1
TƯ TƯỞNG CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI SOI SÁNG CON ĐƯỜNG
GIẢI PHÓNG CÁC DÂN TỘC THUỘC ĐỊA VÀ PHỤ THUỘC
Cách mạng tháng Mười Nga là một cuộc cách mạng vô sản. Bản chất
giai cấp của nó rất rõ rệt và sâu sắc.
Trong cuộc đấu tranh để giải quyết vấn đề chuyên chính vô sản là vấn
đề cơ bản của cách mạng vô sản. Cách mạng tháng Mười Nga cũng đồng thời
giải quyết một cách đúng đắn và sáng tạo vấn đề dân tộc theo đúng những quan
điểm của chủ nghĩa Mác. Việc giải quyết vấn đề dân tộc ở nước Nga còn mở ra
cho các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới một con đường giải phóng hoàn toàn
mới, đầy tương lai xán lạn. Không chỉ trên mặt lý thuyết mà cả trong thực tiễn,
khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga mở được một cửa đột phá vào
hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới, chuyển thế giới từ chỗ chỉ là một hệ thống
duy nhất – chủ nghĩa tư bản – sang trạng thái có hai hệ thống xã hội đối lập –
chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội – thì cuộc đấu tranh để tự giải phóng của
tất cả các dân tộc bị áp bức và bóc lột được đặt vào một thế so sánh lực lượng
mới, ngày càng có lợi cho họ. Đến nay, hệ thống thuộc địa cũ của chủ nghĩa đế
quốc về căn bản đã bị xoá bỏ. Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc bước vào
một giai đoạn mới: giải phóng dân tộc đồng thời giải phóng xã hội, giải phóng
lao động, giải phóng giai cấp.
1- Từ vấn đề quyền tự quyết của các dân tộc…
a. Vấn đề dân tộc không phải là vấn đề chủ yếu trong học thuyết của
Mác. Chủ nghĩa Mác-Lênin coi vấn đề chuyên chính vô sản là vấn đề trung tâm
của mình cũng như của sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản trên toàn thế
giới.
Nhưng như Mác và Ăngghen đã chỉ rõ trong “Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản”, “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về
mặt nội dung, không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang
hình thức đấu tranh dân tộc”1. Các ông còn căn dặn: “Trong các cuộc đấu tranh
của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo
vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô
sản”2.
Cho nên những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin không hề coi
thường vấn đề dân tộc mà thấy nó là một vấn đề phức tạp, có quan hệ mật thiết
với cuộc đấu tranh để thiết lập chuyên chính vô sản.
Trước cách mạng tháng Mười Nga, V.I. Lênin cũng đã chỉ rõ rằng đội
tiên phong của giai cấp vô sản không bao giờ đấu tranh một mình chống tư bản
cả. Nó phải lôi cuốn được đông đảo quần chúng lao động trong quốc gia (dân tộc
2
hoặc nhiều dân tộc) đứng về phía mình, hình thành một phong trào quần chúng
chống tư bản. Lênin cho rằng nếu không có phong trào quần chúng thì không
cuộc cách mạng nào có thể có được, mà đã là phong trào quần chúng thì thế nào
phong trào này cũng sẽ có mặt “mang nhiều sắc thái, lộn xộn, nhiều màu sắc,
thoạt nhìn thì thấy không thống nhất”1. Đội tiên phong phải có năng lực thống
nhất nó lại, chỉ đạo nó, hướng nó vào cuộc đấu tranh chống tư bản mà mọi người
đều căm thù, mặc dù căm thù vì nhiều lý do khác nhau.
Vấn đề dân tộc trong cách mạng Nga đã được Đảng Bôn-sê-vích, do
Lênin đứng đầu, đặt ra ngay từ trong cương lĩnh đầu tiên khi thành lập đảng.
Trong lĩnh vực này, Lênin đã nắm vững những quan điểm của Mác, Ăng-ghen
và khi vận dụng đã phát triển thêm học thuyết đó trong giai đoạn mới của lịch
sử.
Chủ nghĩa Mác ra đời trong hoàn cảnh chủ nghĩa tư bản đang còn ở
thời kỳ phát triển đi lên. Đó còn là thời kỳ hình thành các quốc gia dân tộc độc
lập tư bản chủ nghĩa. Trước đó, chủ nghĩa phong kiến bao trùm nhiều quốc gia
có nhiều dân tộc, dưới sự thống trị của giai cấp phong kiến thuộc một dân tộc
nhất định. Chủ nghĩa tư bản phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến, phá vỡ xã
hội đó và dẫn đến sự hình thành các quốc gia tư sản-quốc gia dân tộc hoặc quốc
gia nhiều dân tộc.
Một quốc gia rộng lớn về mặt kinh tế, bao giờ cũng thuận lợi hơn cho
sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, dù đó là một quốc gia nhiều dân tộc. Giai cấp
tư sản thuộc dân tộc nhỏ yếu vẫn có thể bằng lòng với sự phát triển của mình
trong quốc gia đó. Nhưng khi nào sự chèn ép về mặt kinh tế của giai cấp tư sản
thuộc dân tộc thống trị trở nên không chịu nổi đối với giai cấp tư sản dân tộc
không thống trị thì lúc đó sẽ bùng lên các phong trào dân tộc, đòi giải phóng dân
tộc, li khai với quốc gia cũ về mặt chính trị để thành lập các quốc gia tư sản mới
khác.
Trong chế độ tư bản chủ nghĩa, sự xã hội hoá lao động và sản xuất đã
vượt ra khỏi khuôn khổ quốc gia và đạt đến quy mô quốc tế ngày càng cao. Đó là
xu hướng tất yếu mang tính quy luật không gì cưỡng lại nổi. Tư bản là một thế
lực quốc tế. Do đó chủ nghĩa Mác giáo dục giai cấp vô sản tất cả các nước đấu
tranh theo tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản, dưới khẩu hiệu: “Vô sản tất cả các
nước, đoàn kết lại!”. Thực tiễn cuộc sống hàng ngày cũng khiến người công
nhân trong một nước thấy rằng ách áp bức bóc lột giai cấp là trực tiếp. Họ quan
tâm trước hết đến tình trạng họ bị bóc lột hơn là tìm hiểu xem tên tư sản bóc lột
mình thuộc về dân tộc nào. Điều này đặc biệt rõ ở những quốc gia tư sản nhiều
dân tộc như nước Nga trước cách mạng. Ở đó, giai cấp vô sản cũng xuất thân từ
nhiều dân tộc khác nhau. Ngay cả những người công nhân thuộc dân tộc thống
trị cũng vẫn có thể bị giai cấp tư sản của dân tộc khác bóc lột. Chủ nghĩa Mác đã
làm sáng tỏ vấn đề giai cấp là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử thành văn của xã hội
3
loài người. Do đó, nhận thức về giai cấp là cơ sở để giải quyết đúng đắn vấn đề
dân tộc.
Nhưng bây giờ, trước sự xuất hiện của các phong trào tư sản đòi giải
phóng dân tộc, đòi li khai về chính trị, thì thái độ của giai cấp vô sản và đội tiên
phong của nó cần phải như thế nào? Vấn đề trở nên phức tạp, đặc biệt là khi giai
cấp vô sản trong quốc gia đó cũng thuộc nhiều dân tộc khác nhau.
Chính Mác lúc đầu cũng chưa phân định rõ ngay được vấn đề này. Phải
theo dõi việc Mác giải quyết vấn đề này mới nắm được đúng quan điểm của chủ
nghĩa Mác. Còn nếu chỉ muốn trả lời vấn đề đó một cách đơn giản là “có” hoặc
“không” một cách máy móc và cứng nhắc, thì rất có thể phạm sai lầm, ảnh
hưởng không tốt đến cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản. Hãy xem thái
độ của Mác trong “Vấn đề Ai-rơ-len” hồi thế kỷ XVIII. Vấn đề được đặt ra cụ
thể lúc đó là: giai cấp công nhân Anh có ủng hộ phong trào dân tộc Ai-rơ-len đòi
tách khỏi nước Anh đang thống trị Ai-rơ-len không? Thoạt đầu, Mác chưa quan
tâm mấy đến phong trào dân tộc tư sản này, vì ông cho rằng không phải phong
trào này mà chính là phong trào công nhân Anh (trong lòng dân tộc đi áp bức)
mới giải phóng được Ai-rơ-len, bởi vì ông nghĩ rằng chỉ có thắng lợi của giai cấp
công nhân Anh mới có thể hoàn toàn giải phóng được các dân tộc bị nước Anh
thống trị. Nhưng nghiên cứu sâu xa hơn, chỉ ít lâu sau, Mác lại tin ngược lại.
Mác thấy rằng “giai cấp công nhân Anh sẽ không thể làm gì được, chừng nào nó
chưa dứt bỏ được Ai-rơ-len… thế lực phản động Anh trong nước Anh bắt nguồn
trong sự nô dịch Ai-rơ-len”1. Giai cấp tư sản Anh đã dùng một phần nhỏ trong
lợi nhuận thuộc địa, dùng các đảng tự do để lôi cuốn công nhân Anh vào việc
ủng hộ nó duy trì chế độ thuộc địa. Để cho giai cấp công nhân Anh có thể hoàn
thành được sứ mệnh lịch sử của mình thì phải dứt nó ra khỏi cái trò bẩn thỉu đó
của giai cấp tư sản Anh. Chính trong quá trình giải quyết “vấn đề Ai-rơ-len” mà
Mác và Ăng ghen đã hình thành quan điểm nổi tiếng: một dân tộc đi áp bức một
dân tộc khác thì chính dân tộc đi áp bức cũng là một dân tộc không có tự do.
Vấn đề giải phóng dân tộc lúc đó, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác,
là vấn đề quyền tự quyết của các dân tộc, tức là quyền được tự do phân lập thành
một quốc gia độc lập khác. Quyền đó cũng dự kiến cả trường hợp sau này quốc
gia mới đó lại liên hiệp lại với quốc gia kia dưới một hình thức nào đó. Chính
Mác cũng đã dự kiến cả trường hợp sau này Ai-rơ-len có thể lập liên bang với
nước Anh. Nhưng trong mọi trường hợp tách ra hoặc nhập lại, tất cả đều cần
phải tiến hành một cách tự nguyện, thật sự dân chủ, có nghĩa là phải tiến hành từ
dưới, chống lại mọi thủ đoạn bạo lực. Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đòi
hỏi nguyên tắc dân chủ này, vì chỉ có trải qua các cửa ải khác nhau của cuộc đấu
tranh cho dân chủ, giai cấp công nhân mới đưa sự nghiệp của mình tới đích
được. Dân chủ tuy không phải là mục tiêu cao nhất nhưng là một phương tiện
cần thiết để phát triển cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản.
4
Mác và Ăng ghen không chỉ nghiên cứu và nêu lên những kiến giải
mẫu mực về thái độ đối với các phong trào dân tộc tư sản ở Tây Âu. Hai ông
cũng đã nghiên cứu cả nhiều nước ở Đông Âu, đặc biệt là nước Nga, cũng như
đã đề cập tới một số nước lớn ở châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ… lúc đó.
b. Đối với nước Nga, trong một bức thư (đề ngày 24-10-1869), khi
nhắc lại vấn đề Ai-rơ-len, Ăngghen có viết: “Từ Ai-rơ-len đến Nga, il n’y a
qu’un pas (chỉ có một bước thôi)” 1. Tuy nhiên, chúng ta cần nhớ rằng, từ sau khi
Ăngghen mất (1895), chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa xét lại đã một thời lũng
đoạn phong trào công nhân quốc tế, làm đảo lộn trắng đen trong nhiều vấn đề cơ
bản của chủ nghĩa Mác. Vấn đề dân tộc cũng bị phá hoại như vậy. Nó được đề
lên hàng đầu, che lấp cả vấn đề đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản. Lênin
và đảng vô sản Nga đã kiên trì và quyết liệt đấu tranh để bảo vệ chủ nghĩa Mác,
phát triển nó trong hoàn cảnh mới, khi chủ nghĩa tư bản đã đi đến giai đoạn tột
cùng là chủ nghĩa đế quốc. Trong không khí các nước đế quốc chuẩn bị và thực
tế đã tiến hành cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất hoàn toàn chỉ có tính chất đế
quốc chủ nghĩa, thì bọn cơ hội chủ nghĩa đã ra sức truyền bá chủ nghĩa sô-vanh
vào phong trào công nhân, lôi cuốn giai cấp công nhân từng nước đi theo chủ
nghĩa dân tộc tư sản “của nước mình”. Dưới chiêu bài “bảo vệ Tổ quốc”, quần
chúng lao động, công nhân và nông dân bị đẩy ra chiến trường làm bia đỡ đạn,
tranh giành quyền lợi cho giai cấp tư sản “nước mình”.
Lênin và Đảng vô sản Nga đã phải đấu tranh kịch liệt để khôi phục lại
các quan điểm đúng đắn của chủ nghĩa Mác về vấn đề giải phóng các dân tộc bị
áp bức và đã phát triển sáng tạo những quan điểm đó trong khi vận dụng vào
thực tiễn cách mạng Nga và cách mạng thế giới. Vấn đề đã được đặt ra và giải
quyết như thế nào?
Trong đảng, một số người đã lầm tưởng rằng vấn đề dân tộc ở nước
Nga Sa hoàng cũng giống như vấn đề dân tộc trong đế chế Áo – Hung cùng thời,
tức là các dân tộc ở đây không có yêu cầu tách khỏi đế chế Áo – Hung. Vấn đề
quyền tự quyết của các dân tộc ở Áo – Hung do đó không cần được đặt ra.
Lênin đã đi sâu làm sáng tỏ nội dung vấn đề này và vạch ra rằng cách giải quyết
vấn đề dân tộc ở nước Nga có khác với Áo – Hung lúc đó. Lênin chỉ ra rằng tuy
cả hai đế chế này đều là những quốc gia nhiều dân tộc, nhưng vấn đề được đặt ra
trong hai quốc gia đó lại hoàn toàn khác nhau. Ở Áo, cuộc cách mạng tư sản kết
thúc từ năm 1867, ở đó người Áo, người Hung, người Tiệp và về sau có thêm cả
người Đức, người Xla-vơ đang cố kết với nhau để tránh bị các nước lân cận
mạnh hơn thôn tính và bóp nghẹt. Tình hình nước Nga thì lại khác. Nước Nga đã
được mệnh danh là “nhà tù các dân tộc”, ở đó không có tình hình “những người
dị tộc” muốn thống nhất với những người Đại Nga để tránh bị thôn tính như ở
Áo-Hung. Năm 1914, khi vấn đề quyền dân tộc tự quyết lại trở thành một vấn đề
tranh luận ở trong Đảng, Lênin đã vạch rõ 5 đặc điểm của tình hình nước Nga
(so với tình hình Áo-Hung): 1) “những người dị tộc” chiếm đa số (57%) dân cư,
5
so với 70 triệu người Đại Nga; 2) “những người dị tộc” đó bị áp bức nặng nề hơn
nhiều so với tình hình ở những quốc gia lân cận; 3) nhiều dân tộc sống ở vùng
ngoại vi quốc gia lại có những người cùng dân tộc sống ở bên kia biên giới và
đang được hưởng một nền độc lập dân tộc lớn hơn (người Phần Lan, người Thuỵ
Điển …); 4) sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và trình độ văn hoá chung ở
những vùng ngoại vi đôi khi lại cao hơn ở trung tâm quốc gia; và cuối cùng là:
trong khi các quốc gia phía tây đã hoàn thành cuộc cách mạng tư sản thì các
quốc gia châu Á láng giềng cũng đang mở đầu thời kỳ những cuộc cách mạng tư
sản và các phong trào dân tộc, bao gồm một phần những dân tộc cùng huyết
thống với các dân tộc sống trong nước Nga.
Lênin kết luận: “Vậy là chính những đặc điểm lịch sử cụ thể của vấn đề
dân tộc ở Nga khiến ở nước ta, trong thời kỳ chúng ta đang trải qua, việc thừa
nhận quyền dân tộc tự quyết có một tầm quan trọng đặc biệt”1.
Cuộc đấu tranh cho quyền tự quyết của các dân tộc diễn ra rất phức tạp
vì sự chống đối nổi lên từ nhiều phía. Các giai cấp thống trị đang cầm quyền (tư
sản, địa chủ) công khai dùng bạo lực để bảo vệ cái “nhà tù các dân tộc”, vì quyền
lợi giai cấp ích kỷ của chúng. Các nhà tư tưởng của chúng cho rằng tuyên truyền
quyền tự quyết của các dân tộc là “làm tan rã quốc gia”, cũng giống như việc
tuyên truyền tự do kết hôn là phá hoại gia đình! Còn ở trong hàng ngũ những
người cách mạng có những lập luận rằng: đảng vô sản ở Nga là một đảng thống
nhất, tập hợp những người ưu tú của giai cấp vô sản không phân biệt dân tộc ở
nước Nga; chủ trương cho các dân tộc này có quyền tự quyết là tăng cường sức
mạnh cho giai cấp tư sản của các dân tộc bị trị và làm yếu giai cấp vô sản, làm
yếu đảng, bằng cách chia rẽ nó! Để phù hợp với tình hình cụ thể các dân tộc ở
nước Nga, họ chủ trương “quyền tự trị dân tộc về văn hoá” và chống lại chủ
trương quyền dân tộc tự quyết.
Lênin đã đặc biệt chỉ rõ sai lầm của chủ trương “quyền tự trị dân tộc về
văn hoá”. Về thực tiễn chính trị, nó đã phủ nhận quyền dân tộc tự quyết, tức là
quyền tự do phân lập của các dân tộc thành các quốc gia khác nhau. Chính nó lại
chia rẽ giai cấp công nhân vì đã chủ trương tập hợp giai cấp công nhân trong một
quốc gia theo nhiều nhóm dân tộc khác nhau.
Trong cuộc đấu tranh này, theo gương Mác, Lênin đã đi sâu vào nội
dung sinh động của quyền dân tộc tự quyết chứ không chỉ nêu nó lên như một
khẩu hiệu suông. Theo Lênin, đối với nước Nga lúc đó, cũng như đối với tất cả
các nước chưa hoàn thành những cuộc cải tạo dân chủ tư sản mà đảng vô sản độc
lập đã xuất hiện, thì chính sách dân tộc của đảng phải có hai mặt: 1)thừa nhận
quyền tự quyết của tất cả các dân tộc; 2) liên minh chặt chẽ nhất, keo sơn nhất
trong cuộc đấu tranh giai cấp, giữa tất cả những người vô sản tất cả các dân tộc
của một quốc gia nhất định trong tất cả những biến cố lịch sử của quốc gia đó, dù
cho giai cấp tư sản có sửa đi sửa lại biên giới các quốc gia như thế nào đi nữa2.
6
Hai mặt của chính sách dân tộc đó của đảng vô sản đã được Quốc tế
thứ nhất nêu ra từ cuối thế kỷ trước. Vận dụng chính sách đó vào hoàn cảnh cách
mạng Nga đầu thế kỷ XX, Lênin giải thích rõ thêm là: “Việc thừa nhận quyền tự
quyết của tất cả các dân tộc bao hàm một mức tối đa về chủ nghĩa dân chủ và
một mức tối thiểu về chủ nghĩa dân tộc” 1. Điều đó có nghĩa là trong khi ủng hộ
quyền tự quyết của các dân tộc, những người theo chủ nghĩa Mác-Lênin không
hề có ý ủng hộ chủ nghĩa dân tộc của giai cấp tư sản của dân tộc bị trị, đi theo
chủ nghĩa dân tộc đó, mà chỉ coi đó là một bước để giành dân chủ, tạo điều kiện
thuận lợi cho hoạt động của đảng vô sản, trong đó có quyền độc lập của chính
đảng vô sản, quyền chống lại chính chủ nghĩa dân tộc của giai cấp tư sản nước
mình.
Giai cấp vô sản trong dân tộc đi thống trị cũng phải vận dụng chính
sách dân tộc trên và điều đó cũng là vì lợi ích cuộc đấu tranh của chính mình,
cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản nước mình. Đó là chủ nghĩa quốc tế vô
sản chân chính. Hơn nữa, khi chủ nghĩa tư bản đã biến thành chủ nghĩa đế quốc,
đi thống trị các dân tộc khác thì chủ nghĩa dân tộc tư sản ở các nước đế quốc
cũng đã mất đi tính chất quần chúng của nó. Lênin đã nêu một tấm gương cao
quý khi Người nhiệt thành ủng hộ quyền tự quyết của các dân tộc bị chế độ Nga
hoàng áp bức, bóc lột, đồng thời với thái độ căm ghét chủ nghĩa dân tộc Đại
Nga, Người đã tuyên bố tử chiến với nó. Đó là lập trường chính trị đúng đắn của
giai cấp vô sản và quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Như vậy là Đảng vô sản Nga, do Lênin đứng đầu, ngay trong Cương
lĩnh năm 1903 đã đề ra một cách đúng đắn quyền tự quyết của các dân tộc.
Trong quá trình đấu tranh, Đảng đã kiên trì và quyết liệt chống lại mọi khuynh
hướng dân tộc chủ nghĩa Đại Nga ở trong và ngoài đảng. Đó là một quan điểm
nhất quán của Đảng, trước khi giai cấp vô sản giành được chính quyền cũng như
sau khi đã thành lập được Nhà nước Xô-viết.
c. Cách mạng tháng Mười đã thật sự hoàn toàn xoá bỏ ách áp bức và sự
bất bình đẳng đối với các dân tộc không phải Nga. Ngày 2-11-1917, Chính phủ
Xô-viết công bố bản “Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc ở nước Nga” quy
định về mặt luật pháp sự phát triển tự do và quyền bình đẳng của các dân tộc ở
nước Nga. Quyền tự quyết tức là quyền phân lập thành các quốc gia độc lập,
được bảo đảm cho tất cả các dân tộc. Tháng chạp năm đó, Chính phủ Xô-viết
thừa nhận quyền độc lập quốc gia của U-crai-na và Phần Lan dù chính quyền ở
những nơi này lúc đó vẫn còn nằm trong tay các giai cấp địa chủ, tư sản. Các lực
lượng phản động ở trong nước nhân sự kiện đó đã la ó lên rằng những người
bôn-sê-vích đã phá hoại nước Nga! Những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc tư sản
trong các dân tộc không phải Nga thì ra sức đề cao chủ nghĩa dân tộc của mình
để chia rẽ các dân tộc khác với dân tộc Nga. Ngược lại, công nhân và nông dân
các dân tộc đều hoan nghênh chính sách của Chính phủ Xô-viết.
7
Thí dụ về U-cra-i-na đã cho thấy rõ sự đúng đắn của chủ trương về
quyền dân tộc tự quyết, bao gồm cả mặt tự do phân lập lẫn mặt tự do liên kết.
Ngay trong tháng chạp 1917, công nhân và nông dân U-cra-i-na đã họp Đại hội
lần thứ nhất các Xô-viết toàn U-cra-i-na tuyên bố xoá bỏ chính quyền tư sản và
địa chủ thành lập nước Cộng hoà xô-viết U-cra-i-na. Đại hội đã long trọng tuyên
bố kiến lập sự liên minh chặt chẽ giữa nước Cộng hoà Xô-viết U-cra-i-na với
nước Nga Xô-viết.
Cho đến tháng 3-1918, Chính quyền Xô-viết còn được thành lập ở Biê-lô-ru-xi-a, E-xtô-ni-a, một phần Lít-va không bị quân Đức chiếm đóng, Crưm,
Môn-đa-vi-a, Ba-cu, một phần lớn Ca-dắc-xtan, cùng các vùng dân tộc Tuốc-kêxtan.
Sự phản kích của các thế lực phản động ở trong nước cùng với sự can
thiệp của bọn đế quốc bên ngoài đã đẩy lùi được cách mạng ở một số nơi: tháng
2-1918, quân Đức chiếm E-xtô-ni-a và lật đổ Chính quyền Xô-viết ở đây; mùa
thu năm 1918, quân Áo – Đức chiếm U-cra-i-na và lật đổ Chính quyền Xô-viết;
tháng 9-1918 quân Anh đã bắn chết 26 chính uỷ ở Ba-cu, tức là toàn bộ chính
phủ của nước A-déc-bai-gian Xô-viết; tháng 8-1919, Chính quyền Xô-viết ở Látvi-a bị quân Đức và bọn bạch vệ Ba-lan lật đổ, cho mãi đến năm 1940 mới khôi
phục được; năm 1920, các thế lực trên cùng với hạm đội Anh vẫn còn lật đổ
được Chính quyền Xô-viết Lít-va, và cũng phải đến năm 1940 Chính quyền Xôviết ở đây mới được khôi phục.
Cuộc đấu tranh khốc liệt giữa cách mạng và phản cách mạng diễn ra
như trên đã khiến các lực lượng cách mạng tự nguyện liên kết lại với nhau.
Chính quyền Xô-viết công nông non trẻ tại các nước tự thấy cần phải liên kết với
nước Nga Xô-viết để cùng nhau chống lại kẻ thù cũng như cùng giúp nhau xây
dựng đất nước trong tương lai. Nhưng liên kết theo hình thức nào? Lúc đầu đã có
ý kiến định đơn giản hoá vấn đề bằng cách liên kết tất cả các dân tộc khác trong
Liên bang Nga. V.I. Lênin đã phản đối ý kiến này. Người chủ trương hình thức
liên bang giữa các nước cộng hoà xô-viết bình đẳng. Nhân dân lao động của các
dân tộc nhiệt liệt tán thành chủ trương của Lênin. Thể theo ý nguyện của công
nông các nước, tức là tuyệt đại bộ phận thành viên các dân tộc, ngày 30-12-1922,
Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô-viết được thành lập. Hình thức liên
bang đó tồn tại cho đến ngày nay. Sau Cách mạng tháng Mười, đây là sự kiện
chính trị có ý nghĩa quan trọng bậc nhất. Chẳng vậy mà tờ “Diễn đàn Si-ca-gô”
(Mỹ) ngay ngày hôm sau, 31-12-1922, đã phải viết: “Từ ngày hôm qua, Liên
bang các nước cộng hoà Xô-viết là sự kiện đã rồi. Từ nay, Lênin sẽ là người
đứng đầu liên minh của 14 dân tộc, bao gồm người Ba-sơ-ki-a, Tác-ta, Ác-mêni-a, A-déc-bai-gian v.v…”
Cách mạng tháng Mười vĩ đại không những đã giải phóng các dân tộc
khỏi “nhà tù” của đế quốc Nga mà việc thành lập Liên bang cộng hoà xã hội chủ
8
nghĩa Xô-viết còn xác lập một quan hệ kiểu mới mà lịch sử cho tới lúc đó chưa
hề biết tới giữa các dân tộc và quốc gia sau khi giai cấp vô sản đã nắm chính
quyền. Những tư tưởng về quyền bình đẳng và chủ quyền của các dân tộc, việc
nghiêm cấm mọi đặc quyền dân tộc cũng như mọi hạn chế sự phát triển của các
dân tộc, là cơ sở và cốt lõi của liên minh nói trên. Sự liên minh này đã được tiến
hành theo phương châm mà Lênin đã đề ra là phải hết sức kiên trì, thận trọng,
tiến hành từ dưới lên.
Trong 65 năm qua, kể từ khi thành lập Liên bang cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Xô-viết, liên minh trên đã đạt được những thành tựu to lớn, rực rỡ trong
việc xây dựng xã hội chủ nghĩa, cũng như trong thử thách lớn lao của cuộc
Chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941-1945) chống bọn phát xít Hít-le. Sự nghiệp
củng cố tình hữu nghị giữa các dân tộc trong Liên bang Xô-viết là dẫn chứng
hùng hồn về sức sống và năng lực sáng tạo của các dân tộc đã thoát khỏi cả ách
áp bức giai cấp lẫn ách áp bức dân tộc.
Sức mạnh của liên minh các dân tộc anh em ở Liên Xô thể hiện đặc
biệt rõ trong việc đẩy mạnh sự phát triển không ngừng của những vùng lạc hậu
trước kia. Dựa vào sự giúp đỡ của cộng đồng các dân tộc trong liên bang, trước
hết là của dân tộc Nga, các nước kém phát triển thời Nga hoàng nay đã có nền
kinh tế, văn hoá, khoa học và kỹ thuật hùng mạnh. Có thể lấy ví dụ về nước Cadắc-xtan, một trong những vùng lạc hậu nhất của nước Nga Sa hoàng. Tổng sản
lượng công nghiệp của nước này hiện nay đã tăng 900 lần so với năm 1917, với
hàng chục thành phố và khu công nghiệp lớn; đây cũng là khu vực lớn về ngũ
cốc và thịt của Liên Xô. Tất cả các nước cộng hoà xô-viết khác trong 65 năm qua
đều có những bước tiến khổng lồ. Về kinh tế, khoa học kỹ thuật, họ đã sánh vai
được với các nước tư bản chủ nghĩa Tây Âu có hàng trăm năm phát triển. Trên
nhiều mặt, họ đã vượt qua những nước này.
d. Trong hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới, vấn đề quyền tự quyết của
các dân tộc trong một quốc gia cho đến ngày nay vẫn mang tính thời sự nóng
hổi. Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng sự phát triển của xã hội loài người cuối cùng
sẽ đi tới chỗ các dân tộc hoà hợp với nhau, thay do sự đối địch nhau. Nhưng đó
là cả một quá trình lịch sử. Sự khác nhau về dân tộc, “ngay cả sau khi nền
chuyên chính của giai cấp vô sản đã được thiết lập trên phạm vi toàn thế giới,
cũng vẫn còn tồn tại trong một thời gian lâu, rất lâu”1.
Như mọi người đều biết, trong quá trình phát triển của chủ nghĩaơt bản
có hai xu hướng lịch sử trong vấn đề dân tộc : thứ nhất là xu hướng thức tỉnh của
ý thức dân tộc, chống ách áp bức dân tộc, thiết lập các quốc gia dân tộc; thứ hai
là xu hướng tăng cường các quan hệ dân tộc. Xu hướng thứ nhất chiếm ưu thế
trong lúc chủ nghĩa tư bản mới phát triển và xu hướng thứ hai là đặc trưng của
chủ nghĩa tư bản đã già cỗi, sắp chuyển sang xã hội xã hội chủ nghĩa.
9
Đứng trên góc độ lịch sử toàn thế giới mà xem xét thì ngày nay chủ
nghĩa tư bản đã ở vào giai đoạn già cỗi. Nhưng đứng riêng từng vùng, từng nước
thì không phải xu hướng thứ nhất đã không còn đường phát triển. Trái lại, đồng
thời với sự tăng cường ngày càng mạnh mẽ của xu hướng thứ hai thì xu hướng
thứ nhất tiếp tục tồn tại và phát triển, đặc biệt là tại các nước chậm phát triển ở
châu Á, châu Phi. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai tới nay, đã có tới gần một
trăm quốc gia độc lập mới xuất hiện trên những thuộc địa và nửa thuộc địa cũ
của chủ nghĩa đế quốc. Nhiều phong trào dân tộc đang tiếp tục đấu tranh đòi
quyền tự quyết, chống lại chủ nghĩa thực dân cũ và những biểu hiện của chủ
nghĩa dân tộc mới.
Như đã thấy, chủ nghĩa Mác-Lênin không bao giờ quan nịêm một cách
giản đơn là “có” hay “không” đối với những vấn đề tách ra hoặc nhập lại của các
dân tộc, mà đòi hỏi những sự phân tích cụ thể đối với từng trường hợp cụ thể,
căn cứ vào tiêu chuẩn tiến bộ xã hội. Tính cụ thể càng là yêu cầu không thể thiếu
được đối với từng trường hợp còn bởi vì chủ nghĩa đế quốc ngày nay cũng đang
tự vỗ ngực là những hiệp sĩ của “quyền dân tộc tự quyết”. Người ta còn nhớ rằng
sau khi Cách mạng tháng Mười Nga tuyên bố và thực hiện quyền dân tộc tự
quyết, tiếp đến là việc thành lập Liên bang Xô-viết năm 1922 thì Quốc vụ khanh
phụ trách ngoại giao của nước Mỹ lúc đó là R.Lan-xinh đã lên án cái gọi là “nạn
dịch về quyền dân tộc tự quyết” và hô hào ngăn chặn nạn dịch đó!. Nhưng đến
khi quá trình trên đã trở thành không thể đảo ngược được thì các nước đế quốc
lại tìm cách “thích nghi” với nó, dùng thủ đoạn “chia để trị” cổ truyền của
chúng hòng làm suy yếu quá trình giải phóng các dân tộc. Sau chiến tranh thế
giới thứ hai, khi phải trao trả độc lập cho Ấn-độ, đế quốc Anh đã chia cắt nước
Ấn-độ thành Ấn-độ và Pakixtan (gồm cả Băng-la Đét mà lúc đó gọi là Đông
Pakixtan) cũng như ngày nay bọn đế quốc và phản động quốc tế đang kêu gào
“quyền dân tộc tự quyết” cho cái gọi là “nước Kha-li-xtan” ở Ấn-độ, cho bọn
Pôn Pốt ở Campuchia, bọn UNITA ở Ăng-gô-la, bọn CONTORA ở Ni-ca-ra-goa
v.v… Đây chỉ là sự thay đổi nhãn hiệu cho ách áp bức dân tộc của bọn đế quốc
và phản động, không dính dáng gì đến quyền dân tộc tự quyết chân chính cả.
Cần phải chống lại những thủ đoạn nham hiểm đó, vì quyền tự quyết thật sự của
các dân tộc.
Chủ nghĩa Mác-Lênin, thực tiễn Cách mạng tháng Mười Nga và sự
phát triển của Liên bang Xô-viết đã soi sáng con đường phát triển chân chính của
các dân tộc, giúp giai cấp công nhân và nhân dân lao động các dân tộc trên thế
giới tiếp tục định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đấu tranh và xây dựng của
mình.
2 - …Đến cách mạng giải phóng thuộc địa
a. Vấn đề thuộc địa trong học thuyết Mác-Lênin được phát triển từ lý
luận về vấn đề quyền tự quyết của các dân tộc. Hai vấn đề này liên quan mật
10
thiết với nhau và cùng soi sáng cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản để giải phóng
dân tộc và đi tới chuyên chính vô sản. Sự khác nhau giữa hai vấn đề đó là ở chỗ :
vấn đề quyền tự quyết của các dân tộc được nêu ra từ tình hình một quốc gia có
nhiều dân tộc, còn vấn đề thuộc địa được nêu ra trên cơ sở học thuyết về chủ
nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản và trên một quy mô rộng
lớn hơn, quy mô thế giới.
Ách áp bức dân tộc đã có từ lâu trong lịch sử. Nó phát sinh trên cơ sở
ách áp bức bóc lột giai cấp. Khi nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn tự
do cạnh tranh, Mác và Ăng-ghen đã nói tới vấn đề này. Hai ông không chỉ nói
tới Ai-rơ-len mà đã nói tới cả Ấn-độ và một số thuộc địa của chủ nghĩa tư bản đế
quốc chủ nghĩa. Tiếp tục học thuyết của Mác và Ăng-ghen trong giai đoạn chủ
nghĩa đế quốc, Lê-nin đã xây dựng nên học thuyết của mình về chủ nghĩa đế
quốc, trong đó vấn đề hệ thống thuộc địa được nêu thành một trong số những đặc
điểm của chủ nghĩa đế quốc. Lê-nin đã phân biệt các đế quốc hiện đại với các
loại đế quốc trước đây, như đế quốc La Mã, hồi trước công nguyên, đế quốc
phong kiến Sác-lơ-ma-nhơ hồi thế kỷ VIII và IX. Lê-nin đã gọi chủ nghĩa đế
quốc ngày nay là chủ nghĩa đế quốc tư bản chủ nghĩa. Sự phân biệt đó là cần
thiết để hoạch định cương lĩnh đấu tranh cho đúng đắn và phù hợp với thời kỳ
cuộc đấu tranh giữa giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột-giai cấp tư sản và giai
cấp vô sản-diễn ra trên phạm vi toàn thế giới.
Tư bản là một thế lực quốc tế. Lao động cũng đã được quốc tế hoá
mạnh mẽ từ dưới chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là dưới chủ nghĩa đế quốc. Trong khi
giai cấp tư sản mang trong mình nó nhiều mâu thuẫn, thậm chí mâu thuẫn đối
kháng, trong các quan hệ giữa các dân tộc thì giai cấp vô sản mang trong mình
nó chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả, không có đối kháng. Giai cấp vô sản không
gắn mình với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất-nguồn gốc của đối kháng giai cấp
và dân tộc-mang sứ mệnh lịch sử giải quyết các quan hệ dân tộc theo một tinh
thần mới, tiến bộ. Cần phải làm cho giai cấp công nhân các nước đế quốc thấy rõ
bản chất này, bởi vì sống trong xã hội tư bản chủ nghĩa mà chủ nghĩa dân tộc tư
sản được coi là tư tưởng chính thống, thống trị, thì giai cấp công nhân ở đó có
thể bị tiêm nhiễm ít nhiều sâu sắc những thiên kiến dân tộc chủ nghĩa. Điều mà
thế kỷ trước Mác và Ăng-ghen đã phát hiện thấy trong giai cấp công nhân Anh là
giai cấp không hiểu rõ nhiệm vụ của mình đối với các dân tộc bị giai cấp tư sản
Anh nô dịch, thì cho đến tận sau Cách mạng tháng Mười Nga, người công nhân
Anh bình thường vẫn còn cho rằng giúp đỡ những cuộc khởi nghĩa ở Ấn-độ là
một “sự phản bội”1. Lê-nin đã đấu tranh chống lại các quan điểm dân tộc chủ
nghĩa đó ngay từ trong Quốc tế hai, trước khi nổ ra cuộc Cách mạng tháng Mười,
góp phần hình thành cánh tả xã hội chủ nghĩa tại Hội nghị Xim-méc-van, Hội
nghị Ki-en-tan và đã hình thành được các đảng cộng sản tại các nước tư bản chủ
nghĩa về sau này.
11
Trong khi đó, giai cấp vô sản tại các nước thuộc địa và phụ thuộc lại có
thể nhìn nhân dân lao động các nước đế quốc bằng những con mắt thiên kiến, có
tính chất dân tộc hẹp hòi, mà không theo quan điểm giai cấp đúng đắn. Thiên
kiến này chỉ có hại cho cuộc đấu tranh chung của giai cấp vô sản.
Việc giải quyết vấn đề dân tộc ở nước Nga trước và sau Cách mạng
tháng Mười đã khiến Lê-nin có đủ căn cứ để thuyết phục những người cánh tả
trong Quốc tế hai đoạn tuyệt với thiên kiến đó và cùng nhau lập ra Quốc tế cộng
sản năm 1919. Tại Đại hội II của Quốc tế cộng sản (Đại hội I chỉ là Đại hội
thành lập Quốc tế). Đại hội quan trọng đầu tiên để hoạch định chiến lược, sách
lược của phong trào cộng sản quốc tế. Lê-nin đã đưa ra những luận cương nổi
tiếng của mình “Về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”. Vấn đề thuộc địa đã
được đặt đúng tầm quan trọng của nó, sau vấn đề chuyên chính vô sản.
Vấn đề chuyên chính vô sản tại các nước tư bản chủ nghĩa phát triển ở
Tây Âu, Bắc Mỹ, đặc biệt là những nước đế quốc chủ nghĩa, được đặt gắn liền
với cách mạng giải phóng thuộc địa, bởi vì cách mạng vô sản ở chính quốc “mà
thống nhất được cuộc tiến công cách mạng của hàng trăm triệu người, từ xưa đến
nay vẫn đứng ngoài lịch sử, vẫn chỉ được coi là đối tượng của lịch sử thì nhất
định chủ nghĩa đế quốc toàn thế giới sẽ bị sụp đổ” 1. “Nếu không có sự đoàn kết
hoàn toàn và hết sức chặt chẽ trong cuộc đấu tranh của công nhân chống tư bản ở
châu Âu và châu Mỹ với hàng trăm triệu người nô lệ “ở thuộc địa” bị bọn tư bản
ấy áp bức, thì phong trào ở các nước tiên tiến, trên thực tế, chỉ là một sự lường
gạt mà thôi”2.
Trên diễn đàn Đại hội, lần đầu tiên trong lịch sử, Lê-nin còn tuyên bố
rằng : “Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là ngày nay phải
suy nghĩ đến cách đặt nền móng đầu tiên cho việc tổ chức phong trào Xô-viết
trong các nước không phải tư bản”3. Người dự kiến việc này là rất khó khăn, sẽ
không tránh khỏi sai lầm, cho nên phải “xây dựng hay chỉ ra những cơ sở thực
tiễn khiến cho công tác từ trước đến nay vẫn chưa có tổ chức trong hàng trăm
triệu người, sẽ trở nên có tổ chức chặt chẽ và có hệ thống”4.
Đó là những vấn đề mang tính chất bước ngoặt đối với vận mệnh của
các dân tộc thuộc địa lúc đó đang chiếm tới 70% số dân trên thế giới. Chỉ nhờ có
chủ nghĩa Mác-Lênin soi sáng và cũng chỉ nhờ có Cách mạng tháng Mười Nga
đã thành công, đưa lại những kinh nghiệm quý báu trong việc giải quyết vấn đề
dân tộc, nhờ nước Nga Xô-viết (cũng như về sau là Liên-xô) trở thành thành trì
của phong trào cách mạng thế giới, thì sự phát triển của cách mạng thuộc địa
mới được nêu lên và đặt thành vấn đề quan trọng như vậy trong phong trào cách
mạng vô sản chung của thế giới.
Quốc tế cộng sản còn bổ sung khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước, đoàn
kết lại!” được nêu trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” năm 1848 bằng khẩu
hiệu “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!” Nhưng khẩu
12
hiệu sau đã không phủ định khẩu hiệu trước. Khẩu hiệu trước luôn luôn mang
tính chất kinh điển. Lê-nin đã xác nhận rằng khẩu hiệu sau là không đúng so với
quan điểm của “Tuyên ngôn” là quan điểm cho rằng ách áp bức dân tộc sẽ mất
sau khi xoá được ách áp bức giai cấp. Nhưng đồng thời Lê-nin vạch ra rằng
“đứng trên quan điểm chính trị hiện nay”, tức là khi chủ nghĩa tư bản đã phát
triển thành chủ nghĩa đế quốc cùng với hệ thống thuộc địa nhục nhã của nó, thì
khẩu hiệu sau mới là đúng5.
Thực tiễn chính trị của thời đại đế quốc chủ nghĩa đã cho thấy rằng giai
cấp vô sản không thể đánh bại được chủ nghĩa đế quốc nếu hệ thống thuộc địa
của nó vẫn còn. Cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc phải gắn bó
với nhau, cùng tiến công vào chủ nghĩa đế quốc, đánh lùi từng bước, xoá bỏ
từng bộ phận, tiến lên xoá bỏ hoàn toàn chủ nghĩa đế quốc. Trong chiến lược
chung đó, cách mạng thuộc địa phải chủ động tiến công chủ nghĩa đế quốc,
không thụ động chờ cho cách mạng chính quốc nổ ra trước. Hơn nữa, chiến lược
đó còn bao hàm một nội dung khác nữa là giai cấp vô sản các thuộc địa cần chủ
động nắm lấy quyền lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, phải tự mình trở
thành dân tộc, không phó mặc việc này cho giai cấp tư sản dân tộc. Muốn vậy,
đảng vô sản ở thuộc địa phải hoạch định được một chiến lược cách mạng phù
hợp với điều kiện từng nước. Giai cấp vô sản quốc tế, đặc biệt là giai cấp vô sản
đã chiến thắng và giai cấp vô sản tại chính quốc, phải hết lòng hết sức giúp đỡ,
phối hợp đấu tranh với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc tại các thuộc
địa.
Sự quan tâm của Quốc tế cộng sản và của Lê-nin đối với cách mạng
giải phóng dân tộc không chỉ trên mặt lý thuyết mà cả trong thực tiễn tổ chức lực
lượng cách mạng tại các nước thuộc địa. Các đảng vô sản trước đây chỉ mới phát
triển và hoạt động tại châu Âu, trung tâm của chủ nghĩa tư bản thế giới, thì từ
nay bắt đầu phát triển cả sang các nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu
Phi và Mỹ la-tinh, trước hết là các trung tâm công nghiệp, hầm mỏ, đồn điền của
bọn thực dân. Sau Đại hội II Quốc tế cộng sản, tháng 9-1920 còn diễn ra một
cuộc hội nghị quan trọng khác : Đại hội các dân tộc phương Đông. Đại hội họp
tại Ba-cu, bao gồm đại diện của 37 dân tộc. Ngoài các dân tộc ở Trung Á, còn có
đại biểu các nước Ap-ga-ni-xtan, Ai-cập, Ấn-độ, I-ran, Trung Quốc, Triều Tiên,
Xy-ri, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản… Một số đại biểu của các đảng cộng sản châu Âu
và châu Mỹ cũng tham dự Đại hội này : Bê-la Cun (Hung-ga-ri), Tô-mát Quensơ (Anh), Giôn Rít (Mỹ). Đại hội đã đi sâu vào các vấn đề về cách mạng thuộc
địa mà Đại hội II Quốc tế cộng sản vừa nêu ra, bày tỏ sự nhất trí hoàn toàn với
các luận cương của Đại hội II, ra lời kêu gọi các dân tộc phương Đông và lời kêu
gọi nhân dân lao động châu Âu, châu Mỹ và Nhật Bản hãy ủng hộ phong trào
giải phóng dân tộc ở phương Đông.
Trong điều kiện phong trào vô sản tại các nước thuộc địa lúc đó chưa
mạnh và tại một số nước đang có phong trào dân chủ tư sản, việc xác định thái
13
độ của giai cấp vô sản đối với các phong trào dân chủ tư sản này đã là đầu đề
thảo luận tại nhiều đại hội của Quốc tế cộng sản. Đại hội II Quốc tế cộng sản đã
đi đến nhất trí thay thế từ phong trào “dân chủ tư sản” bằng từ phong trào “dân
tộc-cách mạng”. Lê-nin chỉ rõ rằng “mọi phong trào dân tộc chỉ có thể là dân chủ
tư sản thôi”1 và việc thay thế từ ngữ nói trên có nghĩa là những người cộng sản
“chỉ ủng hộ những phong trào giải phóng có tính chất tư sản trong những nước
thuộc địa, khi những phong trào thật sự có tính chất cách mạng, khi những đại
biểu của các phong trào đó không ngăn trở chúng ta giáo dục và tổ chức-theo
tinh thần cách mạng-nông dân và quảng đại quần chúng bị áp bức”2.
Đó cũng là sự ủng hộ có điều kiện, trong lúc phong trào dân tộc tại các
thuộc địa đang có thái độ hai mặt : vừa muốn giải phóng dân tộc lại vừa muốn đi
với bọn đế quốc để chống lại cách mạng trong nước. Bọn cơ hội chủ nghĩa của
Quốc tế II cũng tích cực tác động đến các phong trào dân tộc tại các thuộc địa
theo lập trường phản bội của chúng. Trong tình hình đó, sự ủng hộ của phong
trào cách mạng vô sản, đặc biệt là của những nước mà ở đó giai cấp vô sản đã
nắm được chính quyền (lúc đó chỉ mới có nước Nga Xô-viết) là rất quan trọng.
Về mặt chiến lược và sách lược của phong trào vô sản tại các nước
thuộc địa, sau khi đấu tranh chống xu hướng không quan tâm đến cách mạng giải
phóng dân tộc, coi đó là nhiệm vụ lịch sử của giai cấp tư sản các nước thuộc địa,
Quốc tế cộng sản còn phải đấu tranh chống một xu hướng khác thuộc loại bệnh
ấu trĩ “tả khuynh” của mình : đồng nhất cách mạng giải phóng dân tộc với cách
mạng vô sản. Khuynh hướng này nhấn mạnh vào mặt phản động của giai cấp tư
sản dân tộc, không thực hiện sách lược đoàn kết có điều kiện với các phong trào
dân tộc tư sản. Họ không định phân hoá các thế lực tư sản mà coi mọi thế lực tư
sản (đế quốc chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa) chỉ là một, cần phải đánh đổ tất cả
ngay một lúc. Họ không thấy tầm quan trọng của các yêu cầu cải cách dân chủ
của đông đảo quần chúng lao động mà các nước thuộc địa chưa trải qua như các
nước Âu, Mỹ.
Vì vậy Quốc tế cộng sản chủ trương giai cấp vô sản các nước thuộc địa
phải tranh thủ nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc. Trong
trường hợp cụ thể khác, phải có sách lược đoàn kết và hợp tác với các lực lượng
dân tộc-cách mạng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc rồi tiến lên
làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Dù giai cấp vô sản đã nắm được độc quyền
lãnh đạo của cách mạng giải phóng dân tộc thì quá trình cách mạng cũng phải
được chia thành từng bước thích hợp, từ thấp đến cao, không được đốt cháy giai
đoạn. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, các bước đi đó không
tách rời nhau, trong khi tiến hành bước trước đã chuẩn bị cho bước sau. Đây là
sự vận dụng quan điểm do Lê-nin đề ra từ năm 1905, về việc giai cấp vô sản có
thể và cần phải lãnh đạo các cuộc cách mạng tư sản khi giai cấp tư sản đã trở nên
phản động và giai cấp vô sản đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập. Đến
14
đây, cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa trở thành một bộ phận của cách
mạng vô sản toàn thế giới.
Trong thời đại mới, từ những kinh nghiệm của Cách mạng tháng Mười,
Lê-nin đặc biệt rút ra một luận điểm nổi tiếng : “với sự giúp đỡ của giai cấp vô
sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xô-viết, và qua
những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải
qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” 1. Thực tiễn của Cách mạng tháng
Mười và của Liên bang Xô-viết cho thấy đây không phải là ước nguyện mà việc
các nước lạc hậu có thể bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa đầy đau khổ
để tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã là một quy luật xã hội mới
phát sinh từ sau khi nền chuyên chính vô sản đầu tiên đã được thiết lập ở nước
Nga.
b. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, quy luật trên chỉ mới tác động tại
những nước tiếp giáp với nước Nga Xô-viết, tiếp giáp với Liên-xô. Quy luật đó
đã phát huy tác động mạnh mẽ của nó sau chiến tranh thế giới thứ hai. Sự phát
triển biện chứng của cuộc đấu tranh “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa xã hội, trong thời đại quá độ của xã hội loài người tiến lên chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng cuộc Cách
mạng tháng Mười Nga vĩ đại, đã tạo điều kiện ngày càng thuận lợi cho quy luật
trên hoạt động. Biện chứng đó là ở chỗ, chủ nghĩa đế quốc định dùng chiến tranh
để tiêu diệt Liên-xô nhưng chính bọn đế quốc lại tiêu diệt lẫn nhau trước và kết
cục của chiến tranh thế giới thứ hai đã đi ra ngoài dự kiến của bọn đế quốc ở cả
hai trận tuyến.
Về mặt hình thức biểu hiện, chiến tranh thế giới thứ hai nguyên lúc đầu
là một cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa, giống như cuộc chiến tranh lần thứ
nhất. Nhưng rồi cuộc chiến đấu của những lực lượng dân chủ, yêu nước, đặc biệt
là cuộc chiến đấu của những người cộng sản tại những nước bị bọn phát-xít
chiếm đóng đã đưa thêm tính chất giải phóng vào cuộc chiến tranh. Khi bọn phát
xít thực hiện mục tiêu chính của chúng là tiến công Liên Xô và đồng minh chống
phát xít (mà Liên Xô là trụ cột) hình thành thì cuộc chiến tranh có thêm biểu
hiện là cuộc chiến tranh của các lực lượng dân chủ chống phát xít. Tính chất giải
phóng ngày càng được tăng cường theo quy mô của cuộc chiến tranh ngày càng
được mở rộng trong không gian.
Mặc dù chiến tranh thế giới thứ hai có những biểu hiện phức tạp như
vậy, nhưng đứng về mặt lịch sử phát triển của xã hội loài người mà xét thì thực
chất cuộc chiến tranh này là một cuộc chiến tranh phản kích của chủ nghĩa tư
bản-mà bộ phận xung kích của nó là chủ nghĩa phát xít-chống lại chủ nghĩa xã
hội, mà Liên Xô là tiêu biểu. Trong cuộc chiến tranh này, bọn tư bản (bọn chủ
nghĩa phát-xít và các nước đế quốc khác) đều có mục tiêu cao nhất và cuối cùng
là tiêu diệt Liên Xô, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trong hiện thực xã hội thế giới và
15
nhân thể, tiêu diệt tất cả các mầm mống của chủ nghĩa cộng sản tại các nước
khác. Do đó, thắng lợi của Liên Xô cũng là thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đối
với chủ nghĩa tư bản. Thắng lợi này ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến cuộc đấu tranh
giải phóng của các dân tộc thuộc địa, khi cách mạng giải phóng thuộc địa đã trở
thành một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới. Sự diễn biến của chiến tranh
đã dẫn đến một tình thế độc đáo là : tất cả các bọn đế quốc có nhiều thuộc địa
đều bị bọn phát xít đánh cho đại bại, nhiều chính quốc cũng bị bọn phát xít
chiếm đóng, nhiều thuộc địa cũ bị bọn phát xít đoạt mất. Tình thế trên thể hiện rõ
rệt nhất ở châu Á. Trong khi bọn thực dân đang thống trị bỏ chạy hoặc đầu hàng
thì nhân dân thuộc địa đã tự mình tổ chức cuộc đấu tranh chống phát xít. Đến khi
Liên Xô đánh bại chủ nghĩa phát xít, buộc chúng phải hạ súng đầu hàng không
điều kiện ở khắp mọi nơi, thì việc nhân dân các dân tộc thuộc địa vùng lên nắm
lại vận mệnh của mình từ tay bọn phát-xít là một quá trình tất yếu, khó đảo
ngược. Dù bọn thực dân có hết sức cố gắng khôi phục lại vị trí đã mất thì lịch sử
cũng không thể diễn lại như trước được nữa. Cho nên chỉ mấy chục năm sau
chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống thuộc địa cũ được xây dựng hàng thế kỷ đã
căn bản bị xoá bỏ. Nhiều quốc gia, dân tộc thấy lại được tên mình trên bản đồ
thế giới. Nếu không có chiến thắng vĩ đại của Liên Xô chống chủ nghĩa phát xít
thì làm sao quá trình trên có thể diễn biến nhanh đến như vậy?.
Tất nhiên, chiến thắng của Liên Xô đối với chủ nghĩa phát xít chỉ mới
là nhân tố bên ngoài của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các
thuộc địa và nếu không có nhân tố chủ quan thì điều kiện khách quan thuận lợi
có thể trôi qua. Nhưng phải luôn luôn thấy rằng thắng lợi đó của Liên Xô có ý
nghĩa lịch sử lớn lao vì chính nó đã trực tiếp đánh bại kẻ thù của các dân tộc bị
áp bức. Hơn nữa, còn cần phải thấy những việc làm trực tiếp của Liên Xô đối với
các lực lượng cách mạng của các dân tộc thuộc địa. Hành động theo tư tưởng của
chủ nghĩa Mác-Lênin, với sự trợ giúp của Đảng cộng sản Liên Xô và Nhà nước
Xô-viết, Quốc tế cộng sản mà trụ sở đặt tại thủ đô Liên Xô, đã ra sức hoạt động
để gây dựng các đảng cộng sản tại các nước thuộc địa mà trước đó hầu như chưa
có. Quốc tế cộng sản còn đi sát giúp các đảng cộng sản này, định ra chiến lược
và sách lược cách mạng đúng đắn, đào tạo cán bộ nhằm làm cho các đảng cộng
sản nắm được ngọn cờ dân tộc, lãnh đạo được dân tộc mình đi theo con đường
của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Cuộc đấu tranh của các đảng cộng sản trong xã hội thuộc địa, đã diễn
ra vô cùng khó khăn, phức tạp, đầy gian khổ, hy sinh. Trải qua đấu tranh, có
đảng đã thuyết phục được dân tộc mình về con đường cứu nước của chủ nghĩa
Mác-Lênin, đã giữ được độc quyền lãnh đạo cách mạng chống chủ nghĩa đế
quốc, chủ nghĩa phát xít cùng bè lũ tay sai của chúng. Có đảng đã lập được mặt
trận dân tộc thống nhất hoặc hành động thống nhất với các đảng dân chủ và các
tổ chức yêu nước khác trong cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa đế quốc.
16
Cho nên, mặc dù đến năm 1943 Quốc tế cộng sản tuyên bố tự giải tán,
các phong trào yêu nước do các đảng cộng sản tổ chức và lãnh đạo cùng với các
phong trào yêu nước khác vẫn đứng lên đấu tranh, phối hợp với cuộc chiến đấu
của nhân dân Xô-viết và Hồng quân Liên Xô, và đã giành độc lập cho hàng loạt
dân tộc khi thời cơ đến. Nhân tố chủ quan giữ vai trò quyết định nhưng không
bao giờ được coi nhẹ sự tác động của nhân tố khách quan đối với sự hình thành
và phát triển của chính nhân tố chủ quan.
Chiến thắng của Liên Xô trong chiến tranh thế giới thứ hai đã dẫn tới
sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Chủ nghĩa xã hội khi đã là một
hệ thống thế giới thì nó trở thành nhân tố quyết định chiều hướng phát triển lịch
sử của thời đại. Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới mà Liên Xô là trụ cột, là một
lực lượng cách mạng to lớn, có tác dụng ngăn chặn các âm mưu, thủ đoạn của
bọn đế quốc đối với các dân tộc. Sau chiến tranh, khi các dân tộc lần lượt đứng
lên đòi độc lập dân tộc thì họ luôn luôn được sự cổ vũ, ủng hộ và giúp đỡ về
nhiều mặt của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Không có hệ
thống xã hội chủ nghĩa thế giới thì cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc
sẽ gặp khó khăn như thế nào, điều đó đã được tình hình thế giới sau chiến tranh
lần thứ nhất chứng minh rõ ràng.
Chủ nghĩa thực dân cũ ngày nay chỉ còn sót lại ở một vài nơi trên thế
giới, mà tiêu biểu cho sự tệ hại này là tình trạng nước Cộng hoà Nam Phi. Khắp
các nơi khác, bọn đế quốc đều chuyển mạnh và phổ biến sang thực hiện chủ
nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa thực dân trá hình. Nét độc đáo của chủ nghĩa thực
dân mới là nó khuyến khích chủ nghĩa tư bản tại các thuộc địa cũ phát triển trong
quỹ đạo do các tổ chức độc quyền nhiều quốc gia khống chế. Bọn đế quốc hy
vọng bằng cách này sẽ duy trì được các nước thuộc địa trong quỹ đạo của chủ
nghĩa tư bản. Nhưng bước lùi đó vẫn mang trong nó mâu thuẫn giữa chính quốc
và thuộc địa dù mâu thuẫn này có biến dạng đôi chút. Cuộc đấu tranh của các
dân tộc mới được giải phóng chống chủ nghĩa thực dân mới ngày nay đang diễn
ra quyết liệt trên mọi mặt (chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội), chủ yếu là mặt
kinh tế.
Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới, các nước đang
phát triển được sự ủng hộ mạnh mẽ về nhiều mặt của các nước xã hội chủ nghĩa,
trước hết là của Liên Xô. Các nước xã hội chủ nghĩa luôn đứng về các nước đang
phát triển trong cuộc đấu tranh chống lại mọi âm mưu và thủ đoạn của bọn đế
quốc chà đạp chủ quyền các dân tộc, can thiệp và lật đổ các chính phủ tiến bộ,
dùng vũ lực uy hiếp và tiến hành chiến tranh chống các quốc gia trẻ tuổi. Các
nước xã hội chủ nghĩa không chỉ ủng hộ các yêu sách chính đáng của các nước
đang phát triển đòi chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên của mình, đòi thiết
lập một “trật tự kinh tế quốc tế mới…” mà còn tích cực giúp đỡ các nước này
xây dựng nền kinh tế độc lập, chống lại ách áp bức và bóc lột của các công ty
nhiều quốc gia. Sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa đối với các
17
nước đang phát triển mang tính chất vô tư, khẳng khái và cùng có lợi. Các nước
đang phát triển tìm thấy ở đây những quan hệ mà bản chất khác hẳn những quan
hệ thống trị, chèn ép, vụ lợi thường thấy ở các nước đế quốc.
c. Sự hình thành ba dòng thác cách mạng của thời đại (công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội tại các nước xã hội chủ nghĩa; phong trào đấu tranh giải
phóng dân tộc và củng cố nền độc lập dân tộc; phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân tại các nước tư bản chủ nghĩa) sau chiến tranh là một bước ngoặt mới
trong sự phát triển của tình hình thế giới. Nó gắn liền với sự phát triển sâu sắc
thêm của các mâu thuẫn vốn đã gay gắt của chủ nghĩa tư bản trong cuộc tổng
khủng hoảng triền miên, bắt đầu từ trong chiến tranh thế giới thứ nhất. So sánh
lực lượng giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới
ngày nay đã chuyển sang một chất lượng mới có lợi cho chủ nghĩa xã hội. Quan
niệm cũ cho rằng cách mạng đi đôi với chiến tranh thế giới, vì chỉ chiến tranh
mới tạo ra khủng hoảng chính trị của chủ nghĩa đế quốc để cách mạng có thể nổ
ra, ngày nay không còn là chân lý duy nhất nữa. Non nửa thế kỷ qua, hoà bình
thế giới vẫn được duy trì , nhưng cách mạng lại liên tục nổ ra, tại những điểm rất
xa nhau, trên gần khắp các đại lục.
Đặc điểm đáng lưu ý là các cuộc cách mạng đó lại thường diễn ra tại
các nước nguyên là thuộc địa (cũ hoặc mới) của chủ nghĩa đế quốc. Điều đó
chứng tỏ rằng trong sự suy yếu chung của chủ nghĩa đế quốc thì khu vực các
nước đang phát triển đang là khâu yếu nhất của nó. Ở đó, các mâu thuẫn gay gắt
đã tích tụ đến mức dễ bùng nổ thành những cuộc cách mạng xã hội.
Một đặc điểm nữa là một số khá đông các nước mới được giải phóng
đã chọn con đường xã hội chủ nghĩa để phát triển đất nước. Nội dung của con
đường xã hội chủ nghĩa của từng nước còn có thể phải được xác định rõ thêm,
nhưng dù sao, chỉ điều này thôi cũng đã nói lên rằng các nước mới được giải
phóng đã kết án chủ nghĩa tư bản là một thứ xấu xa cần phải tránh. Xuất phát từ
kinh nghiệm bản thân, các nước này thấy rằng chủ nghĩa tư bản, mà bọn đế quốc
là tiêu biểu, đã mang lại những tai hoạ như thế nào cho dân tộc mình.
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng triệt để nhất trong
lịch sử và được tiến hành một cách tự giác, dưới sự lãnh đạo của đảng MácLênin. Ở nước nào mà quá trình cách mạng dân tộc-dân chủ đã do đảng MácLênin lãnh đạo thì sau khi hoàn thành quá trình này, cách mạng sẽ chuyển sang
quá trình sau, xã hội chủ nghĩa, một cách tất yếu và tự giác, như tại Mông-cổ,
Việt Nam … Nhưng đồng thời, so sánh lực lượng mới và thời đại mới còn tạo ra
hiện tượng mới là quá trình cách mạng trước chưa có sự lãnh đạo của đảng MácLênin, nhưng trong khi hoàn thành quá trình trước, cách mạng đã dần dần
chuyển sang quỹ đạo khác-quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Sau cách mạng dân
tộc, dân chủ thắng lợi, tại một số nước đã xúc tiến việc thành lập đảng MácLênin để lãnh đạo quá trình cách mạng mới, xã hội chủ nghĩa. Trường hợp đó đã
18
xảy ra đối với những quá trình cách mạng dân tộc, dân chủ sâu sắc, lôi cuốn
được đông đảo quần chúng lao động “ở bên dưới” đã dẫn tới những cải cách dân
chủ mạnh mẽ, triệt để. Chính quyền đã có tính chất dân chủ thật sự. Cuộc đấu
tranh không khoan nhượng chống chủ nghĩa đế quốc, kết hợp với phong trào dân
chủ rộng rãi của quần chúng lao động đã giúp hình thành nhận thức rằng muốn
kiên trì cách mạng vì lợi ích của quần chúng lao động thì chỉ có dựa hẳn vào sự
giúp đỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, do Liên Xô làm trụ cột mới
đương đầu có kết quả với chủ nghĩa đế quốc và mới có được những điều kiện
thuận lợi để thực hiện mục tiêu và lý tưởng của cách mạng. Đó là quy luật mà
Lê-nin đã phát hiện về bước quá độ của các dân tộc chậm phát triển muốn bỏ qua
giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Liên Xô cùng các nước xã hội chủ nghĩa khác, do bản chất quốc tế chủ
nghĩa của mình, đều nhiệt thành với nghĩa vụ quốc tế này. Bọn đế quốc và các
thế lực phản động khác ra sức xuyên tạc hành vi cao cả của Liên Xô và các nước
xã hội chủ nghĩa khác thành ra sự “xâm lược”, sự “bành trướng” của Mát-xcơva. Sự xuyên tạc đó cốt làm lẫn lộn trắng đen nhưng lại là sự phỉ báng lớn đối
với các dân tộc trước đây bị áp bức, bóc lột, mà trong thời đại mới họ đã tự mình
nắm vững quyền quyết định vận mệnh của chính mình. Thời đại ngày nay là thời
đại thức tỉnh của công nông tại các nước vốn là thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.
Công nông bao giờ cũng là thành phần đông đảo trong dân tộc. Khi đã thức tỉnh,
họ sẽ nắm chặt vận mệnh dân tộc mình. Được sự cổ vũ của hệ thống xã hội chủ
nghĩa thế giới và của cả phong trào cộng sản quốc tế, họ kiên quyết đứng lên góp
phần của mình vào việc quyết định sự phát triển của lịch sử, bất chấp mọi âm
mưu và thủ đoạn của bọn đế quốc và phản động quốc tế.
3. Kết luận
Ngày nay quá trình giải phóng dân tộc và việc củng cố các quốc gia
độc lập (gồm một dân tộc hoặc nhiều dân tộc) vẫn tiếp diễn mạnh mẽ. Chủ nghĩa
đế quốc vẫn tồn tại trên cơ sở chà đạp quyền tự do của các dân tộc và bóc lột
thậm tệ các dân tộc khác. Chính sách thực dân mới của chủ nghĩa đế quốc tạo ra
vẻ bề ngoài nhằm đánh lừa những người nhẹ dạ tin rằng dường như vấn đề giải
phóng dân tộc ngày nay đã kết thúc. Trong khi đó, những kẻ cầm đầu các nhà
nước đế quốc lại rêu rao về nhiệm vụ “giải phóng” nhân dân các nước xã hội chủ
nghĩa khỏi “sự thống trị” của “chủ nghĩa cộng sản quốc tế” (cụ thể là Liên Xô)!
Nhưng thực tế lịch sử cho thấy chính Liên Xô đã chứng minh bằng thực tiễn xã
hội của mình sự đúng đắn của con đường giải phóng các dân tộc theo tư tưởng
chủ nghĩa Mác-Lênin. Thắng lợi của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước
Liên Xô đã làm cho nhiều dân tộc bị bóc lột và lạc hậu trước kia nay đã trở thành
những dân tộc được phát triển đầy đủ, trở thành những dân tộc văn minh, tiến bộ
và xã hội chủ nghĩa. Trên tinh thần của chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, các
dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc ở Liên Xô đã phát huy đầy đủ
19
những đặc tính quý báu của mỗi dân tộc, đồng thời hoà nhập với nhau tạo thành
một cộng đồng mới : nhân dân Xô-viết.
Sự nghiệp giải phóng các dân tộc ở Liên Xô đã không hạn chế tác dụng
của mình trong phạm vi Liên Xô mà còn có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, vì nó được
tiến hành gắn với những điều kiện của thời đại mới, thời đại được bắt đầu bằng
chính việc thiết lập chuyên chính vô sản tại nước Nga và tại các nước khác trong
Liên bang. Quá trình thành lập Liên bang là một quá trình dân chủ, tự nguyện,
được tiến hành từ bên dưới, khác về bản chất với những cuộc thôn tính của các
giai cấp bóc lột. Đó là quá trình xích lại gần nhau giữa các dân tộc, mở đầu cho
lịch sử hoà hợp các dân tộc . Liên bang không phải là hình thức duy nhất của sự
liên minh quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa. Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế
giới hiện nay còn đặt ra những hình thức khác, đó là sự liên kết xã hội chủ nghĩa
giữa các quốc gia xã hội chủ nghĩa độc lập, có chủ quyền.
Tấm gương và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội hiện thực đang động
viên, cổ vũ, giúp đỡ các dân tộc bị áp bức và bóc lột tiến hành đấu tranh giải
phóng dân tộc và giải phóng xã hội. Chỉ có giải phóng xã hội khỏi các mâu thuẫn
giai cấp thì dân tộc mới được hoàn toàn giải phóng. Nhân loại đã tiến tới thời kỳ
mà độc lập dân tộc nhất định phải gắn với chủ nghĩa xã hội.
Cũng như nhiều quá trình cách mạng khác, cách mạng Việt Nam đã
phát triển theo con đường của Cách mạng tháng Mười Nga. Đó là con đường
đúng đắn mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra và nhân dân Xô-viết đã đi tiên
phong trong việc biến nó thành hiện thực. Tư tưởng của Cách mạng tháng Mười
đã soi sáng con đường của cách mạng Việt Nam : giải phóng dân tộc gắn với giải
phóng xã hội, giải phóng lao động, giải phóng giai cấp.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đưa tư tưởng đó vào
nước ta từ những năm 20 của thế kỷ này. Người chỉ rõ : “Thắng lợi của cuộc
Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với số phận các dân tộc phương Đông. Nó đã thức tỉnh các dân tộc bị áp bức ở
châu Á, chỉ cho nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc con đường giải
phóng, nêu gương tự do dân tộc thật sự”1.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trân trọng cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
của nhân dân Mỹ hồi thế kỷ XVIII, nhưng trong những năm 20 của thế kỷ này,
Người cũng chỉ cho những người Việt Nam yêu nước trẻ tuổi lúc đó thấy tính
chất hạn chế của cách mạng Mỹ và hướng mọi người Việt Nam yêu nước đi theo
con đường của Cách mạng tháng Mười Nga, đi theo quỹ đạo của cách mạng vô
sản, theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Người đã tổ chức ra Đảng ta vào đầu thập kỷ 30.
Chỉ 15 năm sau, Người đã cùng Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta giành được chính
quyền trong cả nước. Suốt mấy thập kỷ qua, Người và Đảng ta đã lãnh đạo nhân
dân ta đấu tranh chống đế quốc, chống phong kiến, tiến lên xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Dân tộc Việt Nam có bốn nghìn năm lịch sử vinh quang song thời đại Hồ
20
Chí Minh là thời đại vinh quang nhất. Dân tộc ta đã từng bị chủ nghĩa đế quốc
tìm cách xoá tên trên bản đồ thế giới, nhưng ngày nay đã giành được chỗ đứng
trong hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới. Đó là nhờ có chủ nghĩa
Mác-Lênin, có ánh sáng Cách mạng tháng Mười soi đường. Đó là nhờ có Đảng
Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã dẫn dắt dân tộc ta đi theo
đúng con đường mà thời đại mới đã tạo ra.
CHỖ DỰA CỦA SỰ ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Một hiện tượng mới hợp quy luật
Trong cao trào giải phóng dân tộc sau chiến tranh thế giới thứ hai,
ngày càng xuất hiện những hiện tượng mới không hoàn toàn ăn khớp với những
cách suy nghĩ cổ truyền, nhưng lại hoàn toàn phù hợp với quy luật vận động của
thời đại mới mà Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 đã mở ra. Một trong số
những hiện tượng mới đó là sự xuất hiện của một loạt nước mà thuật ngữ chính
trị hiện nay gọi là những nước có “định hướng xã hội chủ nghĩa” như các nước
Ăng-gô-la, Ê-ti-ô-pi-a, Cộng hoà dân chủ nhân dân Y-ê-men, Công-gô, Mô-dămbích, Ma-đa-ga-xca, ... Hiện tượng mới này bắt đầu xuất hiện từ thập kỷ 60, thập
kỷ sụp đổ một cách căn bản hệ thống thuộc địa cũ của chủ nghĩa đế quốc, và
được mở rộng trong thập kỷ 70 vừa qua, đặc biệt là sau khi đế quốc Mỹ bị đại
bại ở Việt Nam.
Đặc điểm nổi bật trước hết của những nước được gọi là có định hướng
xã hội chủ nghĩa là ở chỗ: trước ngày được giải phóng, bá quyền lãnh đạo của
giai cấp vô sản đối với quá trình cách mạng chưa được xác lập, nhưng sau khi
đất nước được giải phóng, cách mạng được định hướng là sẽ phát triển theo con
đường xã hội chủ nghĩa theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin.
Chủ nghĩa xã hội, với tư cách là một học thuyết cũng như với tư cách
là một chế độ xã hội, không phải là sản phẩm riêng của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Thậm chí, khái niệm về chủ nghĩa xã hội đã có trước chủ nghĩa Mác và chính
những vị sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã tiếp thu, kế thừa một số quan
điểm đúng đắn của những thứ chủ nghĩa xã hội đã có trước. Sau chiến tranh thế
giới thứ hai, đặc biệt là trong hai thập kỷ 50 và 60, một loạt nước mới được giải
phóng cũng tuyên bố xây dựng chủ nghĩa xã hội nhưng đó là thứ chủ nghĩa xã
hội không phải theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin. Khác với những nước này,
các nước được coi là có định hướng xã hội chủ nghĩa đã chính thức và công khai
hướng hẳn về chủ nghĩa Mác-Lênin, coi đó là ngọn đuốc soi đường cho cách
mạng nước mình tiếp tục phát triển tiến lên. Từ chỗ đó, các chính sách đối nội và
đối ngoại đều có nội dung và sắc thái tiến bộ: đoàn kết chặt chẽ với các nước xã
hội chủ nghĩa, đặc biệt là với Liên Xô; kiên quyết chống chủ nghĩa đế quốc; ủng
hộ các phong trào giải phóng dân tộc; tiến hành những cải tạo dân chủ sâu sắc ở
trong nước, vì lợi ích của đông đảo quần chúng lao động và được quần chúng
nhiệt liệt hưởng ứng; trấn áp mạnh mẽ các thế lực phản động ở trong nước có
21
quan hệ với các nước đế quốc; thành lập đảng cách mạng theo chủ nghĩa MácLênin để lãnh đạo quá trình cách mạng đang tiến triển. Đây là một quá trình
phấn đấu của các nước này để tạo ra những điều kiện của một nước xã hội chủ
nghĩa. Quá trình này cũng đồng thời góp phần tăng cường sức mạnh của chủ
nghĩa xã hội thế giới.
Hiện tượng mới trên đây dường như đã làm đảo lộn các quan niệm
trước đây cho rằng cách mạng xã hội chủ nghĩa chỉ có thể do đảng của giai cấp
vô sản khởi xướng sau khi đã xác lập được bá quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản
đối với quá trình cách mạng trước đó. Thật ra, chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ tư
tưởng của giai cấp vô sản, nhưng do nó là chân lý, lại không mang tính chất biệt
phái công liên chủ nghĩa, cho nên nó có sức mạnh hấp dẫn cả đối với cả các
phong trào yêu nước và dân chủ. Sức mạnh của nó là ở chỗ nó có thể chuyển các
phong trào này sang lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin và hành động theo các
chiến lược và sách lược mác xít – Lênin-nít. V.I.Lênin và Quốc tế thứ ba đã phát
triển chủ nghĩa Mác-Lênin theo hướng này. Điều này đã được hoạt động của Chủ
tịch Hồ Chí Minh chứng minh, được thể hiện trong cách mạng Việt Nam và
trong nhiều cuộc cách mạng giải phóng dân tộc khác. Sức hấp dẫn và sự chuyển
biến này từ sau Cách mạng tháng Mười Nga đã trở thành bình thường, thậm chí
thành quy luật.
Vả chăng, hiện tượng mới trên đây đã không phủ nhận nguyên tắc về
vai trò của giai cấp vô sản khi hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới – con đẻ của
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế – đã lớn mạnh và ngày càng quyết
định chiều hướng phát triển của lịch sử. Vai trò của giai câp vô sản cách mạng đã
được hiểu một cách rộng rãi, trên quy mô thế giới, theo tầm nhìn của thời đại,
chứ không chỉ bó hẹp trong biên giới từng quốc gia. Hiện tượng về sự định
hướng xã hội chủ nghĩa cũng không phủ nhận nguyên tắc về sự lãnh đạo của
đảng vô sản đối với cách mạng xã hội chủ nghĩa, bởi vì tại các nước trên sau khi
cách mạng dân tộc dân chủ thắng lợi, giai đoạn đã và đang diễn ra thường được
gọi là giai đoạn cách mạng dân chủ nhân dân. Các lực lượng cách mạng cũng đã
và đang xúc tiến việc thành lập đảng vô sản để lãnh đạo quá trình cách mạng xã
hội chủ nghĩa tiếp theo.
Điều mới mẻ ở đây chính là tác động mạnh mẽ chưa từng thấy của chủ
nghĩa Mác-Lênin, của chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thực tế đối với các quá
trình cách mạng khác nhau trên thế giới nói chung cũng như đối với các phong
trào dân tộc – dân chủ, dân tộc- cách mạng và những người lãnh đạo các phong
trào này.
Giới tuyên truyền của chủ nghĩa đế quốc ra sức xuyên tạc tình hình trên
thành sự hoạt động của “bàn tay Matxcơva” can thiệp vào công việc các nước
khác, thành “sự xâm lược” của “đế quốc xô viết”, thành “chủ nghĩa khủng bố
quốc tế” ... ! Những luận điệu đó cũng vô lý như luận điệu cho rằng bọn đế quốc
22
“ có thiện chí” khi trao trả độc lập cho các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc hồi
thập kỷ 60 vậy. Đó là những lập luận duy tâm chủ nghĩa, không có căn cứ khoa
học. Đúng như lời tuyên bố thẳng thắn nổi tiếng của nhà yêu nước Công-gô –
P.Lu-mum-ba – trước mặt vua Bỉ Bô-đu-anh trong ngày tuyên bố độc lập
(30/6/1960) rằng nền độc lập này không phải là một món quà của đế quốc Bỉ mà
là một quyền mà nhân dân đã giành được. Nhưng ta chỉ có thể hiểu được đầy đủ
các hiện tượng mới này của lịch sử nếu đem đặt chúng vào trong thời đại mới
hiện nay – thời đại do Cách mạng tháng Mười Nga 1917 mở ra. Nó đã vượt qua
cái thời đại trước đó – thời đại đế quốc chủ nghĩa và chiến tranh cách mạng.
Thời đại mới là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội trên phạm vi toàn thế giới. Lê-nin đã kịp thời chỉ ra sự thay đổi thời đại này
ngay sau Cách mạng tháng Mười Nga.
Đến đầu thập kỷ 60, Hội nghị đại biểu các đảng cộng sản và công nhân
quốc tế họp tại Mátxcơva đã tổng kết quá trình cách mạng thế giới từ khi bắt đầu
thời đại mới và nêu rõ nội dung của thời đại hiện nay. Tổng kết của Hội nghị trên
về nội dung của thời đại không những giúp những người cách mạng trên thế giới
nhận thức được chính xác và sâu sắc hơn nội dung của thời đại mới mà còn cho
thấy khái niệm mác-xít – Lênin-xít này cũng luôn luôn phát triển như sự phát
triển của chính chủ nghĩa Mác-Lênin vậy. Sự phát triển biện chứng của khái
niệm đòi hỏi những người cách mạng phải luôn luôn đổi mới tư duy để hiểu biết
kịp thời sự phát triển mới của xã hội loài người và có hành động đúng đắn. Có
những nét mới nào trong sự phát triển của nội dung thời đại? Nét nổi bật là sự
hình thành và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Nếu năm 1971
chỉ mới có nước Nga Xô –viết và sau chiến tranh thế giới thứ nhất có thêm nước
Mông-cổ mới đi vào con đường xã hội chủ nghĩa, thì sau chiến tranh thế giới thứ
hai, các nước đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội đã tạo thành một hệ thống thế
giới lớn mạnh. Chủ nghĩa xã hội không những chỉ vượt qua phạm vi các quốc gia
ở bên cạnh nhau mà còn phát triển ở các quốc gia cách xa nhau, trên hầu khắp
các lục địa của hành tinh chúng ta. Cách mạng Việt Nam do đảng Mác-Lênin
lãnh đạo đã giành được thắng lợi từ tháng 8/1945 nhưng đã phải chiến đấu giữa
vòng vây của chủ nghĩa đế quốc trong nhiều năm để tồn tại và đã phát triển
thắng lợi. Cách mạng Cu-ba đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội hồi đầu thập kỷ
60 đã cho ra đời một quốc gia xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Tây bán cầu, và lại ở
ngay cửa ngõ của đế quốc Mỹ. Sự hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa dưới
hình thức liên kết kinh tế xã hội chủ nghĩa theo tinh thần chủ nghĩa quốc tế xã
hội chủ nghĩa đã mang lại những hiệu quả to lớn kể từ thập kỷ 60 trở đi. Những
thí dụ đó cho thấy hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã lớn mạnh như thế nào và
đã phát triển như thế nào với tư cách là nhân tố quyết định chiều hướng phát
triển của xã hội loài người trong thời đại mới.
Trong khi đó, hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới lại đi sâu vào cuộc
tổng khủng hoảng không có lối thoát và tan rã dần. Nét nổi bật của quá trình này
23
là sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa cũ của chủ nghĩa đế quốc sau chiến tranh thế
giới thứ hai. Hệ thống thuộc địa, từ chỗ là hậu phương, là nguồn tài nguyên và
sức lao động rẻ mạt của chủ nghĩa đế quốc và tách ra thành những quốc gia độc
lập, những nền kinh tế dân tộc. Nhiều thuộc địa cũ đã tách khỏi hệ thống tư bản
chủ nghĩa và đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội. Thời kỳ bọn đế quốc tha hồ
làm mưa làm gió hồi thế kỷ XVIII và XIX đã vĩnh viễn qua rồi. Đúng là các
nước đế quốc sau chiến tranh thế giới thứ hai đã nhanh chóng lợi dụng được
những thành tựu do cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật của loài người mang lại
để hàn gắn những vết thương chiến tranh và phát triển mạnh mẽ nền kinh tế, tạo
nên những sự “thần kỳ” nhất thời. Việc quân sự hoá nền kinh tế được đẩy mạnh
khiến cho trong tay bọn đế quốc hiện nay đã tích luỹ được những khối lượng vũ
khí lớn lao và khủng khiếp, lại không ngừng được cải tiến. Đó là những sự lớn
mạnh của chủ nghĩa đế quốc so với chính chúng trước đây. Nhưng không phải vì
thế mà những mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc (mâu
thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và lao động, giữa đế quốc và thuộc địa, giữa các đế
quốc với nhau …) đã được khắc phục. Trái lại, những mâu thuẫn đó vẫn tồn tại
và ngày càng trầm trọng thêm. Việc chuyển mạnh sang chủ nghĩa tư bản nhà
nước cùng với hàng loạt lý thuyết mị dân, phản khoa học đã không che đậy nổi
những ung nhọt của xã hội tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã tỏ rõ
sự bất lực của nó trước những vấn đề của xã hội tư sản. Càng ngày nhân dân lao
động càng thấy là chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là giải pháp cho mọi vấn đề. Việc
chuyển một cách phổ biến sang chủ nghĩa thực dân mới cũng không xoá bỏ được
mâu thuẫn giữa các dân tộc với chủ nghĩa đế quốc và giữa các đế quốc với nhau.
Thị trường ngày càng bị thu hẹp và chia cắt vẫn mâu thuẫn sâu sắc với khả năng
mở rộng sản xuất của các nước đế quốc chủ nghĩa. Cho nên, chủ nghĩa đế quốc
ngày càng ở vào thế yếu hơn bao giờ hết so với đối thủ của nó là các phong trào
hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới.
Trước mắt nhân dân lao động các nước thuộc địa và phụ thuộc bày ra
ngày càng rõ sự phát triển của hai hệ thống xã hội đã có quy mô thế giới. Trong
cao trào giải phóng dân tộc sau chiến tranh thế giới thứ hai, một vấn đề có tính
chất chiến lược lại mang tính thời sự nóng bỏng được đặt ra là : đất nước sau khi
được giải phóng sẽ phát triển theo con đường nào, khi lịch sử xã hội loài người
lúc này chỉ bày ra hai con đường: xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa?
Đối với nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, chủ nghĩa tư bản
tuy quen thuộc nhưng đã lỗi thời về mặt lịch sử. Chủ nghĩa tư bản lại gắn liền
với những thảm cảnh, những bất công xã hội mà chủ nghĩa đế quốc đã gây ra cho
họ trong suốt những đêm dài nô lệ. Chủ nghĩa xã hội là ước mơ của họ. Nhưng,
như chúng ta đã biết có nhiều thứ chủ nghĩa xã hội, phụ thuộc vào nhiều lập
trường giai cấp khác nhau (phong kiến, tư sản, tiểu tư sản – bao gồm cả nông
dân …). Sau chiến tranh thế giới thứ hai, xuất hiện thêm một số chủ nghĩa xã hội
mang màu sắc tôn giáo hoặc dân tộc, nhưng rốt cuộc, mỗi thứ đều đã được quy
24
vào một lập trường giai cấp nhất định. Việc chọn con đường nào cho sự phát
triển của đất nước tuỳ thuộc vào phong trào quần chúng cách mạng ở mỗi nước,
vào ban lãnh đạo mỗi nước và sự giác ngộ về lý luận của họ. Trong cao trào giải
phóng dân tộc sau chiến tranh thế giới thứ hai, có một đặc điểm nổi bật là sự
thức tỉnh của công nông mỗi nước. Công nông luôn luôn là lực lượng đông đảo
trong các phong trào yêu nước, nhưng ý thức về chính mình thì không phải lúc
nào cũng như nhau. Ý thức này phát triển cùng với thời gian và chính nó đã ảnh
hưởng đến các phong trào yêu nước khác trong dân tộc. Ngay trong các tôn giáo
lớn như Đạo Hồi, Đạo Cơ-đốc ngày nay cũng đã xuất hiện những phái thiên tả.
Cũng do tình hình phong trào đã có những đổi thay nghiêng về phía tả cho nên
cương lĩnh cách mạng do ban lãnh đạo ở nhiều nước đưa ra đều ít nhiều phản
ánh sự giác ngộ chính trị của đông đảo quần chúng trong nước. Do đấy, chúng ta
không ngạc nhiên khi thấy nhiều nước được giải phóng từ sau chiến tranh thế
giới thứ hai đến nay đã đưa ra cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
mình. Nhưng đó là chủ nghĩa xã hội gì thì lại không giống nhau. Bên cạnh các
cương lĩnh xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa Mác-Lênin được đưa ra bởi các đảng
cộng sản đã giữ bá quyền lãnh đạo quá trình cách mạng, còn có một số nước có
những cương lĩnh xã hội chủ nghĩa khác. Trong số những nước này có nước đã
có đảng cộng sản, nhưng do những nguyên nhân lịch sử nhất định, chưa nắm
được ngọn cờ dân tộc. Mặc dù vậy, hiện tượng biểu lộ cảm tình đối với chủ
nghĩa xã hội như trên cũng chứng tỏ sức thu hút của chủ nghĩa xã hội đã mạnh
hơn so với chủ nghĩa tư bản.
Cùng với thắng lợi ngày càng lớn của chủ nghĩa xã hội hiện thực trong
những thập kỷ 60 và 70, cùng với thất bại liên tiếp của chủ nghĩa đế quốc trong
việc duy trì ách thống trị của chúng đối với các dân tộc khác dưới hình thức chủ
nghĩa thực dân mới, đã xuất hiện một loạt nước được gọi là có định hướng xã hội
theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin. Ở những nước này chưa có đảng vô
sản, hoặc đã có nhưng chưa nắm độc quyền lãnh đạo cách mạng. Nhưng do sự
tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài nước trong thời đại mới nên nảy
sinh hiện tượng định hướng xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển của đất nước. Có
thể nêu các nhân tố bên ngoài của thời đại vào thời điểm lịch sử cuối thập kỷ 70
như sau:
- Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã lớn mạnh về mọi mặt. Những
cuộc bạo động phản cách mạng định lợi dụng những sai lầm, thiếu sót nhất thời
của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một số nước xã hội chủ nghĩa, đã bị
dập tắt. Những nguyên tắc Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội được khôi phục, làm
sáng rõ và được nhân dân lao động nhiệt liệt hưởng ứng. Những mưu toan bôi
nhọ chủ nghĩa xã hội, phục hồi chủ nghĩa tư bản bị vạch trần. Với 10 năm tiến
hành cái gọi là “Cách mạng văn hoá vô sản” nổi tiếng, tư tưởng Mao Trạch
Đông đã tự chứng minh là mình không có liên quan gì với chủ nghĩa Mác-Lênin
cả. Điều đó đã xóa bỏ được biết bao sự lừa bịp về “chủ nghĩa xã hội” Trung
25
Quốc hoá mà trong những năm 50 người ta định mô phỏng cho sự phát triển của
các nước Á-Phi. Nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa ngày càng đoàn kết chặt
chẽ xung quanh đảng vô sản để xây dựng và hoàn thiện xã hội mới. Xã hội xã
hội chủ nghĩa thật sự là tấm gương cổ vũ nhân dân lao động các nước còn bị lệ
thuộc vào chủ nghĩa đế quốc phấn đấu cho một đời sống mới. Cuộc đụng đầu
lịch sử giữa đế quốc Mỹ với nhân dân Việt Nam là cuộc đụng đầu giữa bạo lực
phản cách mạng, đế quốc chủ nghĩa với bạo lực cách mạng, xã hội chủ nghĩa,
giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới, đã kết thúc với
thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội. Nó chỉ ra rằng sức mạnh của dân tộc
mà gắn được với sức mạnh của thời đại, của chủ nghĩa xã hội thì một dân tộc dù
nhỏ vẫn có thể đương đầu thắng lợi với bọn đế quốc, dù là tên đế quốc hùng
mạnh nhất. Điều này mang ý nghĩa thuyết phục rất lớn đối với các lực lượng
cách mạng và tiến bộ của các nước đang phát triển.
- Các nước xã hội chủ nghĩa, do bản chất chế độ xã hội của mình, đã thi
hành một chính sách đối ngoại tiến bộ, hoàn toàn đứng về phía các nước đấu
tranh cho độc lập, tự do, chống chủ nghĩa đế quốc, tích cực giúp đỡ các nước này
một cách vô tư, khảng khái, ở mọi nơi và trên mọi phương diện (chính trị, kinh
tế, quân sự…). Sự giúp đỡ này đã mang lại những lợi ích cơ bản cho nhân dân
lao động trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.
Những thiên kiến do tuyên truyền của chủ nghĩa đế quốc tạo ra nhằm làm lẫn lộn
bản chất sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa với bản chất của các thứ
“viện trợ” và “giúp đỡ” của chủ nghĩa đế quốc, được khắc phục dần bằng những
thực tế không thể chối cãi. Sức mạnh mọi mặt của cộng đồng xã hội chủ nghĩa,
trước hết là Liên Xô, cùng với chính sách đối ngoại đúng đắn, kiên quyết, nhất
quán đã có tác dụng ngăn chặn những hành động bạo ngược của chủ nghĩa đế
quốc, mà trước kia thì không có gì kiềm chế được. Điều đó cổ vũ nhân dân lao
động các nước phát huy sức mạnh của chính mình để làm chủ vận mệnh của
mình.
- Trong khi đó thì sức lực của chủ nghĩa đế quốc, dù còn rất mạnh mẽ,
đã bộc lộ những sự hạn chế không thể tránh khỏi. Không phải chỉ có các đế quốc
cũ như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp… là già cỗi, mà ngay cả sức mạnh “không thể
tưởng tượng nổi” của Mỹ cũng đã tỏ ra là có giới hạn trước sức mạnh ngày càng
to lớn của ba dòng thác cách mạng và phong trào hoà bình thế giới sau chiến
tranh thế giới thứ hai. Một vấn đề đang góp phần nâng cao giác ngộ của nhân
dân lao động các nước đang phát triển là sự bóc lột kinh tế rất nặng nề của chủ
nghĩa thực dân mới. Giác ngộ của nhân dân lao động các nước đang phát triển
ngày càng được nâng cao thông qua những thực tế phũ phàng hàng ngày được
phơi bày ra trước mắt họ : hoạt động cướp bóc của các công ty đa quốc gia
không lồ, số nợ nần chồng chất, sự lệ thuộc một chiều về kinh tế… Tất cả những
hoạt động bóc lột đó đã dẫn đến một tình hình trái ngược là cái hố ngăn cách về
giàu nghèo giữa các nước đế quốc và các nước đang phát triển mỗi ngày một sâu