Đề cương ôn tập
Môn: LÝ LUẬN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Phần I: HÀNH CHÍNH VÀ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Câu 1. Làm rõ những điểm chung và khác biệt giữa quản lý Nhà nước với các dạng
quản lý xã hội khác để chứng tỏ rằng “quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc
biệt”
Quản lý là một hoạt động phức tạp và có nhiều chức năng. Quản lý ở góc độ quản lý học
là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm hướng
hành vi của đối tượng đạt tới mục tiêu đã định trước
QLNN: là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực NN và sử dụng pháp
luật và chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt củ đời sống XH do
các cơ quan trong bộ máy NN thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển
của XH. Quản lý báo gồm 3 dạng: quản lý giới vô sinh, quản lý giới sinh vật, quản lý tổ chức
con người (quản lý xã hội)
Quản lý xã hội gồm các thực thể có tổ chức, có lý trí kết thành hệ thống chặt chẽ. Đây là
dạng quản lý phức tạp nhất nhưng cũng là hoàn thiện nhất vì đối tượng quản lý là con người có
lý trí và mối quan hệ nảy sinh liên tục. Xã hội càng phát triển thì mối quan hệ giữa họ càng
phong phú, đa dạng, phức tạp cả bề rộng lẫn chiều sâu, cả hữu hình lẫn vô hình.
Quản lý Nhà nước là dạng quản lý xã hội nên nó có đặc trưng của quản lý xã hội. Quản lý
Nhà nước cũng như quản lý xã hội bao giờ cũng bao hàm chủ thể và đối tượng. Chủ thể quản lý
đều là các thực tế có tổ chức có lý trí và đối tượng quản lý là con người với đủ bản chất xã hội
của mình.
Quản lý Nhà nước bao giờ cũng có quyền lực.Quyền hành là đặc quyền của chủ thể do tổ
chức trao cho, là phương tiện để chủ thể quản lý Nhà nước hay xã hội tác động lên đối tượng
quản lý. Quản lý Nhà nước mang tính tổ chức giống như các hoạt động quản lý xã hội khác. Tính
tổ chức là nền tảng của hoạt động quản lý.
Quản lý xã hội, quản lý Nhà nước bao giờ cũng phải có thông tin. Thông tin trong quá
trình Nhà nước nói riêng trong quản lý xã hội nói chung là cơ sở căn bản của quản lý các tác
nghiệp quản lý. Quản lý Nhà nước phải có mục tiêu nhất định không nằm ngoài các yếu tố cấu
thành quá trình quản lý xã hội.
Quản lý Nhà nước mang những đặc điểm chung với của quản lý xã hội nhưng quản lý
nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt. Tính chất đặc biệt ấy thể hiện ở sự khác biệt giữa
quản lý Nhà nước với các hoạt động quản lý xã hội khác. So với quản lý của các tổ chức khác,
thì quản lý nhà nước có những điểm khác biệt như sau:
Trước hết, Chủ thể quản lý NN là các CBCC và các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, cơ
quan NN: Lập pháp (Quốc hội và cơ cấu t/c của Quốc hội), Hành pháp (Hệ thống các CQ.HCNN
– HĐND các cấp), Tư pháp (TAND và cơ cấu t/c của TAND, VKSND và cơ cấu tổ chức của
VKS). Còn quản lý xã hội chủ thể của nó là các thực thể có lý trí và có tổ chức đảng, đoàn thể,
các tổ chức khác v.v... Chủ thể của quản lý XH có nhiều chủ thể tham gia quản lý khác nhau
(giám đốc doanh nghiệp, tổ chức chính trị…)
Thứ hai, Đối tượng quản lý của quản lý Nhà nước bao gồm toàn bộ nhân dân, mọi cá
nhân sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia và công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia,
phạm vi của nó mang tính toàn diện trên mọi lĩnh vực. Còn đối tượng quản lý của quản lý xã hội
nó bao gồm các cá nhân, các nhóm trong phạm vi một tổ chức.
Thứ ba, Quản lý Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng pháp luật làm công
cụ chủ yếu để duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển. Quản lý xã hội mang tính quyền
lực xã hội sử dụng các quy phạm quy chế nội bộ để điều chỉnh các quan hệ.
Thứ tư, QLNN là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao;
Thứ năm, mục tiêu của quản lý NN là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển
của toàn XH.
Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc
biệt, mang tính quyền lực NN và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá
nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống XH do các CQ trong bộ máy HCNN thực hiện
nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của XH.
Câu 2. Trình bày các quan niệm về HCNN?
Hành chính nhà nước là hoạt động quản lý của chính phủ nhằm giải quyết những công
việc công cộng, cung cấp dịch vụ công cộng. Hành chính nhà nước là hoạt động quản lý của các
tổ chức quản lý công cộng, chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước
HCNN là sự tổng hòa các hoạt động quản lý của chính phủ, là quản lý và giám sát của
các cơ quan quản lý công cộng mà chủ yếu là chính phủ đối với công việc công cộng. Hành
chính bao gồm 2 mặt quản lý của chính phủ đối với công việc công cộng và sự quản lý của chính
phủ đối với bản thân.
Hành chính NN là một thiết chế được tạo thành bởi một hệ thống các pháp nhân công
quyền gồm chính phủ các bộ, UBND, các công sở hành chính và sự nghiệp có thẩm quyền tổ
chức và điều hành mọi quá trình KT-XH và mọi hành vi của các tổ chức và các công dân bằng
văn bản pháp quy dưới luật để thi hành luật.
Tóm lại: Hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là
hoạt động chấp hành và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước trong quản lý xã hội theo
khuôn khổ pháp luật nhà nước nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã
hội.
Câu 3. Phân tích khái niệm HCNN?
Hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của nhà nước, là sự tác động
có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của NN đối với các quá trình XH và hành vi
con người do các chủ thể QLHCNN tiến hành.
- Quyền hành pháp là một trong ba nhánh quyền lực NN (lập pháp, tư pháp, hành pháp).
Đó là quyền sử dụng quyền lực NN để thi hành pháp luật và tổ chức đời sống xã hội theo khuôn
khổ PL đã quy định. Thực thi quyền hành pháp được trao cho những CQ cụ thể. Hệ thống của
các CQ này có thể có những tên gọi khác nhau, song chung nhất là Chính phủ. Ví dụ: ở Việt
Nam, theo Hiến pháp 1992, Chính phủ là CQ chấp hành của Q.hội, CQ.HCNN cao nhất. Điều đó
cũng có nghĩa đây là CQ phải có trách nhiệm thực hiện, tổ chức thực hiện các QĐ của Quốc hội
(Hiến pháp, Luật và các Nghị quyết). Hệ thống các CQ hành pháp thực hiện Luật, ban hành và
thực hiện một hệ thống các văn bản pháp quy (quy tắc, quy chế, luật lệ) để quản lý xã hội. Cách
thức tổ chức hệ thống các CQ hành pháp do luật pháp quy định và có nhiều loại CQ khác nhau.
Nó bao gồm hệ thống các Bộ, CQ ngang Bộ, các CQ độc lập (thuộc Chính phủ) và nhiều loại CQ
khác. Các CQ này được trao quản lý các vấn đề chung của quốc gia thông qua hệ thống văn bản
pháp luật.
- HCNN chính là hành pháp trong hành động.
Sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của NN biểu hiện: HCNN
là 1 hệ thống được tổ chức dọc từ TW đến cơ sở, mang tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ. HCNN
được sử dụng quyền lực NN, sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu (ngoài pháp luật ra
còn có các công cụ khác): hiến pháp, luật, bộ luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư…
HCNN do các chủ thể quản lý HCNN tiến hành, chủ thể đó là:
- Các cơ quan HCNN: Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND các cấp, sở ban
ngành.
- CBCC trong các cơ quan HCNN: cán bộ (bầu cử) làm việc theo nhiệm kỳ như Thủ
tướng Chính phủ, chủ tịch, phó chủ tịch, còn Bộ trưởng do phê chuẩn, bổ nhiệm. Công chức do
luân chuyển, điều động, bổ nhiệm. Viên chức thì không nằm trong lãnh đạo, quản lý, làm việc
trong cơ quan Đảng CSVn, các đơn vị sự nghiệp.
- Các cá nhân và tổ chức được NN trao quyền: các tổ chức chính trị như Liên đoàn lao
động.
Câu 4. Anh (chị) hãy phân tích các đặc trưng cơ bản của quản lý hành chính nhà
nước ở Việt Nam. Theo anh chị những đặc trưng nào chưa thực hiện rõ nét ở Việt Nam
hiện nay.
Hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, đó là hoạt
động chấp hành và điều hành của hệ thống hành chính nhà nước trong quản lý xã hội theo khuôn
khổ pháp luật nhà nước nhằm phục vụ nhân dân, duy trí sự ổn định và phát triển của xã hội.
Hành chính nhà nước của mỗi quốc gia phụ thuộc vào những đặc trưng của thể chế chính
trị và thể chế nhà nước nên có những nét riêng. Việt Nam là một quốc gia có thể chế chính trị và
thể chế nhà nước của một nhà nước Xã hội chủ nghĩa nên hành chính nhà nước có 7 đặc trưng
sau :
Tính lệ thuộc vào chính trị :Nền hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành hệ thống
chính trị, là công cụ để thực hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng
và thực hiện ý chí của nhân dân trong xã hội dân chủ dưới sự lãnh đạo của đảng cầm quyền. Vì
vậy hành chính nhà nước mang bản chất chính trị, phải phục tùng và phục vụ chính trị. Ở Việt
Nam, hành chính nhà nước phải chấp hành các quyết định của các cơ quan quyền lực nhà nước,
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên, hành chính nhà nước cũng có tính
độc lập tương đối nhất định, thể hiện ở tính chuyên môn, kỹ thuật; cán bộ công chức hành chính
nhà nước vận dụng hệ thống tri thức khoa học vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
như: Quản trị học, khoa học quản trị nhân sự, kinh tế học, luật học, chính trị học, tâm lý học, xã
hội học…
Tính pháp quyền: Trong một xã hội dân chủ, để bảo vệ quyền tự do dân chủ của người
dân, cần phải xây dựng nhà nước trở thành nhà nước pháp quyền. Trong nhà nước pháp quyền
thì hệ thống pháp luật là tối cao, mọi chủ thể xã hội đều phải hoạt động trên cơ sở pháp luật và
tuân thủ pháp luật . Với tư cách là chủ thể quản lý xã hội, hành chính nhà nước càng phải hoạt
động trên cơ sở pháp luật và có trách nhiệm thi hành pháp luật.
Tính pháp quyền đòi hỏi các chủ thể hành chính nhà nước sử dụng đúng đắn quyền lực,
thực hiện đúng chức năng và quyền hạn được trao khi thi hành công vụ. Đồng thời luôn chú
trọng đến việc nâng cao uy tín chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực trí tuệ, phải kết hợp chặt
chẽ yếu tố thẩm quyền và uy quyền để nâng cao được hiệu lực và hiệu quả của một nền hành
chính phục vụ dân .
Tính liên tục, ổn định tương đối và thích ứng: nền hành chính nhà nước có nghĩa vụ phục
vụ dân, lấy phục vụ công vụ và nhân dân là công việc hàng ngày, thường xuyên, cho nên hành
chính nhà nước phải đảm bảo tính liên tục để thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của nhân dân, của xã
hội và phải ổn định tương đối trong tổ chức và hoạt động để đảm bảo hoạt động không bị gián
đoạn trong bất kỳ tình huống chính trị - xã hội nào, đồng thời cũng cần được thay đổi để thích
ứng với sự thay đổi của môi trường, của xã hội .
Tính chuyên nghiệp: Hành chính nhà nước có tính chuyên môn hóa và nghề nghiệp cao,
HCNN không chỉ được coi là một nghề mà còn được coi là một nghề tổng hợp phức tạp nhất
trong các nghề, nhà hành chính không chỉ có chuyên môn sâu mà phải có nhiều kiến thức rộng
trên nhiều lĩnh vực phải có kiến thức và các kỹ năng hành chính, có tác phong làm việc và thái
độ đúng đắn trong phục vụ đất nước và phục vụ nhân dân. Xây dựng và tuyển chọn đội ngũ
những người vào làm việc trong các CQHCNN có năng lực, trình độ chuyên môn đáp ứng tốt
nhất những đòi hỏi của h.động QLNN là một trong những vấn đề khó khăn hiện nay của các
nước nói chung và của Việt Nam nói riêng. Những người làm việc trong các CQNN nói chung
và HCNN nói riêng phải “vừa hồng, vừa chuyên” là mục tiêu của công tác cán bộ trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ: Bộ máy hành chính nhà nước là một hệ thống thứ bậc
chặt chẽ, được thiết kế theo hình tháp, gồm nhiều cơ quan hành chính được cấu trúc theo hệ
thống dọc từ trung ương đến cơ sở, đồng thời đây là một hệ thống có tính trật tự, kỷ luật cao,
thông suốt từ trên xuống dưới , cấp dưới phục tùng, nhận chỉ thị và chịu sự kiểm soát thường
xuyên của cấp trên trực tiếp. Tuy vậy, hệ thống này cũng có tính linh hoạt tương đối để không
trở thành một hệ thống xơ cứng và quan liêu. Nền hành chính Việt Nam hình thành một hệ thống
chặt chẽ từ Trung ương gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ đến địa phương bao gồm các
Uỷ ban nhân dân các cấp và các cơ quan trực thuộc. Các cơ quan ở địa phương phải chịu sự quản
lý và kiểm tra của các cơ quan Trung ương, bên cạnh đó các cơ quan chuyên môn phải chịu sự
quản lý song trùng.
Tính không vụ lợi: Hành chính nhà nước không có mục đích tự thân, nó tồn tại là vì xã
hội, nó có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công và lợi ích nhân dân. Do đó không đòi hỏi người được
phục vụ thù lao, không theo đuổi theo lợi nhuận. Vì vậy hành chính hoạt động phải vô tư, tận
tâm, trong sạch. Tại Việt Nam, nền hành chính phục vụ hết mình cho công dân, nó không hề vụ
lợi và ngày nay đang đấu tranh để làm cho nền hành chính Việt Nam ngày càng trong sạch và vì
lợi ích cộng đồng hơn nữa.
Tính nhân đạo: Nhà nước Việt Nam có bản chất là Nhà nước của nhân dân và do nhân
dân, vì dân vì vậy tôn trọng quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân là xuất phát điểm của hệ
thống lật, thể chế quy tắc, thủ tục hành chính. Các công chức không được quan liêu, cửa quyền,
hách dịch, gây phiên hà cho dân khi thi hành công vụ. Mặt khác, hiện nay chúng ta xây dựng nền
kinh tế thị trường nên nền hành chính càng đảm bảo tính nhân đạo để hạn chế tối đa mạt trái của
nền kinh tế thị trường, thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển bền vững.
*Những đặc trưng chưa thực hiện rõ nét ở Việt Nam:
- Tính pháp quyền chưa thể hiện rõ nét, vì: cán bộ công chức chưa làm việc theo pháp
luật. Hiện nay, các văn bản pháp luật ở Việt Nam vẫn còn nhiều kẻ hở, các luật sự mỗi khi nhận
bào chữa các vụ kiện vẫn thường dựa vào những kẻ hờ này để bào chữa cho thân chủ của mình.
- Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao chưa thể hiện rõ nét, Vì: Tìm tổng kết báo
cáo trình độ công chức 2010 để liên hệ…. CBCC vẫn chưa thật sự chuyên nghiệp, vẫn có CBCC
làm thêm nghề khác.
Câu 5. Hành chính NN ở Việt Nam cần tuân thủ những nguyên tắc nào trong tổ
chức và hoạt động của mình? Phân tích 1 nguyên tắc?
KN: Nguyên tắc HCNN là các quy tắc, những tư tưởng chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi
đòi hỏi các chủ thể HCNN phải tuân thủ trong tổ chức và hoạt động HCNN.
Nguyên tắc hoạt động là những tư tưởng chỉ đạo nền tảng cơ bản của một tổ chức, trong hđ quản
lý các nhà quản lý đầu phải tìm kiếm các nguyên tắc cần thiết nhằm đảm bảo hiệu quả hđ của tổ chức.
Xuất phát từ thực tiễn VN, trong hđ quản lý NN trên cơ sở nguyên tắc chỉ đạo đã được khẳng
định qua thực tiễn của cmVN là “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ và NN quản lý” và có sự nghiên cứu,
áp dụng những thành tựu của hành chính học và kinh nghiệm hoạt động của nhiều nền hành chính trên thế
giới, có thể đúc kết và rút ra các nguyên tắc sau đây của nền hánh VN cần tuân thủ trong tổ chức và hoạt
động, gồm có 7 nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với HCNN
- Nguyên tắc ND làm chủ trong QLHC
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Nguyên tắc kết hợp giữa QLHC với quản lý lãnh thổ
- Nguyên tắc phân định giữa quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý kinh doanh của
doanh nghiệp nhà nước.
- Nguyên tắc pháp chế XHCN
- Nguyên tắc công khai minh bạch.
Phân tích: Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với hành chính nhà nước:
a) Cơ sở pháp lý
Ðiều 4-Hiến pháp 1992 quy định: Ðảng cộng sản Việt Nam-đội ngũ tiên phong của giai
cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh
đạo nhà nước và xã hội.
b) Nội dung nguyên tắc
Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự lãnh đạo của Ðảng là hạt nhân của mọi thắng lợi của cách
mạng Việt Nam. Bằng những hình thức và phương pháp lãnh đạo của mình, Ðảng cộng sản giữ
vai trò quyết định đối với việc xác định phương hướng hoạt động của nhà nước trên mọi lĩnh
vực; sự lãnh đạo của Ðảng đối với nhà nước mang tính toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hóa xã
hội...Sự lãnh đạo đó chính là việc định hướng về mặt tư tưởng, xác định đường lối, quan điểm
giai cấp, phương châm, chính sách, công tác tổ chức trên lĩnh vực chuyên môn.
Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện cụ thể ở các hình
thức hoạt động của các tổ chức Ðảng:
1. Trước hết, Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước bằng việc đưa ra đường
lối, chủ trương, chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý hành
chính nhà nước. Trên cơ sở đường lối chủ trương, chính sách của Ðảng. Các chủ thể quản lý
hành chính nhà nước xem xét và đưa ra các quy định quản lý của mình để từ đó đường lối, chủ
trương, chính sách của Ðảng sẽ được thực hiện hóa trong quản lý hành chính nhà nước. Trên
thực tế, đường lối cải cách hành chính nhà nước được đề ra trong nghi quyết đại hội đại biểu
Ðảng cộng sản Việt nam lần thứ VI và thứ VII và trong Nghị quyết trung ương khoá VIII về xây
dựng, hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, mà trọng tâm là cải cách một
bước nền hành chính quốc gia là kim chỉ nam cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
2. Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong công tác tổ chức cán
bộ. Các tổ chức Ðảng đã bồi dưỡng, đào tạo những Ðảng viên ưu tú, có phẩm chất và năng lực
gánh vác những công việc trong bộ máy hành chính nhà nước, đưa ra các ý kiến về việc bố trí
những cán bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước. Tuy
nhiên vấn đề bầu, bổ nhiệm được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước theo trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định, ý kiến của tổ chức Ðảng là cơ sở để cơ quan xem xét và đưa ra quyết định
cuối cùng.
3. Ðảng lãnh đạo trong quản lý hành chính nhà nước thông qua công tác kiểm tra việc
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước. Thông
qua kiểm tra xác định tính hiệu quả, tính thực tế của các chủ trương chính sách mà Ðảng đề ra từ
đó khắc phục khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo.
4. Sự lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước còn được thực hiện thông
qua uy tín và vai trò gương mẫu của các tổ chức Ðảng và của từng Ðảng viên. Ðây là cơ sở nâng
cao uy tín của Ðảng đối với dân, với cơ quan nhà nước.
5. Ðảng chính là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân. Sự lãnh đạo của Ðảng là cơ sở bảo
đảm sự phối hợp của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội, lôi cuốn nhân dân lao động tham
gia thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước ở tất cả các cấp quản lý.
6. Ðây là nguyên tắc cơ bản trong quản lý hành chính nhà nước, cần được vận dụng một
cách khoa học và sáng tạo cơ chế Ðảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ trong
quản lý hành chính nhà nước, tránh khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò lãnh đạo của Ðảng cũng
như khuynh hướng hạ thấp vai trò lãnh đạo của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước. Vì
vậy, đường lối, chính sách của Ðảng không được dùng thay cho luật hành chính, Ðảng không
nên và không thể làm thay cho cơ quan hành chính nhà nước. Các nghị quyết của Ðảng không
mang tính quyền lực- pháp lý. Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước
không thể tách rời sự lãnh đạo của Ðảng.
Câu 6. Phân tích nội dung các nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của HCNN
Việt Nam và đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc đó?
Nguyên tắc hành chính nhà nước là các quy tắc, tư tưởng chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành
vi có tính chất bắt buộc tuân thủ đối với cơ quan và cán bộ công chức hành chính nhà nước trong
tổ chức và hoạt động hành chính nhà nước.
Trong tổ chức và hoạt động của hành chính nhà nước phải tuân thủ các nguyên tắc sau :
Nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với hành chính nhà nước: Hệ thống chính trị XHCN VN là
hệ thống chính trị nhất nguyên trong đó chỉ tồn tại một đảng là ĐCSVN , ĐCSVN là Đảng cầm
quyền giữ vai trò lãnh đạo toàn dân, toàn diện bao gồm chính trị, KT-XH, QPAN, ngoại giao. Sự
lãnh đạo của Đảng đối với hành chính nhà nước được thể hiện trên các nội dung sau:
- Đảng đề ra đường lối, chủ trương định hướng cho quá trình tổ chức và hoạt động của
hành chính nhà nước.
- Đảng phát hiện và đào tạo, đào tạo những người có phẩm chất và năng lực và giới thiệu
vào đảm nhận các chức vụ trong bộ máy nhà nước thông qua con đường bầu cử dân chủ.
- Đảng kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chủ trương
đường lối chủ trương của đảng.
- Các cán bộ, đảng viên và các tổ chức Đảng gương mẫu trong việc thực hiện đường lối,
chủ trương của Đảng.
Nguyên tắc này một mặt đòi hỏi trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước nói chung
và hành chính nhà nước nói riêng phải thừa nhận chịu sự lãnh đạo của đảng . Để đảm bảo sự lãnh
đạo của đảng , hành chính nhà nước có trách nhiệm đưa đường lối, chủ trương của đảng vào thực
tiễn đời sống xã hội và đảm bảo sự kiểm tra của tổ chức đảng đối với hành chính nhà nước.
Nguyên tắc nhân dân làm chủ trong quản lý hành chính: Nhà nước CHXHCNVN là nhà
nước của dân do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhà nước là công cụ thực
hiện quyền làm chủ của nhân dân, vì vậy trong hoạt động hành chính nhà nước phải đảm bảo sự
tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động hành chính nhà nước. Nguyên tắc này đòi
hỏi :
- Tăng cường và mở rộng sự tham gia trực tiếp của công dân vào việc giải quyết các công
việc của nhà nước
- Nâng cao chất lượng của hành thức dân chủ đại diện để các cơ quan này thực sự đại
diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân
- Hành chính nhà nước có trách nhiệm tạo ra cơ sở pháp lý và các điều kiện tài chính, vật
chất … cho các tổ chức xã hội hoạt động, định ra những hình thức và biện pháp để thu hút sự
tham gia của các tổ chức xã hội, nhân dân tham gia vào hoạt động hành chính nhà nước.
Nguyên tắc tập trung dân chủ : Đây là nguyên tắc cơ bản và áp dụng cho tất cả các cơ
quan nhà nước và tổ chức của nhà nước trong đó có cơ quan hành chính nhà nước. Nguyên tắc
này xuất phát từ 2 yêu cầu khách quan của quản lý:
- Đảm bảo tính thống nhất của hệ thống lớn (Quốc gia, ngành, địa phương, cơ quan, đơn
vị, bộ phận).
- Đảm bảo sự phù hợp với đặc thù của hệ thống con lệ thuộc (từng ngành, từng địa
phương, từng cơ quan, từng đơn vị, bộ phận, cá nhân).
Nguyên tắc này tạo khả năng kết hợp quản lý xã hội một cách khoa học với việc phân cấp
quản lý cụ thể, từng cấp, từng khâu, từng bộ phận.
Tập trung trong hành chính NN được thể hiện trên các nội dung :
- Tổ chức bộ máy HCNN , cơ quan HCNN theo hệ thống thứ bậc
- Thống nhất chủ trương , chính sách, chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển
- Thống nhất các quy chế quản lý
- Thực hiện chế độ một thủ trưởng hoặc trách nhiệm cá nhân người đứng đầu ở tất cả các
cấp, đơn vị.
Dân chủ trong HCNN là sự phát huy trí tuệ của các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị và
các cá nhân tổ chức và hoạt động hành chính , tính dân chủ được thể hiện cụ thể ở :
- Cấp dưới được tham gia thảo luận góp ý kiến trong những vấn đề quản lý
- Cấp dưới được chủ động , linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu
trách nhiệm trước cấp trên về việc thực hiện nhiệm vụ của mình
Hai nội dung tập trung và dân chủ liên quan hữu cơ với nhau, tác động và bổ trợ cho
nhau, tập trung trên khuôn khổ dân chủ và dân chủ trong khuôn khổ tập trung. Thực hiện nguyên
tắc này đòi hỏi sự hài hòa hai nội dúng trên để tạo ra sự nhất trí giữa người chỉ huy và người thừa
hành.
Nguyên tắc kết hợp giữa quản lý ngành với quản lý lãnh thổ: Trong xã hội xuất hiện hai
xu hướng khách quan có qun hệ mật thiết với nhau và thúc đẫy sản xuất xã hội phát triển đó là:
chuyên môn hóa theo ngành và phân bố sản xuất theo địa phương, vùng lãnh thổ. Vì vậy trong
quản lý nhà nước cần phải kết hợp giữa quản lý ngành với quản lý theo lãnh thổ.
Hành chính nhà nước đối với ngành là điều hành hoạt động của ngành theo các qui trình công
nghệ, quy tắc kỹ thuật, nhằm đạt được các định mức về kinh tế- kỹ thuật đặc thù của ngành. Nội
dung của quản lý ngành bao gồm :
- Định hướng cho sự phát triển của ngành thông qua hoạch định , chiến lược, qui hoạch,
kế hoạch phát triển.
- Tạo môi trường pháp lý phù hợp cho sự phát triển của ngành thông qua việc ban hành
văn bản qui phạm pháp luật, các qui tắc quản lý , các qui định chuyên môn kỹ thuật.
- Khuyến khích hỗ trợ và điều tiết sự phát triển của ngành thông qua việc ban hành chính
sách tài trợ hạn ngạnh, nghiên cứu và đào tạo …
- Hướng dẫn thực hiện các văn bản quản lý nhà nước.
- Ngăn ngừa phát hiện và khắc phục những tiêu cực phát sinh trong phạm vi ngành thông
qua hoạt động thanh tra, kiểm tra.
Hành chính nhà nước địa phương và vùng lãnh thổ là hành chính tổng hợp và toàn diện
về các mặt chính trị , kinh tế, văn hóa, xã hội của một khu vực dân cư trên địa bàn lãnh thổ đó ,
có nhiều cơ quan trong tổ chức hoạt động.
Nguyên tắc phân định giữa quản lý nhà nước về kinh tế và quản lý kinh doanh của doanh
nghiệp nhà nước: Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp nhà nước được trao
quyền tự chủ kinh doanh theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của
Nhà nước, nên vai trò của nhà nước là định hướng, hỗ trợ và điều chỉnh hoạt động của các doanh
nghiệp, không can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước như trước đây
vì vậy cần phải phân định và tổ chức tốt chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp nhà
nước.
Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước không can thiệp vào nghiệp vụ
kinh doanh, phải tôn trọng tính độc lập và tự chủ của các đơn vị kinh doanh, còn các đơn vị kinh
doanh trong việc thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước, tuân theo pháp luật của nhà nước và chịu sự điều chỉnh bằng
pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước. Tuy cần phân biệt giữa quản lý nhà nước về
kinh tế và quản lý kinh doanh song hai mặt đó không tách rời mà kết hợp với nhau trong hệ
thống kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế của nàh nước XHCN.
Nguyên tắc pháp chế XHCN: Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức và hoạt động hành chính
nhà nước phải dựa trên cơ sở pháp luật của nhà nước cụ thể :
- Hành chính nhà nước phải chịu sự giám sát của các cơ quan lập pháp, tư pháp và xã hội.
- Tổ chức và hoạt động HCNN trong phạm vi do pháp luật quy định không vượt quá
thẩm quyền.
- Các hành vi hành chính phải được tiến hành trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định .
- Các quyết định quản lý HCNN được ban hành đúng pháp luật .
Nguyên tắc công khai minh bạch : Công khai là việc cơ quan tổ chức, đơn vị thông tin chính
thức về văn bản , hoạt động hoặc nội dung nhất định, tất cả những thông tin của hành chính nhà
nước phải được công khai cho người dân trừ trường hợp có quy định cụ thể với lý do hợp lý và
trên cơ sở những tiêu chí rõ ràng.
Minh bạch trong hành chính là những thông tin phù hợp được cung cấp kịp thời cho nhân
dân dưới hình thức dễ sử dụng , đồng thời các qui định và quyết định của hành chính nhà nước
phải rõ ràng và được phổ biến đầy đủ. Tính minh bạch là điều kiện kiên quyết để hành chính nhà
nước có trách nhiệm thực sự trước nhân dân và giúp nâng cao khả năng dựu báo của người dân,
nếu không minh bạch sẽ dẫn đến sự tùy tiện hoặc sai lầm trong việc thực thi quyền hạn, có
những giao dịch không trung thực, những dự án đầu tư sai lầm, dẩn đến quan liêu tham nhũng ,
sự minh bạch sẽ giúp xây dựng một nền hành chính cởi mở có trách nhiệm, ngăn chặn được
tham nhũng trong hành chính nhà nước.
Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các tổ chức và đơn vị khi xây dựng, ban
hành và tổ chức thực hiện chính sách pháp luật phải được tiến hành công khai, minh bạch , đảm
bảo công bằng, dân chủ theo qui định của pháp luật.
Đánh giá kết quả thực hiện các nguyên tắc này ở nước ta hiện nay: ưu điểm và hạn chế (đang cập
nhật)
Phần II: THỂ CHẾ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Câu hỏi 7. Nền HCNN được cấu thành bởi các yếu tố nào? Phân tích mối quan hệ
giữa các yếu tố đó?
Nền HCNN là khái niệm dùng để chỉ tập hợp tất cả các yếu tố bao gồm: hệ thống thể chế
hành chính nhà nước, hệ thống các cơ quan HCNN, đội ngũ nhân sự làm việc trong các cơ quan
hành chính nhà nước và các nguồn lực vật chất cần thiết bảo đảm cho việc thực hiện nhiệm vụ
quản lý hành chính nhà nước của các cơ quan nhà nước.
Thể chế HCNN:
Nghĩa hẹp: thể chế hành chính nhà nước là toàn bộ các quy định, quy tắc do nhà nước
ban hành để điều chỉnh các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tạo nên hành lang pháp lý
cho tất cà các hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước và các cán bộ công chức có
thẩm quyền.
Nghĩa rộng: thể chế hành chính nhà nước bao gồm bộ máy cơ quan hành chính nhà nước
và cơ chế hoạt động của các cơ quan này do nhà nước xác lập.
Hệ thống thể chế hành chính nhà nước là toàn bộ các quy định, quy tắc do nhà nước ban hành để
điều chỉnh các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tạo nên hành lang pháp lý cho tất cả các
hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước và các cán bộ, công chức có thẩm
quyền.
Bộ máy HCNN: Bộ máy hành chính nhà nước là hệ thống các cơ quan HCNN từ TW đến
cơ sở có nhiệm vụ thực thi quyền hành pháp và sự phối hợp với các cơ quan lập pháp và tư pháp
trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Nhân sự HCNN: Hiểu theo nghĩa rộng nhất, đội ngũ nhân sự làm việc trong bộ máy hành
chính nhà nước là tất cả những người lao động làm việc để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
bộ máy hành chính nhà nước. Họ có thể có những quan hệ lao động khác nhau với cơ quan nhà
nước.
Tài chính công: là các hoạt động thu và chi bằng tiền của NN, phản ánh các mối quan hệ
kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của NN nhằm
thực hiện các chức năng vốn có của NN đối với XH.
Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nền HCNN:
Nền HCNN là một thể thông nhất, một cấu trúc để thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào
quản lý đời sống XH, do đó, các yếu tố cấu thành nên HCNN có một mối liên hệ gắn bó hữu cơ,
không thể tách rì và có ảnh hưởng lẫn nhau.
Một cơ cấu tổ chức dù tốt cũng không có giá trị nếu những nhân viên làm việc trong đó
không đủ năng lực đạo đức tốt hoặc không được khuyến khích đầy đủ để làm việc.
Ngược lại, những nhân viên đầu đủ năng lực và phẩm chất nếu để làm việc trong một bộ
máy quan liêu, chồng chéo và trì trệ sẽ không thể phát huy được tối đa tài năng của mình và dễ
dẫn tới chán nản.
Bất kỳ hoạt động nào cũng không thể tiến hành được nếu thiếu những nguồn lực vật chất
và tài chính cần thiết.
Các yếu tố: TCBM, NS.HCNN và TCC không thể vận hành tốt nếu không có các quy
định chặt chẽ, khoa học và hợp lý.
Câu 8. Anh chị hãy phân tích khái niệm thể chế hành chính nhà nước ?
Thể chế là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến hiện nay nhưng với các cách hiểu
rất khác nhau, chưa có sự thống nhất.
Hiểu theo nghĩa rộng: Thể chế như một cấu trúc tổng thể các yếu tố để tiến hành hoạt
động của một tổ chức bao gồm cả tổ chức bộ máy với những quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền
hạn, quy tắc hoạt động buộc các thành viên trong tổ chức phải chấp hành và thậm chí cả hoạt
động của các thành viên của tổ chức.
Hiểu theo nghĩa hẹp: thể chế chỉ bao gồm các quy định, chế tài( có thể được ban hành
văn bản hoặc không) tạo nên hành lang pháp lý cho hoạt động của một tổ chức nào đó.
Thể chế bao gồm thể chế tư và thể chế nhà nước.
- Thể chế tư: Là toàn bộ các quy định mang tính quy phạm của các thực thể ngoài nhà
nước để thực hiện các chức năng quản lý xã hội trong phạm vi các thực thể nhằm duy trì tính kỷ
luật trong tổ chức và hoạt động.
- Thể chế nhà nước: Là toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật nhằm tạo khuôn khổ pháp lý
để bộ máy nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với toàn xã hội để cá nhân và tố
chức sống và làm việc theo pháp luật. Những văn bản pháp lý này do nhà nước ban hành và được
đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước
Khái niệm thể chế hành chính nhà nước :
Nghĩa rộng: thể chế hành chính nhà nước bao gồm bộ máy cơ quan hành chính nhà nước
và cơ chế hoạt động của các cơ quan này do nhà nước xác lập.
Nghĩa hẹp: thể chế hành chính nhà nước là toàn bộ các quy định, quy tắc do nhà nước
ban hành để điều chỉnh các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tạo nên hành lang pháp lý
cho tất cà các hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước và các cán bộ công chức có
thẩm quyền. Thể chế hành chính nhà nước bao gồm:
- Hệ thống các quy định xác định mối quan hệ quản lý của nhà nước đối với các đối
tượng trong xã hội ( quy định hoạt động điều tiết của Nhà nước đối với mọi mặt của đồi sống xã
hội);
- Hệ thống quy định quản lý nội bộ nền hành chính ( xác lập chứ năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước; quy định về ban hành quyết định quản lý hành
chính nhà nước; quy định về công vụ, công chức,…)
- Hệ thống thủ tục hành chính ( qua định cách thực giải quyết mối quan hệ giữa cơ quan
nhà nước với nhau và giữa cơ quan nhà nước với công dân và tổ chức khác).
- Các quy định về tài phán hành chính.
*Phân tích nội dung của khái niệm :
Về bản chất, thể chế hành chính nhà nước là tổng hợp các quy định chính của Nhà nước
như Hiến pháp, Luật, pháp lệnh, các văn bản dưới luật…) do Nhà nước ban hành nhằm mục đích
tạo khuôn khổ pháp lý cho các cơ quan hành chính thực hiện chức năng hành pháp và cho mọi cá
nhân và tổ chức sống và làm việc theo pháp luật. Chủ thể ban hành thể chế HCNN là NN (Quốc
hội), cơ quan HCNN.
Các yếu tố cấu thành thể chế :
-Thể chế quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ máy hành
chính nhà nước
-Thể chế quy định chế độ công vụ công chức
-Thể chế để quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực
-Thể chế quy định mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các cá nhân, tố
chức thông qua các thủ tục hành chính
-Thể chế quy định về chế độ tài phán hành chính.
Câu 9. Anh chị hãy phân tích vai trò của thể chế HCNN. Theo anh chị để làm tốt
những vai trò đó cần quan tâm hoàn thiện những vấn đề gì đối với thể chế HCNN ở Việt
Nam hiện nay?
Thể chế hành chính nhà nước là toàn bộ các quy định, quy tắc do nhà nước ban hành để
điều chỉnh các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tạo nên hành lang pháp lý cho tất cả các
hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước và các cán bộ công chức có thẩm quyền.
Vai trò của thể chế HCNN có 5 vai trò:
Thể chế HCNN là cơ sở cho việc xây dựng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà
nước:
Các cơ quan HCNN được thành lập theo hiến pháp, luật, các văn bản dưới luật.
Hiến pháp, luật các văn bản dưới luật cũng quy định rõ sự phân chia chức năng, quyền
hạn giữa các cơ quan HCNN các cấp, mối quan hệ giữa các cơ quan, thẩm quyền ban hành
văn bản pháp luật. Thể chế HCNN càng rõ ràng thì cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan HCNN các
cấp càng cụ thể, rõ ràng gọn nhẹ, việc phân chia thẩm quyền, trách nhiệm, chức năng, nghĩa vụ
trong hoạt động quản lý nhà nước các cơ quan càng có hiệu quả. Đây là cơ sở xây dựng cơ cấu tổ
chức bộ máy nhà nước. Thiếu các quy định cụ thể khoa học trong việc phân chia quyền hạn,
trách nhiệm nghĩa vụ trong hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan HCNN sẽ làm cho bộ
máy HCNN cồng kềnh, chức năng nhiệm vụ chồng chéo dẫn đến bộ máy hoạt động kém năng
lực, hiệu lực, hiệu quả. Thể chế HCNN là cơ sở pháp lý để xác lập và quản lý nhân sự trong
HCNNYếu tố con người trong tổ chức nói chung và trong cơ quan HCNN nói riêng có ý nghĩa
vô cùng quan trọng. Con người trong bộ máy nhà nước được đặt vào những vị trí khác nhau và
chia làm ba loại công chức lãnh đạo, công chức tham mưu và công chức thi hành công vụ. Thể
chế quy định sự phân loại công chức theo ngạch, theo trình độ đào tạo. Thể chế HCNN quy định
tiêu chuẩn cho các chức danh, tiêu chuẩn cán bộ cho các vị trí trong bộ máy HCNN là cơ sở để
bố trí CB – CC đúng người, đúng việc, đúng vị trí.. Thể chế HCNN cũng là cơ sở pháp lý quy
định nghĩa vụ, quyền lợi, nội dung hệ thống quản lý nhân sự.
Thể chế HCNN là căn cứ để xác lập mức độ và phạm vi can thiệp của Nhà nước đối với
hoạt động của các đối tượng trong xã hội.
Hoạt động quản lý của cơ quan HCNN là sự tác động của quyền lực nhà nước tới các chủ
thế trong xã hội, nó mang tính công quyền, có đặc trưng cưỡng chế kết hợp giáo dục thuyết phục.
HCNN đòi hỏi công dân, tổ chức trong quá trình thực hiện công vụ phải tuân theo pháp luật.
Hệ thống HCNN pháp quyền XHCN ở nước ta hoạt động theo pháp luật, phân biệt lợi ích
công, tập thể, cá nhân, tổ chức trong một hệ thống quyền lực nhà nước thông nhất với nhau. Và
trong xã hội hiện đại, một nền hành chính hiện đại phục vụ một xã hội, phục vụ công đang được
phát triển theo nguyên tắc “ nhà nước và nhân dân cùng làm”, ở nhà nước đó hệ thống HCNN
đóng vai trò là người cầm lái, kiểm tra, kiểm soát việc tuân theo pháp luật của mọi chủ thể, cá
nhân, tổ chức.
Thể chế HCNN với một hệ thống pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành ngày càng được bổ sung, phát triển, hoàn thiện hơn là cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý
HCNN các cấp hoạt động quản lý, đảm bảo cho sự thống nhất quản lý của HCNN trên phạm vi
quốc gia.
Thể chế HCNN là cơ sở để xác lập mối quan hệ giữa nhà nước với công dân và tổ chức
trong xã hội
Nhà nước không thực hiện chức năng cai trị mà còn phải thực hiện chức năng dịch vụ,
công chức nhà nước là công bọc của nhân dân. Quan hệ giữa nhà nước và công dân, tố chức xã
hội mà không được xác lập cụ thể bằng thể chế đúng đắn thì sẽ khó phát triển theo một chế độ
nhất định. Thể chế HCNN quy định quyền – nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, cơ quan HCNN; quy
định trách nhiệm của NN trong việc đảm bảo các quyền của công dân. Bản chất mối quan hệ này
là quan hệ mệnh lệnh – phục tùng và phục vụ nhân dân. Biểu hiện thông qua 2 mặt sau:
Thứ nhất: Nhà nước với tư cách quyền lực công có chức năng tạo ra khung pháp lý cần
thiết để quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Mối quan hệ này có ý nghĩa không bình đẳng, mang
tính đơn phương, bắt buộc thi hành.
Thứ hai: Nhà nước thực hiện quyền lực nhân dân, thể hiện mọi quyền lực thuộc về nhân
dân, nhà nước có trách nhiệm đáp ứng mọi yêu cầu chính đáng của nhân dân. Trong quan hệ này
công dân và tổ chức là khách hàng.
Thể chế HCNN là căn cứ để quản lý, điều chỉnh việc sử dụng các nguồn lực của xã hội
một cách có hiệu lực và hiệu quả (tài lực, vật lực):
Nhằm quản lý mọi lĩnh vực đời sống XH, cơ quan HCNN phải có nguồn nhân lực cần
thiết.Việc xây dựng nguồn nhân lực như thế nào? Phân bổ ra sao? Vì mục đích gì đều được quy
định trong thể chế hành chính nhà nước. Hiện nay chúng ta đang thực hiện cơ chế “khoán”.
Để thể chế hành chính nhà nước phát huy được vai trò của mình trong hoạt động quản lý
nhà nước thì việc cải cách thể chế hành chính nhà nước là việc làm hết sức cần thiết. Vấn đề đặt
ra là cải cách thể chế hành chính nhà nước thì cải cách trên các phương tiện nào, tập trung vào
mặt nào? Hội nghị lần thứ tám (Khoá VII) Ban chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định cải
cách thể chế hành chính nhà nước ở nước ta tập trung vào 5 vấn đề cơ bản:
- Cải cách một bước cơ chế hệ thống thủ tục hành chính nhằm góp phần giải quyết tốt
mối quan hệ giữa công dân, các tổ chức xã hội đối với Nhà nước;
- Cải cách việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân với cán bộ, công chức
trong bộ máy hành chính nhà nước và các tổ chức của bộ máy hành chính nhà nước;
- Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế mới đặc biệt là các thể chế kinh tế mới đặc biệt là
các thể chế về tài chính;
- Đổi mới quy trình lập pháp, lập quy, ban hành các văn bản pháp luật Nhà nước;
- Nâng cao kỷ luật và hiệu lực thi hành pháp luật.
Cải cách hệ thống thể chế của nền hành chính là một công việc khó khăn, phức tạp vì nó
động chạm đến hệ thống thể chế Hành chính cũ, tức là động chạm đến lợi ích cục bộ, cơ chế bao
cấp, thiếu kỷ luật, kỷ cương. Nhưng công cuộc đổi mới của đất nước ta đang đặt ra những đòi
hỏi phải cải cách hệ thống hành chính nhà nước trong đó cải cách thể chế là một bộ phận cơ
bảnnhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội của sự phát triển nền kinh tế thị trường, của sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, của sự hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, của đòi hỏi về sự hội
nhập khu vực và quốc tế.
Câu hỏi 10. Khi xây dựng và ban hành thể chế HCNN cần quan tâm đến những yếu
tố gì?Theo anh chị yếu tố nào ảnh hưởng nhất đến thể chế HCNN ở Việt Nam hiện nay?
Thể chế HCNN hiểu theo nghiã hẹp: là tổng hợp các quy định chính thức của NN (HP, L,
PL, VBPQ,…) nhằm tạo khuôn khổ pháp lý cho các cơ quan hành chính thực hiện chức năng
hành pháp và cho mọi cá nhân, tổ chức sống và làm việc theo pháp luật.
Thể chế hành chính nhà nước có tính bao quát các mặt chính trị, kinh tế, xã hội. Bản thân
hệ thống hành chính nhà nước là một bộ phận của thể chế Nhà nước. Xét trên quan điểm triết
học, thể chế hành chính nhà nước là một thành tố của kiến thức thượng tầng. Và như vậy, thể chế
hành chính nhà nước tất yếu chịu sự chi phối, quyết định của thể chế cơ sở hạ tầng và có mối liên
hệ tác động qua lại đối với các thành tố khác của kiến trúc thượng tầng. Trong điều kiện Việt
Nam xây dựng thể chế hành chính nhà nước cần quan tâm đến các yếu tố cơ bản:
1. Môi trường chính trị:
Chế độ chính trị của quốc gia là tổng thể phương thức, phương pháp thực hiện quyền lực
NN và được thực hiện trong những hình thực chính thể và hình thức cấu trúc Nhà nước nhất
định. Chế độ chính trị nói lên bản chất chính trị của NN, nói lên hình thức, cách thức thực thi
quyền lực NN.
Chế độ chính trị của quốc gia có ý nghĩa quyết định trong việc tổ chức chính quyền và
thể chế hành chính Nhà nước. Các phương thức tổ chức Nhà nước: Tập trung dân chủ, phân
quyền, tập quyền, tản quyền cũng có ảnh hưởng lớn đến thể chế hành chính Nhà nước.
Chế độ chính trị do bản chất của Nhà nước quyết định, bản chất chính trị, cơ cấu tổ chức
hệ thống, vấn đề phân bổ quản lý Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp và chỉ đạo thể chế của nền hành
chính Nhà nước.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổ chức duy nhất trong hệ thống chính
trị có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật từ Hiến pháp đến các quy chế cụ thể để
thểhiện ý chí và thực hiện quyền lực của nhân dân. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền nên
pháp luật được đề cao, mọi cơ quan Nhà nước, công dân hay tổ chức đều phải tuân thủ pháp luật
một cách nghiêm túc. Thể chế nền hành chính nhà nước ta mang tính chất và nội dung chính trị
của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền con người và công dân.
2. Môi trường kinh tế -xã hội:
Các quy định điều tiết hoạt động của các đối tượng trong xã hội phải phù hợp với trình độ
phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò và mức độ điều tiết của NN đối với các quá trình kinh tế - xã
hội diển ra ở các nước khác nhau không giống nhau vì có nước theo mô hình KTTT, có nước
theo mô hình kinh tế kế hoạch tập trung dẫn đến thể chế HCNN cũng khác nhau. Sự thay đổi
trong môi trường kinh tế - xã hội buộc hệ thống thể chế HCNN phải thay đổi theo thích ứng với
những thay đổi trong xã hội để có thể quản lý xã hội một cách có hiệu quả nhất. Mỗi chế độ
chính trị gắn liền với chế độ NN và dựa trên 1 hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xác định. Thể chế
HCNN là bộ phận thuộc thượng tầng kiến trúc còn chế độ kinh tế thuộc kết cấu hạ tầng XH.
Hiện nay chế độ kinh tế hay mức phát triển kinh tế của mỗi quốc gia khác nhau do đó thể
chế thể chế hành chính nhà nước cũng rất khác nhau. Ở nước ta trước đây nền kinh tế chỉ có 2
thành phần cơ bản thuộc sở hữu Nhà nước và tập thể, điều này được thể chế hoá thành pháp luật
và thể chế quản lý kinh tế. Nhưng ngày nay Nhà nước đã chuyển sang nền kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN nên thể chế nền hành chính nhà nước thay đổi theo một cách tương ứng.
3. Lịch sử phát triển của quốc gia và truyền thống, văn hoá dân tộc: Mỗi dân tộc trải qua
quá trình hình thành và phát triển lâu dài đều có những đặc điểm truyền thống, văn hoá riêng,
không giống với các dân tộc khác. Do đặc tính này mà mọi quy định để điều tiết hành vi của các
đối tượng trong xã hội phải được xây dựng phù hợp với các chuẩn mực chung được thừa nhận
trong truyền thống, văn hoá. Một hệ thống thể chế chỉ tốt và được tự nguyện áp dụng khi nó phát
huy được những ưu điểm của các giá trị truyền thống, nhưng đồng thời cũng phải loại bỏ đi
những nhược điểm của truyền thống như những hủ tục lạc hậu, tư duy bảo thủ,…
Ở Việt Nam có rất nhiều truyền thống tốt đẹp đã được áp dụng vào thể chế hành chính
như tinh thần yêu nước, ý chí độc lập, lòng nhân ái, nhưng bên cạnh đó cũng còn rất nhiều những
nét truyền thống lạc hậu ảnh hưởng xấu đến thể chế hành chính Nhà nước như bảo thủ, bản vị, tư
tưởng địa phương.
4. Môi trường quốc tế:
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia nếu muốn phát triển không thể nằm
ngoài mối liên hệ với các quốc gia khác. Sư giao thoa văn hóa, tri thức và các giá trị chung của
văn minh nhân loại cũng tác động không nhỏ đến sự hình thành và phát triển của hệ thống thể
chế HCNN. Sự ràng buộc pháp lý đối với một quốc gia chấp nhận khi tham gia các cấu trúc quốc
tế có ảnh hưởng to lớn tới hệ thống thể chế của quốc gia đó. Ví dụ như Việt Nam gia nhập tổ
chức thương mại quốc tế (WTO) có ảnh hưởng lớn đến hệ thống các quy định về thuế XNK :
chúng ta không thể tự mình quyết định tỷ lệ đáng thuế như trước đây mà phải căn cứ vào các
hiệp định đa phương được thừa nhận chung trong WTO và những thỏa thuận chúng ta kí kết khi
tham gia tố chức này hoặc ví dụ như Nhật Bản , thể chế HCNN của Nhật sau chiến tranh thế giới
thư 2 chịu ảnh hưởng thể chế tổ chức bộ máy của Mỹ.
Ngoài những yếu tố ảnh hưởng trên được coi là cơ bản thì cũng tồn tại một số nhân tố
khác cũng ảnh hưởng đến thể chế hành chính nhà nước như những biến đổi về kinh tế, chính trị
diễn ra trên thế giới,hoàn cảnh địa lý của mỗi quốc gia...
Yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến thể chế HCNN ở Việt Nam hiện nay là yếu tố môi trưởng
quốc tế (Đọc thêm bài Việt Nam hậu WTO để phân tích thêm).
Phần III: CHỨC NĂNG, PHƯƠNG PHÁP CỦA HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Câu 11. Hãy phân tích các quan niệm về chức năng HCNN?
Các quan niệm về chức năng:
Chức năng là một thuật ngữ dung để công dụng chính yếu của một thực thể hay bộ phận.
Chức năng còn được hiểu là những hoạt động chủ yếu mà một cá nhân, bộ phận, cơ quan, tổ
chức phải thực hiện để khẳng định sự tồn tài của mình.
Chức năng cũng có nghĩa các loại công việc, nhiệm vụ phải làm của một cơ quan, nhân
viên hay tổ chức.
Quan niệm về chức năng hành chính:
Do đối tượng quản lý phong phú và không gian quản lý rộng lớn, nên hoạt động hành
chính nhà nước rất đa dạng và phức tạp. Để thuận lợi cho việc thực hiện chức năng, các chủ thể
hành chính cần phải phân định thành các nhóm chuyên biệt và giao cho cá nhân, bộ phận, tổ
chức có chuyên môn phù hợp đảm nhận. Đây chính là quá trình phân công, chuyên môn hóa lao
động trong hoạt động hành chính và kêt quả là hình thành nên các chức năng hành chính. Như
vậy có thể nói chức năng hành chính là sản phẩm của chuyên môn hóa và phân công lao động.
Khái quát lại, chức năng hành chính nhà nước là những phương diện hoạt động chuyên
biệt của hành chính nhà nước, là sản phẩm của quá trình phân công, chuyên môn hóa hoạt động
trong lĩnh vực thực thi quyền hành pháp.
Chức năng hành chính của mỗi quốc gia có những đặc trưng riêng tùy thuộc vào địa lý
pháp lý của hệ thống hành pháp trong mối tương quan với cơ quan lập pháp và tư pháp. Các
chức năng hành chính đều được quy định chặt chẽ bằng hệ thống văn bản qui phạm pháp luật và
được phân cấp cho các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở.
Câu 12. Hãy phân tích các loại chức năng hành chính:
Có nhiều các phân loại chức năng khác nhau theo mức độ tổng quát và chi tiết. Dưới đây
là một số cách phân loại cơ bản:
- Phân lọai theo phạm vi thực hiện chức năng: có chức năng đối nội, chức năng đối ngoại.
- Phân lọai theo tính chất hoạt động: có chức năng lập quy và chức năng điều hành hành
chính.
- Phân loại chức năng hành chính theo các lĩnh vực chủ yếu: chức năng chính trị, chức
năng kinh tế, chức năng văn hóa, chức năng xã hội.
- Phân loại theo cấp hành chính: có chức năng hành chính trung ương (chức năng của
Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ) và chức năng hành chính địa
phương (chức năng của UBND và cơ quan chuyên môn các cấp).
- Phân lọai theo nhóm: có chức năng bên trong và chức năng bên ngoài đối với hệ thống
hành chính gồm:
+ Chức năng bên trong (nội bộ): gồm các chức năng vận hành nội bộ nền hành chính
hoặc cơ quan hành chính.
+ Chức năng bên ngoài: gồm có nhóm chức năng quản lý hành chính nhà nước đối với
các lĩnh vực và chức năng cung ứng dịch vụ công.
Tóm lại, nghiên cứu chức năng hành chính tạo cơ sở cho việc hoàn thiện thể chế nền
hành chính, cải cách tổ chức bộ máy, quy chế hoạt động của hệ thống hành ch1nh, xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức hành chính. Nhiều nhược điểm, yếu kém trong nền hành chính nhà nước
bắt nguồn từ việc xác định chức năng hành chính cho từng cơ quan thiếu rành mạch, rõ rang, dứt
khoátt và chưa cụ thể.
Câu 13. Để vận hành một cơ quan hành chính nhà nước cần thực hiện những chức
năng gì? Đánh giá việc thực hiện các chức năng này trên thực tế.
Chức năng hành chính nhà nước là những phương diện hoạt động chuyên biệt của hành
chính nhà nước, là sản phẩm của quá trình phân công, chuyên môn hóa hoạt động trong lĩnh vực
thực thi quyền hành pháp.
Để một cơ quan hành chính nhà nước vận hành một cách có hiệu quả thì cơ quan này
phải thực hiện hoàn chỉnh hai chức năng bao gồm: chức năng nội bộ bên trong (nội bộ) của nền
hành chính nhà nước và chức năng bên ngoài (điều tiết, can thiệp).
*Chức năng bên trong: Đây là cách tiếp cận để chỉ rõ những hoạt động bên trong các cơ
quan hành chính nhà nước phải tiến hành, các chức năng bên trong này nhằm đảm bảo có một cơ
cấu tổ chức hiệu quả, đảm bảo để hành chính phải tuân theo pháp luật, các chức năng bên trong
cần lưu ý là:
- Chức năng lập kế hoạch: Lập kế hoạch là một quá trình xác định những mục tiêu tương
lai và các cách thức thích hợp để đạt mục tiêu đó. Đây là chức năng quan trọng của các cơ quan
HCNN, chức năng này căn cứ vào pháp luật và trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế xh. Lập
kế hoạch bao gồm 3 giai đoạn tiến hành cơ bản:
+Xác lập hệ thống mục tiêu, tốc độ phát triển, các chính sách, giải pháp để dẫn dắt đất
nước theo định hướng kế hoạch đã đặt ra.
+Tiến hành dự báo, dự toán, xây dựng chiến lược , quy hoạch phát triển lập các chương
trình dự án cho từng ngành, từng lĩnh vực, theo kế hoạch 5 năm, hàng năm
+Tổng kết, đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch: Giai đoạn này được tiến hành sau khi
kế hoạch được thực hiện. Đánh giá xem liệu việc thực kế hoạch có đạt mục tiêu đã đặt ra trong
kế hoạch hay không (hoàn thành, hoàn thành vượt mức hay không hoàn thành kế hoạch).
- Chức năng tổ chức: là một quá trình của quản lý bao gồm các hoạt động như thiết lập
một cơ cấu tổ chức hợp lý, phân công lao động phù hợp, thiết lập môi trường làm việc tập thể.
Chức năng tổ chức bao gồm các nội dung cơ bản sau:
+ Xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý: thiết kế cơ cấu tổ chức gọn, phù hợp với mục tiêu,
chức năng, nhiệm vụ của tổ chức; phân định trách nhiệm rõ ràng và tạo thuận lợi cho việc chỉ
đạo và phối hợp.
+ Phân công công việc cho từng cá nhân, bộ phận. Phân công cho cá nhân phù hợp với
năng lực; phân cho bộ phận theo chức năng với tinh thần hợp lý.
+ Xây dựng các mối quan hệ bên trong – bên ngoài; quan hệ trực thuộc (trên-dưới), quan
hệ phối hợp (ngang).
- Chức năng nhân sự: Là cung cấp con người, duy trì và phát triển con người trong cơ
quan hành chính nhà nước. Gồm các nội dung cơ bản sau: tuyển dụng; sử dụng,; quản lý hồ sơ
nhân sự; đánh giá; khen thưởng, kỷ luật, thăng chức; thuyên chuyển, điều động, biệt phái; thực
hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức; đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình
độ của cán bộ, công chức để họ có thể thực hiện những nhiệm vụ được giao một cách có hiệu
lực, hiệu quả; chấm dứt nhiệm sở của cán bộ, công chức.
- Chức năng ra quyết định: Đây là chức năng cơ bản của quản lý hành chính nhà nước vì
quản lý suy cho cùng là hoạt động ra quyết định. Ra quyết định hành chính bao gồm các công
việc: xác định vấn đề, phân tích vấn đề; xác định mục tiêu và các tiêu chí quyết định; xác định
trọng số của từng tiêu chí; xây dựng các phương án giải quyết vấn đề và phân tích các phương
án; soạn thảo quyết định; thông qua và ban hành quyết định.
- Chức năng lãnh đạo: bao gồm hướng dẫn và thúc đẩy mọi người làm việc vì mục tiêu
chung. Chức năng lãnh đạo bao gồm các công việc sau:
+ Hướng dẫn nhân viên thực hiện công việc: xây dựng các chỉ dẫn cụ thể để thực hiện
các quyết định của cấp trên, hướng dẫn thực hiện công việc thông qua các kế hoạch thực thi;
huấn luyện cấp dưới; thông qua các hội nghị,…
+ Chỉ đạo các cấp dưới trong việc thực hiện các công việc đã phân công thông qua việc ra
các mệnh lệnh, chỉ thị.
+ Khuyến khích, động viên, tạo cơ hội cho nhân viên tham gia các hoạt động chung của
cơ quan. Người lãnh đạo hành chính cần khuyến khích động viên và tạo điều kiện tốt nhất để các
cá nhân trong tổ chức tự vươn lên khẳng định mình, thông qua các hoạt động như uỷ quyền, tập
trung vào nhân viên, phát triển tinh thần tập thể.
- Chức năng phối hợp: đây là chức năng điều hòa hoạt động của các cá nhân, bộ phận,
đơn vị lệ thuộc, thiết lập một sự liên lạc đơn giản nhưng hợp lý giữa các cá nhân, đơn vị trong cơ
quan hành chính nhà nước. Nhờ sự phối hợp này, hoạt động của các cá nhân, bộ phận, đơn vị
trong cơ quan ăn khớp với nhau, sẽ tránh những trùng lắp, sự chậm chạp trong hoạt động do thủ
tục rườm rà hay hệ thống thông báo phức tạp. Chức năng phối hợp bao gồm các hoạt động:
+Xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cá nhân, bộ phận, đơn vị trong cơ quan.
Cơ chế phối hợp thường được thể hiện cụ thể trong nội quy, quy chế hoạt động của cơ quan.
+Thiết lập mối quan hệ, thông tin đơn giản, hiệu quả giữa các bộ phận trong cơ quan
thông qua hình thức họp giao ban định kỳ, cơ chế thông báo, báo cáo,..
- Chức năng ngân sách: đây là chức năng liên quan đến việc hình thành và sử dụng các
nguồn tài chính trong cơ quan bao gồm: Lập dự toán ngân sách hàng năm, thực hiện thu chi,
ngân sách hàng năm, tổ chức quyết toán ngân sách hàng năm.
- Chức năng báo cáo: báo cáo là một phương tiện chủ yếu để nhà quản lý duy trì sự kiểm
soát trách nhiệm và quyền hành đã ủy quyền cho cấp dưới. Chức năng báo cáo là thiết lập các
báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất của cấp dưới để trình nộp cấp trên. Nó là cơ sở để cấp trên
đánh giá kết quả hoạt động của cấp dưới. Đồng thời nó cung cấp thông tin phản hồi làm cơ sở
cho việc ra quyết định quản lý. Các báo cáo có thể sử dụng bao gồm: báo cáo bằng lời nói, báo
cáo bằng văn bản, báo cáo thống kê.
- Chức năng kiểm soát: là hoạt động của quản lý nhằm đảm bảo hoạt động của cơ quan
đang được tiến hành theo đúng dự kiến, tuân thủ cácquy định, đồng thời phát hiện những sai sót,
sai lệnh, vi phạm, từ đó đưa ra các biện pháp cần thiết để sửa chữa những sai sót, tối thiểu hóa
những sai lệch và xử lý những vi phạm. Mục đích của kiểm soát là nhằm đảm bảo hiệu lực và
hiệu quả quản lý của cơ quan. Qúa trình kiểm soát gồm 3 bước:
+ Bước 1: Đo lường các kết quả đạt được.
+ Bước 2: So sánh kết quả đạt được với tiêu chuẩn đã đề ra.
+ Bước 3: Thực hiện những hành động điều chỉnh. Nếu nguyên nhân sai lệch là do thực
hiện thì cần phải đề ra các giải pháp điều chỉnh việc thực hiện nhằm thay đổi kết quả. Nếu
nguyên nhân là do tiêu chuẩn, thì cần sửa lại tiêu chuẩn cho phù hợp.
*Chức năng bên ngoài: Chức năng bên ngoài của các cơ quan hành chính nhà nước chính
là nghiên cứu các chức năng quản lý hành chính nhà nước, tác động của quỳen hành pháp đến
đời sống chính trị, văn hoá, xã hội làm cho xã hội vận động theo đúng mục tiêu mà Nhà nước đặt
ra cho từng thời kỳ nhất định. Cụ thể chức năng này bao gồm:
- Nghiên cứu chức năng hành chính bên ngoài theo tiến trình phát triển, điều này phụ
thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và xu thế vận động, phát triển của Nhà nước, có thể
chỉ ra được chức năng này là sự vận động, thay đổi chức năng quản lý Nhà nước của các cơ quan
hành chính nhà nước ở các giai đoạn khác nhau.
Căn cứ vào lịch sử của đất nước, của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của quốc gia,
của từng thời kỳ thì có thể tìm thấy các chức năng
- Nghiên cứu chức năng của cơ quan hành chính từ trung ương đến chính quyền địa
phương các cấp
+ Cấp trung ương (Chính phủ): thì nghiên cứu chức năng tổng quát của cả chính phủ, sau
đó là cá nhân Thủ tướng người đừng đầu cơ quan hành pháp cao nhất, các Bộ và cơ quan ngang
Bộ, các Bộ trưởng với tư cách là người đứng đầu cao nhất của một ngành, lĩnh vực
+ Các cấp địa phương: tuỳ vào từng quốc gia, từng thời kỳ có sự khác nhau, nhưng nhìn
chung là gồm Uỷ ban nhân dân các cấp có chức năng quản lý chung mọi mặt ở địa phương cấp
mình, trong Uỷ ban có các Sở, ban ngành quản lý từng lĩnh vực, vùng lẻ
- Chức năng theo từng lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước như quản lý hành chính nhà
nước về kinh tế, quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học công
nghệ và môi trường, quản lý hành chính nhà nước về các vấn đề xã hội, các vấn đề có liên quan
đến tư pháp, tài chính và hàng loạt các vấn đề khác.
Việc nghiên cứu chức năng bên ngoài và sự tác động của các cơ quan quản lý hành chính
nhà nước đến xã hội, công dân, tổ chức và đấy là chức năng đặc thù của các cơ quan hành chính
nhà nước.
Liên hệ thực tế hoạt động của một cơ quan :
Thực tế về chức năng bên trong của một Uỷ ban nhân dân huyện A, ở chức năng này, Uỷ
ban nhân dân phải đề ra quy hoạch, kế hoạch, chiến lược và các mục tiêu phát triển kinh tế – xã
hội trong toàn huyện trong từng giai đoạn 5 năm và hàng năm.
Bên cạnh việc đặt ra kế hoạch thì Uỷ ban nhân dân huyện phải tổ chức xây dựng cơ cấu
bộ máy của các cơ quan trực thuộc, liên kết các cơ quan chuyên môn của huyện để hoàn thành có
hiệu quả mục tiêu của huyên đề ra
Để vận hành bộ máy có hiệu lực thì nguồn nhân lực là hết sức quan trọng là Uỷ ban nhân
dân huyện A phải có kế hoạch sử dụng nguồn cán bộ công chức, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ
cho huyện
Trong quá trình quản lý, Uỷ ban nhân dân huyện phải ra quyết định quản lý nhằm điều
hành hoạt động của cả huyện và hướng dẫn các cơ quan trực thuộc thực thi nhiệm vụ, bên cạnh
đó là giám sát, kiểm tra và nghe báo cáo của cấp dưới các hoạt động trong địa phương mình
nhằm tìm ra những mặt tích cực để phát huy và mặt tiêu cực để hạn chế.
Câu 14. Trình bày chức năng quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của
đời sống xã hội và phân tích 1 nội dung cụ thể:
Chức năng hành chính nhà nước là những phương diện hoạt động chuyên biệt của hành
chính nhà nước, là sản phẩm của quá trình phân công, chuyên môn hóa hoạt động trong lĩnh vực
thực thi quyền hành pháp.
Để một cơ quan hành chính nhà nước vận hành một cách có hiệu quả thì cơ quan này
phải thực hiện hoàn chỉnh hai chức năng bao gồm: chức năng nội bộ bên trong (nội bộ) của nền
hành chính nhà nước và chức năng bên ngoài (điều tiết, can thiệp). Chức năng điều hành XH là 1
trong những chức năng bên ngoài của QL.HCNN.
Chức năng hành chính nhà nước đối với ngành, lĩnh vực thể hiện nội dung của hành
chính nhà nước đối với các ngành, lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, như: khoa học – công
nghệ, tài nguyên – môi trường, bưu chính viễn thông, tài chính, tiền tệ, giáo dục, y tế, văn hóa,
lao động - việc làm, an sinh xã hội, công nghiệp, nông nghiệp – nông thôn, xây dựng, giao thông
- vận tải, thương mai, du lịch, an ninh, quốc phòng, đối ngoại,..
Chức năng hành chính nhà nước trên các lĩnh vực được thể hiện thông qua một số nội
dung:
- Định hướng - hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển: Hành chính nhà
nước căn cứ vào định hướng của các cơ quan quyền lực nhà nước, của cấp trên tiến hành xây
dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trong phạm vi thẩm quyền quản lý được giao để
hướng xã hội phát triển theo định hướng đó. Tất nhiên, cấp hành chính càng thấp thì tính cụ thể
của chức năng định hướng càng cao.
- Tạo môi trường pháp lý cho sự phát triển nền kinh tế thị trường đúng hướng lành mạnh
theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Nghị định, Thông tư, Chỉ thị, Quyết định, Nghị quyết)
- Trực tiếp đầu tư để phát triển các ngành, các cơ sở then chốt của nền kinh tế quốc dân
để phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, tạo lập kết cấu hạ tầng, thông tin, công nghệ.
- Khuyến khích, hướng dẫn giúp đỡ các thành phần kinh tế bằng hệ thống chính sách đòn
bẩy thúc ép, tạo môi trường thuận lợi, ổn định, phát huy tiềm lực nội tại (VD: Thị trường chứng
khoán nếu phát triển quá nhanh, quá mạnh thì dẫn đến việc bị phá vỡ. Do đó cần phải điều tiết).
- Điều tiết kinh tế, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, điều hòa quyền lợi hợp
pháp, chính đáng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và công dân, bảo đảm công bằng xã hội (VD:
Thuế thu nhập cá nhân).
- Ngăn ngừa và khắc phục những yếu tố tiêu cực, trừng phạt hành vi xâm phạm lợi ích
chung và công dân (VD: Tham nhũng, quan liêu xa rời thực tế)
- Tham gia tích cực vào thị trường thế giới, thúc đẩy kinh tế phát triển, bảo vệ chủ quyền
và lợi ích kinh tế của quốc gia (xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại).
Câu 15. Phân tích vai trò của HCNN trong việc tổ chức và đảm bảo cung ứng dịch
vụ công? (or Phân tích chức năng phục vụ XH?)
Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân, tổ chức do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền cho các cơ sở
ngoài nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo trật tự, lợi ích chung và công bằng xã hội.
Mọi sản phẩm của lao động nói chung đều có thể sắp xếp vào 02 loại: vật phẩm và dịch
vụ. Ngoài các dịch vụ tiêu dùng cá nhân, còn có những dịch vụ nhất định phục vụ cho nhu cầu
chung của cộng đồng - đó là dịch vụ công. Dịch vụ công được phân thành 02 loại chủ yếu:
- Dịch vụ công cộng: là những dịch vụ không cần sử dụng quyền lực công trong quá trình
sản sinh ra dịch vụ. Có 02 loại dịch vụ công cộng chủ yếu là dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ
kinh tế - kỹ thuật công (dịch vụ công ích).
+ Dịch vụ sự nghiệp công là dịch vụ xã hội liên quan đến những nhu cầu và quyền lợi cơ
bản đối với sự phát triển con người về thể lực và trí lực như y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin,…
ở Việt Nam, các dịch vụ này thường được gọi là hoạt động sự nghiệp.
+ Dịch vụ kinh tế - kỹ thuật là loại dịch vụ gắn với nhu cầu vật chất phục vụ lợi ích
chung của xã hội, bao gồm cung ứng điện, nước, gas, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông,
vệ sinh môi trường, thủy lợi, xây dựng đường sá, cầu cống,… Ở Việt Nam, các dịch vụ này do
các doanh nghiệp công ích cung ứng và còn gọi là dịch vụ công ích.
- Dịch vụ hành chính công: là những dịch vụ do cơ quan quản lý NN trực tiếp tiến hành,
cần sử dụng đến quyền lực NN trong quá trình sản sinh ra dịch vụ. Nhà nước có trách nhiệm
cung ứng cho xã hội để bảo đảm cho xã hội phát triển có kỷ cương, trật tự. Khi cung cấp các
dịch vụ này, Nhà nước sử dụng quyền lực công để tạo ra dịch vụ như cấp các loại giấy phép,
chứng thực, thị thực,… Các loại giấy tờ này chỉ có giá trị sử dụng khi các cơ quan nhà nước xác
nhận chúng bằng thẩm quyền của mình. Loại dịch vụ này gắn liền với thẩm quyền của nhà nước,
vì vậy về nguyên tắc Nhà nước không thể chuyển giao việc cung ứng các dịch vụ này cho tư
nhân.
Vai trò của hành chính nhà nước trong việc tổ chức và đảm bảo cung ứng dịch vụ công.
- Xây dựng, ban hành chính sách, hành lang pháp lý làm cơ sở để tổ chức và quản lý dịch
vụ công. Ví dụ xây dựng chính sách ưu đãi cho các trường DV công.◊dân lập (lĩnh vực giáo
dục)
- Nhà nước trực tiếp cung ứng dịch vụ công cho xã hội (cơ quan hành chính nhà nước).
Về nguyên tắc, nhà nước không nhất thiết phải trực tiếp cung cấp các dịch vụ công mà có trách
nhiệm đảm bảo rằng các dịch vụ đó được cung cấp trên thực tế. Do vậy, nhà nước chỉ tập trung
cung cấp những hàng hóa, dịch vụ mà xã hội cần trong những trường hợp sau:
+ Thiếu người cung cấp do đòi hỏi tiềm lực kinh tế, nhân lực lớn,…
+ Các chủ thể khác không muốn cung cấp do lợi nhận thấp.
+ Các chủ thể khác cung cấp không hiệu quả.
+ Các dịch vụ mà nhà nước chưa thể chuyển giao cho các chủ thể khác làm: an ninh quốc
gia, chuyển phát thanh truyền hình ra XH hóa, chính trị nội bộ.
- Nhà nước cung ứng thông qua các tổ chức sự nghiệp và doanh nghiệp công ích như dịch
vụ chăm sóc sức khỏe tại BV Chợ Rẫy.
- Nhà nước quản lý, kiểm soát việc cung ứng dịch vụ công: ở VN có dịch vụ XH hóa như
công chứng, y tế, giáo dục, thể thao…
Việc xác định những dịch vụ công nào do hành chính nhà nước trực tiếp cung ứng tùy
thuộc vào quan điểm chính trị và điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn của mỗi quốc gia.
Việc cải tiến các dịch vụ công trước hết phải xuất phát từ sự thay đổi sâu sắc trong tư
duy, chuyển từ tư duy “quản lý” sang tư duy “phục vu”. Cần thể hiện phương châm “Nhà nước
của dân, do dân và vì dân” thành những quan điểm cụ thể như sau:
- Bảo đảm cung ứng dịch vụ công là một chức năng quan trọng của Nhà nước, là nghĩa
vụ và trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân. Việc Nhà nước quan tâm cải tiến chất lượng
dịch vụ công có ý nghĩa quyết định đến thái độ và niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước.
- Dịch vụ hành chính công xuất phát từ những yêu cầu của Nhà nước đối với nhân dân,
không phải là nhu cầu tự thân của người dân. Vì vậy, Nhà nước phải khuyến khích nhân dân sử
dụng những dịch vụ này.
- Nhân dân đến cơ quan hành chính nhà nước thực hiện các thủ tục giấy tờ không phải là
đến xin một đặc ân nào đó của Nhà nước. Ngược lại, người dân có quyền được cơ quan nhà nước
phục vụ. Việc phục vụ nhân dân chính là lý do tồn tại của cơ quan nhà nước đó, là lý do để ngân
sách nhà nước cấp tiền cho cơ quan này hoạt động.
- Công dân đến cơ quan hành chính nhà nước thực hiện các hoạt động trên phải đối xử
như khách hàng và người tiêu dùng dịch vụ của cơ quan hành chính đó.
Trên cơ sở xác định rõ quan điểm như trên, các cơ quan hành chính nhà nước thể hiện vai
trò phục vụ nhân dân thông qua những nguyên tắc hoạt động cụ thể sau:
Thứ nhất, bảo đảm sự dễ dàng tiếp cận của công dân đến các cơ quan hành chính nhà
nước.
Thứ hai, bảo đảm cung cấp đầy đủ cho công dân những thông tin cần thiết bằng một ngôn
ngữ dễ hiểu về việc giải quyết các công việc hành chính.
Thứ ba, áp dụng mô hình “một cửa” trong cung ứng dịch vụ hành chính công.
Thứ tư, bảo đảm chất lượng của các dịch vụ hành chính công đáp ứng tốt nhất nhu cầu
của công dân.
Thứ năm, bảo đảm tiếp nhận và giải quyết các thông tin phản hồi của người dân về các
dịch vụ mà cơ quan hành chính nhà nước cung cấp cho họ.
Thứ sáu, bảo đảm việc cung ứng dịch vụ hành chính công bằng đối với mọi công dân.
Tóm lại: Cùng với sự phát triển của xã hội, chức năng cung cấp dịch vụ công của nhà
nước ngày càng trở nên quan trọng. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, việc cung cấp dịch
vụ công thỏa mãn nhu cầu của nhân dân không chỉ do nhà nước đảm nhiệm mà còn có sự tham
gia của các thành phần kinh tế khác dưới sự kiểm soát của nhà nước.
Câu 16. Trình bày các phương pháp hành chính nhà nước chủ yếu và phân tích một
phương pháp (chức năng). Liên hệ với thực tế áp dụng các phương pháp hành chính nhà
nước ở cơ quan đơn vị hay địa phương nơi anh (chị) đang công tác.
Phương pháp hành chính nhà nước là cách thức tác động của chủ thể hành chính nhà
nước lên đối tượng của hành chính nhà nước (cá nhân, tổ chức) nhằm đạt được những mục tiêu
xác định.
Các cơ quan hành chính nhà nước, trong tổ chức và hoạt động của mình sử dụng rất
nhiều phương pháp quản lý. Có những phương pháp của các ngành khoa học khác mà khoa học
quản lý vận dụng và có những phương pháp đặc thù của hành chính nhà nước. Trong quá trình
hoạt động, HCNN sử dụng các phương pháp đặc thù sau đây:
Phương pháp giáo dục: Phương pháp giáo dục là cách tác động vào nhận thức của con
người trong tổ chức, nhằm nâng cao tính tự giác và khả năng lao động của họ trong việc thực
hiện nhiệm vụ.
Các phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật nhận thức của con
người. Đặc trưng của các phương pháp này là tính thuyết phục, tức là giúp cho con người phân
biệt được phải – trái, đúng – sai, lợi - hại, đẹp - xấu, thiện – ác. Trên cơ sở nhận thức đúng, họ sẽ
hành động đúng, hành động đúng có lương tâm, có trách nhiệm.
Phương pháp tổ chức: Phương pháp này là cách thức tác động lên con người thông qua
mối quan hệ tổ chức nhằm đưa con người vào khuôn khổ, kỷ luật, kỷ cương.
Phương pháp này áp dụng thông qua 2 hướng. Một là, các cơ quan hành chính nhà nước
thành lập các tổ chức hoặc cho phép thành lập các tổ chức và kiểm soát hoạt động của các tổ
chức này. Hai là, trong từng cơ quan hành chính nhà nước phải xây dựng quy chế, quy trình, nội
dung hoạt động của cơ quan, bộ phận, cá nhân và kiểm tra, xử lý kết quả thực hiện một cách dân
chủ, công bằng.
Phương pháp kinh tế: Phương pháp kinh tế là cách thức tác động vào đối tượng quản lý
thông qua các lợi ích kinh tế, để cho đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có
hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ.
Tác động thông qua lợi ích kinh tế chính là tạo ra động lực thúc đẩy con người tích cực
hoạt động. Thực chất của các phương pháp kinh tế là đạt mỗi người, mỗi bộ phận vào những
điều kiện kinh tế để họ có khả năng kết hợp đúng đắn lợi ích của mình với lợi ích của tổ chức,
cho phép con người lựa chọn con đường có hiệu quả nhât để thực hiện nhiệm vụ của mình.
Áp dụng phương pháp kinh tế thông qua sử dụng các đòn bẩy kinh tế như: tiền lương,
tiền thưởng, phụ cấp, giá cả, thuế, chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái,…
Phương pháp hành chính: Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của
các chủ thể hành chính nhà nước lên đối tượng bằng các quyết định hành chính mang tính bắt
buộc
Vai trò của phương pháp hành chính trong quản lý rất to lớn, nó xác lập trật tự kỷ cương
làm việc trong hành chính nhà nước, khâu nối các phương pháp quản lý khác và giải quyết các
vấn đề đặt ra trong hành chính nhà nước rất nhanh chóng. Không có phương pháp hành chính thì
không thể quản lý hệ thống có hiệu lực.
Phương pháp này dựa trên mối quan hệ quyền lực phục tùng - tức mối quan hệ quyền
hành trong tổ chức.
Liên hệ thực tế:
Thực hiện chỉ thị 27 của Bộ Chính trị về thực hiện nếp sống văn minh, tổ chức thực hiện
“Tuyến đường không rác”, cơ quan đã áp dụng các biện pháp như: tuyên truyền, vận động thuyết
phục…
Câu 17. Anh (chị) hãy phân tích ưu nhược điểm của các phương pháp hành chính
nhà nước và chỉ ra yêu cầu đối với chủ thể quản lý khi áp dụng các phương pháp đó.
Phương pháp hành chính nhà nước là cách thức tác động của chủ thể hành chính nhà
nước lên đối tượng của hành chính nhà nước (cá nhân, tổ chức) nhằm đạt được những mục tiêu
xác định.
Các cơ quan hành chính nhà nước, trong tổ chức và hoạt động của mình sử dụng rất
nhiều phương pháp quản lý. Có những phương pháp của các ngành khoa học khác mà khoa học
quản lý vận dụng và có những phương pháp đặc thù của hành chính nhà nước.
Phương pháp giáo dục: Phương pháp giáo dục là cách tác động vào nhận thức của con
người trong tổ chức, nhằm nâng cao tính tự giác và khả năng lao động của họ trong việc thực
hiện nhiệm vụ.
Các phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật nhận thức của con
người. Đặc trưng của các phương pháp này là tính thuyết phục, tức là giúp cho con người phân
biệt được phải – trái, đúng – sai, lợi - hại, đẹp - xấu, thiện – ác. Trên cơ sở nhận thức đúng, họ sẽ
hành động đúng, hành động đúng có lương tâm, có trách nhiệm.
+ Ưu điểm: Tạo sự nhẹ nhàng, thoải mái, cởi mở, dễ chịu giữa chủ thể và người quản lý;
Nâng cao tính tự giác của đối tượng quản lý; Tăng nội bộ đoàn kết; Chi phí thấp, ít tốn kém; Phát
huy tác dụng lâu dài (nếu đã phát huy tác dụng).
+ Nhược điểm: Tác dụng chậm, không triệt để; Khó đảm bảo tính hiệu lực trong quản lý;
=> Để khắc phục những nhược điễm của phương pháp này thì chủ thể quản lý, phải: kiên
trì, mềm mỏng, có khả năng thiết phục và khả năng ảnh hưởng, có năng lực, có uy tín…
Phương pháp tổ chức: Phương pháp này là cách thức tác động lên con người thông qua
mối quan hệ tổ chức nhằm đưa con người vào khuôn khổ, kỷ luật, kỷ cương.
Phương pháp này áp dụng thông qua 2 hướng. Một là, các cơ quan hành chính nhà nước
thành lập các tổ chức hoặc cho phép thành lập các tổ chức và kiểm soát hoạt động của các tổ
chức này. Hai là, trong từng cơ quan hành chính nhà nước phải xây dựng quy chế, quy trình, nội
dung hoạt động của cơ quan, bộ phận, cá nhân và kiểm tra, xử lý kết quả thực hiện một cách dân
chủ, công bằng.
+ Ưu điểm: Đảm bảo tính hiệu lực trong quản lý, Đưa con người vào khuôn khổ, kỷ luật,
kỷ cương, Có tác dụng lâu dài,
+ Nhược điểm: Không thoải mái, nhẹ nhàng; Tạo áp lực trong công việc.
Phương pháp kinh tế: Phương pháp kinh tế là cách thức tác động vào đối tượng quản lý
thông qua các lợi ích kinh tế, để cho đối tượng bị quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có
hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ.
Tác động thông qua lợi ích kinh tế chính là tạo ra động lực thúc đẩy con người tích cực
hoạt động. Thực chất của các phương pháp kinh tế là đạt mỗi người, mỗi bộ phận vào những
điều kiện kinh tế để họ có khả năng kết hợp đúng đắn lợi ích của mình với lợi ích của tổ chức,
cho phép con người lựa chọn con đường có hiệu quả nhât để thực hiện nhiệm vụ của mình.
Áp dụng phương pháp kinh tế thông qua sử dụng các đòn bẩy kinh tế như: tiền lương,
tiền thưởng, phụ cấp, giá cả, thuế, chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái,…
+ Ưu điểm: Tạo sự sáng tạo, tăng tính tự giác của đối tượng; Tác dụng nhanh, hiệu quả
cao;
+ Nhược điểm: Đối tượng quản lý dễ phụ thuộc vào vật chất; Đòi hỏi chủ thể phải có
tiểm lực kinh tế.
Phương pháp hành chính: Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của
các chủ thể hành chính nhà nước lên đối tượng bằng các quyết định hành chính mang tính bắt
buộc
Vai trò của phương pháp hành chính trong quản lý rất to lớn, nó xác lập trật tự kỷ cương
làm việc trong hành chính nhà nước, khâu nối các phương pháp quản lý khác và giải quyết các
vấn đề đặt ra trong hành chính nhà nước rất nhanh chóng. Không có phương pháp hành chính thì
không thể quản lý hệ thống có hiệu lực.
Phương pháp này dựa trên mối quan hệ quyền lực phục tùng - tức mối quan hệ quyền
hành trong tổ chức.
+ Ưu điểm: Tác dụng nhanh, hiệu quả tức thì, hiệu lực đảm bảo trong quản lý.
+ Nhược điểm: Bầu không khí làm việc có tiềm ẩn những mâu thuẫn xung đột trong tổ
chức; Giảm tính nhân văn trong tổ chức.
Trong các phương pháp này, theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay thì
phương pháp giáo dục tư tưởng, đạo đức đặt lên hàng đầu, phải làm thường xuyên, liện tục và
nghiêm túc. Biện pháp tổ chức là hết sức quan trọng, có tính khẩn cấp. Phương pháp kinh tế là
biện pháp cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động quản lý nhà nước. Phương pháp hành
chính là rât cần thiết và khẩn trương, nhưng phải được sử dụng một cách đúng đắn.
Ví dụ: Để xây dựng tuyến đường giao thông công ích, TP.HCM cần phải giải phóng mặt
bằng đúng tiến độ, trong trường hợp này các cơ quan HCNN có thể sử dụng những phương pháp
nào?
- Trước tiên, là sử dụng phương pháp giáo dục, thuyết phục: Trước khi giải tỏa hợp tổ
dân phố, vận động, tuyên truyền cho người dân biết lợi ích của công trình giao thông sao khi
hoàn thành đưa vào sử dụng.
- Tiếp theo, là sử dụng phương pháp kinh tế: Hỗ trợ tiền cho dân di dời sớm đúng tiến độ.
- Cuối cùng, là dùng phương pháp hành chính: Tác động lên người dân bằng các quyết
định mang tính bắt buộc người dân di dời.
=> Đối với chủ thể quản lý phải: đảm bảo hợp pháp và hợp lý, thể hiện đúng thẩm quyền
được trao
Phần IV: QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ HCNN
Câu 18. Phân tích quan niệm về QĐQLHCNN?
Trong các hoạt động của các cơ quan nhà nước, thì các quyết định hành chính đóng vai
trò hết sức quan trọng, nó phản ánh ý chí của Nhà nước và mang tính mệnh lệnh, thông qua các
quyết định này thì các cơ quan Nhà nước thể hiện được chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của
mình. Như vậy, quyết định hành chính được hiểu như sau:
Quyết định hành chính là mệnh lệnh điều hành các chủ thể quản lý hành chính nhà nước
được thông qua theo một thể thức nhất định nhằm thực hiện một mục đích hay một công việc cụ
thể
Quyết định hành chính chứa đựng quyền lực Nhà nước, dưới góc độ nhất định là hành vi
của cơ quan hành chính nhà nước (hoặc cá nhân, tổ chức có thẩm quyền) nhằm đưa ra các quy
định chung hoặc giải quyết vấn đề pháp lý hành chính cụ thể đối với tập thể hay cá nhân, có ý
nghĩa bắt buộc tuân thủ
Quyết định hành chính cũng chứa đựng trong đó các mục tiêu mà chủ thể mong muốn đạt
tới khi thi hành quyết định và phương tiện để thực hiện chúng
Quyết định hành chính là biện pháp giải quyết công việc của chủ thể quản lý hành chính
trước một tình huống đang được đặt ra, hay là sự phản ứng của chủ thể quản lý trước một tình
huống đòi hỏi phải có sự giải quyết của Nhà nước theo thẩm quyền do luật định
Nhìn một cách tổng quát, việc ban hành các quyết định quản lý hành chính nhà nước là
nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm định ra chính sách sửa đổi hoặc bãi bỏ các
quy phạm luật hành chính. Chúng có khả năng làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt hoặc phục hồi
các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể. Khi ban hành quyết định hành chính các cơ quan Nhà
nước nhằm thực hiện ác nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn mà pháp luật quy định cho mình
Các quyết định hành chính được hiểu như là một loại hình của quyết định Nhà nước nên
nó có các tính chất cơ bản như:
+ Có tính ý chí quyền lực Nhà nước: là kết quả của sự thể hiện ý chí của các cơ quan
hành chính Nhà nước có thẩm quyền thực hiện nhân dân quyền lực Nhà nước
+ Có tính pháp lý: thể hiện ở hậu quả pháp lý do chúng tạo ra. Quyết định hành chính tác
động vào đời sống xã hội bằng việc đưa ra chính sách , sửa đổi, bãi bỏ các quy phạm pháp luật
hành chính; làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt hoặc phục hồi quan hệ pháp luật hành chính
+ Có tính dưới luật, chấp hành luật: nghĩa là nội dung của quyết định hành chính phải
phù hợp với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, được ban hành theo
trình tự và hình thức do pháp luật quy định
Chúng được ban hành để thực hiện quyền hành pháp tức là hoạt động chấp hành và điều
hành của hệ thống hành chính Nhà nước và người có thẩm quyền hành pháp
Với những đặc điểm như vậy, quyết định hành chính nhà nước chính là tín hiệu điều
khiển, là thông tin quy phạm của chủ thể quản lý hành chính nhà nước tác động vào khách thể
của quan hệ pháp luật hành chính để thực hiện mục đích của mình theo quỹ đạo và ý chí của
mình
Như vậy, ra quyết định quản lý hành chính là một hoạt động thường xuyên của nhà hành
chính, nó phải thường xuyên liên tục vì nó đảm bảo cho hoạt động thực thi quyền hành pháp có
hiệu lực và hiệu quả.
Quyết định quản lý hành chính nhà nước vừa được coi là phương tiện quản lý hành chính
nhà nước, vừa là sản phẩm của hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Số lượng và chất lượng
của quyết định quản lý hành chính nhà nước sẽ phản ánh chất lượng hoạt động quản lý hành
chính nhà nước. Bởi vậy, muốn nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý hành chính nhà nước cần
nắm vững nguyên lý chung về quyết định quản lý hành chính nhà nước.
Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay chưa có một định nghĩa chung về quyết định quản lý
hành chính nhà nước. Theo tài liệu nước ngoài về hành chính, một thuật ngữ được sử dụng phổ
biến là quyết định của cơ quan hành chính nhà nước, còn với các tài liệu đang lưu hành trong
nước, thuật ngữ này được dùng tương đương với quyết định quản lý nhà nước, hay quyết định
hành chính nhà nước. Cũng cần lưu ý rằng, các khái niệm này đều dùng để chỉ cùng loại quyết
định của cơ quan hành chính nhà nước. Do các cách tiếp cận khác nhau về hoạt động quản lý của
cơ quan hành chính nhà nước đã dẫn đến việc sử dụng những khái niệm không thống nhất như
trên.
Để đảm bảo tính nhất quán với các tài liệu đang lưu hành của Học viện Hành chính, và để
nhấn mạnh quản lý hành chính nhà nước là một bộ phận không tách rời của chủ thể quản lý nhà
nước, dùng quyết định làm phương tiện cơ bản để thực hiện chức năng quản lý hành chính, thì
nên quan niệm về quyết định quản lý hành chính nhà nước như sau:
Quyết định quản lý hành chính nhà nước là kết quả hoạt động của chủ thể hành chính nhà
nước được thể hiện dưới một hình thức nhất định để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan
hành chính nhà nước.
Tuy nhiên, do tính chất khác nhau của chủ thể quản lý hành chính nhà nước và các chủ
thể khác, nên để tìm ra đặc trưng của quyết định quản lý hành chính nhà nước so với các quyết
định khác, chúng ta cần tìm hiểu sự khác biệt giữa tổ chức hành chính nhà nước và các tổ chức
khác:
+ Các chủ thể quản lý hành chính nhà nước không thể làm quyết định theo ý chí, mong
muốn chủ quan của mình. Bởi các tổ chức hành chính và các cá nhân được coi là chủ thể khi họ
được trao quyền (sử dụng quyền lực nhà nước), mà quyền lực nhà nước mang tính phục vụ lợi
ích chung, các chủ thể chỉ là đại điện cho nhà nước, vì lợi ích của nhà nước.
+ Do chủ thể ban hành quyết định được sử dụng quyền lực nhà nước, mà tính chất cơ bản
của quyền lực nhà nước là tính cưỡng chế,do đó nó có tính bắt buộc đối với các chủ thể khác có
liên quan đến vấn đề mà quyết định ..quản lý hành chính nhà nước đề cập đến.
+ Quyết định do chủ thể quản lý hành chính nhà nước ban hành hướng tới mục tiêu
không chỉ của tổ chức hành chính mà còn hướng tới mục tiêu chung của quốc gia.
+ Môi trường để các nhà hành chính ban hành quyết định khác với các tổ chức khác, bao
gồm nhiều yếu tố tác động như ảnh hưởng của cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp, cá nhân
công dân, đảng phái, tổ chức Chính trị, xã hội cũng như các nhóm lợi ích trong xã hội. Quyết
định được ban hành trên cơ sở luật do cơ quan lập pháp ban hành và nhằm thực thi luật (phụ
thuộc vào nội dung của luật theo thẩm quyền của chủ thể được quy định trong luật, quyết định
của cơ quan hành chính cấp trên). Ngoài ra, việc ban hành quyết định của các chủ thể quản lý
hành chính nhà nước còn phải tính đến lợi ích của các nhóm lợi ích trong xã hội.
+ Quy trình thủ tục ban hành quyết định quản lý hành chính không tự do như các tổ chức
khác mà chịu sự điều chỉnh bởi các quy định pháp luật về thủ tục.
+ Quyết định quản lý hành chính nhà nước được ban hành nhằm giải quyết các vấn đề đặt
ra trong quản lý hành chính nhà nước (hoạt động thực thi quyền hành pháp): quản lý hành chính
nhà nước là sự tác động điều chỉnh các hành vi và quá trình xã hội, khi xuất hiện vấn đề cần điều
chỉnh, các chủ thể ban hành quyết định. Như vậy, hệ quả của việc ban hành quyết định sẽ là: làm
phát sinh thay đổi chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính trong lĩnh vực cần điều chỉnh.
Từ những quan niệm trên, thì rút ra khái niệm chung về QĐQLHCNN: QĐQLHCNN là
mệnh điều hành của chủ thể QLHCNN, được xây dựng và thông qua theo một trình tự, thủ tục
nhất định nhằm thực hiện một mục đích hay công việc cụ thể trong QLHCNN.
Câu 19. Phân loại quyết định QL.HCNN?
QĐ QLHC là mệnh lệnh điều hành của các chủ thể quản lý HCNN, được xây dựng và
thông qua theo một trình tự, thủ tục nhất định nhằm thực hiện một mục đích hay công việc cụ thể
trong QLHCNN.
Phân loại các QĐ QLHC có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau.
a/ Theo tính chất pháp lý và nội dung của QĐ: có 3 loại
- QĐ QLHCNN chủ đạo: đó thường là những QĐ chung và nhằm mục đích là đề ra các
chính sách , nhiệm vụ, biện pháp lớn có tính chất chung. Nó là cơ sở cho việc ban hành các QĐ
HC quy phạm và là công cụ định hướng trong thực hiện lãnh đạo của hệ thống hành chính NN;
thường được thể hiện dưới hình thức là Nghị quyết.
- QĐ QLHCNN quy phạm: là QĐ ban hành các quy phạm pháp luật hành chính, trực tiếp
làm thay đổi hệ thống quy phạm PL HC, cụ thể:
+ đặt ra các PQPLHC mới nhằm điều chỉnh các quan hệ XH mới phát sinh mà chưa có
luật, pháp lệnh điều chỉnh.
+ cụ thể hóa các QPPL do Quốc hội hoặc các cơ quan NN cấp trên ban hành
+ sửa đổi những QPPLHC hiện hành
+ thay đổi phạm vi hiệu lực của quy phạm pháp luật HC hiện hành về thời gian, không
gian và đối tượng thi hành.
QĐQLHHNN quy phạm thường được thể hiện dưới hình thức tên gọi là Nghị định,
Thông tư, QĐ của UBND.
- QĐQLHCNN cá biệt: là QĐ do các chủ thể QLHC có thẩm quyền ban hành trên cơ sở
QĐ quy phạm hoặc trên cơ sở QĐ QL HC cá biệt của cấp trên nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể
trong QLHCNN.
Việc ban hành QĐ QLHC cá biệt làm phát sinh, they đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật
cụ thể
QĐQLHC cá biệt có tính chất đơn phương và tính bắt buộc thi hành ngay
VD: quyết định bổ nhiệm, QĐ cử đi học…
b/ Theo thẩm quyền ban hành:
- Theo tiêu thức này, các QĐ HC phân chia thành các loại như sau:
+ QĐ của Chính phủ: Nghị quyết, Nghị định
+ QĐ của Thủ tướng CP: QĐ, chỉ thị
+ QĐ của Bộ trưởng: QĐ, chỉ thị, thông tư
+ QĐ của UBND ( các cấp): QĐ, chỉ thị
c/ Theo hiệu lực thi hành: theo tiêu thức này thì các QĐ QLHCNN chia thành:
- QĐ có hiệu lực lâu dài được áp dụng cho đến khi có QĐ HC khác thay thế.
- QĐ có hiệu lực trong một thời gian nhất định- là những QĐ có ghi rõ thời hạn có hiệu
lực, tùy thuộc vào thời gian giải quyết vấn đề. Ví dụ: các QĐ về côngh bố lệnh báo động trong
thời gian lũ lụt đối với nhiệm vụ bảo vệ đê điều…
- QĐ có hiệu lực 1 lần chỉ giải quyết những nhiệm vụ cụ thể. Ví dụ: QĐ lên lương hay đề
bạt cán bộ.
d/ Theo tính chất mệnh lệnh của QĐ: theo tiêu thức này, QĐ HC được phân chia thành
các loại:
- QĐ cấm đoán là QĐ không cho cá nhân, tổ chức thực hiện những hành vi được xác định
trước trong QĐ. Nếu cứ thực hiện các hành vi đã bị cấm thì phải chịu trách nhiệm pháp lý
- QĐ cho phép làm nảy sinh các mqh sau: trước khi thực hiện một hoạt động (hành vi)
hành chính, công dân hoặc tập thể phải đề nghị hay yêu cầu cơ quan HCNN có thẩm quyền, căn
cứ vào các quy định của pháp luật, quyết định cho phép hoặc không cho phép thực hiện.
- QĐ điều chỉnh, sửa đổi sẽ định hướng hoặc quy định lại các hành vi, quan hệ giữa các
tổ chức, cá nhân chịu sự tác động của QĐ đó.
e/ Theo loại chủ thể ban hành: gồm QĐ của cá nhân có thẩm quyền và QĐ của tổ chức.
- QĐ tổ chức là loại QĐ do tập thể có thẩm quyền thông qua, được các nhà hành chính
nhân danh tổ chức ban hành. Quyết định cá nhân có thể được ủy quyền cho cấp dưới làm và có
thể phối hợp, tham gia và hoàn thiện của nhiều người. ví dụ: QĐ của UBND là QĐ tổ chức do
Chủ tịch UBND ký thay mặt, Quyết định của Chủ tịch là QĐ các nhân, do Chủ tịch trực tiếp ký
hoặc ủy quyền cho người khác ký thay.
f/ Theo quy trình thủ tục ban hành:
- QĐ theo chương trìnhlà những loại QĐ tuân thủ theo những quy định về thủ tục, quy
trình có sẵn, không đòi hỏi phải xử lý thêm những khía cạnh mang tính kỹ thuật.
- QĐ không theo chương trình được hiểu như là loại QĐ mang tính tình huống, việc đưa
ra các QĐ đòi hỏi các nhà hành chính phải nghiên cứu cụ thể và vận dụng nhiều kỹ năng, khoa
học quyết định để đưa ra các QĐ đúng.
g/ Theo hình thức thể hiện: theo đó ta có:
- QĐ QLHCNN thể hiện dưới dạng VB
- QĐ QLHCNN thể hiện dưới dạng lời nói: được sử dụng để điều hành hoạt động nội bộ
của CQ HCNN hoặc để giải quyết những công việc cụ thể, gấp rút…
- QĐ QLHCNN được thể hiện dưới hình thức biển báo, tín hiệu, ký hiệu.
Câu 20. Để đảm bảo tính hiệu lực và hiệu quả khi ban hành quyết định quản lý
hành chính nhà nước cần đáp ứng các yêu cầu gì? Liên hệ thực tiễn để làm rõ vấn đê trên
Xuất phát từ nguyên tắc pháp chế trong QLHCNN, việc ban hành QĐ QLHCNN cũng
phải tuân thủ pháp luật; tức là mọi QĐ phải được ban hành trên cơ sở Pháp luật và nhằm để thực
thi pháp luật. tuy nhiên, để các QĐ đó có khả năng thực thi cao trên thực tế thì chúng còn phải
phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cuộc sống, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, tức là
chúng phải hợp lý. Như vậy mọi QĐ QLHCNN chỉ có thê đảm bảo có hiệu lực và hiệu quả khi
nội dung và hình thức, thủ tục của chúng bảo đảm cả tính hợp pháp và tính hợp lý. Hai yêu cầu
này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, do đó khi ban hành QĐ QLHCNN, chủ thê ban hành phải
tính đến cả hai yêu cầu hợp pháp và hợp lý.
a/ yêu cầu về tính hợp pháp:
- Nội dung của QĐ phải phù hợp với nội dung và mục đích của luật; phù hợp với nguyên
tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của NN; những nguyên tắc cơ bản của pháp luật VN; phù hợp
với các điều ước quốc tế mà NN ký kết hoặc gia nhập.
- QĐ phải được ban hành đúng với thẩm quyền của các chủ thể QLHCNN, nghĩa là mội
một chủ thể nhất định (cơ quan và cá nhân được trao thẩm quyền) chỉ có quyền ban hành QĐ để
giải quyết nhhững vấn đề xác định mà pháp luật đã trao cho.
- QĐ phải ban hành xuất phát từ những lý do xác thực, nghĩa là những lý do đó xuất phát
từ lợi ích chung của NN, của xã hội, dựa trên những căn cứ pháp lý xác đáng và những sự kiện
pháp lý nhất định, tức là chỉ khi nào trong hoạt động QLNN và đời sống xã hội xuất hiện các nhu
cầu, các sự kiện được pháp luật quy định cần phải ban hành QĐ thì chủ thể QLHCNN có thẩm
quyền mới ra các QĐ nhằm quy định chung hoặc áp dụng pháp luật vào các trường hợp cụ thể.
- QĐ phải được ban hành đúng thể thức, kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật:
tên gọi, thể thức ( tiêu đề, số, ký hiệu, ngày tháng ban hành, chữ ký…) và phải được trình bày
đúng trình tự, thủ tục luật định.
b/ Yêu cầu về tính hợp lý:
Yêu cầu hợp lý là những yêu cầu tuy rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả QĐ
QLHCNN nhưng do yêu cầu này liên quan tới kỹ thuật, nghệ thuật quản lý do đó chúng không
thể được quy định chặt chẽ, rõ ràng trong pháp luật. một QĐ QLHCNN được coi là hợp lý khi
thoả mãn các yêu cầu cụ thể sau:
- QĐ phải đảm bảo kết hợp hài hoà các lợi ích của NN, tập thể, các nhân. Tránh ban hành
các QĐ chỉ nhằm phục vụ cho lợi ích của NN mà gây cản trở và thiệt hại cho công dân; ngược
lại, tránh vì phục vụ cho lợi ích của một thiểu số người mà gây tổn hại chung cho xã hội.
- QĐ phải có tính cụ thể phù hợp với từng vấn đề, và đối tượng thực hiện, tức là QĐ cần
phải cụ thể về nhiệm vụ, thời gian, chủ thể, phương tiện thực hiện QĐ. Tuy nhiên, nếu một QĐ
quá cụ thể thì khó có thể phù hợp với mọi đối tượng thực hiện, và do đó sẽ cản trở tính chủ động
sáng tạo của đối tượng thực hiện. vì vậy tính cụ thể phải gắn liền với tính phù hợp, tức là QĐ
được ban hànhphù hợp với từng vấn đề và đối tượng thực hiện.
- QĐ phải đảm bảo tính hệ thống, toàn diện. tính hệ thống đòi hỏi không chỉ các biện
pháp được đưa ra trong cùng một QĐ mà cả trong các QĐ liên quan đều phải phù hợp, đồng bộ
với nhau, kể cả QĐ của các CQ khác nhau về cùng một loại vấn đề. Và nhất là phải luôn gắn
mục tiêu nhiệm vụ cần đạt với điều kiện thực hiện ( nhân lực, vật lực). tính toàn diện nghĩa là nội
dugn của QĐ phải tính hết các đặc điển của các ngành, lĩnh vực, phải tính đến tác động trực tiếp
và gián tiếp của QĐ, mục tiêu trước mắt và lâu dài, phải tính hết hiệu quả không chỉ về mặt kinh
tế mà cả vể chính trị, văn hoá, xã hội
- QĐ phải sử dụng ngôn ngữ, văn phong HC. Sở dĩ có yêu cầu này là vì ngôn ngữ và cách
trình bày QĐ rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn thì nội dung của QĐ mới được thể hiện một cách chính
xác, dễ tiếp cận, từ đó mới áp dụng đúng QĐ.
Liên hệ thực tế
- Tính hợp pháp: Trong tình hình hiện nay thì các quyết định hành chính đa phần đảm
bảo được tính hợp pháp, các quyết định đề ra đã đúng thẩm quyền, đúng chủ thể, phù hợp với
pháp luật. Nhưng bên cạnh các tiến bộ đã đạt được trong thời kỳ gần đây, thì vẫn còn tồn tại một
số điểm bất hợp lý trong công tác tác ra quyết định hành chính, đó là còn một số quyết định ra
trái với thẩm quyền của chủ thể ban hành, do các chủ thể này chưa nắm được pháp luật và sự yếu
kém về trình độ.
Tính hợp lý, trong giai đoạn hiện nay, mặc dù đã có rất nhiều sự cố gắng để nâng cao tính
hiệu quả của các quyết định hành chính,nhưng vẫn còn tồn tại ở một số nơi với những văn bản
chưa có tính khả thi cao, hay là việc ra quyết định quá chậm chạp, gây khó khăn cho hoạt động
quản lý
VD: QĐ26/UB- TP Hà Nội 3/2003 quy định về thời gian hoạt động của các phương tiện
vận tải. Kết quả thực hiện đã làm cho nhiều phương tiện giao thông không thể hoạt động theo
các quy định. Chỉ sau 2 ngày thực hiện đã phải tạm đình chỉ và sửa đổi
Câu 21. Thế nào là QĐQLHCNN là bất hợp pháp, bất hợp lý, thông qua 1 ví dụ cụ
thể để phân tích sự tác động của QĐ bất hợp lý đến đời sống XH.
Trả lời:
* KN: QĐQLHCNN là mệnh điều hành của chủ thể QLHCNN, được xây dựng và thông
qua theo một trình tự, thủ tục nhất định nhằm thực hiện một mục đích hay công việc cụ thể trong
QLHCNN.
* Nếu QĐQLHCNN vi phạm ít nhất một trong 4 yêu cầu sau đây thì bất hợp pháp:
- Nội dung của quyết định phải phù hợp với nội dung và mục đích của luật; phù hợp với
nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước; những nguyên tắc cơ bản của pháp
luật Việt Nam; phù hợp với các điều ước quốc tế mà Nhà nước ký kết hoặc gia nhập.
- Quyết định phải được ban hành đúng với thẩm quyền của các chủ thể quản lý hành
chính nhà nước. Yêu cầu này có nghĩa là, mỗi một chủ thể nhất định (cơ quan và cá nhân được
trao thẩm quyền) chỉ có quyền ban hành quyết định để giải quyết những vấn đề xác định mà
pháp luật đã trao cho.
- Quyết định phải ban hành xuất phát từ những lý do xác thực. Những lý do được coi là
xác thực khi nó xuất phát từ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội, dựa trên những căn cứ pháp