NGUYỄN QUANG TRUNG (Chủ biên)
ĐỖ THÁI – PHẠM THỊ LOAN
HỌC – LUYỆN
VĂN BẢN NGỮ VĂN
9
TRUNG HỌC CƠ SỞ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
1
Chịu trách nhiệm xuất bản:
Giám đốc ĐINH NGỌC BẢO
Tổng biên tập: ĐINH VĂN VANG
Chịu trách nhiệm nội dung và bản quyền
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH
VÀ THIẾT BỊ GIÁO DỤC VIỆT NAM
Biên tập nội dung:
KIỀU NGỌC DIỆP
Kỹ thuật vi tính:
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH
VÀ THIẾT BỊ GIÁO DỤC VIỆT NAM
Trình bày bìa:
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
HỌC – LUYỆN VĂN BẢN NGỮ VĂN 9
TRUNG HỌC CƠ SỞ
Công ty cổ phần Sách và Thiết bị giáo dục Việt Nam giữ quyền công bố tác phẩm.
Mã số: 02.02.12PT2010
Mã số: 9V01N10 – Ebook.
__________________________________________________________________
In 3000 cuốn, khổ 17x24cm tại công ty CP In Khoa học Công Nghệ Mới.
Đăng kí kế hoạch xuất bản số: 256-2010/CXB/12-16/ĐHSP ngày 19/03/2010
In xong và nộp lưu chiểu tháng 6 năm 2010.
2
Lời nói đầu
Bộ sách Học – luyện văn bản ngữ văn tập hợp được một đội ngũ tác giả là các
giáo viên giàu kinh nghiệm và nhiều tâm huyết với nghề nghiệp thuộc các trường
trung học phổ thông có uy tín ở Hà Nội như Trường chuyên Ngoại ngữ, Trường
chuyên Amsterdam, Trường Chu Văn An, Trường M.V. Lômônôxốp. Từ khi
chương trình Ngữ văn trung học cơ sở theo tinh thần cải cách giáo dục đi vào nhà
trường, nhiều bộ sách tham khảo ra đời đã phần nào đáp ứng nhu cầu dạy và học
của giáo viên và học sinh trong cả nước. Cái mới của bộ sách này là ở chỗ vừa tạo
nên một hệ thống vừa toàn diện, vừa thiết thực, xuyên suốt cả bốn năm học 6,7,8,9
với một mô hình bài soạn thống nhất, các văn bản được sắp xếp theo trình tự thể
loại. Nếu biên soạn theo từng khối lớp, quyển sau không tiếp nối quyển trước thì
dễ sa vào cách làm tản mạn, nhỏ lẻ, không hình thành được hệ thống phương pháp
cho học sinh, các năm học sau không kế thừa được thành quả của nhau. Xây dựng
bộ sách này, chúng tôi muốn khắc phục hạn chế trên, tạo cho người đọc một hệ
phương pháp xuyên suốt cấp học với một cái nhìn mới về chương trình Ngữ văn
từ đó là tạo ra một hiệu quả mới trong việc học văn, đẻ bạn đọc thuận lợi hơn
trong việc sử dụng, chũng tôi xin nhấn mạnh hai đặc điểm cấu trúc quan trọng của
bộ sách:
- Cấu trúc bộ sách được dựa trên tiêu chí thể loại, vì ý thức về thể loại chính là
cơ sở phát triển của văn học, đồng thời là cơ sở để học – luyện (cảm thụ và phân
tích) văn bản. Tiêu chí thể loại vừa phù hợp với tinh thần cải cách môn Ngữ văn,
vừa giúp tích hợp với phân môn Tập làm văn. Tất nhiên, thể loại có tính lịch sử
nên chúng tôi sắp xếp văn bản theo hệ thống thể loại kết hợp với tiến trình lịch sử.
Cách làm của chúng tôi tạo ra một chút khác biệt với sách giáo khoa Ngữ văn trung
học cơ sở, nhưng không hề gây trở ngại trong quá trình sử dụng, nếu không muốn
nói có phần dễ quan sát hơn hệ thống văn bản trong sách giáo khoa.
- Cấu trúc bài soạn văn bản được thống nhất trong toàn bộ sách như sau:
A. Khái quát chung về văn bản
3
Trình bày cô đọng về xuất xứ văn bản, hoàn cảnh sáng tác, đặc điểm thể loại, đặc
biệt là phần nội dung, nghệ thuật (gồm những đặc điểm chính về bút pháp nghệ
thuật).
B. Định hướng tiếp cận văn bản
Phần này hướng dẫn chi tiết cách tiếp cận một văn bản có tóm tắt chi tiết văn bản,
đặc biệt là phần nội dung cơ bản và đặc sắc nghệ thuật.
C. Tác phẩm – từ miêu tả góc nhìn: Tập hợp một số ý kiến nhận xét, đánh giá về
tác giả, tác phẩm.
D. Luyện tập: Phần này giúp các em tích hợp với phân môn Tập làm văn.
Cuối mỗi bộ sách có phần Gợi ý làm bài. Đây là mô hình biên soạn vừa đáp ứng
nhu cầu thiết thực (khắc sâu kiến thức cơ bản một cách dễ hiểu, dễ nhớ), vừa
nâng cao, mở rộng tầm hiểu biết về một văn bản (qua việc tham khảo các ý kiến
khác nhau về tác giả, tác phẩm), đồng thời gắn lí thuyết với thực hành, biến quá
trình học thành quá trình tự học ( phần luyện tập và gợi ý làm bài cung cấp cho
học sinh một hệ thống bài tập phong phú để thực hành và tự đánh giá năng lực
Ngữ văn của mình)
Cảm thụ phân tích văn bản, nhất là văn bản nghệ thuật là công việc không có tận
cùng. Bạn đọc hãy coi bộ sách của chúng tôi là những gợi ý tham khảo cho các
thầy cô giáo, các bậc phụ huynh, các sinh viên sư phạm và đặc biệt là các em học
sinh trung học cơ sở. nếu bộ sách có gì chưa ổn về nội dung, phương pháp,…xin
bạn đọc chỉ giáo để lần tái bản được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
TM nhóm biên soạn
TS. Nguyễn Quang Trung
4
Chương 1__________________________________________________
VĂN BẢN TRỮ TÌNH
ĐỒNG CHÍ
Chính Hữu
A. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN
1. Xuất xứ: Bài thơ được in trong Đầu súng trăng treo, NXB Văn học, Hà Nội,
1972.
2. Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được viết vào đầu năm 1948, sau khi tác giả cùng
đơn vị tham gia chiến đâu trong chiến dịch Việt Bắc, thu đông năm 1947, tại nơi
Chính Hứu phải nằm điều trị bệnh.
3. Thể thơ, bố cục
- Thể thơ tự do, có 20 dòng
- Bố cục: ba đoạn
Đoạn 1(bảy câu thơ đầu): Lí giải về cơ sở hình thành nên tình đồng chí.
Đoạn 2 (mười câu thơ tiếp): Những biểu hiện của tình đông chí và sức mạnh
của nó.
Đoạn 3 (ba câu cuối): Biểu hiện cao đẹp nhất của tình đồng chí.
4. Đặc điểm nội dung, nghệ thuật
- Bài thơ ca ngợi vè đẹp của tình đồng chí, đồng đội và hình ảnh người lính cách
mạng.
- Bài thơ có hình ảnh chân thực, cụ thể mà giàu sức khái quát, cô đọng, hàm súc,
giàu sức biểu cảm. Lời thơ giàu chất tạo hình, giàu nhạc điệu. Thơ thơ tự do giúp
diễn tả hiện thực và cảm xúc một cách linh hoạt. Bài thơ đã góp phần mở ra
5
phương hướng khai thác chất thơ, vẻ đẹp của người lính trong cái bình dị, bình
thường, chân thật.
B – ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN BẢN
1. Vẻ đẹp của tình đồng chí
a) Cơ sở hình thành nên tình đồng chí (Đồng chí là cùng gia cấp, cùng lí tưởng)
- Trước hết, tình đông chí bắt nguồn sâu xa từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất
thân nghèo khó:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Hai câu thơ giới thiệu về quê hương của những người lính. Anh và tôi đều là
những người lính xuất thân từ nông dân, có lẽ vì thế mà mối quan tâm hàng đầu
của họ là đất đai, giới thiệu về mình là giới thiệu về đồng đất quê mình. Nước mặn
đồng chua là vùng ven biển, đất khó làm ăn; đất cày lên sỏi đá là vùng đồi núi
trung du, đất khó canh tác. Họ đều chung cái nghèo, đó là cơ sở đồng cảm giai cấp
của những người lính.
Chính điều đó khiến họ từ mọi phương trời xa lạ tập hợp lại trong hàng ngũ quân
đội cách mạng và trở nên thân quen với nhau.
- Tình đồng chí còn được nảy sinh từ sự cùng chung lí tưởng, sát cánh chiến đấu vì
độc lập, tự do của Tổ quốc:
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Hình ảnh thơ có sự sóng đôi, gợi nên tình gắn bó của những người chung một đội
ngũ, chung lí tưởng cao cả.
- Tình đồng chí, đồng đội đã nảy nở và ngày càng gắn bó trong cuộc sống, chiến
đấu biết bao gian khổ của người lính:
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Câu thơ đầy ắp kỉ niệm và ấm áp tình thân hữu – tình tri kỉ.
6
Những hình ảnh thơ ở đây vừa cụ thể, sinh động, vừa mang ý nghĩa khái quát gợi
liên tưởng sâu xa.
- Từ sự sóng đôi của “anh” và “tôi” trong từng dòng thơ đến sự gần gũi “anh với
tôi” trong một dòng thơ và đến thành một đôi nhưng “đôi người xa lạ” rồi mới
thành “đôi tri kỉ” – đôi bạn trí cốt, hiểu nhau sâu sắc và cao hơn nữa là “Đồng
chí!”. Từ rời rạc, riêng rẻ, dần nhập thành chung, thành một, khăng khít, keo sơn,
khó tách rời. Câu thơ thứ bảy chỉ gồm hai chữ “Đồng chí” và dấu chấm than tạo
một nốt nhấn, như một tiếng gọi thiết tha, xúc động vừa như một phát hiện, một kết
luận, vừa như một bản lề gắn kết hai đoạn thơ, làm nổi rõ một tất yếu: cùng hoàn
cảnh xuất thân, cùng lí tưởng thì trở thành đồng chí của nhau và mở ra ý tiếp –
đồng chí còn như thế nào nữa.
b) Những biểu hiện cao đẹp của tình đồng chí (Đồng chí là thấu hiểu nhau, là
đồng cam cộng khổ)
- Đồng chí, đó là sự cảm thông sâu xa những hoàn cảnh, tâm tư, nỗi niềm sâu kín
của nhau:
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính
Ba câu thơ chỉ nói về “anh”, về bạn bởi vì họ cùng chung hoàn cảnh, chung nỗi
niềm, đó cũng là tình tri kỉ, hiểu bạn như hiểu mình. Người lính ra đi chiến đấu để
lại những gì quý giá, thân thiết nhất nơi làng quê (ruộng nương, gian nhà). “Mặc
kệ” là quyết ra đi, mang dáng dấp trượng phu, nhưng vẫn nặng lòng gắn bó với quê
hương. Hình ảnh “gian nhà không” đầy gợi cảm, vừa gợi cái nghèo nàn, xơ xác,
vừa gợi cái trống trải trong lòng người ở lại khi người đàn ông ra trận. Để cả cơ
nghiệp của mình hoang trống để ra đi, đó là một sự hi sinh. Hiểu rõ lòng nhau và
hiểu cả nỗi niềm của người thân của nhau nơi hậu phương là tình tri kỉ. “Giếng
nước gốc đa nhớ người ra lính” là một cách nói tế nhị và giàu sức gợi, vừa là nhân
hóa vừa là hoán dụ. Câu thơ nói về quê hương nhớ người lính mà thực ra là người
lính nhớ nhà. Nỗi nhớ hai chiều nên càng da diết. Chỉ nói ai khác nhớ, đó cũng là
cách tự vượt lên mình, nén tình riêng vì sự nghiệp chung.
7
- Gắn bó với nhau trong đời thường, người lính càng gắn bó với nhau trong chiến
đấu. Chia sẻ mọi tâm tư nỗi niềm để cùng chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của
cuộc đời người lính với biết bao gian khổ:
Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay
Những người lính cùng chịu bệnh tật – những cơn sốt rét rừng ghê gớm, cùng
thiếu, cùng rách. Đây là hoàn cảnh chung của bộ đội ta những năm đầu cuộc kháng
chiến chống Pháp. Họ nhìn thấu và thương nhau từ những chi tiết nhỏ của đời
sống. Những cặp câu thơ sóng đôi, đối xứng nhau (từng cặp hoặc trong từng câu)
góp phần diễn tả sự sẻ chia, giống nhau trong mọi cảnh ngộ của người lính. Chữ
“anh” và chữ “tôi” đến đây lại cùng xuất hiện, để cùng gánh vác, sẻ chia,không ai
giành lấy cho mình sự ưu ái hơn. Tình đồng chí cho họ sức mạnh để vượt lên buốt
giá – “miệng cười buốt giá” và ấm áp giữa buốt giá: “Thương nhau tay nắm lấy
bàn tay”, nắm lấy bàn tay nhau để ấm đôi bàn chân, để vượt lên gian khó. Những
bàn tay như biết nói. Họ gắn bó với nhau để có thêm sức mạnh, niềm tin, hướng tới
lí tưởng cao đẹp. Và đó là tình gắn bó sâu dày suốt trường kì kháng chiến.
c)Biểu hiện cao đẹp nhất của tình đồng chí (Đồng chí là cùng chung chiến hào)
Nhiệm vụ chủ yếu của người lính là đánh giặc, vì vậy tình đồng chí cao đẹp nhất là
tình gắn bó thiêng liêng nơi tuyến đầu chống giặc, nơi sự sống và cái chết kề nhau
trong tích tắc. Tình đồng chí đã được tôi luyện trong thử thách gian lao và đây là
thử thách lớn nhất.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
8
Đầu súng trăng treo
Ba câu thơ như dựng lên bức tượng đài sừng sững về tình đồng chí – trong hoàn
cảnh khắc nghiệt, đêm, rừng hoang, sương muối, những người lính “đứng cạnh bên
nhau chờ giặc tới” – tạo nên tư thế “thành đồng vách sắt” trước quân thù, làm mờ
đi cái gian khổ, ác liệt của cuộc chiến đấu. Hình ảnh họ tượng hình lại trong chi tiết
bất ngờ, độc đáo: “Đầu súng trăng treo”. Câu thơ không trực tiếp nói về những
người đồng chí mà vẫn hiển hiện tình đồng chí. Rất thực mà cũng rất lãng mạn.
Trăng trôi trên nền trời, nhìn lên, trăng như treo đầu ngọn súng. Hình ảnh này có
nguồn gốc thực tế. Trăng trôi trên nền trời, đến thời điểm nào đó, nhìn trăng lên,
trăng như treo trên đầu ngọn súng. Nhịp 2/2 gợi sự sóng đôi và như gợi sự bát ngát,
lơ lửng chứ không cột chặt. Súng và trăng cũng là một cặp đồng chí, tô đậm vẻ đẹp
của cặp đồng chí kia. Tình đồng chí khiến người lính vẫn bình thản và lãng mạn
bên thềm cuộc chiến đấu, khiến học thấy cuộc đời vẫn đẹp đẽ, thơ mộng ngay giữa
nguy hiểm, gian lao, khiến họ có sức manh trong tư thế, có sự đằm thắm trong tâm
hồn tình cảm. Hình ảnh thơ ở đây giàu sức khái quát , gợi nhiều liên tưởng. Súng:
hình ảnh của chiến tranh, khói lửa; trăng: hình ảnh của thiên nhiên trong mát, cuộc
sống thanh bình. Sự hòa hợp giữa súng và trăng toát lên vẻ đẹp tâm hồn người lính
và tính đồng chí của họ, vừa nói lên ý nghĩa cao đẹp của cuộc sống chiến đấu.
Người lính cầm súng là đẻ bảo vệ độc lập, tự do, hòa bình, hạnh phúc. Súng và
trăng, thực và mộng, cứng rắn và dịu hiền , chiến sĩ và thi sĩ, chất chiến đấu và chất
trữ tình,…Đó là các mặt bổ sung cho nhau của cuộc đời người lính cách mạng. Xa
hơn, có thể xem đó là biểu tượng của thơ ca kháng chiến, nền thơ kết hợp chất hiện
thực và cảm hứng lãng mạn.
2. Hình ảnh người lính cách mạng trong bài thơ:
Qua bài thơ về tình đồng chí hiện lên vẻ đẹp bình dị mà cao cả của người lính cách
mạng, anh vệ quốc quân năm xưa. Bài thơ này là bức chân dung đẹp về người lính
cụ Hồ.
- Đó là những người lính xuất thân từ nông dân, ra đi từ những miền quê nghèo
khó trên khắp mọi miền đất nước. Họ đã gác lại những gì quý giá, thân thiết nhất
nơi làng quê để ra đi chiến đấu nhưng vẫn nặng lòng gắn bó với làng quê thân yêu.
- Họ đã trải qua những gian lao, thiếu thốn tột cùng, những cơn sót run người,
trang phục phong phanh giữa mùa đông buốt giá (áo rách, quần vá, chân không
9
giày). Những gian lao, thiếu thốn càng làm sáng lên nụ cười của họ (miệng cười
buốt giá).
- Đẹp nhất ở họ là tình đồng chí, đồng đội keo sơn, thắm thiết. Tình đồng chí sưởi
ấm lòng người chiến sĩ, tiếp cho họ sức mạnh, vượt lên tất cả, chiến đấu và chiến
thắng. Hình ảnh người lính và tình đồng chí của họ kết tinh và tỏa sáng trong đoạn
cuối bài thơ. Tình đồng chí xuất phát từ tình yêu nước và là cội nguồn của chiến
thắng, kết tinh những tình cảm xã hội cao đẹp, làm nên vẻ đẹp tâm hồn người chiến
sĩ. Đó cũng là truyền thống cao đẹp của quân đội ta.
C – TÁC PHẨM – TỪ NHIỀU GÓC NHÌN
1. Lời tác giả
Một vài kỉ niệm nhỏ về bài thơ “Đồng chí”
Vào cuối năm 1947, tôi tham gia chiến dịch Việt Bắc. Địch nhảy dù ở Việt Bắc và
hành quân từ Bắc Cạn đến Thái Nguyên. Chúng tôi phục kích từng chặng đánh,
truy kích binh đoàn Beaufré. Khi đó tôi là chính trị viên đại hội. Phải nói là chiến
dịch vô cùng gian khổ. Bản thân tôi cũng chỉ phong phanh trên người một bộ cánh,
đầu không mũ, chân không giày. Đêm ngủ nhiều khi phải rải lá khô để nằm, không
có chăn màn, ăn uống rất kham khổ vì đang trên đường hành quân truy kích địch.
Tôi cũng phải có trách nhiệm chăm sóc anh em thương binh và chôn cất một số tử
sĩ. Sau trận đó, tôi ốm, tôi phải nằm lại điều trị; đơn vị cử lại một đồng chí ở lại
chăm sóc tôi. Trong khi ốm, nằm ở nhà sàn heo hút, tôi làm bài thơ “Đồng chí”.
Trong bài thơ “Đồng chí” tôi muốn nhấn mạnh tình đồng đội. Suốt cả cuộc đời
chiến đấu chỉ có một chỗ dựa dường như là duy nhất để tồn tại, để chiến đấu là tình
đồng chí, tình đồng đội. Đồng chí ở đây là tình đồng đội, không có đồng đội tôi
không thể nào hoàn thành được trách nhiệm, không có đồng đội tôi cũng đã chết
lâu rồi. Bài thơ “Đồng chí” là lời tâm sự viết ra để tặng đông đội, tặng người bạn
nông dân của mình. Bài thơ viết có đối tượng. Tôi hiểu và quý mến người đồng đội
của tôi nên tiếng nói thơ ca giản dị và chân thật. Tuy nhiên “Đồng chí” không phải
là bài thơ nôm na. Trước cách mạng tôi có làm một ít thơ. Trong thơ tôi cố gắng để
nói cái cần nói, không nói dài, nói thừa. Tôi mong có được sự hàm súc, cô đọng
của bài thơ, và hình ảnh thơ phải mang tính tạo hình. Tôi là lính của Trung đoàn
Thủ đô. Tôi vào bộ đội ngày 19/12/1946. Bước vào cuộc kháng chiến , tuổi trẻ
nhiều lúc bốc men say. Bài “Ngày về” phản ánh một mặt khía cạnh của tâm trạng
10
tôi và bài “Đồng chí” cũng phản ánh một mặt tình cảm tôi. Bài thơ được làm
nhanh. Tôi làm để tặng bạn. Tôi không phải nông dân và quê hương tôi cũng
không phải trong cảnh nước mặn đồng chua hoặc đất cằn cỗi sỏi đá. Cái tôi trong
bài thơ có những chi tiết không phải là tôi mà là của bạn, nhưng về cơ bản thì là
của tôi. Tất cả những gian khổ của đời lính thiếu ăn, thiếu mặc, sốt rét, bệnh tật …
bạn và tôi đều cũng trải qua. Trong những hoàn cảnh đó, chúng tôi là một, gắn bó
trong tình đồng đội. Viết về bộ đội nhưng tôi thiên về khai thác nội tâm, tình cảm,
ít có những chuyện đùng đoàng, chiến đấu. Tôi làm bài “Đồng chí” cũng là tình
cảm chân thành tự nhiên không có sự gò ép, gắng gượng nào và nó cũng nằm trong
tư duy thơ ca thân thuộc của tôi. Bài thơ có những hình ảnh thân thuộc cô đúc, như
“Đầu súng trăng treo”. Tôi thấy có bạn phân tích hình ảnh đầu súng là tượng trưng
cho người chiến sĩ đang bảo bệ quê hương và vầng trăn tượng trưng cho quê
hương thanh bình. Tôi không nghĩ thế khi viết, còn hình tượng thơ gợi cho người
đọc nghĩ thế là tùy ở các bạn. Vấn đề đối với tôi đơn giản hơn. Trong chiến dịch
nhiều đêm có trăng. Đi phục kích giặc trong đêm, trước mắt tôi chỉ có ba nhân vật:
khẩu súng và vầng trăng và người bạn chiến đấu. Ba nhân vật quyện vào nhau và
tạo thành hình ảnh đầu súng trăng treo. Lúc đầu tôi viết là “Đầu súng mảnh trăng
treo” sau đó bớt đi một chữ. Đầu súng trăng treo, ngoài hình ảnh bốn chữ này có
nhịp điệu như nhịp lắc của một cái gì lơ lửng, chông chênh, trong sự bát ngát. Nó
nói lên cái gì lơ lửng ở rất xa chứ không phải là buộc chặt, suốt đêm vầng trăng ở
bầu trời cao xuống thấp dần và có lúc như treo lơ lửng trên đầu mũi súng. Những
đêm phục kích chờ giặc, vầng trăng đối với chúng tôi như một người bạn; rừng
hoang sương muối là một khung cảnh thật. Rừng mùa đông ở Việt Bắc rất lạnh,
nhất là vào những đêm có sương muối. Sương muối làm buốt tê da như những mũi
kim châm và đến lúc nào đó bàn chân tê cứng mất cảm giác. Tất cả những gian khổ
của đời lính trong gia đoạn này rất khó để kể hết nhưng chúng tôi vẫn vượt lên
được nhờ ở sự gắn bó tiếp sức của tình đồng đội trong quân ngũ cho đến hôm nay,
mỗi khi nghĩ đến tình đồng đội năm xưa, lòng tôi vẫn còn xúc động bồi hồi.
(Nhà văn nói về tác phẩm, NXB văn học, Hà Nội, 1994)
2. (…) Câu thơ hai chữ
Đồng chí
11
Gần như đứng giữa bài thơ, riết cái thân bài thơ thành một cái lưng ong, nửa
trên là một mảng quy nạp (như thế này là đồng chí), nửa dưới là một diễn dịch
(đồng chí còn là như thế này nữa) một kết cấu chính luận cho một bài thơ trữ tình
lạ.
Chủ đề dồng chí lại hiện lên trong từng cấu truc ngôn ngữ, nghĩa là trong từng tế
bào thơ. Tôi với anh khi thì xếp dọc:
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Khi thì xếp ngang:
Tôi với anh đôi người xa lạ
Khi thì điệp điệp (nét thẳng của ý chí và nét cong của tình cảm):
Súng bên súng, đầu sát bên đầu
Để đến đêm rét trùm chung một cái chăn thì nhập lại thành đồng chí.
Và cái chăn đắp lại thì tâm sự mở ra. Họ soi vào nhau, anh hiểu tôi, tôi hiểu
đến nỗi lòng sâu kín của anh:
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
(…) Họ hiểu nhau đến chiều sâu như thế là để dựa vào nhau mà đi đến chiều cao
này:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo
Chung nhau một cái chăn là một cái chăn là một cặp đồng chí, nắm cả bàn tay và
ấm cả đôi bàn chân là một cặp đòng chí. Đêm nay, rừng hoang sương muối “Đứng
cạnh bên nhau chờ giặc tới” là một cặp đồng chí. Và lãng mạn thay, súng và trăng
cũng là một cặp đồng chí:
12
Đầu súng trăng treo
Cặp đồng chí này nói về cặp đồng chí kia, nói được cái cụ thể và gợi đến cái vô
cùng. Súng và trăng, cứng rắn và hiền dịu, súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ; súng và
trăng là biểu hiện cao cả của tình đồng chí:
(Nguyễn Đức Quyền, Báo Văn nghệ số 30/1134 ngày 27/7/1985)
3. “Những dòng thơ cuối cùng cũng như một tượng đài sừng sững cho tình cảm
đồng chí thiêng liêng. Trên nền hùng vĩ thiên nhiên, cánh rừng trải rộng, bầu trời
lồng lộng, người chiến sĩ đứng với khẩu súng và vầng trăng. Đây là những hình
ảnh thực trong những đêm phục kích giặc của tác giả, nhưng chính tầm cao tư
tưởng và lí tưởng chiến đấu của quân đội cách mạng đã tạo cho hình ảnh có một vẻ
đẹp khái quát, tượng trưng”.
(Vũ Nho, Để cảm hiểu và thưởng thức những bài thơ ở
lớp 8 và lớp 9, 1991)
4. Đề tài đồng chí là một nỗi ám ảnh với hồn thơ Chính Hữu. Trong bài “Giá từng
thước đất”, Chính Hữu đã viết:
Năm mươi sáu ngày đêm bom ầm pháo dội
Ta mới hiểu thế nào là đồng đội
Đồng đội ta là hớp nước uống chung
Nắm cơm bẻ nửa
Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa
Chia khắp anh em một mẩu tin nhà
Chia nhau đứng trong chiến hào chật hẹp
Chia nhau cuộc đời, chia nhau cái chết.
(P.T.L)
13
D – LUYỆN TẬP
1. Vẻ đẹp của tình đồng chí ở những người lính cách mạngđược biểu hiện trong bài
thơ Đồng chí như thế nào?
2. Chân dung anh bộ đội thời kì chống Pháp – người vệ quốc quân năm xưa được
khắc họa như thế nào qua bài thơ Đồng chí?
3.
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính
(Chính Hữu, Đồng chí)
a) Em có nhận xét gì về ngôn ngữ, giọng điệu bài thơ?
b) Câu thơ thứ ba, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì?
c) Câu thơ này đã gợi cho em nhớ đến bài ca dao nào mà ở đó cũng vời vợi một nỗi
nhớ quê hương của người ra đi?
4. Viết một đoạn văn (khoảng 12 câu) theo cách tổng hợp – phân tích – tổng hợp,
nói rõ vẻ đẹp của hình tượng thơ ở ba cấu thơ cuối bài Đồng chí:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng canh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.
5. Giả sử em đang viết một bài tập làm văn để phân tích bài thơ Đồng chí.
a) Hãy chép lại chính xác bài thơ, ghi rõ tên tác giả và thời gian sáng tác.
b) Xét xem phần giải quyết vấn đề của bài làm có thể được trình bày theo dàn ý đại
cương dưới đây không, tại sao?
1/ Phân tích bảy câu thơ đầu
2/ Bài thơ nói lên tình đồng chí đã gắn kết những người chiến sĩ trong cuộc
chiến đấu gian khổ.
14
3/ Bi th cũn miờu t rt p mt ờm ch gic ti gia nỳi rng, trong
ờm trng lnh. Nu thy dn ý trờn cha ỳng thỡ hỏy sa i li cho hp lớ.
c) Din t mt trong cỏc ý ca gin bi m em ó sa li thnh mt on vn ngh
lun theo cỏch tng hp phõn tớch tng hp, di khong mi cõu.
BI TH V TIU I XE KHễNG KNH
Phaùm Tieỏn Duaọt
A- KHI QUT CHUNG V VN BN
1. Xut x
Bi th v Tiu i xe khụng kớnh thuc chựm th c tng gii Nht cuc thi th
bỏo Vn ngh nm 1969 1970, c a vo tp th Vng trng qung la,
NXB Vn hc, H Ni, 1970.
2. Hon cnh ra i
Bi th c vit nm 1969, lỳc cuc khỏng chin chng M ang din ra ỏc lit,
tỏc gi khi ú cng l chin s Trng Sn, gn bú vi nhng cung ng v
nhng chin s lỏi xe quõn s. ng Trng Sn khi y l con ng huyt mch
ni hu phng v tin tuyn , l chin trng khc lit. Thi ú, con ngi nõng
mỡnh lờn khi mi quan h riờng t, chp nhn hi sinh, ton tõm ton ý dõng hin
cho T quc, cho khỏng chin. Th chng M l bn hp ca ca ngi tớnh thn hi
sinh cng hin ú. Trong ú nột nhc ca ngi ngi lớnh l nột nhc ch o. Bi
th v tiu i xe khụng kớnh ó ra i trong bi cnh t tng, cm xỳc ca dõn
tc nh th, trong õm hng sỏng tỏc nh th.
3. c im ni dung, ngh thut:
- Bi th khỏc ha c nột c ỏo ca nhng chic xe khụng kớnh v hỡnh nh
nhng ngi lớnh lỏi xe trờn tuyn ng Trng Sn trong thi kỡ khỏng chin
15
chống Mỹ, hiên ngang, dũng cảm, sôi nổi, lạc quan, quyết chiến đấu giải phóng
miền Nam.
- Bài thơ chủ yếu kết hợp thể thơ bảy chữ và tám chữ, có chất liệu hiệnthực sinh
động của cuộc sống ở chiến trường, sáng tạo những hình ảnh độc đáo , ngôn ngữ
và giọng điệu giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn.
B – ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN BẢN
1. Nhan đề
Bài thơ có nhan đề khá dài, tưởng như có chỗ thừa, nhưng vì thế mà độc đáo, thu
hút sự chú ý. Nhan đề ấy làm nổi bật hình ảnh độc đáo: những chiếc xe không
kính. Hình ảnh này là một sự phát hiện thú vị của tác giả, thể hiện sự gắn bó và am
hiểu hiện thực đời sống chiến tranh trên tuyến đường trường sơn. Hai chữ “Bài
thơ” cho thấy rõ hơn cách nhìn, cách khai thác hiện thực của tác giả: không phải
chỉ viết về những chiếc xe không kính hay là hiện thực khốc liệt của chiến tranh,
mà chủ yếu nhà thơ muốn nói về chất thơ của hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ
hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, vượt lên mọi gian khổ, hiểm nguy. Đó cũng là
quan niệm nghệ thuật của tác giả, khám phá chất thơ từ chính hiện thực thưởng
tượng như thô giáp đó. “Tiểu đội xe không kính” cũng là một cái tên tự đặt - rất
lính, rất tếu hóm, rất ấn tượng. Nhan đề này đã gợi mở chủ đề, tạo được giọng
điệu, sắc điệu thẩm mỹ riêng của bài thơ và gây ấn tượng cho người đọc.
2. Hình ảnh độc đáo: Những chiếc xe không kính vẫn băng ra chiến trường.
Thời ấy, hình ảnh những chiếc xe ô tô đi vào thơ ca còn hiếm. Xưa nay, hình ảnh
xe cộ, tàu thuyền khi đi vào thơ thường được “mỹ lệ hóa”, “lãng mạn hóa” và
thường mang ý nghĩa tượng trưng. Còn những chiếc xe không kính trong thơ Phạm
Tiến Duật lại là hình ảnh thực, thực đến trần trụi. Tác giả giải thích nguyên nhân
cũng rất thực “Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”. Hai câu thơ mở đầu đậm chất
văn xuôi, giọng thản nhiên, càng gây sự chú ý về vẻ khác lạ của xe. Đây là những
chiếc xe đã đi qua bom đạn thử thách. Bom đạn chiến tranh còn làm cho những
chiếc xe bị phá hủy biến dạng đi, trần trụi hơn nữa: “Không có kính, rồi xe không
có đèn – không có mui xe, thùng xe có xước”. Nhưng, bộ não, linh hồn của xe
dường như không phải máy móc, mà là tấm lòng người chiến sĩ, nên “Xe vẫn chạy
vì miền Nam phía trước – Chỉ cần trong xe có một trái tim”.
16
- Những chiếc xe không kính không phải hiếm trong chiến tranh, nhưng phải có
hồn thơ nhạy cảm, có nét ngang tàng, tinh nghịch, thích cái lạ như Phạm Tiến Duật
mới nhận ra được và đưa nó vào thơ trở thành biểu tượng độc đáo của thơ thời
chiến tranh chống Mỹ. Hình ảnh này tạo nên cái tứ lạ, độc đáo, vừa tạo nên cái ác
liệt, dữ dội của chiến tranh, vừa bộc lộ được phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ
trong cuộc chiến đấu khốc liệt chống đế quốc Mỹ.Hình tượng này góp phần khắc
họa một nét tư thế, chân dung của một dân tộc anh hùng.
3. Hình ảnh những chiến sĩ lái xe Trường Sơn
- Chủ nhân của những chiếc xe không kính được miêu tả gắn liền với những chiếc
xe và nổi bật lên trong toàn bài thơ: can trường, quả cảm, bất chấp mọi gian nguy,
thiếu thốn. Thiếu đi những điều kiện, phương tiện vật chất tối thiểu lại như phép để
bộc lộ ra phẩm chất cao đẹp, sức mạnh tinh thần lớn lao của người chiến sĩ lái xe
Trường Sơn – những người đã góp phần làm nên huyền thoại Trường Sơn một
thời.
- Người lính hiện ra với những ấn tượng, cảm giác cụ thể khi ngồi trên xe không
kính. Qua khung cửa xe không còn kính chắn gió với tư thế “ nhìn đất, nhìn trời,
nhìn thẳng”, người chiến sĩ lái xe tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài:
Nhìn thấy gió xoa vào mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Nhìn sao trời và đột ngột cách chim
Như sa như ùa cào buồng lái
Xe lao nhanh trên con đường, gió làm đắng mắt, cái nhìn của người lái xe vẫn
hút chặt vào con đường – con đường tiến lên phía trước, con đường chạy thẳng vào
tim – con đường của trái tim. Cái “nhìn thấy” có cả sự sáng soi của lý tưởng, tình
cảm. Không chỉ mặt đất mà cả bầu trời sao, cánh chim cũng như sa, như ùa vào
buồng lái. Dường như cả thiên nhiên, vạn vật cũng theo người lính ra chiến trường.
Hình ảnh thật thi vị, đó là chất thơ của cuộc chiến đấu. Hiện thực thì khốc liệt, mọi
thứ có thể va đập, quăng quật vào buồng lái, nhưng người lính cảm nhận nó bằng
một tâm hồn trẻ trung, lãng mạn, nhạy cảm với cái đẹp. Những câu thơ trên miêu tả
17
cảm giác rất thực của người lính nhưng cũng hé lộ diện mạo tinh thần thầm kín của
họ.
- Nổi bật lên vẫn là nét phẩm chất, tính cách cao đẹp của người lính.
+ Tư thế của họ thật ung dung, hiên ngang, tự tin, tự hào:
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng
Hai câu sáu chữ nhịp 2/2/2 và chữ “ung dung” đảo lên đầu câu làm nổi bật lên tư
thế ấy của người lính. “Nhìn thẳng” là cái nhìn đầy tự chủ, có vẻ trang nghiêm, bất
khuất, không thẹn với đất trời, nhìn thẳng con đường phía trước, nhìn thẳng vào
gian khổ, hi sinh, không run sợ, né tránh.
+ Xe không kính, biết bao gian khổ, người lính lái xe vẫn vượt lên với thái
độ hiên ngang, bất chấp mọi gian khổ, hiểm nguy với tinh thần quả cảm:
Không có kính, ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính ừ thì ướt áo
Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi.
Cấu trúc “Không có kính, ừ thì…chưa cần…” lặp lại và những chi tiết “phì phèo
châm điếu thuốc – Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”, “lái trăm cây số nữa” (trăm cây
số giữa đường Trường Sơn đầy bom đạn, đèo dốc) đã bộc lộ rõ cái ngang tàn, bất
chấp gian khổ của người lính. Thực tế, gió, bụi, mưa, … có thể gây bao khó khăn
khi xe không có kính nhưng người lính đã bình thường hóa những cái không bình
18
thường ấy vượt lên tất cả với sự cố gắng và tinh thần trách nhiệm rất cao. Họ đứng
cao hơn hoàn cảnh, chấp nhận nó như một tất yếu. Hình ảnh họ vừa mang nét giản
dị, dày dặn phong trần, vừa có nét kiêu hùng, lãng mạn.
+ Những chiến sĩ lái xe cũng là những chàng trai trẻ sôi nổi, vui nhộn, lạc
quan và rất gắn bó với đồng đội. Cả bài thơ lấp lánh ánh cười khúc khích, cả tiếng
cười “ha ha” sảng khoái, tự hào: “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”. Đó đúng là tiếng
thơ, tiếng cười của tuổi trẻ, của tâm hồn lạc quan. Sự khốc liệt của chiến tranh đã
tạo nên tiểu đội xe không kính. Sự gắn bó của những con người đã cùng qua bom
đạn, thử thách càng bền chặt, sâu xa. Họ gặp nhau là đã thấy quen thân. Xe không
kính, họ có thể bắt tay qua cửa kính vỡ rồi mà không cần mở cửa xe, thật thoải
mái, tự hào, thắm tình đồng đội. Trên đường Trường Sơn, con đường giải phóng
miền Nam, con đường chính nghĩa, họ càng đi càng có thêm nhiều bè bạn: “Gặp bè
bạn suốt dọc đường đi tới”. Tình đồng đội đã hóa gia đình: “Bếp Hoàng Cầm ta
dựng giữa trời – Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy”. Cách định nghĩa về gia đình
thật “lính”, thật hóm mà cảm thì chân tình, sâu nặng. Gắn bó với nhau trong chiến
đấu, họ càng gắn bó với nhau trong đời thường. Những phút nghỉ ngơi thoáng
chốc, cái ăn, giấc ngủ thật giản dị, gian khó nhưng có đồng đội, người lính vẫn rất
vui nhộn, lạc quan và lại hăm hở lên đường:
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi, trời xanh thêm
Điệp ngữ “Lại đi” và nhịp 2/2/3 khẳng định đoàn xe không ngừng tiến tới, khẩn
trương và kiên cường. Hình ảnh “trời xanh thêm” gợi lên tâm hồn lạc quan của
người chiến sĩ.
+ Động lực mạnh mẽ và sâu xa tạo nên sức mạnh tinh thần lớn lao, bất chấp
mọi nguy nan, mọi sự hủy diệt, tàn phá của kẻ thù ở người chiến sĩ đó chính là ý
chí chiến đấu giải phóng miền Nam, là tình yêu nước nồng nhiệt. Khổ thơ cuối kết
tinh vẻ đẹp của hình tượng những chiếc xe không kính và những chiến sĩ lái xe.Sự
đối diện giữa hai phương diện vật chất và tinh thần, vẻ bên ngoài và bên trong
chiếc xe, giữa “không” và “có” làm nổi bât cái gan góc, kiên định, không thể hủy
diệt của xe, của người. Bom Mỹ đã làm cho những chiếc xe bị phá hủy, bị biến
dạng đến trơ trụi “Không có kính rồi xe không có đèn, Không có mui xe, thùng xe
có xước” nhưng thật kì lạ, “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước – Chỉ cần trong
19
xe có một trái tim”. Điệp ngữ “không có”, lối nói liệt kê và nhịp thơ dồn dập như
diễn tả những khó khăn chồng chất. Nhưng sức mạnh tinh thần thật lớn lao. Tác giả
lí giải bất ngờ mà chí lí, nói lên chân lí sâu xa về sức mạnh của tình yêu nước. Mọi
thứ của xe không còn nguyên vẹn, chỉ cần vẹn nguyên trái tim yêu nước, trái tim vì
miền Nam thì xe vẫn băng ra chiến trường, vẫn tới đích. Đó là sự dũng cảm, ngoan
cường, là sức mạnh của lòng yêu nước và ý chí chiến đấu, chiến thắng. Trái tim
người lính khiến chiếc xe trở thành một cơ thể thống nhất với người chiến sĩ,
không gì tàn phá, ngăn trở được. Những chiếc xe càng thêm độc đáo bởi đó là
những chiếc xe trái tim cầm lái. Chân dung người chiến sĩ được hoàn thiện với khí
phách anh hùng và trái tim tha thiết yêu thương.
Bài thơ đã khắc tạc được những bức chân dung độc đáo về người chiến sĩ lái xe
ở Trường Sơn thời chống Mỹ - can trường, quả cảm, đầy chất kiêu hùng trong vẻ
giản dị nhất và tràn đầy tình yêu thương. Đó cũng chính là hình ảnh tiêu biểu của
anh bộ đội Việt Nam, dân tộc Việt Nam thời chống Mỹ cứu nước.
C – TÁC PHẨM – TỪ NHIỀU GÓC NHÌN
1. Lời tác giả
(…) Không có kính, rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xước
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Hình ảnh cuối cùng tỏa lên bài thơ, làm bài thơ lung linh một ý nghĩa, một
tình yêu. Phải, chỉ cần có “một trái tim”, một trái tim yêu nước, một lòng khát khao
giải phóng miền Nam thì những cái thiếu kia đâu có hề gì. Vậy đó, khí phách
ngang tàng mà vẫn tha thiết yêu thương.
Đó là anh lính lái xe của tôi.
Bài thơ là một trong những hình mẫu tiêu biểu cho thơ ca của tôi. Ngắn,
khoảng chừng ba mươi dòng: ngôn ngữ mộc mạc; những hình ảnh khỏe, chân thực
như đời sống chân phương ùa vào thơ, sinh động mà không kém phần lôi cuốn. Tôi
thích bài thơ, thích cái vẻ ngang tàng, khí phách, thích cái chất kiêu hùng trong vẻ
20
giản dị nhất của nhân vật. Tứ “không có kính” là cách làm nổi bật lên tình yêu lớn
của người lính lái xe đối với Tổ quốc, với miền Nam.
Tác giả nói về tác phẩm, Nguyễn Quang Thiều
(chủ biên), NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2000)
2. Giọng thơ Phạm Tiến Duật đặc sắc không lẫn với ai ở khía cạnh lạc quan,
khúc khích của nó. Cái khúc khích là thuộc về tuổi trẻ, thuộc về người lính.
(Nhà thơ Việt Nam hiện đại – NXB khoa học xã hội, 1984,tr.541)
3. “Cả bài thơ là lời nói, cảm xúc của người chiến sĩ lái xe trên con đường xe
chạy liên tục. Thử thách này càng tăng nhưng tốc độ và hướng đi không đổi. Vẫn
là khẳng định tinh thần bất khuất quyết thắng của quân đội ta, nhưng Phạm Tiến
Duật đã đem lại nhiều hình ảnh mới và giọng điệu mới: trẻ trung, tinh nghịch,
ngang tàng mà kiên định. Bài thơ đâu chỉ nói về tiểu đội xe không kính, nó phản
ánh cả khí thế quyết tâm giải phóng miền Nam của toàn quân và toàn dân ta, khẳng
định con người mạnh hơn sắt thép:.
(Trần Đình Sử, Đọc văn học văn, NXB Giáo dục, 2002)
4. “Khổ thơ cuối cùng, vẫn một giọng thơ mộc mạc, gần với giọng nói thường,
như văn xuôi. Vậy mà nhạc điệu, hình ảnh, ngôn ngữ rất đẹp, rất thơ; cảm hứng và
suy tưởng vừa bay bổng, vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của
những chiến sĩ vận tải Trường Sơn những năm đánh Mỹ. Bốn dòng thơ dựng lại
hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, rất bất ngờ, thú vị.
Hai câu đầu dồn dập những mất mát, khó khăn do quân địch gieo xuống, do
đường trường gây ra: xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe xước vỡ …
Điệp ngữ “không có nhắc lại ba lần như nhân lên ba lần những thử thách khốc
liệt”. Hai dòng ngôn ngữ ngắt làm bốn khúc: “Không có kính / rồi xe không có đèn
/ không có mui / thừng xe có xước” như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy
chông gai, bom đạn, bốn khúc “cua vòng, rẽ ngoặt” …trêu ngươi, chọc tức đoàn
xe.
Hai câu cuối:
Xe vẫn chạy vì miền nam phía trước
21
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, êm ru. Hình ảnh đậm nét. Vậy là đoàn xe đã
chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở hướng ra phía trước, hướng ra tiền tuyến
lớn với một tính cảm thiếng liêng vì miền Nam, vì cuộc chiến đấu giành độc lập,
thống nhất cho cả nước. Đặc biệt tỏa sáng chói ngời cả đoạn thơ, bài thơ là hình
ảnh “trong xe có một trái tim”. Thì ra cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rẽ
phẩm chất anh hùng của mỗi người cầm lái tích tụ, đọng kết lại ở các trái tim gan
góc, kiên cường, giàu bản lĩnh và chứa chan tình yêu thương này. Phải chăng chính
trái tim con người đã cầm lái? Tình yêu Tổ quốc, tình thương đồng bào đồng chí ở
miền Nam đau khổ, luôn lạc quan, bình tĩnh, nắm chắc “vô lăng”, nhìn thật đúng
hướng để đưa đoàn xe khẩn trương tới đích “Ngữ điệu của câu thơ “Chỉ cần trong
xe có một trái tim” thật nhẹ nhõm, song khả năng khắc họa hình tượng nhân vật và
khơi gợi suy luận triết lí thật đắm sâu, trĩu nặng. Ẩn sâu ý nghĩa “trái tim cầm lái”,
câu thơ còn muốn hướng người đọc về một chân lí của thời đại chúng ta: sức mạnh
quyết định chiến thắng không phải là vũ khí, là công cụ … mà là con người – con
người mang trái tim nồng nàn yêu thương, ý chí kiên cường, dũng cảm, niềm lạc
quan và niềm tin vững chắc. Có thể nói, cả bài thơ, hay nhất là câu thơ cuối cùng
này. Nó là “nhãn tự”, là “con mắt của thơ”, bật sáng chủ đề, tỏa sáng vẻ đẹp của
hình tượng nhân vật trong thơ”.
(Vũ Dương Quỹ, Bình giảng văn học 9, NXB Giáo dục, 1995)
5. “Mạn phép nói thêm cái chất thực của bài thơ để chúng ta hiểu rằng, một
bài thơ có nhiều khi vượt qua khỏi phạm trù cái đẹp văn chương thuần túy, dâng
cho cuộc sống những giá trị thực tiễn lớn lao biết nhường nào. Bài thơ “Bài thơ về
tiểu đội xe không kính” có cái mãnh lực thần kì ấy, nó vừa mang tính chiến đấu
nóng bỏng, tính thời sự tức thời vừa mang tầm vóc lịch sử! Tất nhiên bài thơ như
thế phải là tiếng nói của cuộc sống thực hào hùng. Đó là tiengs nói chân thành, độc
đáo của người trong cuộc. Nó như một tuyên ngôn về lẽ sống của một thế hệ người
Việt Nam”.
(Võ Minh, Nói thêm về “Tiểu đội xe không kính”,
Tài hoa trẻ, số 347 – 348, 2004)
22
D – LUYỆN TẬP
1. Chép lại chính xác khổ đầu và khổ cuối Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Em
có suy nghĩ gì về nhan đề tác phẩm?
2. Cảm nhận của em về vẻ đẹp đọc đáo của những hình ảnh những chiếc xe không
kính vẫn băng ra chiến trường được miêu tả trong bài thơ?
3. Vẻ đẹp của hình ảnh người chiến sĩ lái xe ở Trường Sơn thời chống Mĩ được
khắc họa trong Bài thơ về tiểu đội xe không kính như thế nào?
4. Liên hệ với bài thơ Đồng chí của Chính Hữu, em thấy hình ảnh người lính trong
bài thơ Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính có những nét gì chung và
khác nhau?
5. Em có nhận xét gì về đặc sắc nghệ thuật của bài thơ?
6. Cả bài Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật đều
có những chi tiết, hình ảnh giống nhau, song sắc thái biểu cảm vẫn có sự khác biệt
rõ nét. Em hãy chép ra những câu thơ đó và thử lí giải xem sự giống nhau cũng
như sự khác biệt là ở chỗ nào?
7. Trong bài thơ Mẹ Tơm, nhà thơ Tố Hữu viết:
Thương người cộng sản căm Tây Nhật
Buồng mẹ - buồng tim giấu chúng con
Và kết thúc bài thơ, tác giả lại viết:
Những trái tim như ngọc sáng ngời.
a) Hai hình ảnh “buồng tim” và “trái tim”, hình ảnh nào là hoán dụ, hình ảnh nào là
ẩn dụ? Vì sao? Và nhà thơ định nói gì qua hai hình ảnh đó?
b) Học thơ văn hẳn em thường gặp cách viết như thế. Hãy ghi lại những câu thơ đó
cũng có hình ảnh trái tim được dùng với ý nghĩa tương tự.
23
ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ
Huy Caän
A – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN BẢN
1. Xuất xứ
Bài thơ được in trong tập Trời mỗi ngày lại sáng (1958).
2. Hoàn cảnh sáng tác
Bài thơ được viết vào năm 1958, khi đất nước đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng và đi vào xây dựng cuộc
sống mới trong không khí hào hứng, phấn chấn, tin tưởng. Chuyến đi thực tế vài
ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh vào nửa cuối năm 1958 đã thấy nhà thơ thấy rõ cuộc
sống lao động ấy của nhân dân ta, góp phần mở chặng đường mới cho thơ Huy
Cận. Bài thơ là kết quả của chuyến đi thực tế đó.
3. Thể thơ và bố cục
- Thể thơ: Bảy chữ
- Bố cục: Bài thơ được bố cục hành hình theo một chuyến ra khơi của đoàn thuyền
đánh cá.
+ Hai khổ đầu: cảnh ra khơi và tâm trạng náo nức của con người.
+ Bốn khổ tiếp: cảnh hoạt động của đoàn thuyền đánh cá giữa khung cảnh
biển trời đêm.
+ Khổ cuối: cảnh đoàn thuyền trở về trong cảnh bình minh lên.
Hành trình của buổi lao động của đoàn thuyền đánh cá nhịp với nhịp tuần hoàn
của vũ trụ từ lúc hoàng hôn đến bình minh.
4. Đặc điểm nội dung, nghệ thuật
24
- Bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi lao động tập thể và người lao động trong
khung cảnh thiên nhiên đất nước giàu đẹp.
- Bài thơ có nhiều sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh bằng liên tưởng tưởng
tượng phong phú, độc đáo; có âm hưởng khỏe khoắn, hào hùng, lạc quan.
B – ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN VĂN BẢN
1. Khúc hát ra khơi
- Thời điểm đoàn thuyền ra khơi thật đặc biệt – vào lúc hoàng hôn xuống trên
biển cả: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa – Sóng đã cài then, đêm sập cửa”. Các
hình ảnh so sánh, nhân hóa, ẩn dụ khiến vũ trụ được hình dung như một ngôi nhà
lớn đang vào đêm với động tác như con người: tắt lửa, cài then, sập cửa. Màn đêm
là tấm cửa khổng lồ, những lượn sóng là then cài. Thiên nhiên như dọn dẹp chuẩn
bị nghỉ ngơi sau một chu trình hoạt động.
- Ngược lại con người lại bắt đầu cuộc lao động rất hào hứng: “Đoàn thuyền
đánh cá lại ra khơi – Câu hát căng buồm với gió khơi”.Sự đối lập về hình ảnh và
nhạc điệu ở hai câu đầu với hai câu sau nói lên khí thế và nhiệt tình của người lao
động: khẩn trương làm việc không quản ngày đêm làm giàu cho quê hương đất
nước. Chữ “lại” vừa tạo sự đối lập, vừa gợi thế chủ động của con người và cho biết
đoàn thuyền vẫn thường đi như thế, không phải lần đầu. Mặc dù vậy, khí thế vẫn
hăm hở, náo nức, cất lên thành khúc hát. Đó là không khí tập thể tưng bừng, cả một
đoàn thuyền tấp nập nối đuôi nhau ra khơi. Người lao động hát vang bài tiến quân
ca ra biển cả. Cách nói ẩn dụ gợi câu hát cũng như tạo nên sức mạnh vật chất, góp
gió căng buồm, đẩy thuyền ra khơi. Câu thơ gắn kết ba sự vật và hiện tượng: cánh
buồm, gió khơi và câu hát, tạo nên hình ảnh vừa thực, vừa lãng mạn, khỏe và lạ.
Tâm tư người đánh cá gửi gắm trong bài hát: phấn khởi, say mê công việc và sự
giàu đẹp của biển quê hương. Lời ca của họ có “muôn luồng sáng” tỏa giữa biển
đêm:
Hát rằng: cá bạc biển đông lặng
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
25