Tải bản đầy đủ (.pdf) (54 trang)

Tình hình ruộng đất và nông nghiệp huyện ba bể nửa đầu thế kỷ xix

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.15 MB, 54 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN ĐỨC THẮNG
NGUYỄN ĐỨC THẮNG

TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT
TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT

VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN BA BỂ

VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN BA BỂ

NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐÀM THỊ UYÊN

THÁI NGUYÊN - 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



THÁI NGUYÊN - 2009



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Giáo sư Trần Văn Giàu từng viết: “Trải qua mấy ngàn năm, nước ta vẫn
là một xứ nông nghiệp và lấy xã thôn làm đơn vị cơ sở. Tới đầu thế kỷ XIX,
cương vực nước ta mới ổn định và thống nhất về mặt hành chính suốt từ ải
Nam Quan tới mũi Cà Mau, gồm khoảng 18.000 làng với các tên gọi khác
nhau như xã, thôn, phường, giáp, điếm, ấp, lân, trang, trại, man, sách ... Làng
nước gắn bó xương thịt với nhau, vì nước là thân thể, còn làng là chi thể. Cả
làng và nước đều sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước.
Cho nên, hai vấn đề nông nghiệp và xã thôn là vô cùng quan trọng đối
với sự tồn vong và lớn mạnh của dân tộc ta...” [8, tr.5]
Chính vì lẽ đó việc quản lý nông nghiệp và ruộng đất là một trong
những công việc trọng tâm của các vương triều phong kiến Việt Nam nói
chung và triều Nguyễn nói riêng. “Nhà nước Quân chủ chuyên chế trung
ương tập quyền có nắm chắc được ruộng đất mới có cơ sở để thu tô thuế-mà
trong các xã hội tiền tư bản đều sống bằng nguồn thu từ tô thuế của dân. Với
một đất nước nông nghiệp như Việt Nam vấn đề quản lý ruộng đất đặc biệt

quan trọng. Việc quản lý chặt chẽ và có hiệu quả ruộng đất nhà nước có thể
chi phối được mọi mặt của xã hội, trong đó trước hết là chi phối người nông
dân. Đồng thời trên cơ sở làm tốt công việc này quyền sở hữu tối cao của nhà
nước đối với ruộng đất trong cả nước mới được xác lập một cách vững chắc” [31]
Chúng ta đi vào nghiên cứu chế độ sở hữu ruộng đất của các triều đại
là đi vào vấn đề cơ bản, then chốt để giải mã lịch sử xã hội Việt Nam
phong kiến.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




2

3

Nhà nước phong kiến lấy nông nghiệp làm gốc, là cơ sở của nền kinh tế
đất nước. Chính vì vậy, tình hình ruộng đất và nông nghiệp có ý nghĩa vô

vấn đề nông nghiệp và ruộng đất như: Lịch triều hiến chương loại chí, Đại
Nam nhất thống chí, Đồng Khánh dư địa chí...

cùng quan trọng, qua việc nghiên cứu tình hình ruộng đất và nông nghiệp

Từ sau năm 1945 trở lại đây đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng


giúp chúng ta hiểu biết về chính sách về ruộng đất, thực trạng nông nghiệp

về tình hình ruộng đất và nông nghiệp Việt Nam trong lịch sử như: Chế độ

từng địa phương. Từ thực tiễn đó cho chúng ta những hiểu biết cơ bản, toàn

ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI-XVIII của Trương Hữu Quýnh, Tìm hiểu

diện về những vấn đề xã hội, chính trị của từng địa phương. Đồng thời giúp

chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX của Vũ Huy Phúc, Tình hình

lý giải thêm những vấn đề liên quan đến sản xuất, tập quán sản xuất, sinh hoạt

ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều Nguyễn của Trương

văn hoá, các mối quan hệ xã hội cũng như sự phân hoá giai cấp trong làng xã.

Hữu Quýnh - Đỗ Bang (chủ biên), Địa Bạ Hà Đông của Phan Huy Lê và

Từ những kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình nghiên cứu tình
hình ruộng đất và nông nghiệp không chỉ có tác dụng tìm hiểu địa phương đó

P.Brocheux, Địa bạ cổ Hà Nội của Phan Huy Lê, Nghiên cứu địa bạ triều
Nguyễn của Nguyễn Đình Đầu...

trong một khoảng thời gian nhất định là nửa đầu thế kỷ XIX, mà còn có ý

Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về tình hình nông nghiệp và ruộng đất


nghĩa trong cuộc sống hiện đại. Chúng ta có thể học tập từ cha, ông ta trên

Việt Nam, dựa trên nguồn sử liệu chính thống và những nguồn tư liệu địa

nhiều lĩnh vực như: quản lý ruộng đất, kinh nghiệm canh tác, cải tạo tự nhiên,

phương như văn bia, gia phả, hương ước…Trên cơ sở đó thu được thành quả

tìm hiểu về dòng họ mình thời xưa, kết cấu làng bản trong lịch sử…

to lớn, hệ thống hoá chính sách ruộng đất của nhà Nguyễn và tác động của nó

Xuất phát từ quan điểm nghiên cứu, tìm hiểu tình hình nông nghiệp và
chế độ quản lý ruộng đất triều Nguyễn - một trong những vấn đề cơ bản của
lịch sử phong kiến Việt Nam, từ đó tìm hiểu tình hình ruộng đất, nông nghiệp

đối với kết cấu xã hội…
Những thành quả trên là cơ sở tham khảo quan trong giúp chúng tôi
trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài.

của huyện Ba Bể qua một thời kỳ lịch sử cụ thể là nửa đầu thế kỷ XIX. Việc

Trong phạm vi địa phương đã có một số công trình nghiên cứu được

nghiên cứu này cũng có thể góp phần thực hiện chính sách của Đảng, nhà

xuất bản thành sách,có đề cập tới vấn đề đang được nghiên cứu như: Bản sắc

nước trong việc đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các tỉnh trung du miền núi


và truyền thống văn hoá các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, Lịch sử Đảng bộ huyện Ba

phía Bắc nói chung và Bắc Kạn nói riêng. Chúng tôi lựa chọn đề tài “Tình

Bể (tập 1,2,3), Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ…

hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) nửa

Đây là những tác phẩm nghiên cứu trực tiếp về huyện Ba Bể, là nguồn tư liệu

đầu thế kỷ XIX ” làm đề tài tốt nghiệp.

để nghiên cứu kết hợp làm nổi bật vấn đề.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi thừa hưởng rất ít các kết quả

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp từ lâu đã được các sử gia

nghiên cứu của những người đi trước. Đặc biệt, một công trình nghiên cứu có

phong kiến nhà Nguyễn chú ý. Có thể ra các tác phẩm tiêu biểu có đề cập đến

đối tượng là địa bạ huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đến nay chưa được thực hiện.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên







4

5

Mặc dù vậy, một số luận văn Thạc sĩ hay khoá luận tốt nghiệp của sinh
viên về tình hình ruộng đất và nông nghiệp từng địa phương gần đây đã được

- Đối tượng nghiên cứu: tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp
huyện Ba Bể nửa đầu thế kỷ XIX.

thực hiện như: Khoá luận tốt nghiệp Tình hình ruộng đất và kinh tế nông

- Giới hạn nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu tình hình ruộng đất và

nghiệp huyện Phú Lương (Thái Nguyên), nửa đầu thế kỷ XIX của Nguyễn Thị

kinh tế nông nghiệp huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nửa đầu thế kỷ XIX. Đây là

Mai Anh,Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Đồng Hỷ (Thái

giai đoạn lịch sử Việt Nam có nhiều biến động về kinh tế, chính trị, xã hội.

Nguyên) nửa đầu thế kỷ XIX của Mai Thị Hồng Vinh, Luận văn Thạc sĩ

Điều đó đã tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển của huyện Ba Bể, khi


Huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn thế kỷ XIX của Nông Quốc Huy, Huyện Phú

đó còn nằm trong tỉnh Thái Nguyên.

Bình tỉnh Thái Nguyên qua tư liệu địa bạ triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX

4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu

của Lê Thị Thu Hương…

- Nguồn tư liệu thành văn: bao gồm những tài liệu chính sử của quốc sử

Chúng tôi xem các thành quả nghiên cứu của những người đi trước là

quán triều Nguyễn như Lịch triều hiến chương loại chí, Việt sử thông giám

những ý kiến gợi mở, những kinh nghiệm quý báu để thực hiện đề tài nghiên

cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Đồng Khánh dư

cứu địa bạ của mình, nhằm mục đích tìm hiểu các vấn đề trên. Đặc biệt

địa chí ...

những địa phương có đặc thù gần gũi về mặt địa lý đối với địa bàn huyện Ba
Bể sẽ là đối tượng để chúng tôi so sánh và đối chiếu.

Đặc biệt những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như: Chế độ
ruộng đất ở Việt Nam từ thế kỷ XI-XVIII của Trương Hữu Quýnh, Tìm hiểu


Như vậy, cho đến nay, chưa có một tác phẩm là kết quả của một công
trình nghiên cứu toàn diện về nông nghiệp và địa bạ vùng trung du và miền
núi phía Bắc được xuất bản. Chính vì vậy, vẫn còn nhiều vấn đề về chế độ sở
hữu ruộng đất, thành phần dân tộc, tình hình ruộng đất nông nghiệp ... của
vùng này còn trống vắng cần được nghiên cứu.

chế độ ruộng đất Việt Nam của Vũ Huy Phúc, Địa Bạ Hà Đông của Phan Huy
Lê và P.Brocheux, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn của Nguyễn Đình Đầu ...
- Nguồn tư liệu địa phương: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn, Địa lý tỉnh
Bắc Kạn...
- Nguồn tư liệu thực địa, điền dã: các tài liệu truyền miệng, truyện kể,
truyền thuyết, ca dao, tục ngữ địa phương...

3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: thực hiện đề tài “Tình hình ruộng đất và kinh

- Nguồn tư liệu địa bạ: bao gồm 21 đơn vị địa bạ có niên đại Minh

tế nông nghiệp huyện Ba Bể(tỉnh Bắc Kạn) nửa đầu thế kỷ XIX ”, trên cơ

Mệnh 21 (1840) và một đơn vị địa bạ có niên hiệu Gia Long 4 (1805) đang

sở nguồn tư liệu khai thác được, chúng tôi mong muốn góp phần phản ánh

được lưu giữ tai Trung tâm lưu tr÷ quốc gia I, Hà Nội với các ký hiệu từ 8195

một cách khách quan, khoa học về ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Ba

đến 8257. Hầu hết các thôn, xóm đều có địa bạ, đây là cơ sở để chúng tôi


Bể, tỉnh Bắc Kạn vào thời điểm giữa thế kỷ XIX. Từ đó, đề tài tiến hành phân

phục dựng lại tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiêp của huyện Ba Bể

tích và đưa ra một số nhận xét về tình hình ruộng đất và cơ cấu kinh tế - xã

nửa đầu thế kỷ XIX.

hội của địa phương.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




6

7

Trên cơ sở thực tế là nguồn tư liệu gốc địa bạ triều Nguyễn, chúng tôi

6. Cấu trúc của luận văn

đặc biệt chú ý khâu giám định, biên dịch tư liệu chữ Hán. Trên cơ sở khảo sát

Luận văn gồm 103 trang, được chia làm 3 phần, phần mở đầu (7 trang),


tư liệu gốc kết hợp với phân tích, định lượng để bóc tách và xử lý tư liệu

phần nội dung ( 86 trang), phần kết luận (5 trang). Ngoài ra còn có 5 trang tài

trong nguồn tư liệu địa bạ vốn đề cập đến nhiều vấn đề, nhằm tìm hiểu chính

liệu tham khảo và phần phụ lục.

xác tình hình sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của huyện Ba Bể, đồng
thời xử lý số liệu, so sánh, đối chiếu với các nguồn tư liệu khác có liên quan.
Kết hợp khai thác nguồn tư liệu thành văn, đồng thời chúng tôi sử dụng
phương pháp hồi cố và điền dã làm trọng tâm. Sử dụng phương pháp lịch sử
và phương pháp lôgíc, phương pháp thống kê, đối sánh,phương pháp phân
tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân loại, phương pháp phê phán
tư liệu nhằm mục đích làm rõ vấn đề nghiên cứu.

Phần nội dung được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn (17 trang).
Chương 2: Tính hình ruộng đất huyện Ba Bể nửa đầu thế kỷ XIX (41
trang).
Chương 3: Kinh tế nông nghiệp huyện Ba Bể nửa đầu thế kỷ XIX (28
trang).

5. Đóng góp của luận văn
Đề tài này được thực hiện nhằm đạt được những thành quả cụ thể:
Từ góc độ địa lý lịch sử phân tích một cách khái quát về vị trí địa lý
huyện Ba Bể.
Thống kê chi tiết địa bạ huyện Ba Bể tới từng chủ sở hữu.
Trên cơ sở các kết quả thống kê diện tích, chúng tôi tiến hành phân tích

và đối chứng so sánh, rút ra những kết luận về ảnh hưởng của những thập kỷ
chiến tranh, loạn lạc tới tình hình ruộng đất và nông nghiệp, đặc điểm chế độ
sở hữu ruộng đất của huyện Ba Bể. Trên cơ sơ phân tích địa bạ, luận văn tìm
hiểu phong tục tập quán liên quan đến ruộng đất và nông nghiệp của đồng bào
các dân tộc huyện Ba Bể nửa đầu thế kỷ XIX.
Đúc rút những kinh nghiệm của cha, ông trong việc quản lý và khai thác
đất đai. Cung cấp thêm tư liệu giúp địa phương phát triển kinh tế nông nghiệp
một cách có hiệu quả nhất.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




8

9

CHƢƠNG 1

Gâm chạy dài theo hướng đông bắc - tây nam xuyên suốt địa giới của huyện

KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BA BỂ - TỈNH BẮC KẠN

với dãy Phja Bjoóc trùng điệp, hùng vĩ như một bức trường thành. ở Phía tây
bắc và đông nam có hai ngọn núi Phja Mạ cao 1.980m và Phja Ngoàm cao

1.190m. Ba Bể có nhiều hang động kỳ thú, độc đáo có thể cải tạo thành nhiều

1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

điểm du lịch đặc sắc, hấp dẫn.

1.1.1. VÞ trÝ ®Þa lý
Huyện Ba Bể ngày nay là huyện miền núi, vùng cao của tỉnh Bắc Kạn,

Trên địa bàn huyện có hồ Ba Bể, đây là một hồ kiến tạo lớn nhất và cũng

cách thị xã tỉnh lỵ 60 km về phía Tây bắc, cách thủ đô Hà Nội 230 km. Ba Bể

là một danh thắng nổi tiếng cả nước. Hồ Ba Bể nằm trên độ cao 145m, chứa

nằm ở Tây Bắc tỉnh Bắc Kạn, phía bắc giáp huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao

khoảng gần 5 triệu m3 gồm ba hồ (Pộ Nằm, Pộ Lự, Pộ Làng) dài gần 9 km,

Bằng và huyện Pác Nặm (trước đây là 10 xã thuộc Ba Bể năm 2003 được chia

nơi rộng nhất tới gần 2 km, sâu chừng 30 - 40m, là hồ kiến tạo được cấu tạo

tách thành lập huyện Pắc Nặm), phía tây giáp huyện Na Hang, tỉnh Tuyên

trong đá phiến và đá vôi. Hồ hơi eo lại ở giữa thành dạng một hành lang giữa

Quang, phía đông giáp huyện Ngân Sơn, phía nam giáp huyện Bạch Thông và

các vách đá dựng đứng. Giữa hồ có 3 đảo nhỏ, lớn nhất là đảo An Mã cùng


0

0

Chợ Đồn. Huyện Ba Bể nằm trong toạ độ địa lý từ 22 27’ đến 22 35’ vĩ độ

với hồ Ba Bể là vườn Quốc gia Ba Bể với một hệ thống rừng đặc dụng, di sản

Bắc và 105044’ đến 105058’ kinh độ Đông. Huyện Ba Bể có vị trí địa lý tương

thiên nhiên quý giá có diện tích 23.340ha, ở đây có tới 417 loài thực vật và

đối thuận lợi để giao lưu, phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội với các huyện

299 loài động vật có xương sống.

trong tỉnh và các tỉnh lân cận.

Huyện Ba Bể có rất nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, xã hội, đặc biệt

Theo số liệu thống kê mới nhất năm 2009, huyện có tổng diện tích là
678,09km2 tương đương 68.412 ha (bằng 14,1% diện tích tỉnh Bắc Kạn),
trong đó hơn 90% là rừng núi và sông, hồ. Trung tâm của huyện là huyện lị

là ngành du lịch sinh thái. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để tỉnh
Bắc Kạn đầu tư phát triển thoát nghèo.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên

Chợ Rã và 15 xã trực thuộc là: Mỹ Phương, Chu Hương, Yến Dương, Địa


Theo sách Đại Nam nhất thống chí mục thổ sản cho biết, châu Bạch

Linh, Hà Hiệu (đầu thế kỷ XIX có tên là Hạ Hiệu đến cuối thế kỷ XIX đổi tên

Thông nói chung và Ba Bể nói riêng là vùng khá phong phú về các loại thổ

thành Hà Hiệu) [20,tr.3], Phúc Lộc, Bành Trạch, Cao Trĩ, Khang Ninh, Cao

sản và khoáng sản. Châu Bạch Thông có mỏ vàng Bằng Thành, mỗi năm thu

Thượng, Thượng Giáo, Nam Mẫu, Quảng Khê, Đồng Phúc, Hoàng Trĩ.

thuế 15 lạng, mỏ sắt Quảng Khê 500 cân. Các loai lâm thổ sản quý đã được

Ba Bể là một huyện miền núi với bề mặt địa hình bị chia cắt mạnh và có

khai thác và sử dụng trong cuộc sống lao động và sản xuất như:

độ dốc lớn, hướng núi không đồng nhất. Độ cao trung bình trên 600m so với

“Cỏ tranh, lá cọ, các loại mây, hậu phác, sa nhân, tre nứa, tre gai, tre hoa

mặt nước biển, nơi có địa hình cao nhất là 1517m nằm trên đỉnh Phia Bjooc.

(tức ban trúc, có vằn tròn, như hình trôn ốc, chất cứng rắn, người ta thường

Địa hình Ba Bể nghiêng dần theo hướng đông bắc - tây nam. Huyện Ba Bể có

dùng làm đòn cáng), gỗ lim, gỗ sến, gỗ đinh, gỗ táu, gỗ xoan: các thứ kể trên đều


địa hình hiểm trở nhưng hùng vĩ và đa dạng về sinh thái. Cánh cung sông

sản ở các châu huyện Đông Hỉ, Phổ Yên, Phú Lương và Bạch Thông” [7, tr.181]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






10

11

Về địa hình: huyện Ba Bể có thể chia thành ba khu vực. Các xã phia Tây

Sông ngòi, thuỷ văn: Ba Bể có những hệ thống sông suối khá dày và

như Nam Mẫu, Quảng Khê, Cao Trĩ, Hoàng Trĩ với những dãy núi đá vôi cao

trực tiếp chi phối chế độ thuỷ văn của huyện, song các sông suối đa phần đều

trên 1000m, xen giữa là các thung lũng hẹp tạo thành những dãy núi dựng

có đầu nguồn hẹp, độ dốc lớn nên thường gây ra lũ ống, lũ quét và ngập úng


đứng treo leo. Độ cao phổ biến từ 600 - 1000m, độ dốc trên 30. Đây là vùng

về mùa mưa, ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất cây trồng và làm xói lở, vùi

núi cao điển hình, ít có điều kiện phát triển nông nghiệp.

lấp một phần diện tích nông nghiệp. Cụ thể Ba Bể có các hệ thống sông chính:

Phía Nam là các xã với địa hình núi đất độ cao từ 300 - 400m, độ dốc

- Sông Năng: Bắt nguồn từ vùng núi thuộc huyện Bảo Lạc - Cao Bằng

bình quân trên 20 nhưng bị chia cắt mạnh bởi các khe suối, là địa bàn có thể

chảy vào tỉnh Bắc Kạn ở xã Bằng Thành, huyện Pác Nặm. Một nhánh phụ bắt

phát triển nông nghiệp và nông - lâm kết hợp. Đây là vùng có tiềm năng lớn

nguồn từ phần phía đông của dãy Phia Bjooc, theo hướng đông - tây, chảy

để phát triển các loại cây ăn quả, cây lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc.

qua các xã Chu Hương, Mỹ Phương, Hà Hiệu và nhập với nhánh chính trên

Vùng trung tâm huyện và các xã phụ cận là các thung lũng phân bố dọc

địa bàn xã Bành Trạch đi qua thị trấn Chợ Rã, xã Thượng Giáo, xã Cao Trĩ,

theo các dòng sông, dòng suối. Xen giữa các thung lũng là các dãy núi có độ


Khang Ninh, sau đó nhận được nước của sông Chợ Lèng rồi chảy sang địa

cao trung bình từ 200 - 300m. Diện tích vùng này khoảng 1000ha đây là vùng

phận Tuyên Quang.Tổng chiều dài 113km2, phần qua Bắc Kạn 87km2. Tổng

tập trung các cánh dồng mầu mỡ của huyện.

lưu vực rộng 2270km2 với phần chảy qua Bắc Kạn rộng 890km2. Hướng chảy:

Với đặc điểm bao gồm cả ba loại hình núi đá vôi, núi đất và thung lũng
là đặc điểm thuận lợi phát triển nông lâm nghiệp kết hợp,đa dạng hoá cây
trồng, vật nuôi

Từ Cao Bằng - Bằng Thành (Pắc Nặm) - Xuân La - Anh Thắng - Bành
Trạch. Hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Từ Bành Trạch- Cao Thượng - Tuyên Quang theo hường Đông – Tây.

Về khí hậu: Theo sách Đồng Khánh dư địa chí thì khí hậu chung của

Sông qua núi Lũng Nham tạo thành động Puông dài 300m rộng và cao

châu Bạch Thông là: “Khí trời nhiều lạnh rét, khí đất ẩm ướt, cuối xuân còn

30- 40m. Hết địa phận Bắc Kạn, sông bị chặn bởi nhiều tảng đá to, chia thành

lạnh, đến mùa hạ mới hơi nóng, đầu thu đã rét, đến mùa đông rét đậm. Mùa

các dòng nhỏ và tạo thành thác Đầu Đẳng hùng vĩ dài hơn 1000m, chảy sát hồ


đông và mùa xuân sương mù khí núi che phủ bầu trời, trước giờ Tý sau giờ

Ba Bể nên sông có cửa thông với hồ là cửa Bế Cam (Nam Mẫu). Sông có tiềm

Thân từ nhìn quanh không thấy núi” [10, tr.820]

năng thủy điện lớn hiện đang xây dựng nhà máy thuỷ điện Na Hang(Tuyên

Ba Bể có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa nóng từ tháng tư đến
tháng mười, mùa lạnh từ tháng mười một đến tháng ba năm sau. Nhìn chung
Ba Bể có đặc điểm khí hậu tương đối thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm
nghiệp theo hướng đa dạng hoá cây trồng, vât nuôi.

Quang). Cuối cùng sông Năng đổ vào sông Gâm ở Tuyên Quang.
Sông Năng có nhiều sông, suối nhỏ đổ vào sông như sông Bộc Bố, sông
Hà Hiệu.
- Sông Chợ Lèng chảy vào lòng hồ Ba Bể bắt nguồn từ dãy núi Phia

- Các dạng thời tiết chính: Thời tiết giá rét-gió Mùa Đông bắc, thời tiết

Booc chảy theo hướng đông nam - tây bắc, qua địa bàn huyện Ba Bể trên địa

nồm, thời tiết sương muối, thời tiết khô nóng, thời tiết mây mù..

phận các xã Đồng Phúc, Quảng Khê, Nam Mẫu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên







12

13

- Sông Tả Han và suối Bó Lù đều bắt nguồn từ dãy Phia Bjooc chảy vào
hồ Ba Bể.

đường giao thông nội tỉnh, đường thôn xóm có chiều dài khoảng 4000 Km đạt
tiêu chuẩn giao thông nội tỉnh loại B không tính vào mạng lưới giao thông

- Suối Cao Thượng bắt nguồn từ xã Cổ Linh huyện Pắc Nặm chảy qua
địa bàn xã Cao Thượng rồi hoà vào sông Năng.

đường bộ.
Nhìn chung mạng lưới đường bộ trong tỉnh tạo thuận lợi trong việc giao

Điều kiện tự nhiên của Ba Bể có nhiều thuận lợi để phát triển nông - lâm

lưu với các tỉnh bạn, nối liền trung tâm của tỉnh với trung tâm của huyện và

nghiêp. Mặc dù vậy, Ba Bể cần phải đầu tư nâng cấp và phát triển mạng lưới

trung tâm các xã. Về chất lượng tuy có được cải thiện song vẫn thấp so với

giao thông đường bộ để mở rộng thị trường, tạo điều kiện thông thương giao lưu


yêu cầu cần thiết, có nhiều tuyến chưa được nâng cấp trải nhựa, đặc biệt là

hàng hoá phát triển. Trong thời gian vừa qua mạng lưới giao thông của tỉnh

những tuyến nằm ở miền núi và các tuyến đường huyện xã.

Bắc Kạn nói chung và huyện Ba Bể nói riêng đã được quan tâm đầu tư xây dựng.

Nhìn chung, hệ thống giao thông của tỉnh Bắc Kạn tuy đã được Chính

Mạng lưới đường bộ gồm hệ thống quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện,

phủ đầu tư, song vẫn còn rất nhiều khó khăn, vì vậy để tạo môi trường đầu tư

đường đô thị, đường xã và đường thôn xóm với tổng chiều dài 1166 km, trong

thuận lợi và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của tỉnh, khai thác được tiềm

đó: Quốc lộ với tổng chiều dài 160 km với 42 cầu; Đường tỉnh với tổng chiều

năng, thế mạnh của tỉnh, đòi hỏi phải nâng cấp trục quốc lộ 3 thành đường

dài 367 km với 47 cầu; Đường huyện có tổng chiều dài 673 km với 106 cầu,

cao tốc, nhằm rút ngắn thời gian vận chuyển từ Bắc Kạn về các trung tâm

2

mật độ đường đạt 24,31 km/km . Do địa hình vùng này phức tạp nên hệ thống


kinh tế lớn của cả nước, đồng thời tiến hành đồng bộ việc mở thêm các tuyến

đường giao thông của tỉnh rất nhiều cầu, cống, với trên 1000 km đường bộ có

đường mới với việc nâng cấp các các tuyến đường hiện cũ.

tới 195 cây cầu và 1673 cống. Quốc lộ 3 chạy suốt theo chiều dài của tỉnh và
các đường tỉnh lộ đều bắt đầu từ trục quốc lộ 3.

Trên địa bàn tỉnh có 5 dòng sông chảy qua nhưng chủ yếu là sông đầu
nguồn, dòng chảy hẹp, mực nước nông lại nhiều ghềnh thác nên hệ thống giao

Quốc lộ 279 (đường vành đai II) cũng đã và đang được từng bước năng

thông đường thuỷ của Bắc Kạn không có điều kiện phát triển. Chỉ có sông

cấp nối Bắc Kạn với Lạng Sơn và Tuyên Quang. Các tuyến khác như đường

Năng và sông Cầu có thể khai thác từng đoạn ngắn và cũng chỉ vận chuyển

254 Đèo So - Chợ Đồn- Ba Bể và đường Bằng Lũng qua Ba Hồ – Yên

được bằng thuyền gắn máy nhỏ.

Thượng, huyện Chợ Đồn cũng đã được nâng cấp. Trong thời kỳ 2001-2006 đã

1.2. Các thành phần dân tộc huyện Ba Bể

đầu tư nâng cấp, xây dựng mới trên 500 km đường huyện, trên 1000 km


Thành phần dân tộc của huyện Ba Bể được viết trong một số tài liệu

đường liên xã, liên thôn đạt tỷ lệ 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã.

không thống nhất trong việc xác định số lượng các dân tộc trên địa bàn huyện.

Hoàn thành các cầu lớn như Thác Giềng, Yên Đĩnh, Hảo Nghĩa, Dương

Về cơ bản Ba Bể có 6 dân tộc chính sinh sống trên 16 đơn vị hành chính xã,

Quang, Bắc Kạn II.

thị trấn với 199 thôn, bản. Năm dân tộc đó là Tày, Kinh, Dao, Mông, Nùng,

Đường liên xã tổng chiều dài trên 1000 Km, đạt tiêu chuẩn giao thông

Sán Chí với 10.025 hộ, khoảng 47.000 người. Trong đó dân số nông thôn

nội tỉnh loại A, B, mặt đường là đất cấp phối tự nhiên, ngoài ra hệ thống

khoảng 43.54 người (chiếm tỷ lệ 92,7%). Mật độ dân số trung bình là 69

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên







14

15

người/km2. Trong quá trình lịch sử, huyện Ba Bể đã tiếp nhận nhiều dân tộc

1.2.2 Người Kinh:

di cư đến cùng làm ăn, sinh sống:

Ngay từ buổi đầu dựng nước, các triều đại phong kiến Lý - Trần đã rất

“Trong toàn huyện, người Thổ (người Tày), người Nùng, người Mán ở

chú ý đến cộng đồng các dân tộc miền núi phía Bắc, thể hiện qua việc phong

xen nhau. Tiếng nói, quần áo, tập tục ăn cũng giống dân huyện Cảm

tước, chọn phò mà là các tù trưởng có uy tín. Có lẽ bộ phận người Kinh đầu

Hoá.Người Mán cũng có Mán Đại Bản, Mán Đeo Tiền, Mán Sơn Miêu, phong

tiên ở vùng núi phía Bắc là những binh lính đồn trú ở biên giới, hay những

tục khác nhau” [10, tr.820]

người hầu cận của các vị công chúa phong kiến xuất hiện ở đây. Đặc biệt thời


1.2.1. Người Tày:

kỳ nội chiến Nam - Bắc triều (từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVII), các thế

Người Tày ở Bắc Kạn là cộng đồng dân số có số dân đông nhất với

lực họ Mạc, các lực lượng Lê - Trịnh phát triển mạnh lên miền núi, trong đó

149.459 người chiếm 54,32% dân số toàn tỉnh. Người Tày ở Bắc Kạn gồm ba

có Bắc Kạn. Một số người ở lại và bị Tày hoá. Sang đến thời Nguyễn rồi thời

bộ phận cấu thành với những tên gọi khác nhau:

Pháp, người Kinh ở miền xuôi vẫn tiếp tục lên Bắc Kạn bằng nhiều con

+ Bộ phận người Tày bản địa từ thời nguyên thuỷ đã có mặt và sinh sống
ở Bắc Kạn

đường: lưu quan, binh lính, phu mỏ, phu làm đường…và họ tiếp tục bị Tày
hoá. Số người Kinh lên Bắc Kạn khoảng đầu thế kỷ XX đến trước 1945 nằm

+ Bộ phận người Tày gốc Kinh từ dưới xuôi lên theo thời gian lâu dài đã

trong bộ máy cầm quyền của Pháp như binh lính, thầy giáo, thầy thuốc và một
số tiểu thương buôn bán nhỏ không bị Tày hoá mạnh như trước. Họ trở thành

Tày hoá
+ Bộ phận người Tày - Nùng từ Quảng Tây (Trung Quốc) sang Bắc Kạn.


bộ phận người Kinh ở Bắc Kạn.Năm 1932 có khoảng 3.900 người Kinh ở Bắc

Bộ phận người Tày ở Ba Bể chủ yếu là người Tày Nặm (Tày nước để

Kạn, chủ yếu ở các thị trấn, thị xã.

phân biệt với Tày Bốc tức Tày cạn ở huyện Pắc Nặm). Người Tày Nặm sống

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Bắc Kạn đón tiếp nhiều cán bộ, bộ

ở vùng thấp nhiều sông nước như các xã hạ lưu sông Năng, sông Cầu. Ngoài

đội, thanh niên xung phong và cả đông bào tản cư lên tham gia kháng chiến.

ra còn có người Tày Slo ở Mường Slo thuộc thung lũng sông Năng.

Sau năm 1954, một số người không trở về quê hương mà ở lại sinh cơ lập

Người Tày sống tập trung thành làng bản trong các thung lũng lòng chảo,

nghiệp rối thành người Bắc Kạn.

lòng máng hoặc dọc theo hai bờ sông, suối. Có bản đông tới vài chục nóc nhà,

Thời kỳ những năm 60 thế kỷ XX, theo lời kêu gọi của chủ tịch Hồ Chí

cũng có bản chỉ có vài ba nóc nhà đơn sơ dựng bên sườn núi. Ở nhà sàn cho

Minh, nhiêù kiều bào đã từ nước ngoài trở về xây dựng tổ quốc. Nhiều người


tới nay vẫn là truyền thống của đồng bào. Tại một số địa phương như Nghiêm

vốn quê ở Bắc Kạn đã trở về quê hương. Ngày này nhiều người là cán bộ chủ

Loan, đồng bào vẫn còn giữ được đặc trưng của nếp nhà sàn cổ xưa. Ở những

chốt của tỉnh Bắc Kạn.

vùng tiếp cận với thị trấn và các chợ như Phố cũ, xã Hà Hiệu, nhiều hộ đã bỏ

Từ năm 1963 trở đi, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đưa một số đồng bào

nhà sàn chuyển sang ở nhà đất, nhà xây như ở dưới xuôi. Đồng bào Tày làm

Kinh lên miền núi khai hoang phát triển kinh tế- văn hoá, số người Kinh lên Bắc

ruộng nước là chính, ngoài ra còn chống ngô và hoa mầu ở các soi, bãi.

Kạn tăng nhanh với hàng nghìn hộ, phân bố hầu khắp các xã trong toàn tỉnh.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






16


17

Người Kinh định cư ở Ba Bể chủ yếu từ sau năm 1963, hiện nay vẫn có

- Dụ Tsiăng (còn gọi là Dụ Nhiaa): Dụ Tsiăng là tên tự gọi, Dụ Nhiaa là

người Kinh lên Ba Bể lập nghiệp theo con đường buôn bán hoặc hôn nhân.

do nhóm Dụ Kùn gọi. Đây là chi có dân số đông nhất và địa vực cư trú rộng

Người Kinh ở Ba Bể sống tập trung chủ yếu ở thị trấn, số đông làm nghề

nhất tại Bắc Kạn. Bao gồm hầu hết các vùng, khu vực của tỉnh” [3, tr.164].
Người Dao sống du canh là chính nhưng cũng có sống tập trung xen kẽ

buôn bán.
1.2.3.Người Nùng:

với các dân tộc khác. Mặc dù ở cùng bản với người Tày, Nùng nhưng người

Người Nùng từ Trung Quốc đến sinh sống ở Bắc Kạn chủ yếu từ 6 - 7

Dao thường tách ra ở một khu riêng biệt. Người Dao thường tập trung khoảng

đời gần đây. Ở Bắc Kạn chủ yếu có các nhóm Nùng là Nùng Phản Sinh, Nùng

5 - 7 gia đình sống tại một triền đồi, núi hay một khu vực nào đó đáp ứng

An, Nùng Giang, Nùng Cháo.


được nhu cầu về nguồn nước và thuận lợi trong sinh hoạt, cũng như có điều

Người Nùng ở Ba Bể chủ yếu là người Nùng An, phần lớn theo đường

kiện canh tác tốt. Người Dao ở Bắc Kạn thường sống ở khu vực tương đối

Quảng Hoá - Cao Bằng sang, một số sang Hoà An ngược sông Nguyên Bình

thấp nhưng ở Ba Bể cư dân sống ở các núi cao như bản Nà Vài, Nà Hai

đến các huyện Ba Bê, Bạch Thông. Người Nùng chủ yếu sống ở vùng thấp,

(Quảng Khê), Tẩn Lùng, Lủng Mình (Đồng Phúc)….Bản của người Dao

lấy nghề nông lúa nước làm nguồn sống chính, họ ở xen canh trong vùng

thường cư trú theo quan hệ dòng tộc, huyết thống. Rất ít bản có nhiều dòng

người Tày, sớm hoà nhập vào cộng đông dân cư địa phương, một số có xu

họ, nhiều ngành, nhóm cùng sinh sống [3, tr.187].

hướng chuyển sang dân tộc Tày.

Nền kinh tế truyền thống của người Dao chủ yếu là nông nghiệp, chăn

1.2.4 Người Dao:

nuôi và thu hái lâm thổ sản. Người Dao do cuộc sống du canh, du cư đời sống


Có số dân đứng thứ hai sau người Tày, người H’Mông có số dân khoảng

không ổn định, cư trú dựa vào nương rầy là chính nên nghề thủ công không

hơn nửa số dân người Dao. Người Dao và người H’Mông sinh sống chủ yếu ở

được coi trọng. Các nghề dệt, rèn, đan lát…hầu hết là để phục vụ cho cuộc

vùng núi cao, làng bản thưa thớt, nhà cửa đơn sơ. Địa bàn sinh sống tập trung

sống gia đình. sản phẩm thừa mới đem bán nhưng lãi suất thấp. Những nghề

của đông bào là quanh chân núi Phja Bjoóc với phương thức du canh, du cư,

này chỉ được làm khi nông nhàn.

phát nương làm rẫy, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu. Ngày nay, Đảng bộ, chính

1.2.5.Người Mông:

quyền địa phương đang từng bước giải quyết, ổn định đời sống của đồng bào,

Người Mông ở Bắc Kạn tập trung đông nhất ở Ba Bể và Pắc Nặm với

xoá bỏ nạn phá rừng.

dân số là 9.938 người. Trong đó ở Ba Bể tập trung đông nhất ở xã Nam Mẫu:

Người Dao ở huyện Ba Bể chủ yếu là người Dao thuộc ngành Dao đỏ

với các nhành Dụ Lảy, Dụ Tsiăng.

“+ Nam Mẫu (Ba Bể): 211 hộ, 1428 người, 49% dân số xã” [3, tr.319].
Người Mông ở Ba Bể là nhóm Mông Trắng từ Trung Quốc di cư sang

“- Dụ Lảy là tên tự gọi, còn gọi là Dao Quế Lâm. Nguyên chi này gốc ở

Việt Nam, trước hết vào Cao Bằng, sau đó di cư tới các tỉnh trong đó có Bắc

Quế Lâm - Trung Quốc, hiện cư trú tập trung tại hai bên dãy núi Phja Bjoóc

Kạn. Nhóm người Mông Trắng là nhóm người Mông đầu tiên di cư đến sống

thuộc các huyện Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông.

ở Bắc Kạn. “…Sớm nhất là các nhóm Mông Trắng đến phía Bắc các huyện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




18

19


Pắc Nặm, Ba Bể tìm đất cư trú, lập nghiệp ở khu vực núi đá vôi thuộc các xã

Đến đời nhà Trần, vào năm Thiên ứng chính bình thứ 11 (1242) nhà

Nhạn Môn, Cổ Linh, Cao Tân, Cao Thượng…cách đây khoảng hơn trăm

nước chia đặt lại các đơn vị hành chính, đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ.Về

năm…Cũng từ Cao Bằng, nhóm người Mông Trắng còn chuyển đến cư trú tại

phương diện hành chính, Ba Bể vẫn nằm trong châu Thái Nguyên và nằm

các xã Nghiêm Loan huyện Pắc Nặm, Nam Mẫu huyện Ba Bể…” [3, tr.323].

trong Như Nguyệt Giang Lộ (gồm miền thượng lưu sông Cầu, Yên Thế và

Người Mông ở Ba Bể thường sống rải rác, ít khi tới 5 - 10 hộ, ở trên núi

Thái Nguyên). Vào năm Quang Thái thứ 10 (1397), châu Thái Nguyên được

cao. Hộ thường sống phân tán nhà nọ cách nhà kia vài trăm mét trở lên.

đối thành trấn.Trong cuốn sách “Đất nước Việt Nam qua các đời” nhà học giả

Người Mông độc lập với các dân tộc khác, rất hiếm khi làng người Mông có

Đào Duy Anh đã xác định địa giới như sau:

dân tộc khác cư trú và ngược lại. Hoạt động nông nghiệp chủ yếu của họ là
trồng ngô trên những nương du canh, ít có nương cày (thổ canh) để trồng các

loại cây lương thực, thực phẩm và chăn nuôi. Người Mông là những người thợ
thủ công lành nghề trong việc trồng lanh dệt vải, đan lát, làm đồ gỗ, rèn sắt…

“Đại để trấn Thái Nguyên lúc đó là tương đương với tỉnh Thái Nguyên,
Bắc Kạn, và nửa phía nam của tỉnh Cao Bằng ngày nay” [1, tr.150].
Vào thời thuộc Minh, năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), trấn Thái Nguyên lại
đổi thành phủ Thái Nguyên lĩnh 11 huyện.Từ năm Tuyên Đức (niên hiệu của

1.2.6. Đồng bào Sán Chí:

Minh Tuyên Tông (từ 1426 -1434) về sau vẫn lấy đất phủ Thái Nguyên đặt

Người Sán Chí sống trong các thung lũng, sườn đồi làm nghề nông như

làm “Thái Nguyên thừa chính ty”, coi 3 phủ là phủ Thái Nguyên, phủ Phú

đồng bào các dân tộc Tày - Nùng. Người Sán Chí có dân số ít ỏi chỉ khoảng
15 hộ từ huyện Pắc Nặm xuống sinh sống lẫn với khu vực của người Dao ở

Bình, phủ Thông Hoá (Bắc Kạn ngày nay).
Năm 1428, Vương triều Lê được thành lập, Lê Thái Tổ chia cả nước

quanh dãy Phja Bjoóc.

thành 5 đạo, Vùng đất Bắc Kạn lúc đó thuộc Bắc Đạo. Đến năm Quang Thuận

1.3. Sự biến đổi địa danh - địa giới huyện Ba Bể qua các thời kỳ lịch sử

thư 7 (1466) Lê Thánh Tông định lại bản đồ cả nước, chia thành 12 đạo thừa


Thời Hùng Vương, vùng đất là huyện Ba Bể ngày nay thuộc bộ Vũ
Định, một trong mười lăm bộ của nước Văn Lang.

tuyên, đất Bắc Kạn và Ba Bể thuộc Thái Nguyên Thừa Tuyên. Năm Quang
Thuận thư 10 (1469) lại đổi Thái Nguyên Thừa Tuyên thành Ninh Sóc Thừa

Trong một nghìn năm Bắc thuộc, thời thuộc Hán, Ba Bể thuộc vào quận

Tuyên. Theo sách Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu thì “Ninh

Giao Chỉ, sang đời nhà Đường (thế kỉ VIII - IX - X) Ba Bể là vùng đất thuộc

Sóc Thừa Tuyên lúc đó lĩnh 3 phủ là phủ Cao Bằng, phủ Thông Hoá và phủ

Châu Long, sau đó thuộc châu Võ Nga.

Phú Bình”. Cũng theo sách trên, riêng phủ Thông Hoá có: “1 huyện là huyện

Thời Đinh, Tiền Lê (thế kỉ X) chia các đơn vị hành chính làm 10 đạo.

Cảm Hoá (gồm 50 xã và 10 trang) và 1 châu là châu Bạch Thông (gồm 70 xã

Đến đời nhà Lý, khi Lý Thái Tổ lên ngôi (1010) xây dựng lại nhà nước phong

và 3 trang) huyện Ba Bể là đất của ba tổng thuộc châu Bạch Thông. Vào thời

kiến trung ương tập quyền đã đổi 10 đạo thời Đinh, Tiền Lê thành 24 lộ, lúc

kỳ này lần đầu tiên một đơn vị hành chính của huyên Ba Bể là Chợ Rã đã xuất


đó vùng đất Ba Bể nằm trong châu Thái Nguyên, sau đó thuộc châu Vũ Lặc.

hiện với tên gọi riêng trong một tài liệu chính thống của triều đình với tên gọi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên






20

21

Chợ Slo. Tên gọi này xuất hiện trong tác phẩm Dư địa chí của Nguyễn Trãi ở

Thông, Chợ Đồn, Chợ Rã (tức huyện Ba Bể), huyện Cảm Hoá (nay thuộc địa

mục Thái Nguyên thổ sản.

phận các huyện Na Rì, Ngân Sơn, vùng Phủ Thông của huyện Bạch Thông).

Đời Hồng Đức thứ 21 (1483), vùng đất Ba Bể hiện nay vẫn thuộc xứ
Thái Nguyên. Từ thời Lê Trung Hưng đến hết thời Nguyễn Gia Long (1802 1814) xứ Thái Nguyên lệ thuộc vào Bắc Thành, vùng đất Bắc Kạn vẫn thuộc
trấn này.

Theo sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX đã xác định giới hạn

huyện gồm có ba tổng với các xã sau:
“- Tổng Thượng Giáo có 9 xã: Địa Linh, Công Bật, Xuân Phương, Cao
Trĩ, Bành Trạch, Hồng La, Bạo Thị, Nhạn Môn, Nhân Thiếp.

Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đất nước được chia thành các tỉnh hạt,
trấn Thái Nguyên lúc đổi được đổi tên thành tỉnh Thái Nguyên. Sách “Đại
Nam nhất thống chí” (1882) đã ghi lại phạm vi của châu Bạch Thông lúc đó
như sau: “ở cách phủ 41 dặm v ề phía Tây; đông tây cách nhau 271 dặm, nam
bắc cách nhau 283 dặm; phía đông đến địa giới châu Vũ Nhai phủ Phú Bình
188 dặm, phía tây đến điạ giới châu Chiêm Hoá tỉnh Tuyên Quang 83 dặm,
phía nam đến địa giới huyện Phú Lương và châu Định phủ Tùng Hoá 100
dặm, phía Bắc đến địa giới huyện Vĩnh Điện tỉnh Tuyên Quang 103 dặm. Từ
đời Trần về trước, gọi là huyện Vĩnh Thông; thời thuộc Minh vẫn theo như
thế, lệ phủ Thái Nguyên; đời Lê đổi tên hiện nay và gọi là châu, lệ phủ Tùng
Hoá, do phiên thần họ Hoàng nối đời quản trị; bản triều đầu đời Gia Long
vẫn theo như thế; năm Minh Mệnh thứ 16 đổi đặt lưu quan. Lãnh 9 tổng, 60
xã” [7, tr.153-155]. Huyện Ba Bể khi đó thuộc châu Bạch Thông, phủ Thông
Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Thời kỳ này một loạt địa danh của huyện Ba Bể đã
xuất hiện trong chính sử của triều đình như các đợn vị hành chính chính thức:
Chợ Hạ Hiệu, Chợ Quảng Khê, phố Chợ Rã [7, tr.176]
Như vậy, đến thời điểm này vùng đất Bắc Kạn nằm trong địa hạt tỉnh

- Tổng Hạ Hiệu có 7 xã, trang: Hạ Hiệu, Chư Hoa, Cao Thượng,
Nghiêm Loan, Bằng Thành, Cổ Đạo, Da Nham.
- Tổng Quảng Khê có 6 xã, trang: Quảng Khê, Bằng Châu, Đồng Phúc,
Nam Mẫu, Xuân Cưu, trang Mỹ Hoá Bán” [36, tr.82].
Sách Đồng Khánh dư địa chí đã chú thích rõ về duyên cách của châu
Bạch Thông như sau: “Châu Bạch Thông đời Lý -Trần là đất huyện Vĩnh
Thông, đới thuộc Minh đổi làm châu Vình Thông. Năm Quang Thuận 7
(1466) đời Lê Thánh Tông đổi làm châu Bạch Thông, đặt thuộc phủ Thông

Hoá. Qua các triều đại sau đều không thay đổi. Nay là các huyện Bạch
Thông, Chợ Đồn, Ba Bể tỉnh Bắc Kạn” [10, tr.818-819]
Cũng theo sách trên, huyện Ba Bể vào thời điểm đó gồm 23 xã thôn
thuộc ba tổng như sau:
“- Tổng Quảng Khê, 6 xã:
1.Xã Quảng Khê

2. Xã Đồng Phúc

3. Xã Mỹ Hoá

4. Xã Xuân Ổ

5. Xã Bằng Châu

6. Xã Nam Mẫu

- Tổng Thượng Giáo,11 xã:
1. Xã Thượng Giáo

2. Xã Công Bật

3.Xã Bộc Bố

4. Xã Xuân Phương

5. Xã Xuân La

6. Xã Nhạn Môn


phủ Tòng Hoá, phủ Phú Bình, phủ Thông Hoá. Bắc Kạn ngày nay về cơ bản

7. Xã Nhân Tiếp

8. Xã Bành Trạch

9. Xã Địa Linh

vẫn là đất phủ Thông Hoa gồm châu Bạch Thông (nay là đất các huyên Bạch

10. Xã Truyền Cố

11.Xã Cao Trĩ

Thái Nguyên.
Đến năm Minh Mệnh thứ 16 (1835) tỉnh Thái Nguyên gồm 3 phủ là:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




22

23


- Tổng Hạ Hiệu, 7 xã:

Do yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, từ năm 1965 đến năm 1997 địa giới

1. Xã Hạ Hiệu

2. Xã Dạ Nham

4. Xã Chư Hương

5.Xã Cao Thượng

6. Xã Cổ Đạo

7. Xã Bằng Thành” [10, tr.819]

3. Xã Nghiêm Loan

tỉnh Bắc Kạn cũng có sự điều chỉnh.Ngày 21-4-1965 Uỷ ban thường vụ Quốc
hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Sau khi đánh chiếm và áp đặt bộ phận cai trị trên địa phận Thái Nguyên,
thực dân Pháp đã nhiều lần thay đổi đơn vị hành chính. Trong vòng 4 năm từ
1896 đến 1900 thực dân Pháp tiếp tục phân chia địa giới hành chính của các
châu Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hoá, Cảm Hoá. Theo nghị định ngày 20 -8
- 1891 của Toàn quyền Đông Dương, địa bàn Bắc Kạn thuộc 2 đạo quan binh:
Phần phía đông và nam thuộc Tiểu quân khu Thái Nguyên (Đạo quan binh I)
và phần bắc thuộc Tiểu quân khu Lạng Sơn (Đạo quan binh II).
Đến ngay 11 - 4 -1900, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định lấy phần
đất thuộc phủ Thông Hoá thành lập tỉnh Bắc Kạn gồm 4 châu (sau đổi thành

huyện) là: Bạch Thông, Chợ Rã (sau là huyện Ba Bể), Thông Hoá (sau đổi
thành Na Rì) và Cảm Hoá (sau đổi thành Ngân Sơn). Huyện Ba Bể với tư
cách là một đơn vị hành chính riêng của tỉnh Bắc Kạn lần đầu tiên xuất hiện.

Việt Nam) ra quyết định số 103-QN-TVQH thành lập tỉnh Bắc Thái trên cơ sở
hợp nhất 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn. Vào thời điểm này dân số tỉnh Bắc
Kạn có 112.500 người.
Ngày 29- 12- 1978, kì họp thứ 4 Quốc hội khoá IV nước Cộng hoà Xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết nghị phân định địa giới giữa Bắc Thái và
Cao Bằng, tách 2 huyện Chợ Rã, Ngân Sơn thuộc tỉnh Bắc Thái nhập vào tỉnh
Cao Bằng. Đến năm 1984 huyện Chợ Rã được đổi tên thành huyện Ba Bể:
"Theo quyết định số 144 – HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 06 -11 – 1984,
tên huyện Chợ Rã thuộc tỉnh Cao Bằng được đổi tên thành huyện Ba Bể, gắn
với danh lam thắng cảnh nổi tiếng của dịa phương là hồ Ba Bể” [17; tr.45].
Để đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân các dân tộc và yêu
cầu của sự nghiệp cách mạng trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, ngày 6- 11- 1996, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoa IX kì họp thứ 10 đã phê chuẩn việc phân chia lại địa giới hành chính của

Theo tác phẩm Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ của tác giả Ngô Vi

một số tỉnh, trong đó chia tỉnh Bắc Thái thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc

Liễn xuất bản năm 1938, đến đầu thế kỷ XIX, huyện Ba Bể có tên là châu

Kạn. Tỉnh Bắc Kạn được tái thành lâp bao gồm 2 huyện Ba Bể, Ngân Sơn của

Chợ Rã, đất đai về cơ bản vẫn là ba tổng Thượng Giáo, Hạ Hiệu, Quảng Khê

tỉnh Cao Bằng và 4 huyện thị của tỉnh Bắc Thái là thị xã Bắc Kạn, huyện Na


và xã Hoàng Trĩ thuộc tổng Nhu Viễn xưa.

Rì, huyện Chợ Đồn, huyện Bạch Thông. 9 xã phía bắc của huyện Phú Lương

Năm 1916, theo nghị định của thống sứ Bắc Kỳ, một số tổng của châu

(gồm các xã: Nông Thịnh, Nông Hạ, Yên Hân, Yên Cư, Thanh Bình, Bình

Bạch Thông, Chợ Rã và tổng An Biên Thượng thuộc Định Hoá (Thái

Văn, Như Cố, Yên Đĩnh, Quảng Chu ) và thị trấn Chợ Mới đã được nhập trở

Nguyên) tách ra lập thành châu Chợ Đồn. Từ đó đến Cách mạng tháng Tám,

lại huyên Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn. Huyện Ba Bể sau 18 năm sát nhập vào

địa giới tỉnh Bắc Kạn được định hình 5 châu, 1 thị xã. Các châu lại chia thành

tỉnh Cao Bằng lại trở về là một đơn vị hành chính của tỉnh Bắc Kạn. Từ đó

20 tổng và 103 xã.

cho tới nay nhân dân huyện Ba Bể dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước đã
phân đấu xây dựng cuộc sống và quê hương ngày càng giầu đẹp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




24

25

Tiểu kết: Trên cơ sở khái quát về huyện Ba Bể, chúng ta có thể thấy: Ba
Bể là vùng đất cổ có truyền thống lịch sử lâu đời. Từ xưa nơi đây đã có con

CHƢƠNG 2
TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT HUYỆN BA BỂ

người sinh sống, nhiều địa danh của huyện như chợ Hạ Hiệu, Quảng Khê…từ

NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX

sớm đã xuất hiện trong lịch sử. Ba Bể cũng là nơi có điều kiện tự nhiên đặc
trưng của miền núi, với hơn 90% diện tích là đồi núi nhưng Ba Bể có một số
cánh đồng rộng, được phù sa các con sông lớn bồi đắp. Đây là điều kiện tốt
phát triển nông - lâm nghiệp kết hợp. Với năm dân tộc anh em cùng đoàn kết
sinh sống và xây dựng quê hương, tạo thành bản sắc văn hoá đa dân tộc
phong phú và sinh động trên mảnh đất này.

2.1. Tình hình ruộng đất huyện Ba Bể nửa đầu thế kỷ XIX
2.1.1. Tình hình ruộng đất huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nửa đầu thế kỷ
XIX theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840)
§Þa bạ là công cụ để nhà nước quản lý ruộng đất, đồng thời là nguồn tư

liệu phong phú về nhiều mặt, đặc biệt và trực tiếp nhất là cung cấp bức tranh
về ruộng đất nông nghiệp xưa. Từ trước đến nay đã có nhiều công trình
nghiên cứu về tác dụng của địa bạ đối với nông nghiệp, có thể khái quát như sau.
“ - Tình hình khai phá và sử dụng ruộng đất, đặc điểm của nền nông
nghiệp cổ truyền.
- Chế độ sở hữu ruộng đất với các hình thái sở hữu rất phức tạp như sở
hữu nhà nước, sở hữu làng xã (công điền, công thổ), sở hữu tư nhân, sở hữu
cộng đồng của họ, phe, giáp, đình, chùa, đền, miếu...
- Tình trạng chiếm hữu ruộng đất và sự phân hóa xã hội ở nông thôn, kết
cấu xã hội và các giai tầng trong làng xã, mức độ sở hữu ruộng của tầng lớp
quan lại, nho sĩ, chức dịch...
- Thống kê các dòng họ và sự phân bố theo các khu vực, góp phần
nghiên cứu các quan hệ cộng đồng huyết thống và làng giềng, kết hợp với các
tư liệu gia phả và đinh bạ nghiên cứu dân số học lịch sử....” [18, tr.9]
Từ quan điểm trên, chúng ta thấy tư liệu gốc chính xác nhất để phục
dựng lại “bức tranh” về tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện Ba
Bể tỉnh Bắc Kạn nửa đầu thế kỷ XIX là các đơn vị địa bạ. Các địa bạ mà
chúng tôi sưu tầm được đều là các địa bạ được lập vào đầu triều Nguyễn ở các

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




26


27

niên đại: Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) với tổng số có 22 đơn
vị địa bạ.

Như vậy chúng ta nhận thấy rằng địa bạ huyện Ba Bể vào thời điểm nửa
đấu thế kỷ XIX chỉ có một địa bạ Gia Long trong khi thời Minh Mệnh có 21

Các địa bạ trên đều là bản chính viết bằng chữ Hán hiện được lưu tại

địa bạ chiếm số lượng áp đảo. Vì sao lại có tình trạng như vậy ?

Trung tâm lưu trữ quốc gia I, Hà Nội. Có 22 xã trên tổng số 24 xã của huyện, ở

Chúng ta đều biết rằng, năm 1802 triều Nguyễn thành lập đã cho lập địa

nửa đầu thế kỷ XIX, có địa bạ Minh Mệnh 21. Trong đó có 1 địa bạ được lập

bạ các trấn Bắc Hà, tức vùng Đàng Ngoài thuộc quyền cai quản của chúa

vào thời điểm Gia Long 4 và 21 địa bạ được lập vào thời điểm Minh Mệnh 21

Trịnh trước đây. Các địa bạ này được hoàn thành vào năm 1805[19,tr.27].

Bảng 2.1. Thống kê địa bạ huyện Ba Bể nửa đầu thế kỉ XIX.

Tuy nhiên, đây cũng là thời kỳ nhà Nguyễn mới được thành lập bên cạnh việc

Tên làng xã
Tên tổng


Quảng Khê

Thượng Giáo

Hạ Hiệu

Tên xã
Nam Mẫu
Quảng Khê
Bằng Châu

Gia Long 4
(1805)

Minh Mệnh 21 (1840)

bắt tay xây dựng chính quyền mới còn phải ổn định tình hình và đối phó với
những tàn dư của vương triều Tây Sơn còn sót lại. Sử cũ đã ghi lại ngay sau

X
X
X

khi Gia Long lên ngôi các cuộc khởi nghĩa của tưởng lĩnh Tây Sơn cũ đã

Đồng Phúc

X


(Hải Dương) vào năm 1803, và đặc biệt là khởi nghĩa ở Thái Nguyên đã lôi

Tr. Mỹ Hoà Bán

X

kéo và khuyến khích phong trào đấu tranh ở vùng núi phía Bắc. “Ngay sau

Xuân Ổ

X

Truyền Cố
Cao Trĩ

X
X

khi vua Gia Long vừa lên ngôi, một số tướng lĩnh của Tây Sơn ẩn náu trong

Thượng Giáo

X

chống lại triều đình mới. Cùng với các cuộc nổi dậy ở Thái Nguyên, phong

Giao Lang

X


trào ở Tuyên Quang cũng phát triển khá mạnh…” [29,tr.184].

Địa Linh

X

Hồng La

X

Xuân Phương

X

Nhân Tiếp

X

cũng ghi nhận sự thiếu hụt về địa bạ các địa phương trong nước khi lập địa bạ

Bộc Bố

X

đầu thời Gia Long: “…Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) cho lập địa bạ ba trấn

Cổ Đạo

X


Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, các địa phương “không biết vì sao” đã có lệnh

Chư Hoa
Bằng Thành

X
X

làm địa bạ từ năm Gia Long thứ 3 (1804) mà “giữa chừng lại thôi” [35,tr.15]

Cao Thượng

X

Nghiêm Loan
Dạ Nham
Tổng Cộng 22 xã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

vùng rừng núi Thái Nguyên liên kết với các lực lượng ở địa phương, nổi dậy

Tình hình nhiều biến động ở vùng rừng núi phía Bắc có thể lý giải về sự
ít ỏi của địa bạ huyện Ba Bể thời Gia Long. Mặt khác, lịch sử nhà Nguyễn

Trước tiên chúng ta sẽ cùng xem xét về quy mô sở hữu ruộng đất của
huyện Ba Bể.

X

Hạ Hiệu


bùng nổ. Có thể kể đến cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Văn Tuyết ở Kim Môn

X
1

X
21


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




28

29

Bảng 2.2: Thống kê địa bạ Minh Mệnh 21 (1840)

Bảng 2.3: Tình trạng phân bố các loại ruộng đất của huyện Ba Bể

ĐVT: m.s.th.t.p (Mẫu, sào, thước, tấc, phân)
Tên làng xã
Số
TT

Tên
tổng


Tên xã

Tổng diện
tích ruộng
đất

Các loại
đất khác

Tƣ điền
Lƣu
Hoang

Thổ
trạch, Thần
từ,
Thực trƣng viên trì
phật
tự

Tha
ma
mộ
địa

theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840)

1


Diện tích

Loại ruộng

STT

(m.s.th.t)

-Tư điền:

Tỷ lệ (%)

2826.6.12.2

97,08

+ Thực trưng:

2703.6.4.3.8

92,85

+ Lưu hoang:

21.7.7.5
140.0.3.4
167.2.3.6

19.2.7.5
136.0.3.4

162.7.3.6

2.5.0.0
4.0.0.0
4.5.0.0

123.0.7.8.2

4,23

2

- Thổ trạch, viên trì:

73.0.5.0

2,50

Đồng Phúc

255.5.1.4

250.5.1.4

5.0.0.0

3

- Các loại đất khác:


12.9.0.0

0,42

21.8.6.8

21.8.6.8

+ Thần từ, phật tự:

6.7.0.0

0,21

6
7

Tr. Mỹ Hoà
Bán
Xuân Ổ
Truyền Cố

65.0.7.1

2.0.0.0
2.4.0.0

+ Tha ma, mộ địa:

6.2.0.0


0,21

Cao Trĩ

2912.6.2.2

100,00

8

380.0.12.1

375.5.12.1

4.5.0.0

9
10

Thượng Giáo
Giao Lang

208.3.5.7
29.7.14.0

Địa Linh

241.3.9.8


236.8.4.8

4.5.5.0

Hồng La

59.3.4.8

56.3.4.8

3.0.0.0

5

11
12

Thượng Giáo

4

Quảng Khê

Nam Mẫu
Quảng Khê
Bằng Châu

1
2
3


67.0.7.1
19.7.9.1

17.3.9.1
51.8.1
28.7.14

Tổng:

(Nguồn theo thống kê 22 đơn vị địa bạ có niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840

151.5.4.7(*) 5.0.0.0
1.0.0.0

2.5%

Xuân Phương
Nhân Tiếp

210.9.13.9
101.4.2

203.2.13.9
101.4.2

15
16

Bộc Bố

Cổ Đạo

58.2.6.3
150.2.3.7

58.2.6.3
147.1.3.7

17
18

Chư Hoa
Bằng Thành

301.8.14.7
286.8.14.7 9.0.0.0 6.0.0.0
62.0.9.4 24.2.13.7.2 33.2.10.6.8 4.5.0.0

Cao Thượng

145.5.13.4

138.5.13.4

7.0.0.0

Nghiêm Loan
Hạ Hiệu
Dạ Nham


56.3.13.8
123.0.5
90.6.14.7

53.3.13.8
118.0.5
87.6.14.7

3.0.0.0
5.0.0.0
3.0.0.0

19
20
21
22

Hạ Hiệu

13
14

Tổng
Cộng: 3

22

2912.6.2.2 123.0.7.8.2 2703.6.4.3.8

0.7.0.0 6.2.0.0


3.1.0.0

73.0.5

97.08%

Biểu đồ 2.1. Sự phân bố ruộng đất ở huyện Ba Bể
Trên cơ sở phân tích, thống kê, xử lý số liệu của 22 xã có địa bạ Minh
6.7.0.0 6.2.0.0

(*)(2 m thần từ)
(Nguồn theo thống kê 22 đơn vị địa bạ có niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Tư điền
Thổ trạch, viên trì
Các loại đất khác

0.42%



Mệnh 21 cho phép chúng ta hình dung về số lượng, tỷ lệ phần trăm của các
loại ruộng đất của huyện Ba Bể nửa đầu thế kỷ XIX. Tư liệu địa bạ đã cho

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





30

thấy 100% diện tích đất đai của huyện là tư điền và tư thổ chứ không có ruộng
đất công. Trên thực tế phần thực trưng chiếm 92,85%, phần lưu hoang chỉ
chiếm tỷ lệ là 4,23%, trong đó 100% là điền chứ không phải là thổ. Khi chúng
ta so sánh với tỷ lệ phần trăm của 8 tỉnh đồng bằng sông Hồng là 21,75% [32,
tr.26,30] thì tỷ lệ lưu hoang của huyện Ba Bể là nhỏ hơn rất nhiều. Tuy nhiên
đặc điểm cơ bản của tình hình lưu hoang ở đây là hiện tượng lưu hoang cả
31

một xã như hai xã Truyền Cố, Giao Lang. Ngoài ra, số ruộng lưu hoang ở các
xã khác là tương đối lớn, như ở xã Thượng Giáo diện tích lưu hoang chiếm

Bảng 2.4: So sánh diện tích ruộng đất Ba Bể với một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên

24,51%, ở xã Bằng Thành con số đó là 38,70%. Chúng ta có thể lý giải hiện

có địa bạ Minh Mệnh 21 (1840)

tượng trên là hậu quả của các cuộc chiến tranh nông dân kéo dài ở thời kỳ
cuối Lê - đầu Nguyễn để lại. Đặc biệt là ảnh hưởng từ cuộc khởi nghĩa của

Huyện Ba bể
Loại ruộng
Diện tích

Nông Văn Vân (7/1833-3/1835). Theo tác phẩm Lịch sử Đảng bộ huyện Ba
Bể (tập1), huyện Ba Bể thời gian này chính là địa bàn hoạt động của nghĩa


Tư Điền

2826.6.12.2

Tỷ lệ

97,08

- Thực trưng

2703.6.4.3.8 92,85

- Lưu hoang

123.0.7.8.2

sức quyết liệt giữa quân triều đình và nghĩa quân. Tiêu biểu là trận đánh bại

Thổ trạch,

[29,tr.43].

viên trì
Các loại đất
khác
Tổng diện
tích

Diện tích


(%)

quân Nông Văn Vân. Trên địa bàn huyện cũng đã nổ ra những trận đánh hết
đạo quân Thái Nguyên của triều đình nổ ra trên địa bàn xã Bằng Thành

Huyện Chợ Đồn

1508.7.3.5

4,23

Diện tích

Tỷ lệ
(%)

Huyện Đại Từ
Diện tích

Tỷ lệ
(%)

Huyện Ngân Sơn
Diện tích

Tỷ lệ
(%)

1939.2.4.6 59,71 2161.8.8.4 88,96 1766.4.9.3 95,87


96,1 1148.7.02.0 58,05 1918.7.4.6 86,93 1766.4.9.3 95,87

1.5.10.6

0,1

797.3.10.6 40,29

243.9.3.8

11,04

0.0.0.0

0

73.0.5

2,50

60.4.00

3,8

3.9.14.0

0,21

36.7.4.0


1,67

75.9.2.5

4,13

12.9

0,42

1.5.10.6

0,1

2.8.09.0

0,14

8.0.8.6

0,36

0.0.0.0

0

2912.6.2.2

100


1570.6.14.1 100 1978.9.02.1 100

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



(%)

1510.2.14.1 99,9

[37,tr.24]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Tỷ lệ

Huyện
Phú Lƣơng

[2,tr.26]



2207.4.6.0

100 1842.3.11.8 100

[38,tr.34]

[16,tr.35]



32

33

Qua số liệu thống kê nêu trên, chúng ta có thể thấy diện tích ruộng đất ở

Bảng 2.6: Quy mô sở hữu ruộng đất của các xã thôn thuộc huyện Ba Bể

Ba Bể thuộc loại tương đối lớn so với địa bàn các huyện miền núi Thái
Nguyên khác. Diện tích thổ trạch viên trì thuộc loại lớn nhưng diện tích các
loại đất khác là đất thần từ, phật tự và đất tha ma mộ địa lại tương đối nhỏ.
Hiện tượng ruộng đất lưu hoang vẫn còn lớn chứng tỏ tình hình xã hội có
nhiều biến động. Diện tích tư điền của Ba Bể chiếm 97,08% đối chiếu với
bảng so sánh như trên là rất lớn chỉ đứng sau Chợ Đồn, điều đó thể hiện mức
độ tư hữu hoá cao. Nếu đem so sánh với những vùng đồng bằng con số này
còn ấn tượng hơn nữa: “Số liệu thống kê cho thấy sở hữu tư nhân ở Hà Đông
đầu thế kỷ XIX chiếm 65,34% trong tổng số ruộng đất. Biết rằng cùng vào
khoảng thời gian đó, tỷ lệ ruộng tư trên quy mô cả nước chiếm 82,9%” [19, tr.24].
Mức sở hữu tư nhân của huyện Ba Bể cao hơn hẳn mức bình quân của cả nươc.
Bảng 2.5: Thống kê các loại ruộng đất phân theo đẳng hạng (1840)
STT

Hạng ruộng

Diện tích

Tỷ lệ (%)


1

Hạng 2

8.7.0.0

0,29

2

Hạng 3

2897.9.12.9.

99,70

(Nguồn theo thống kê 22 đơn vị địa bạ có niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840)
Căn cứ vào các số liệu trên, chúng ta có thể thấy ruộng đất ở Ba Bể chủ
yếu là ruộng loại 3 (tam đẳng) chiếm 99,70%, còn lại ruộng loại 2 (nhị đẳng)
chỉ có 8.7 mẫu chiếm 0,29%. Tất cả ruộng loại 2 đều là ruộng thần từ, phật tự.
Loại ruộng này tuy chiếm vị trí rất nhỏ bé nhưng là những thửa ruộng mầu
mỡ nhất, được giao cho nhân dân trong xã cùng canh tác lấy hoa mầu cúng
chùa như 6 mẫu ở xã Chư Hoa, 7 sào ở xã Xuân Phương, hoặc được giao cho
một người thường là người trông coi chùa chiền như 2 mẫu ở xã
Thượng Giáo.

theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840)
ơ

STT


Xã thôn

Dƣới 50
mẫu

Quy mô sở hữu
50->100 100->
200->
300->
mẫu
200 mẫu 300 mẫu 500 mẫu

Tổng Quảng Khê (6)
1 Nam Mẫu
1
2 Quảng Khê
1
3 Bằng Châu
1
4 Đồng Phúc
1
5 Tr. Mỹ Hoà Bán
1
6 Xuân Ổ
1
Tổng Thượng Giáo (9)
7 Truyền Cố
1
8 Cao Trĩ

9 Thượng Giáo
1
10 Giao Lang
1
11 Địa Linh
1
12 Hồng La
1
13 Xuân Phương
1
14 Nhân Tiếp
1
15 Bộc Bố
1
Tổng Hạ Hiệu (7)
16 Cổ Đạo
1
17 Chư Hoa
18 Bằng Thành
1
19 Cao Thượng
1
20 Nghiêm Loan
1
21 Hạ Hiệu
1
22 Dạ Nham
1
Tổng cộng:
4

6
6
4
21 xã thôn =100%
(18,18%) (27,27%) (27,27%) (18,18%)

1

1

1
(10%)

(Nguồn theo thống kê 22 đơn vị địa bạ có niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




34

35

Số người sở hữu từ 1 đến 5 mẫu chiếm 38,90% trên tổng số chủ sở hữu


2.1.2. Tình hình sở hữu ruộng đất tư
Trên địa bàn huyện Ba Bể, theo tài liệu địa bạ hoàn toàn không có ruộng
đất công, chủ yếu là ruộng đất tư. Chúng ta nói tới tình hình sở hữu ruộng đất
tư thực ra cơ bản là nói về sở hữu ruộng tư.

hữu

Số chủ

lớp khá giả từ 5 đến 10 mẫu chiếm 54,54% số người sở hữu.
Số người sở hữu từ 10 đến 20 mẫu chiếm 6,14% số chủ sở hữu và 12,4%
số ruộng.

Bảng 2.7: Quy mô sở hữu ruộng tƣ
Quy mô sở

và chiếm 22,5% diện tích ruộng. Có tới 65,06% ruộng đất nằm trong tay tầng

Tỷ lệ

Diện tích sở hữu

(%)

(m.s.th.t)

Tỷ lệ (%)

Như vậy nhìn vào tình trạng sở hữu tư điền của Ba Bể năm 1840 với sự
có mặt của 473 chủ ruộng, trên tổng diện tích là 2703.6.4.3.8 thì mức bình


2

0,42

1.3.7.5

0,04

quân một chủ sẽ là 5.7.2.3.8. Mức bình quân sở hữu cao nhất là xã Cao Trĩ

1->5 mẫu

184

38,90

608.4.10.1.8

22,50

với 10.1.7.6/người, và thấp nhất là xã Nam Mẫu, nơi có diện tích nhỏ nhất là

5->10 mẫu

258

54,54

1758.6.11.6


65,06

1.6.0.6/người.

10->20 mẫu

29

6,14

335.1.5.1

12,40

Tổng cộng

473

100

2703.6.4.3.8

100,00

< 1 mẫu

(Nguồn theo thống kê 22 đơn vị địa bạ có niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840)

12.4%


Hiện tượng chủ ruộng là các chức sắc chiếm diện tích lớn về ruộng đất
vẫn xẩy ra. Ví dụ:
Dịch mục Ma Thế Lưu ở xã Bằng Châu có nhiều ruộng đất nhất xã với
14 mẫu 1 sào 9 thước
Hương mục Gia Hữu Quýnh với 11 mẫu chiếm diện tích lớn nhất xã Bộc

0.04%
22.5%

Bố.Quy mô sở hữu ruộng tư của Ba Bể đặt trong không gian miền núi phía
Bắc được thể hiện qua bảng sau:

65.06%
< 1 mẫu

1 ->5 mẫu

5->10 mẫu

10->20 mẫu

Biểu đồ 2.2: Quy mô sở hữu ruộng tƣ
Từ bảng số liệu trên, chúng ta thấy số người sở hữu dưới 1 mẫu rất ít,
chỉ có 0,42% và chiếm tỷ lệ 0,04% trên tổng số diện tích..

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




37

Trên cơ sở phân tích bảng thống kê trên chúng ta có thể nhận thấy một
đặc điểm chung là các huyện miền núi phía bắc Thái Nguyên xưa ít có những
đại điền chủ tập trung trong tay nhiều ruộng đất. Khi so sánh với một huyện
miền cao là Quảng Hoà (Cao Bằng), ta thấy tuyết đại đa số các chủ ruộng nêu
trên không một ai vượt qua 50 mẫu và tỷ lệ phần trăm rất nhỏ bé. Số chủ sở hữu
30->50 mẫu ở Phú Lương là 3 người chiếm 2.22%, ở Đại Từ là 6 người chiếm
36

4,26%, trong khi đó ở Quảng Hoà có chủ sở hữu tới 70 mẫu ruộng [41, tr.77].

Bảng 2.8: So sánh quy mô sở hữu ruộng đất tƣ của các huyện Ba Bể, Chợ Đồn, Phú Lƣơng, Đại Từ và Ngân Sơn

Ngay cả khi so sánh với một huyện miền xuôi là Phú Bình, tỷ lệ cũng rất
chênh lệch. Số chủ sở hữu từ 30-50 mẫu ở Phú Bình là 7 người chiếm 0,43%,

Quy mô sở
hữu
<1 mẫu

Huyện Ba bể
Số
chủ


Diện tích

Huyện Chợ Đồn
Số
chủ

Diện tích

Huyện Phú Lƣơng
Số
chủ

Diện tích

Huyện Đại Từ

Huyện Ngân Sơn

Số

Số

chủ

Diện tích

chủ

Diện tích


2

1.3.7.5

1

0.9.00

2

1.7.00

1->5 mẫu

184

608.4.10.1.8

53

155.3.4.5

56

161.2.5.9

5->10 mẫu

258


1758.6.11.6

102

804.4.10.6

30

207.6.13.3

10->20 mẫu

29

335.1.5.1

29

400.1.1.1

24

331.9.2.0

44

687.1.6.8

47


603.1.6.6.0

6

147.9.2.3

7

187.2.13.0

25

602.7.8.8

7

180.5.8.3.0

3

163.8.14.1

6

232.3.4.4

122

993.7.3.3


141 1918.7.4.6

247 1766.4.9.3.0

[2,tr.29]

[38,tr.35]

[16,tr.36 ]

20->30 mẫu
30->50 mẫu
Tổng cộng

473

2703.6.4.3.8

191

1508.7.3.5
[37,tr. 27 ]

28

113.1.3.8

38 283.3.10.8

4


2.9.8.2.0

80

264.6.3.3.0

109 715.1.12.9.0

nhưng nắm 3,13% diện tích, số chủ sở hữu lớn hơn 50 mẫu là 2 người nắm
giữ 1,36 % diện tích. Trong khi đó ở Ba Bể không có chủ ruộng nào vượt quá
20 mẫu.
Tình trạng đất đai tập trung trong tay giai cấp địa chủ quyền quý chứng
tỏ hiện tượng bao chiếm ruộng đất vẫn tồn tại
Mặc dù phần đầu trong quá trình đối sánh với các địa phương lân cận,
chúng ra đã thấy sự tư hữu hoá cao về ruộng đất tư nhưng ở Ba Bể chưa có sự
tập trung sở hữu lớn ruộng đất trong tay các địa chủ. Nếu so sánh với một địa
phương đồng bằng Bắc Bộ là Thái Bình thì điều đó sẽ sáng rõ: “Trong khi đó
sở hữu tư nhân ở Bắc Bộ có những đặc điểm khác biệt…, trong đó số chủ sở
hữu trên 5 mẫu chiếm tới 63,2% và số ruộng của họ chiếm gần hết tổng số

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



ruộng tư (88,9%). Hơn nữa, ruộng đất tập trung chủ yếu vào các lớp chủ sở
hữu có từ 10 mẫu ruộng trở lên (hơn 64%), đặc biệt, đối với lớp chủ sở hữu
trên 50 mẫu ruộng thì tỷ lệ ruộng đất của họ gấp gần 7 lần tỷ lệ phần trăm của
họ so với tổng số chủ” [35, tr.14].


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




38

39

Diện tích đất tư của Ba Bể chỉ chiếm 2,50%, tất cả đều là đất thổ trạch,

Bảng 2.9: Bình quân sở hữu của một chủ ruộng
ĐVT: m.s.th.t.p (Mẫu, sào, thước, tấc, phân)

STT

Tên
Tổng

Tên Xã

Tƣ điền

Diện tích có
thể tính sở
hữu

Bình quân
Số
sở hữu một

chủ
chủ

Nam Mẫu

19.2.7.5

19.2.7.5

12

1.6.0.6

2

Quảng Khê

136.0.3.4

136.0.3.4

18

7.5.9.5

Bằng Châu

162.7.3.6

162.7.3.6


23

7.0.12.2

Đồng Phúc

250.5.1.4

250.5.1.4

31

8.2.6.3

3
4

Quảng Khê

1

21.8.6.8

21.8.6.8

9

2.4.4.1


Xuân Ổ

65.0.7.1

65.0.7.1

18

3.6.2.0

7

Truyền Cố

8

Cao Trĩ

375.5.12.1

375.5.12.1

37

10.1.7.6

9

Thượng Giáo


203.3.5.7

151.5.4.7(*)

25

6.0.9.1

236.8.4.8

41

5.7.11.4

56.3.4.8

56.3.4.8

11

5.1.3.1

203.2.13.9

203.2.13.9

48

4.2.5.2


10
11
12

Thượng Giáo

Tr. Mỹ Hoà Bán

6

5

Giao Lang
Địa Linh
Hồng La

17.3.9.1

0.0.0.0

28.7.14
236.8.4.8

0.0.0.0

Xuân Phương

14

Nhân Tiếp


101.4.2

101.4.2

11

9.2.2

15

Bộc Bố

58.2.6.3

58.2.6.3

10

5.8.3.6

16

Cổ Đạo

147.1.3.7

147.1.3.7

24


6.1.4.5

17

Chư Hoa

286.8.14.7

286.8.14.7

43

6.6.10.8

18

Bằng Thành

57.5.9.4

33.2.10.6.8

11

3.0.3.8.8

Cao Thượng

138.5.13.4


138.5.13.4

30

4.6.2.9

Nghiêm Loan

53.3.13.8

53.3.13.8

9

5.9.4.8

118.0.5

118.0.5

41

2.0.13.0

87.6.14.7

21

4.1.11.4


2703.6.4.3.8 473

5.7.2.3.8

19
20

Hạ Hiệu

13

21

Hạ Hiệu

22

Dạ Nham

Tổng cộng: 3 22

87.6.14.7
2912.6.22

(Nguồn theo thống kê 22 đơn vị địa bạ có niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




viên trì. Thổ trạch, viên trì là sở hữu tư nhân.Hầu hết các xã đều có tư thổ(trừ
Trang Mỹ Hoà Bán, Xuân Phương, Nhân Tiếp, Bộc Bố), tư thổ của Ba Bể
không chia cho từng chủ mà do bản xã đồng cư.
Bảng 2.10: Sự phân bố đất tƣ (thổ trạch, viên trì)

STT

Tên tổng

Tên xã

Thổ trạch, viên trì
(m.s.th.t)

Tỷ lệ (%)

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

14
15

Nam Mẫu
Quảng Khê
Quảng Bằng Châu
Khê
Đồng Phúc
Trang Mỹ Hoà Bán
Xuân Ổ
Truyền Cố
Cao Trĩ
Thượng Giáo
Giao Lang
Thượng Địa Linh
Giáo
Hồng La
Xuân Phương
Nhân Tiếp
Bộc Bố

2.5.0.0
4.0.0.0
4.5.0.0
5.0.0.0
0.0.0.0
2.0.0.0
2.4.0.0
4.5.0.0
5.0.0.0

1.0.0.0
4.5.5.0
3.0.0.0
0.0.0.0
0.0.0.0
0.0.0.0

11,52
2,86
2,69
1,96
0
2,98
12,18
1,18
2,4
3,37
1,86
5,05
0
0
0

16
17
18
19
20
21
22


Cổ Đạo
Chư Hoa
Bằng Thành
Hạ Hiệu Cao Thượng
Nghiêm Loan
Hạ Hiệu
Dạ Nham

3.1.0.0
9.0.0.0
4.5.0.0
7.0.0.0
3.0.0.0
5.0.0.0
3.0.0.0

2,06
2,98
7,26
4,87
5,33
4,06
3,31

Tổng Cộng: 3
22
73.0.5.0
(Nguồn theo thống kê 22 đơn vị địa bạ có niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên





40

41

- Các loại đất thần từ, phật tự:

sử sách như chợ Hạ Hiệu, chợ Quang Khê đã xuất hiện. “Đại nam nhất thống

Bảng 2.11: Sự phân bố đất thần từ, phật tự và đất tha ma mộ địa

chí” có ghi “Chợ Hạ Hiệu, chợ Quang Khê…Người Thanh, người Thổ, người

ĐVT: m.s.th.t.p (Mẫu,sào, thƣớc, tấc,phân)

Kinh, người Nùng ở lẫn lộn, đều ở châu Bạch Thông” [7, tr.176]. Người Kinh

STT

Tên Tổng

Tên xã

1

Thượng Giáo Xuân Phương


2

Thượng Giáo

2

Hạ Hiệu

theo con đường buôn bán lên sinh sống nhiều hơn những nơi khác.

Tổng diện

Đất thần

tích ruộng

từ, phật ma, mộ Tỷ lệ

Tha

đất (m.s.th.t)

tự

địa

(%)

210.9.13.9


0.7.0.0

6.2

3,28

208.3.5.7

2.0.0.0

0,96

301.8.14.7

6.0.0.0

1,99

Thượng Giáo
Chư Hoa

(Nguồn theo thống kê 22 đơn vị địa bạ có niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840)
Các loại đất này tuy nhỏ bé nhưng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống
tâm linh của nhân dân các dân tộc huyện Ba Bể. Tất cả các ruộng thần từ,
phật tự đều là ruộng loại mầu mỡ nhất. Trên địa bàn huyện Ba Bể ruộng thần
từ, phật tự có hai loại hình canh tác chính. Một là giao cho bản xã cùng canh
tác như ở hai xã Xuân Phương và Chư Hoa. Hai là giao cho một chủ hộ canh
tác lấy hoa lợi cúng chùa như ở xã Thượng Giáo hai mẫu ruộng thần từ được
giao cho Hoàng Văn Dương canh tác. Điều này thể hiện rõ mối quan hệ giữa
ruộng đất và tín ngưỡng tôn giáo (xem mục 2.2.3)

- Quy mô sở hữu ruộng đất theo nhóm họ:
Số lượng nhóm họ trong sở hữu ruộng đất ở Ba Bể, so với các huyện lân
cận cùng thời điểm năm 1840 như Ngân Sơn, Chợ Đồn, là khá lớn 51 họ so
với 37 ở Ngân Sơn Và 27 ở Chợ Đồn. Sở dĩ như vậy vì bên cạnh các dòng họ
dân tộc thiểu số còn có sự xuất hiện của những dòng họ của người Kinh ở Ba
Bể, làm tăng thêm số lượng các nhóm họ nơi đây như: họ Nguyễn, họ Trần,
họ Đinh… chúng ta có thể lý giải điều này do từ sớm trên địa bàn huyện đã
xuất hiện những chợ buôn bán lớn được chính quyền thừa nhận, đề cập trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Bảng 2.12: Sở hữu ruộng đất theo nhóm họ
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16

17
18
19
20
21
22
23
24

Nhóm họ
Bế
Bàn
Bùi
Cao
Chu
Dương
Đào
Đồng
Đổng
Đỗ
Đinh
Đàm
Hạ

Hoàn
Hia
Hoàng
Nguyễn
Lục


Vi
Ma

Gia

Tổng số chủ/Tỷ lệ
(%)
30
1
1
1
5
57
4
18
2
1
1
5
1
12
1
1
71
30
6
6
6
81
10

18

6,34
0,21
0,21
0,21
1,06
12,05
0,84
3,80
0,42
0,21
0,21
1,06
0,21
2,54
0,21
0,21
15,01
6,34
1,27
1,27
1,27
16,94
2,11
3,80

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Diện tích

(m.s.th.t)
202.3.11.8
4.3.5.0
8.6.0.0
10.8.5.1
37.0.6.3
346.0.3.8
18.8.6.0
92.8.6.1
9.0.0.0
3.0.0.0
4.8.6.0
26.3.3.7
4.8.0.0
64.0.1.2
7.8.11.1
0.0.0.0
365.1.5
202.3.11.8
49.9.0.0
46.6.11.8.1
44.6.4.1
510.6.12.3.7
66.8.13.2
109.3.9.7

Tỷ lệ
(%)
7,53
0,15

0,30
0,37
1,38
12,90
0,67
3,43
0,33
0,11
0,15
0,97
0,15
2,39
0,26
0
13,57
7,53
1,82
1,67
1,64
17,89
2,46
4,06

Phụ nữ

2 người





42

25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
49
50
51
52

Tổng

Thương
Trương
Phan
Triệu
Sầm
Phương
Lương
Lệnh
Nông

Mông

Triệu
Lộc

Ngô
Quan

Lỹ
Trần
Toán

Kim

La
Mạch

Không rõ họ

52

1
3
4
8
5
3
27
1
36
3
2
2
5
1
1
1
1
2
1
1
1
1
1
3
1
1
2
6

473

0,21
0,63
0,84
1,69
1,06
0,63
5,70
0,21
7,61
0,63
0,42
0,42
1,06
0,21
0,21
0,21
0,21
0,42
0,21
0,21
0,21
0,21
0,21
0,63
0,21
0,21
0,42
1,27

100%

11.5.0.0
19.1.8.5
27.2.0.0
51.1.10.9
26.2.0.0
18.2.0.0
139.3.5.2
2.2.0.0
171.2.2.1
15.5.14.6
8.6.1.6
11.2.2.5
21.6.0.0
6.9.0.0
4.2.0.0
2.3.2.0
4.6.0.0
6.6.0.0
7.0.0.0
4.8.0.0
5.0.0.0
5.3.0.0
2.0.0.0
14.5.0.0
5.4.1.0
7.3.4.0
10.0.0.0
14.9.7.0

2703.6.4.3.8

0,41
0,70
1,0
1,90
0,97
0,67
5,18
0,67
6,37
0,56
0,30
0,41
0,78
0,22
0,15
0,07
0,15
0,22
0,26
0,15
0,19
0,19
0,07
0,52
0,19
0,26
0,37
0,52

100%

(Nguồn theo thống kê 22 đơn vị địa bạ có niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



43

18
16
14
12
10
8
6
4
2
0
1 3 5 7 9 11 13 15 17 19 21 23 25 27 29 31 33 35 37 39 41 43 45 47 49 51
Biểu đồ 3.3. Sở hữu ruộng đất theo nhóm họ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




44

45


Qua bảng thống kê chúng ta thấy có tổng số 473 chủ ruộng chia thành 51
nhóm họ nhưng sự phân bố là không đều nhau. Tính trung bình mỗi họ là

nữ 0,42% so với 20,6%. Diện tích cũng rất chênh lệch: 11.9 /2703.6.4.3.8 so
với 1449.0.5.1/7848.1.8.0.

473/51=9 người, các nhóm họ có số lượng đông nhất là các họ Ma, Hoàng,
Nông, Dương với 245 chủ ruộng đã sở hữu 1392.0.8.27, tương đương với

- Tình hình sở hữu của chức dịch:
Bảng 2.14: Tình hình sở hữu ruộng đất của các chức dịch - sắc mục (1840)

51,61% tổng diện tích ruộng đất. Trong khi đó có 21 họ chỉ có 1 chủ ruộng và
chỉ chiếm hữu 112.8.4.2 tương đương 24,99% Mức sở hữu ruộng đất theo

Chức vị

STT

nhóm họ đông nhất là họ Ma với 81 chủ ruộng, chiếm hữu diện tích là
510.6.12.3.7. Trong khi đó họ Hia chỉ có một người và không có ruộng đất.
Ngay cả trong một dòng họ cũng xẩy ta sự trênh lệch về số chủ ruộng và diện
tích sở hữu. Lấy họ Ma là dòng họ có số lượng đông nhất làm ví dụ: ta thấy
nhóm họ Ma Văn với số chủ ruộng là 53 người trên tổng số 81 chiếm 65,4 %,

Quy mô
Ghi
chú
<1m

1-5m
5-10m
10-20m
Nam 471
2
183
257
29
99,58 (%)
0,42%
38,69%
54,33%
6,14%
Nữ 2
1
1
0,42(%)
0,21%
0,21%
Tỉ số nữ trong từng lớp sở hữu
Tổng 473
0,55%
0,39%
(Nguồn theo thống kê 22 đơn vị địa bạ có niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840)
Giới tính

Trong số 473 chủ sở hữu, chúng tôi thống kê chí có 2 chủ ruộng là nữ và
chỉ sở hữu 11.9. Do địa bàn miền núi còn chịu ảnh hưởng nặng nề của chế độ
Qoằng nên chỉ số chủ nữ so với số chủ nữ ở các huyện khác trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên xưa, như ở huyện Phú Bình, là rất thấp. Tỉ số lần lượt là số chủ


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



5->10
mẫu

10->20 20->40
mẫu
mẫu

Sắc mục (1) 2%

1
2%

2

Xã trưởng (1) 2%

1
2%

3

Lý trưởng (19) 38%

2
4%


6
12%

11
22%

4

Dịch mục (18) 36%

1
2%

5
10%

9
18%

3
6%

5

Hương mục (8) 16%

3
6%


3
6%

2
4%

6

Cai Tổng (2) 4%

2
4%

7

Khán thủ (1) 2%

1
2%

- Mức độ sở hữu ruộng đất theo giới tính
Bảng 2.13: Quy mô sở hữu theo giới tính

1->
5mẫu

1

và sở hữu một diện tích ruộng là 350.5.5.5.1 trên tổng số 510.6.12.3.7, chiếm
hơn 68,63%


Không có
ruộng

8
14
23
5
16%
28%
46%
10%
(Nguồn theo thống kê 22 đơn vị địa bạ có niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840)

50 = 100%

Số lượng chức dịch của huyện Ba Bể tương đối đông đảo nếu so với số
lượng chức dịch ở hai huyện lân cận là Ngân Sơn và Chợ Đồn. Số lượng so
sánh lần lượt là 50 so với 29 và 17. Đồng thời các loại chức sắc cũng đa dạng
hơn. Nếu như ở Ngân Sơn chỉ có Lý Trưởng, dịch mục, còn ở Chợ Đồn là Lý
Trưởng, dịch mục, hương mục, thì ở Ba Bể có sự xuất hiện của cả Sắc mục,
xã trưởng, cai tổng, khán thủ bên cạnh Lý Trưởng, dịch mục, hương mục.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




46


47

Số lượng chức dịch không có ruộng đất chiếm số lượng nhỏ, chỉ có 8/50

- Quy mô sở hữu và các chủ ruộng

người bằng 16%, gồm có sắc mục, xã trưởng, lý trưởng, dịch mục, cai tổng,

Bảng 2.15: Thống kê số chủ có nhiều ruộng nhất và ít ruộng nhất theo

khán thủ.Tất cà những người này không có ruộng đất ở các xã nhậm chức.

địa bạ Minh Mệnh 21 (1840)

Tuy nhiên điều này không có nghĩa là họ không có ruộng cách tác, họ có thể

ĐVT: m.s.th.t.p (Mẫu,sào, thước, tấc,phân)

có ruộng đất ở những xã khác.

Tên làng xã

Chức dịch có sở hữu từ 1 đến 5 mầu có số lượng 14/50 người chiếm
28%. Phần đông nhất là các chức dịch có trên 5 mầu là lớp người khá giả
chiếm số lượng đông nhất 23/50 với 46%.

STT Tên
Tổng

Tên xã


Ngƣời có nhiều ruộng nhất
Họ và tên

1

Nam Mẫu

Hoàng Văn Thành

2

Quảng Khê

Hà Văn Đoàn

3

Bằng Châu

Ma Thế Lưu

hành chính làng xã: bỏ chức xã trưởng và thay bằng lý trưởng, quy định một

4

Đồng Phúc

Nguyễn Văn Tình


Quảng Khê

Trong đó lớp chức dịch có từ 5 đến 10 mẫu, tầng lớp chiếm số lượng
đông nhất là Lý trưởng:“Năm 1828, Minh Mệnh có một số cải tổ về bộ máy

Chức vụ

Diện
tích

Ngƣời có ít ruộng nhất
Họ và tên

2.3.0.0 Dương Văn Quyền

Chức
vụ

Diện
tích

Dịch
0.5.0.0
Mục

14.4.5.0 Ma Văn Vũ

4.6.3.0

Dịch mục 14.1.9.0 Hà Văn Huệ


4.0.0.3
4.7.0.0

Tr. Mỹ Hoà
Bán

Ma Đình Châu

3.0.8.0 Ma Văn Mã

1.5.0.8

6

Xuân Ổ

Nguyễn Văn Nghĩa
Đồng Văn Chương
Bế Lộc Tuyển

4.6.0.0
Lệnh Văn Thái
4.6.0.0
Đồng Văn Vượng
4.6.0.0

3.2.0.0
3.2.0.0


của lý trưởng rất nặng nề: hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc

7

Truyền Cố

quản lý làng xã, thực hiện mọi nghĩa vụ về tô, thuế, phu phen, tạp dịch…song

8

Cao Trĩ

Lý Văn Tiến

11.9.0.0 Dương Hữu Hoằng

8.5.14.0

9

Thượng Giáo

Hoàng Văn Cao

7.8.11.1 Hoàng Văn Dương

2.0.0.0

xã chỉ có 1 lý trưởng và tùy theo pui mô làng xã mà đặt thêm 1 hay 2 phó lý
trưởng. Lý trưởng hay phó lý trưởng phải là những người được dân làng bầu


5

lý trưởng lại không nằm trong hàng ngũ quan chức…” [35, tr.95].

10

Các lý trưởng ở huyện Ba Bể là 19/50 người nhưng số lượng những

11

người có từ 5 mẫu đến 10 mẫu lại chiếm 11/23 người. Điều này thể hiện vai

12

trò quan trọng của tầng lớp lý trưởng trong các làng xã ở Ba bể.
Số chức dịch có sở hữu từ 10 mầu trở lên là 5/50 chiếm 10%. Người có
diện tích lớn nhất là 14.1.9. Tất cả số chức dịch sở hữu lớn đều là dịch mục và

Thượng Giáo

cử ra, được phủ, huyện xét kỹ và được cấp văn bằng, mộc triện. Trách nhiệm

Giao Lang
Lý trưởng 7.8.10.0 Nông Văn Mã

3.2.3.5

Gia Hữu Đề


6.2.0.0 Mê Hữu Trần

4.2.0.0

Xuân Phương

Bùi Chí Tín

8.6.0.0 Phương Văn Vật

1.2.0.0

Nhân Tiếp

Ma Văn Thịnh

15.3.9.0 Triệu Văn Tiên

Địa Linh

Dương Văn Vịnh

Hồng La

13
14
15

Bộc Bố


Gia Hữu Quýnh

Cổ Đạo

Ma Văn Tương
Ma Thị Nhâm
Dương Văn Sử
Ma Văn Tư
Ma Hữu Tuyên
Ma Thế Đoàn

Chư Hoa

Hoàng Văn Mão

16

lớp chức dịch không ai có diện tích ruộng vượt quá 20 mầu, điều này thể hiện
nạn bao chiếm ruộng đất vẫn diễn ra nhưng chưa đến mức qua gay gắt.
17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên



Hà Hiệu

hương mục, những người được làng cử ra, đại diện cho cộng đồng, tiêu biểu
cho bộ máy tự quản của làng xã. Tuy nhiên số ruộng đất nằm trong tay tầng


Hương
mục

15.6.0.0 Nguyễn Văn Bình

Hương
mục
Lý trưởng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11.0.0.0 Hia Hữu Bình

6.1.0.0
Dịch
0.0.0.0
mục

9.0.0.0
9.0.0.0
Ma Văn Nguyên
9.0.0.0
Khuyết danh
9.0.0.0
Khuyết danh
9.0.0.0
9.0.0.0

2.0.0.0
2.0.0.0

2.0.0.0

Nông Hữu Quý
10.4.0.0 Lục Hữu Kim
Đổng Hữu Cầu

3.0.0.0
3.0.0.0
3.0.0.0




×