiên tòa từ đầu mới
được tham gia xét xử.
BLTTHS hiện nay không quy định về thủ tục thành lập, hình thức thành
lập HĐXXPT. Trong khi đó tại điểm b khoản 1 Điều 38 BLTTHS quy định cụ
thể về trách nhiệm, quyền hạn của Chánh án Tòa án trong việc phân công Thẩm
phán, Hội thẩm tham gia giải quyết, xét xử vụ án hình sự. Thực tiễn xét xử phúc
thẩm tại một số TAND cấp phúc thẩm cho thấy, Chánh án Tòa án cũng không
có thông báo bằng văn bản hướng dẫn trên mà chỉ gửi lịch xét xử cho Viện
kiểm sát, còn đối với người tham gia tố tụng được triệu tập bằng giấy triệu tập.
Việc làm này là không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích của những người tham gia tố tụng.
2.4. Thực tiễn áp dụng pháp luật về người tiến hành tố tụng hình sự
trong cơ quan Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
2.4.1. Tình hình tổ chức, cán bộ ngành Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
Tính đến ngày 30/12/2014, biên chế hệ thống Tòa án trên địa bàn tỉnh Đăk
Lăk có 326 cán bộ. Trong đó, có 01 Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, 03 Phó
chánh án Tòa án nhân dân tỉnh và 08 Chánh tòa, Phó Chánh tòa các Tòa chuyên
trách. Ở cơ quan cấp huyện, hiện có 15 Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện và
21 phó chánh án huyện. Số liệu từ Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk cho thấy số
lượng biên chế trong hệ thống Tòa án của tỉnh cũng như các tòa cấp huyện chiếm
đa số và đã được phân bổ gần như đầy đủ, lực lượng cán bộ trẻ dưới 30 tuổi

chiếm từ 60% tạo điều kiện cho công tác bồi dưỡng lực lượng cán bộ nòng cốt
cho cơ quan xét xử của tỉnh. Bên cạnh đó, số lượng cán bộ công chức bị xử lý kỷ
luật có chiều hướng tăng dần cụ thể riêng từ năm 2008 đến năm 2014 đã có 12
trường hợp bị vi phạm.
2.4.2. Kết quả đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
người tiến hành tố tụng trong xét xử vụ án hình sự trong cơ quan Tòa án
nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
15


Theo báo cáo tham luận về công tác xét xử các vụ án hình sự của Tòa án
nhân dân tỉnh Đắk Lắk thì nhìn chung chất lượng xét xử các vụ án hình sự của
Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk có nhiều tiến bộ rõ nét so với các năm trước;
hoạt động xét xử đảm bảo đúng thời hạn, dân chủ, công bằng; việc ra bản án
thật sự căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và có chất lượng tốt
hơn; trách nhiệm của Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử được
nâng cao hơn trước. Đặc biệt trên địa bàn trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2014
không xảy ra tình trạng kết án oan người không có tội. Báo cáo tổng kết của từ
năm 2009 đến nay đều khẳng định Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã triển khai
sâu rộng việc nâng cao tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, đảm bảo cho những
người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của họ. Đặc
biệt, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
đã nghiên cứu hồ sơ một cách kĩ lưỡng, nghiêm túc nên kết quả trả hồ sơ Tòa
án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trả lại cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk để
điều tra bổ sung năm sau cao hơn năm trước và được Viện kiểm sát chấp nhận
gần như toàn bộ các vụ án Tòa án tỉnh Đắk Lắk trả lại. Bên cạnh đó, đối với
việc xét xử phục vụ các đợt cao điểm đấu tranh phòng chống tội phạm về ma
túy, buôn bán phụ nữ, trẻ em, tham nhũng và xét xử các phiên tòa lưu động tại
nơi xảy ra tội phạm có tác dụng tốt trong việc phổ biến tuyên truyền pháp luật,
góp phần tích cực trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm ở địa phương.

2.4.3. Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về
người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân trên địa bàn
tỉnh Đăk Lăk
Bên cạnh các kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy việc thực hiện các quy
định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng hình sự
trong cơ quan Tòa án nhân dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk vẫn còn nhiều hạn chế
cụ thể là:
* Chất lượng xét xử các vụ án hình sự vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu
trong tình hình hiện nay
Trong các năm từ 2009 đến năm 2014 số vụ án bị hủy do nguyên nhân
chủ quan có chiều hướng giảm đáng kể nhưng vẫn còn nhiều. Một số trường
hợp do Thẩm phán nghiên cứu không kỹ hồ sơ vụ án, xem xét, đánh giá không
đầy đủ, toàn diện các tình tiết, chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên dẫn
đến việc tại phiên tòa HĐXX phải ra quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ
sung hoặc ra bản án thiếu căn cứ, kém thuyết phục, đặc biệt có trường hợp dẫn
đến bỏ lọt tội phạm hoặc kết án oan người không thực hiện hành vi phạm tội.
Ngoài ra, có các trường hợp Tòa án mở rộng phạm vi áp dụng các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự một cách vô căn cứ, nhất là việc cho
bị cáo hưởng án treo hoặc áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo
không đúng. Việc thực hiện các trình tự, thủ tục ở một số phiên tòa không đúng
và không đầy đủ theo quy định của pháp luật.
16


Chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa sơ thẩm hình sự hiện nay còn
thấp. Trong một số trường hợp yêu cầu của người bào chữa, bị cáo không
được HĐXX xem xét, các Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa thường dành phần
lớn thời gian cho việc xét hỏi mà không quan tâm đến việc tranh luận tại phiên
tòa, một số Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa dành ít thời gian cho người bào
chữa phát biểu, tranh luận…

Chất lượng nhiều bản án hình sự sơ thẩm còn nhiều hạn chế, như bản án
viết không đúng mẫu hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao; sai ngữ pháp,
chính tả; dài dòng, lập luận không chặt chẽ, trùng lặp và thiếu thuyết phục;
quyết định của bản án không rõ ràng, chính xác dẫn đến khó thi hành, không xử
lý vật chứng; áp dụng, viện dẫn không chính xác quy định của pháp
luật…Việc giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự còn bị xem nhẹ,
còn xảy ra nhiều lỗi ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia tố tụng.
* Việc áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa
án còn lúng túng, chưa đồng nhất, thiếu hiệu quả.
Bộ luật tố tụng hình sự không quy định rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm,
nghĩa vụ của Chánh án, Phó chánh án Toà án. Do đó trong thực tiễn xét xử khó
có thể phân biệt khi nào Chánh án, Phó Chánh án Toà án thực hiện nhiệm vụ
với tư cách là người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng, khi nào với tư cách
người tiến hành tố tụng.
Đối với Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm, được giao nhiều quyền, trừ quyền ra quyết định thay đổi
biện pháp tạm giam. Đây cũng là vấn đề cần xem xét lại, vì việc quy định cho
Chánh án, Phó Chánh án mới là người có quyền này chủ yếu là đề cao trách nhiệm
của người đứng đầu cơ quan tiến hành tố tụng nhưng lại không phù hợp với thực
tiễn xét xử, vì Thẩm phán mới là người nghiên cứu hồ sơ vụ án, mới biết được bị
cáo có cần phải áp dụng hoặc thay đổi biện pháp tạm giam hay không.
Thẩm phán không có quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa
cũng là vấn đề cần phải xem xét lại. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc gây
phiền hà cho Luật sư, vì không phải lúc nào Chánh án, Phó Chánh án cũng có mặt
tại trụ sở để xem xét việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận bào chữa cho Luật sư.
* Kĩ năng xét xử tại phiên tòa còn hạn chế, chưa phát huy được tính hiệu
quả và vai trò của những người tiến hành tố tụng.
Trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán chủ toạ phiên toà là người điều khiển
phiên toà, nhưng do tư duy cũ và thói quen của Thẩm phán từ thế hệ này qua
thế hệ khác quá tập trung vào việc “khuất phục” bị cáo nên không quan tâm đến

việc điều khiển phiên toà. Hầu hết các phiên toà hiện nay, chủ toạ phiên toà
không để cho bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ
án, mà chủ toạ phiên toà đặt ngay các câu hỏi theo diễn biến sự việc mà nội
dung bản cáo trạng nêu.
Đối với Hội thẩm, trên thực tế rất ít Hội thẩm thực hiện đúng trách nhiệm
17


và nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Chế định Hội thẩm tham gia xét xử còn
nặng tính hình thức, không có tư duy độc lập; các quyết định của Hội đồng xét
xử chủ yếu do Thẩm phán chủ toạ phiên toà đưa ra và Hội thẩm chỉ đồng ý; rất
ít vụ án bản án của Hội đồng xét xử được thông qua tại phòng nghị án. Công tác
lựa chọn, bầu hoặc cử Hội thẩm cũng chưa được quan tâm, đặc biệt việc bồi
dưỡng nghiệp vụ cho Hội thẩm chưa đáp ứng yêu cầu.
Thư ký Toà án có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm tiến hành các hoạt
động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của Chánh
án Toà án (Điều 41 BLTTHS). Thực tế cho thấy, việc ghi biên bản phiên toà
của Thư ký Toà án hiện nay là vấn đề yếu nhất, hầu hết biên bản phiên toà hiện
nay không phản ảnh đầy đủ và trung thực diễn biến phiên toà.
2.4.4. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc trong việc thực
hiện các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành
tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án
* Nguyên nhân từ yếu tố pháp luật
Do công tác xây dựng pháp luật mà đặc biệt là việc giải thích, hướng dẫn
thi hành pháp luật chưa đầy đủ và kịp thời. Nhiều quy định trong tố tụng hình sự
và văn bản pháp luật khác còn ảnh hưởng đến nhiệm vụ, quyền hạn của người
tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án cụ thể như sau:
- Về các quy định của BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự chưa quy định tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của tố
tụng hình sự nên các quy định của Bộ luật chưa cụ thể hoá đầy đủ tính chất tranh

tụng tại phiên toà. Một số quy định của BLTTHS đặt gánh nặng trách nhiệm
chứng minh tội phạm lên vai HĐXX. Vai trò của HĐXX chỉ là người trọng tài
giữa bên buộc tội và bên bào chữa để ra phán quyết về vụ án, còn việc xét hỏi theo
hướng buộc tội phải là trách nhiệm của Kiểm sát viên, việc xét hỏi gỡ tội hoặc
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là trách nhiệm của người bào chữa.
Điều 185 quy định thành phần HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và
hai Hội thẩm. Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, thì
Hội đồng xét xử có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm". Tuy nhiên, đại đa
số Hội thẩm là những người không có trình độ chuyên môn nên khi xét xử họ
thường ỷ lại và phụ thuộc vào Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà. Do đó, sự tham
gia xét xử của Hội thẩm và nguyên tắc "Thẩm phán và Hội thẩm độc lập xét xử
và chỉ tuân theo pháp luật" trong nhiều trường hợp chỉ mang tính hình thức,
đồng thời họ lại chiếm đại đa số trong HĐXX nên dẫn tới việc xét xử oan sai.
Khởi tố vụ án hình sự tuy chưa phải là buộc tội đối với một người cụ thể,
nhưng đó là nhiệm vụ thuộc về chức năng buộc tội. Điều 13, Điều 104 của
BLTTHS quy định Toà án có quyền khởi tố vụ án hình sự là chưa phù hợp.
Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán được quy định còn hạn
chế. Đồng thời, sự phân định nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án với Thẩm
phán trong hoạt động tố tụng đối với việc giải quyết vụ án hình sự cụ thể còn
18


thiếu hợp lý, làm hạn chế hiệu quả, chất lượng, tính kịp thời của các hoạt động
tố tụng, không nâng cao được trách nhiệm của người tiến hành tố tụng với việc
giải quyết vụ án hình sự.
Chưa có sự phân định rõ ràng, cụ thể trong quy định nhiệm vụ, quyền hạn
Chánh án từ góc độ hành chính tư pháp cả từ góc độ tố tụng hình sự. Theo quy
định tại Điều 38 BLTTHS thì nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án được quy
định theo 2 khoản tuy nhiên,sự phân biệt này là chưa rõ ràng. Là Chánh án Toà
án có nhiệm vụ tổ chức hoạt động xét xử bằng cách phân công, thay đổi người

tiến hành tố tụng; kiểm tra hoạt động tố tụng của những người được phân công;
huỷ bỏ hay thay đổi các quyết định tố tụng của cấp dưới và giải quyết khiếu nại,
tố cáo thuộc thẩm quyền. Còn các nhiệm vụ quyền hạn khác thuộc thẩm quyền
tố tụng trong giải quyết vụ án cụ thể thì nên quy định cho người tiến hành tố
tụng. Tại Điều 38 BLTTHS, thẩm quyền của Chánh án, Phó chánh án trong lĩnh
vực thi hành án hình sự lại được quy định ở khoản 1 về thẩm quyền tố tụng
chung là thiếu hợp lý.
- Về các quy định của văn bản pháp luật khác
Việc tổ chức hệ thống Tòa án ở nước ta theo đơn vị hành chính cũng làm
ảnh hưởng đến nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng hình sự trong
cơ quan Tòa án thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử phải đảm bảo cấp sơ thẩm
và cấp phúc thẩm độc lập với nhau chứ không phải là cấp trên và cấp dưới. Cách
tổ chức hệ thống Tòa án như hiện nay đã biến Tòa án thành hệ thống khép kín.
* Các nguyên nhân khác
Bên cạnh những bất cập nêu trên, sự hạn chế về trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, về phẩm chất đạo đức của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ
quan Tòa án cũng là những nguyên nhân ảnh hưởng tới nhiệm vụ, quyền hạn
người tiến hành tố tụng.
Giữa Tòa án và cơ quan Đảng có mối quan hệ khá chặt chẽ với nhau. Tổ
chức cơ sở đảng được thành lập ở các cơ quan trong bộ máy Nhà nước trong đó
có Tòa án. Sự chi phối là điều không thể tránh khỏi nếu bản thân lãnh đạo của
những người Thẩm phán, Hội thẩm này không thật sự nghiêm túc và coi thường
nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường cũng là một trong
những tác nhân. Bởi Đắk Lắk là một tỉnh nghèo, khó khăn với các điều kiện
kinh tế, xã hội hạn chế. Điều cần lưu ý, ở Đắk Lắk chủ yếu là đồng bào dân tộc
Tây Nguyên sinh sống, chính trình độ dân trí không cao so với mặt bằng chung
của nhiều tỉnh đồng bằng khiến cho nhận thức và khả năng tiếp nhận thông tin
từ dư luận của đồng bào sẽ bị hạn chế hơn rất nhiều, nên việc đề cao cảnh giác
trước mọi luồng thông tin xấu của các phần tử chống phá Nhà nước, có thể gây

kích động cho bà con là điều luôn được đề cao.

19


Chương 3
NHỮNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA NGƯỜI TIẾN HÀNH
TỐ TỤNG TRONG CƠ QUAN TÒA ÁN NHÂN DÂN
3.1. Những yêu cầu cải cách tư pháp nhằm nâng cao chất lượng xét
xử vụ án hình sự của những người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan
Toà án nhân dân
Cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay cần phải xuất phát từ chính
nhu cầu và cũng là mục tiêu của hệ thống tư pháp là bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân. Việc cải cách tư pháp phải nhằm đáp ứng
các yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, đây phải là nền tư pháp dân chủ, của dân, do dân và vì dân. Hệ
thống tư pháp phải giản tiện, dễ tiếp cận, đúng pháp luật, nhanh chóng và hiệu quả.
Thứ hai, nền tư pháp đó phải là nền tư pháp công khai, nghiêm minh,
công bằng, nhân đạo, trách nhiệm trước nhân dân. Tư pháp là biểu hiện của
công lý, lẽ phải.
Thứ ba, yêu cầu đảm bảo nguyên tắc độc lập, khách quan của các cơ quan
tư pháp và những người tiến hành hoạt động tư pháp.
Cải cách tư pháp đối với Toà án chính là cải cách hoạt động xét xử để đem lại
hiệu quả cao. Hiệu quả của công tác xét xử phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Yếu tố con người: Đây là yếu tố quan trọng quyết định đến hiệu quả và
chất lượng xét xử. Do đó, cải cách hoạt động xét xử của Toà án không thể tách
rời với việc cải cách quy chế hoạt động của những người tiến hành tố tụng trong
cơ quan Tòa án.
- Yếu tố pháp luật: Đòi hỏi phải có một hành lang pháp lý đồng bộ, thống

nhất. Về luật nội dung các quy định rõ ràng cụ thể, đồng bộ và đặc biệt là phải
phù hợp với thực tế để khi xét xử. Về luật tố tụng quy định rõ chức năng nhiệm
vụ, quyền hạn của từng chức danh tư pháp để từ đó những người tiến hành tố
tụng và những người tham gia tố tụng áp dụng chính xác.
Ngoài ra, sự phân công công việc trong Toà án cũng có ý nghĩa rất quan
trọng (ví dụ: Tỷ lệ giữa Thẩm phán và Thư ký, các phương tiện kỹ thuật đảm
bảo cho phiên toà,...).
- Mối quan hệ giữa Toà án với các cơ quan tư pháp khác: Hiện nay mô
hình tố tụng của Việt Nam vẫn theo mô hình kết hợp tranh tụng với xét hỏi.
HĐXX phần lớn dựa vào những tài liệu do cơ quan điều tra cung cấp thu thập.
Do đó, hiệu quả xét xử của Toà án phụ thuộc rất nhiều vào kết quả xây dựng hồ
sơ của cơ quan điều tra. Nếu hồ sơ của cơ quan điều tra không tốt không đầy đủ
thì công tác xét xử gặp nhiều khó khăn. Chất lượng điều tra, chức năng công tố
tốt sẽ nâng cao chất lượng xét xử của Toà án.
Vị trí, vai trò của những người tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án như
đã phân tích cũng cho thấy Thẩm phán là nhân vật trung tâm của Toà án nên
20


chất lượng xét xử của Toà án phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, phẩm chất
đạo đức tư cách của bản thân mỗi người Thẩm phán. Do đó các chức danh tiến
hành tố tụng trọng cơ quan Tòa án cũng cần phải có những phương hướng cải
cách sao cho phù hợp với sự đổi mới của cơ quan xét xử cụ thể:
- Nâng cao nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng trong
tranh tụng: Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nhằm nâng
cao chất lượng và hiệu quả xét xử các vụ án nói chung và hoạt động tranh tụng
tại các phiên toà hình sự nói riêng. Công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta không
thể tách rời với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả tranh tụng tại phiên toà.
Với vai trò là người trọng tài "cầm cán cân công lý" để phân xử giữa bên buộc tội
và bên bào chữa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải có thái độ vô tư, khách

quan và công minh không được biểu lộ chính kiến của mình về bất cứ vấn đề gì
thuộc nội dung vụ án cũng như các chứng cứ đang xem xét tại phiên toà.
- Về trình độ, năng lực công tác: Cần phải đào tạo đội ngũ cán bộ có
trình độ chuyên sâu về pháp luật, những Thẩm phán có khả năng điều hành
phiên toà một cách khoa học. Ngoài những kiến thức pháp luật cơ bản, còn
phải học qua một khoá học đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ xét xử cho Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân, nghiệp vụ thư ký Tòa án. Từng chức danh, từng cá
nhân tiến hành tố tụng trong hệ thống Tòa án còn phải được đào tạo cơ bản
có hệ thống, phải có chuyên môn nghiệp vụ sâu rộng trong lĩnh vực của mình
phụ trách. Ngoài ra còn phải có những kiến thức hiểu biết về: kinh tế, văn hoá,
ngoại ngữ, tin học.
- Về đạo đức: Người tiến hành tố tụng ngoài việc chấp hành nghiêm
chỉnh pháp luật phải tôn trọng các nguyên tắc và giá trị đạo đức. Những người
tiến hành tố tụng luôn luôn chỉ tuân theo một tiêu chí: đó là sự công minh.
Những phạm trù đạo đức khác như trung thực, dũng cảm, thanh liêm,… cũng
là những đòi hỏi bắt buộc không chỉ trong quá trình xét xử mà cả trong cuộc
sống. Vì vậy, việc vận dụng những phạm trù đạo đức vào quá trình áp dụng
pháp luật khi xét xử các vụ án hình sự có ý nghĩa rất quan trọng.
- Cải cách về chế độ tiền lương và chế độ đãi ngộ: mặc dù các bậc lương
của những người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án đã được cải thiện một
chút nhờ việc sửa đổi chế độ tiền lương, nhưng nhìn chung đời sống của họ vẫn
còn nhiều khó khăn. Để khắc phục tình trạng trên cần nghiên cứu sửa đổi một
cách tổng thể chế độ chính sách đãi ngộ của cán bộ ngành Tòa án. Ngoài ra, nhà
nước cũng nên có chế độ vật chất ưu tiên về các đơn vị Tòa án cấp huyện, vùng
sâu, vùng xa… Đặc biệt ở một số huyện khó khăn như Huyện Lắk, huyện Ea
H’leo, Huyện Ea Súp, Huyện Cư Kuin… điều kiện làm việc và sinh hoạt của
các Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án rất khó khăn, ảnh hưởng không
nhỏ tới thái độ chuyên tâm và trách nhiệm với nghề nghiệp của họ. Nếu như
trong các giải pháp chung đã nêu, việc tăng cường các chính sách về lương
bổng và các khoản phụ trợ cho Thẩm phán, Hội thẩm cần được quan tâm hơn

thì đối với Đắk Lắk đây phải là nhiệm vụ trọng tâm.
21


Cải cách về yếu tố pháp luật: để thực hiện được công tác xét xử thì những
người tiến hành tố tụng đòi hỏi phải có những hành vi tố tụng. Đây là những
hành vi mà pháp luật bắt buộc họ phải thực hiện trong quá trình tố tụng hình sự
tại Toà án. Do đó các quy định của luật tố tụng về nhiệm vụ, quyền hạn của
Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án
được xác định rất rõ.
3.2. Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình sự
của người tiến hành tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án nhân dân
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự của những người tiến hành
tố tụng hình sự trong cơ quan Tòa án trong Bộ luật tố tụng hình sự
Một số giải pháp trực tiếp liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm của họ, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng xét xử vụ án
hình sự như sau:
- Cần phải quy định trong BLTTHS tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản
của hoạt động xét xử. Do đó, để nâng cao chất lượng tranh tụng dân chủ tại
phiên toà hình sự, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp
trong thời gian tới ở nước ta cần phải đưa vấn đề tranh tụng lên thành một
nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử để phù hợp với Hiến pháp sửa đổi có
hiệu lực năm 2013.
- Điều 10 BLTTHS quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về
các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có trách nhiệm chứng minh bị cáo có tội
hay không có tội là của HĐXX. Vai trò của HĐXX chỉ là người trọng tài giữa
bên buộc tội và bên bào chữa để ra phán quyết về vụ án, còn việc xét hỏi theo
hướng buộc tội là trách nhiệm của Kiểm sát viên, việc xét hỏi gỡ tội hoặc giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là trách nhiệm của người bào chữa. Vì vậy,
đề nghị sửa đổi các quy định và xét hỏi theo hướng: Khi xét hỏi, Kiểm sát viên

hỏi trước, sau đó đến người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, và
thành viên HĐXX có thể hỏi bất kỳ ở thời điểm nào nếu xét thấy cần thiết,
nhằm làm sáng tỏ các tình tiết vụ án hoặc mang tính chất nêu vấn đề để các bên
tập trung xét hỏi làm rõ, còn việc hỏi để buộc tội và gỡ tội dành cho Kiểm sát
viên và người bào chữa.
- Điều 185 quy định thành phần HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và
hai Hội thẩm. Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, thì
hội đồng xét xử có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Tuy nhiên, sự tham
gia xét xử của Hội thẩm trong nhiều trường hợp chỉ mang tính hình thức, đồng
thời họ lại chiếm đại đa số trong HĐXX nên dẫn tới việc xét xử oan sai. Vì vậy,
Điều 185 BLTTHS hiện hành cần được sửa đổi theo hướng quy định số Thẩm
phán chuyên nghiệp chiếm đại đa số trong HĐXX, cụ thể như sau: "Hội đồng
xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và một Hội thẩm. Trong trường hợp vụ án
có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, thì hội đồng xét xử có thể gồm ba Thẩm
phán và hai Hội thẩm".
Chức năng của Toà án trong tố tụng hình sự là xét xử, Toà án là người
22


trọng tài đứng giữa bên buộc tội và bên bào chữa để giải quyết vụ án. Bởi vậy,
Điều 13, Điều 104 của BLTTHS quy định Toà án có quyền khởi tố vụ án hình
sự là chưa phù hợp. Nếu nhằm mục đích không làm oan người vô tội, không bỏ
lọt tội phạm thì chỉ nên quy định Toà án được quyền yêu cầu Viện kiểm sát
khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm
hoặc người phạm tội mới đủ.
Phân biệt rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án trong việc tổ chức,
chỉ đạo hoạt động tố tụng và của Thẩm phán trong tiến hành tố tụng đối với vụ
án cụ thể. Cần sửa đổi các Điều 38, 39, 80, 81 BLTTHS theo hướng giao cho
Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà thẩm quyền áp dụng toàn bộ các
biện pháp ngăn chặn. là người tiến hành tố tụng là Thẩm phán là người hiểu rõ

hơn ai hết các căn cứ cũng như sự cần thiết áp dụng, thay đổi hay huỷ bỏ cá
biện pháp ngăn chặn đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trên thực tế,
theo quy định của BLTTHS hiện hành, quyết định áp dụng, huỷ bỏ, thay đổi
biện pháp ngăn chặn của Chánh án, Phó chánh án Toà án do Thẩm phán đề
xuất. Mặt khác giao cho Thẩm phán thẩm quyền này sẽ nâng cao trách nhiệm
của họ trong xét xử; tránh tình trạng dựa dẫm, đùn đẩy nhau trong việc quyết
định áp dụng, huỷ bỏ hay thay đổi biện pháp ngăn chặn và chịu trách nhiệm về
quyết định đó.
3.2.2. Các giải pháp khác nhằm nâng cao chất lượng xét xử vụ án hình
sự của những người tiến hành tố tụng trong cơ quan Tòa án nhân dân
Công việc xét xử tiến triển nhanh hay chậm, có hiệu quả hay không có
hiệu quả, đúng hay sai phụ thuộc rất lớn vào năng lực đội ngũ cán bộ. Vì vậy,
kiện toàn đội ngũ cán bộ Toà án các cấp có vị trí, vai trò hết sức quan trọng. Để
xây dựng được đội ngũ cán bộ như vậy cần:
- Tăng cường đội ngũ cán bộ Toà án về cả số lượng và chất lượng. Đảm
bảo đủ chỉ tiêu Thẩm phán, Thư ký giúp việc cho Thẩm phán trong hoạt động
xét xử.
- Đổi mới cơ chế tuyển chọn, cần mở rộng nguồn để tuyển chọn.
- Cần xem xét việc kéo dài nhiệm kỳ Thẩm phán so với hiện nay, tiến tới
chế độ bổ nhiệm Thẩm phán suốt đời. Ngoài ra hệ tiêu chuẩn chức danh Thẩm
phán và các tiêu chuẩn bổ nhiệm, nâng ngạch Thẩm phán phải được hoàn thiện,
loại trừ tối đa những yếu tố mang tính chủ quan, định kiến trong việc tuyển
chọn, bổ nhiệm, sử dụng Thẩm phán.
- Cần tiếp tục cải tiến chế độ sử dụng, đãi ngộ, bảo vệ những người tiến
hành tố tụng trong cơ quan Toà án đồng thời tăng cường chế độ giám sát, kỷ luật.
- Để các Thẩm phán, Hội thẩm độc lập khi xét xử cần bỏ cơ chế thỉnh thị,
cơ chế duyệt án như nó đã và đang tồn tại ở một số Toà án địa phương hiện nay.
- Về mặt chuyên môn nghiệp vụ các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư
ký Tòa án sau khi bổ nhiệm phải tham gia bắt buộc vào các khối bồi dưỡng
định kỳ và phải trải qua các kỳ sát hạch, kiểm tra về kiến thức, kỹ năng xét xử,

tác phong làm việc. Thẩm phán phải thực hiện chế độ công khai về tài sản và tài
23


×