VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ THỦY
KINH TẾ XANH: KINH NGHIỆM TRUNG QUỐC
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHAN THỊ THỦY
KINH TẾ XANH: KINH NGHIỆM TRUNG QUỐC
VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản Lý Kinh Tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn
HÀ NỘI, năm 2016
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………….….…….……...1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ XANH…………..…….…...9
1.1. Khái niệm kinh tế xanh……………………………………………….....……….9
1.2. Nội dung của kinh tế xanh ………………...…..………………………..……...16
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế xanh và các chỉ số đo lường …..………..….20
1.4. Vai trò của kinh tế xanh…………………………………………………….......20
Chương 2: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XANH Ở TRUNG QUỐC..…26
2.1. Tổng quan nền kinh tế của Trung Quốc………………………….…………..…26
2.2. Chính sách phát triển kinh tế xanh của Trung Quốc……………………............29
2.3. Thực trạng phát triển kinh tế xanh của Trung Quốc………………...….............40
2.4. Các nhân tố thúc đấy phát triển kinh tế xanh ở Trung Quốc………………...…42
2.5. Đánh giá các chính sách phát triển kinh tế xanh của Trung Quốc…………..….48
2.6. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam…………………………………….....……53
Chương 3: GỢI MỞ TIẾP CẬN CHÍNH SÁCH CHO VIÊT NAM……..................57
3.1. Bối cảnh và xu hướng mới……………………………………………….....…..57
3.2. Những tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc………........….59
3.3. Bức tranh tổng thể nền kinh tế xanh ở Việt Nam………………….…...………60
3.4. Gợi mở tiếp cận chính sách cho Việt Nam……………………………..............65
KẾT LUẬN……………………………………………………………..……...……75
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………….………………....…….77
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. ESCAP : Economic and Social Commission for Asia and the Pacific
Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á và Thái Bình Dương
2. FAO:
Food and Agriculture Organisation
Tổ chức liên hiệp quốc về lương thực và nông nghiệp
3. ILO:
Interational Labor Organization
Tổ chức lao động quốc tế
4. OECD:
Organization for Economic Cooperation and Development
Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển
5. UNEP:
United Nations Environment Programme
Chương trình liên hiệp quốc về môi trường
6. UNESCO: United Nations Educational, Scientific
Tổ chức liên hiệp quốc về giáo dục, khoa học và văn hóa
7. WB:
World Bank
Ngân hàng thế giới
8. WFC:
World Food Council
Hội đồng lương thực thế giới
9. WIPO:
World Intellectual Property Organization
Tổ chức thế giới về sở hữu tri thức
10. WHO:
World Health Organization
Tổ chức y tế thế giới
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Xu hướng phát triển của kinh tế thế giới trong thời gian vừa qua cho thấy,
quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng nhanh, các chu kỳ kinh tế đang
được rút ngắn lại, kèm với nó là các vấn đề về suy thoái môi trường ngày
càng trở nên trầm trọng. Các thách thức do hậu quả của các cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu 2008-2009 và thách thức bởi bối cảnh biến đổi khí hậu ngày
càng lớn . Phát triển kinh tế vẫn còn dựa nhiều vào việc sử dụng và khai thác
tài nguyên thiên nhiên dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên, sử dụng lãng phí và
kém hiệu quả; năng suất lao động còn thấp; công nghệ sản xuất, mô hình tiêu
dùng còn sử dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu và thải ra nhiều chất thải
(60% các hàng hóa và dịch vụ của thế giới đang xuống cấp hoặc đang sử dụng
thiếu bền vững). Thêm vào đó, dân số tăng nhanh, tỷ lệ nghèo còn cao, các
dịch vụ cơ bản về giáo dục và y tế hiện còn nhiều hạn chế, bất cập, các loại tệ
nạn xã hội không những chưa được ngăn chăn triệt để mà còn có xu hướng
gia tăng. Đáng lo ngại nhất là môi trường thiên nhiên ở nhiều nơi bị phá hoại
vô cùng nghiêm trọng, ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động (biến đổi khí
hậu khiến thế giới thiệt hại đến 1,2 ngàn tỷ USD mỗi năm, tương đương 1,6%
GDP toàn cầu)...Tất cả các vấn đề trên đang là những vấn đề bức xúc và thách
thức lớn đối với các quốc gia.
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển được tổ chức ở
Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát
triển bền vững được tổ chức ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002
đã xác định: Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong
tiến trình phát triển của xã hội loài người. Vìvậy các quốc gia trên thế giới đã
đồng thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát
triển.Để xây dựng mô hình phát triển bền vững, các nước phải xây dựng
1
những công cụ mới và chuyển đổi mô hình tăng trưởng hiện có để giải quyết
hiệu quả các vấn đề mà thế giới đang phải đối mặt, đồng thời có thể biến
những thách thức thành cơ hội để phát triển. Theo hướng đó, nhiều quốc gia
đã tiến hành thực hiện mô hình tăng trưởng xanh, tạo động lực quan trọng để
xanh hóa phát triển kinh tế thông qua việc khuyến khích tăng trưởng và phát
triển kinh tế trong khi vẫn bảo đảm bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà
kính, bảo tồn đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thích ứng
với biến đổi khí hậu.
Ở Việt Nam, quá trình đổi mới gắn chặt với quá trình mở cửa nền kinh
tế và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Việc mở cửa nền kinh tế giúp Việt
Nam thu hút được nhiều nguồn lực từ bên ngoài, đặc biệt là vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước. Tuy nhiên, những
thành tựu đạt được mới chỉ dừng lại về mặt số lượng, còn chất lượng vẫn còn
nhiều hạn chế. Năng suất của nền kinh tế thấp do ít có sự đóng góp của yếu tố
công nghệ và mức độ "tinh" của nguồn nhân lực. Hiệu quả đầu tư của Việt
Nam rất thấp, nền kinh tế tăng trưởng dựa quá nhiều vào vốn đầu tư từ nước
ngoài... làm cho kinh tế vĩ mô kém ổn định hơn. Sự yếu kém về mặt chất
trong tăng trưởng kinh tế còn cho thấy nền kinh tế tiêu tốn nhiều năng lượng
và đang tác động tiêu cực đến môi trường do khai thác quá nhiều tài nguyên
trong khi công nghệ thấp, không xử lý được rác thải ra môi trường. Những
yếu kém này bắt nguồn từ mô hình tăng trưởng "theo chiều rộng" đã được áp
dụng quá lâu. Do đó, để duy trì tính bền vững trong phát triển và bắt kịp xu
hướng thế giới, Việt Nam cần thay đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát
triển sâu, bền vững, đó là tăng trưởng xanh.
Kinh tế xanh hiện vẫn là một đề tài khá mới và đang được nghiên cứu ở
Việt Nam. Theo PGS.TS Nguyễn Thế Chinh, Viện trưởng Viện Chiến lược,
Chính sách Tài nguyên và Môi trường: “Hiện nay Việt Nam vẫn gần như
2
chưa có cơ chế chính sách hướng tới thực hiện nền kinh tế xanh, trong khi
trên thế giới cũng mới đề xuất hướng tiếp cận này. Theo đó, việc rà soát lại cơ
chế chính sách liên quan và sửa đổi bổ sung sao cho phù hợp với mô hình
phát triển mới theo hướng cơ cấu lại ngành kinh tế cũng là trở ngại không
nhỏ”. Như vậy, nghiên cứu lý luận kinh tế xanh và tìm ra chính sách phát
triển kinh tế xanh là một đề tài cấp thiết và là một xu hướng khách quan tất
yếu trong quá trình phát triển của các quốc gia nói chung và của Việt Nam nói
riêng. Nghiên cứu theo hướng này không chỉ có ý nghĩa quan trọng và có tính
thực tiễn cao trong tình hình hiên nay mà còn tạo tiền đề phát triển bền vững
cho thế hệ mai sau.
Đối với việc học tập kinh nghiệm quốc tế về tăng trưởng xanh và kinh
tế xanh, có thể thấy Trung Quốc là một trong những nước Đông Á đã triển
khai các chính sách tăng trưởng xanh và bước đầu đã có một số kết quả nhất
định. Trung Quốc là một quốc gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam về
vị trí địa lý, về mô hình và thể chế kinh tế, văn hóa, xã hội. Nghiên cứu
những chính sách mà Trung Quốc đã thực hiện sẽ giúp Việt Nam đúc rút các
bài học kinh nghiệm tốt trong thực hiện mô hình tăng trưởng xanh và kinh tế
xanh. Chính vì lý do trên, luận văn nghiên cứu tiến hành nghiên cứu với tên
đề tài “Kinh tế xanh: kinh nghiệm Trung Quốc và gợi mở chính sách cho Việt
Nam” để giúp đưa ra các bài học kinh nghiệm và hàm ý choviệc định hướng
phát triển bền vững Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Kinh tế xanh là một chủ đề mới trên thế giới, được quan tâm nhiều trong
thời gian gần đây. Tuy nhiên, đây là một lĩnh vực mới, nên các tài liệu và
công trình nghiên cứu về chủ đề này ở nước ngoài còn ít, đặc biệt tài liệu của
Trung Quốc rất ít. Luận văn này cố gắng tổng quan, chọn lọc và tổng hợp từ
3
nhiều nghiên cứu ở trong và ngoài nước về các vấn đề kinh tế xanh của Trung
Quốc và Việt Nam.
Nghiên cứu trong nước:
Trong các nghiên cứu ở Việt Nam, có thể đề cập đến công trình “Chuyển
đổi phương thức phát triển kinh tế theo hướng nền kinh tế xanh ở Việt Nam”
của tác giả: Nguyễn Thế Chinh (2011). Công trình đi sâu phân tích những
cách thức chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế để hướng nền kinh tế
Việt Nam sang nền kinh tế xanh. Trong đó thực trạng môi trường và thực
trạng phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam cũng được đề cập và thảo luận. Tuy
nhiên, công trình mới chỉ đề cập đến một khía cạnh là chuyển đổi phương
thức phát triển kinh tế mà chưa đưa ra bức tranh tổng thể kết hợp các yếu tố
khác để phát triển kinh tế xanh như: chính sách năng lượng, bảo vệ môi
trường…Một công trình khác là “Hướng tới nền kinh tế xanh - Lộ trình cho
phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo” của chương trình môi trường
Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã cho thấy tầm quan trọng của kinh tế xanh đối với
sự phát triển kinh tế cũng như là những vấn đề an sinh xã hội.
Về Việt Nam, công trình nghiên cứu “Khai thác và sử dụng năng lượng
xanh ở Việt Nam” của Bùi Quang Tuấn (2015) cũng cho thấy tầm quan trọng
của việc phát triển kinh tế xanh, và thực trạng cũng như thách thức phát triển
các nguồn năng lượng xanh ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, công trình này kiến
nghị một số giải pháp nhằm tăng cường khai thác và sử dụng năng lượng
xanh một cách hiệu quả đối với một nền kinh tế như Việt Nam. Ngoài ra, còn
có một số bài viết khác về lĩnh vực này như “Kinh tế xanh trong đổi mới mô
hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam giai đoạn tới” của
GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn và TS. Nguyễn Xuân Trung, (2014),bài viết
“Kinh tế xanh – định hướng phát triển bền vững cho nền kinh tế Việt Nam
giai đoạn 2015-2025” cũng cùng tác giả, “Tăng trưởng xanh ở Việt Nam: cơ
4
hội, thách thức, và các định hướng thực hiện” của Bùi Quang Tuấn
(2015)…Các công trình này đã nghiên cứu các chính sách và kinh nghiêm
quốc tế cũng như rút ra các bài học về ứng dụng kinh tế xanh của các nước
trên thế giới cho Việt Nam, đặc biệt là chỉ ra những thách thức và giải pháp
đối mặt với thách thức cho Việt Nam để tìm ra hướng đi hiệu quả cho việc
thực hiện mô hình tăng trưởng xanh trong giai đoạn 2015-2025.
Nghiên cứu của nước ngoài:
Trong số ít các nghiên cứu về kinh tế xanh của Trung Quốc có thể kể đến
công trình “New Approaches to the Green Economy of China in the Multiple
Crises” của các tác giả: Jia Xiaowei, Sun Qi, Gao Yanfeng (2011) .Trong
nghiên cứu này tác giả làm rõ ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến chiến
lược phát triển kinh tế xanh của Trung Quốc. Nghiên cứu cũng làm rõ sự cần
thiết phát triển kinh tế xanh của Trung Quốc và những thách thức phát triển
kinh tế xanh ở nước này.Tuy nhiên, đây là một bài nghiên cứu ngắn chưa xem
xét rõ thực trạng phát triển kinh tế xanh của Trung Quốc, cũng như những
chính sách cụ thể của Trung Quốc. Công trình “Investigating economic
growth, energy consumption and their impact on CO2 emissions targets in
China” của các tác giả: Maxensius Tri Sambodo, Tatsuo Oyama (2011)
đãthực hiện điều tra những tác động của tăng trưởng kinh tế đến mức tiêu thụ
năng lượng. Đồng thời công trình này cũng đề cập đến các vấn đề và thách
thức của phát triển nền kinh tế xanh cần phải giải quyết. Công trình
“Contributing to a better environmental future for China and the world”, một
nghiên cứu của Tổ chức The professional association về vấn đề môi trường
của Trung Quốcđã đề cập đến các định hướng phát triển kinh tế xanh để đảm
bảo môi trường trong tương lai. Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đề cập đến
các khía cạnh khác của kinh tế xanh như công bằng và bình đẳng xã hội.
5
Đến nay, mặc dù đã có một số thống nhất về định nghĩa cũng như đặc
điểm của kinh tế xanh và đã có những luận giải về mặt cơ sở lý luận cho hiệu
quả dài hạn của kinh tế xanh so với kinh tế nâu truyền thống, tuy nhiên, các
nghiên cứu về kinh tế xanh vẫn chưa nhiều và chưa đúc rút được ra những bài
học kinh nghiệm và những điều kiện có thể áp dụng cho việc phát triển kinh
tế xanh cho Việt Nam từ kinh nghiệm của Trung Quốc . Đây cũng chính là
động cơ để luận văn này tiến hành nghiên cứu với đề tài như đã xác định ban
đầu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục tiêu chung: Làm rõ được bài học kinh nghiệm của Trung Quốc về kinh tế
xanh để áp dụng cho Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể :
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về kinh tế xanh.
- Làm rõ được các chính sách của Trung Quốc về phát trển kinh tế xanh.
- Rút ra được bài học kinh nghiệm của Trung Quốc và đưa ra một số gợi mở
chính sách cho phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
a. Đối tượng nghiên cứu: Kinh tế xanh và các chính sách về kinh tế xanh
b. Phạm vi nghiên cứu:
- Vấn đề nghiên cứu: Luận văn tập trung vào các chính sách phát triển kinh
tế xanh của Trung Quốc chứ không đặt nặng thực trạng thực hiện chính
sách này của Trung Quốc
- Không gian: Xem xét chủ yếu là trường hợp Trung Quốc để áp dụng cho
Việt Nam
- Thời gian: từ khi Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu triển khai các chính
sách kinh tế xanh cho phát triển kinh tế.
6
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như phương
pháp thu thập thông tin, thu thập các tài liệu trong và ngoài nước và các tài
liệu thứ cấp, sau đó tiến hànhxử lý tư liệu bằng phương pháp phân tích, tổng
hợp và so sánh. Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để so sánh các khái
niệm của các học giả, so sánh một số chính sách của Việt Nam và Trung
Quốc trong phát triển kinh tế xanh. Luận văn sử dụng phương pháp phân tích
các chính sách của Trung Quốc để tổng hợp và đúc rút thành các bài học kinh
nghiệm áp dụng cho Việt Nam. Luận văn áp dụng phương pháp chuyên gia để
lấy ý kiến đánh giá nhận định về các vấn đề liên quan đến kinh tế xanh.
6. Ý nghĩa lý luận và và thực tiễn của luận văn.
Kinh tế xanh của Việt Nam là một trong những nội dung nghiên cứu khá
mới mẻ ở Việt Nam cả về phương pháp cũng như các công cụ nghiên cứu do
tính phức tạp về qui mô cũng như đối tượng bị tác động. Do vậy, việc tìm
hiểu và nghiên cứu về những kinh nghiệm về kinh tế xanh của Trung Quốc
nhằm đưa ra bài học áp dụng cho Việt Nam là một nhiệm vụ khó khăn nhưng
có ý nghĩa đóng góp về mặt chính sách. Thứ nhất, luận văn phân tích thực
trạng kinh tế xanh đã được áp dụng trong bối cảnh kinh tế ở Trung Quốc từ đó
rút ra ưu thành tựu và hạn chế của những chính sách này để đưa ra bài học
cho Việt Nam. Thứ hai, luận văn cung cấp cái nhìn tổng quát nhất về những
đặc điểm kinh tế xanh của Việt Nam, qua đó làm rõ điều kiện để áp dụng các
bài học kinh nghiệm của Trung Quốc.
7. Cơ cấu của luận văn.
Luận văn bao gồm 3 phần (Mở đầu, Nội dung và Kết luận) với 3
chương:
Chương 1 : Những vấn đề chung về kinh tế xanh. Ở chương này, luận
văn bàn về một số quan điểm về khái niệm, đặc điểm, tiêu chí đánh giá của
7
kinh tế xanh, từ đó phân tích những yếu tố ảnh hưởng cũng như vai trò của
kinh tế xanh.
Chương 2 : Chính sách phát triển kinh tế xanh của Trung Quốc. Trong
chương này, luận văn nêu thực trạng về chính sách kinh tế xanh của Trung
Quốc, qua đó phân tích những nhân tố ảnh hưởng và rút ra bài học cho Việt
Nam.
Chương 3: Luận văn đưa ra một số gợi mở chính sách phát triển kinh tế
xanh cho Việt Nam.
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ XANH
1.1. Khái niệm kinh tế xanh
Trong một thời gian dài trước đây, các nền kinh tế đi theo mô hình phát
triển theo kiểu kinh tế “nâu”, đó là một nền kinh tế khai thác và sử dụng quá
nhiều năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch và các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
gây ra những tổn hại to lớn cho môi trường như ô nhiễm không khí, nguồn
nước và đại dương, suy thoái đất, mất rừng và suy giảm đa dạng sinh học.
Phương thức phát triển cũ đã phát thải quá nhiều khí gây hiệu ứng nhà kính
như CO2, SO2, CH4… là nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu diễn ra với
quy mô toàn cầu đe dọa cuộc sống con người và gây ra tổn thất cho hoạt động
kinh tế. Nhằm thay đổi tình trạng này, Chương trình môi trường Liên Hợp
Quốc (UNEP) đã đưa ra một hướng tiếp cận mới cho phát triển kinh tế được
nhiều quốc gia đồng tình hưởng ứng, đó là phát triển “nền kinh tế xanh”
(Green Economy).
Trên thế giới đã có nhiều định nghĩa và khái niệm về kinh tế xanh.
Trong đó, có một số khái niệm khá phổ biến như sau:
Theo Chương trình Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP): “Nền
kinh tế xanh là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người và cải thiện công
bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu những rủi ro môi trường và những thiếu
hụt sinh thái”.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for
Economic Co-operation and Development – OECD):Nền kinh tế xanh là nền
kinh tế tạo ra, phân phối sản phẩm và dịch vụ thân thiện môi trường, năng
lượng tái tạo, giao thông và nhiên liệu sạch và công trình xanh, giảm mức
tiêu thụ năng lượng, nguyên liệu, nước thông qua chiến lược hiệu quả năng
9
lượng và tài nguyên và chuyển đổi từ các cấu phần cac-bon sang không cacbon.”
Một số tổ chức không dùng khái niệm kinh tế xanh mà dùng khái niệm
tăng trưởng xanh để định hình mô hình phát triển kinh tế. Khái niệm tăng
trưởng xanh được nhiều tổ chức định nghĩa như sau:
• Theo Hàn Quốc : "Tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng đạt được bằng
cách tiết kiệm và sử dụng các nguồn tài nguyên và năng lượng hiệu quả để
giảm thiểu biến đổi khí hậu và thiệt hại tới môi trường, tạo ra các động lực
tăng trưởng mới thông qua nghiên cứu và phát triển công nghệ xanh, tạo các
cơ hội việc làm mới và đạt được sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ
môi trường".
• Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (Organization for
Economic Co-operation and Development): Tăng trưởng xanh là thúc đẩy
tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo rằng các nguồn tài sản tự
nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho
cuộc sống của chúng ta. Để thực hiện điều này, tăng trưởng xanh phải là nhân
tố xúc tác trong việc đầu tư và đổi mới, là cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững
và tăng cường tạo ra các cơ hội kinh tế mới.
• Định nghĩa tăng trưởng xanh của Việt Nam:Việt Nam đã có khái niệm
về tăng trưởng xanh, thể hiện trongchiến lược tăng trưởng xanh như là một
hướng cụ thể hóa định hướng phát triển bền vững. Khái niệm của Việt Nam
là: Tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng dựa trên quá trình thay đổi mô hình
tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao
hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế thông qua việc nghiên cứu và áp
dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại để sử
dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó
10
với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo và tạo động lực thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.
Nhìn chung, các khái niệm của các tổ chức, các học giả khác nhau tuy có
cách diễn đạt khác nhau nhưng đều có những điểm chung về bản chất, đó là: Thứ
nhất, kinh tế xanh là nền kinh tế thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí
nhà kính, thích ứng được với biến đổi khí hậu.; Thứ hai, kinh tế xanh là nền kinh
tế tăng trưởng theo chiều sâu, hao tổn ít nhiên liệu, tăng cường các ngành công
nghiệp sinh thái, đổi mới công nghệ; Thứ ba, kinh tế xanh là nền kinh tế tăng
trưởng bền vững, đảm bảo xóa đói giảm nghèo và công bằng xã hội.
Từ đó, theo tác giả: “kinh tế xanh là một nền kinh tế có hệ thống sản xuất
và tiêu dùng hàng hoá thân thiện với môi trường, ít sử dụng hoặc ít làm tổn
hại đến tài nguyên thiên nhiên, tiết kiệm trong tiêu thụ năng lượng, hạn chế
đến mức thấp nhất sự phát thải carbon, đảm bảo được an ninh lương thực, an
ninh năng lượng, an ninh tài chính, công bằng xã hội đồng thời giảm thiểu
mất cân bằng sinh thái”.
Khi nghiên cứu về kinh tế xanh, rất nhiều quan niệm gắn kinh tế xanh với
tăng trưởng xanh. Vậy kinh tế xanh và tăng trưởng xanh có mối liên hệ như
thế nào?
Cũng giống như nhận thức về kinh tế xanh, nhận thức về “tăng trưởng
xanh” là gì và nội hàm của tăng trưởng xanh bao gồm những nội dung nào
còn là vấn đề tranh luận, chưa có sự thống nhất. Một số tổ chức không dùng
khái niệm kinh tế xanh mà dùng khái niệm tăng trưởng xanh để định hình mô
hình phát triển kinh tế. Khái niệm Tăng trưởng xanh được nhiều tổ chức định
nghĩa như sau:
Theo định nghĩa của tổ chức Sáng kiến tăng trưởng xanh của Liên Hợp
quốc (UNEP), “Tăng trưởng xanh là quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh
tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài
11
nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai
thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm
sự mất cân bằng trong xã hội”.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế(OECD): “Tăng trưởng
xanh là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo các
nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường
thiết yếu cho cuộc sống của chúng ta. Để thực hiện điều này, tăng trưởng
xanh phải là nhân tố xúc tác trong việc đầu tư và đổi mới, là cơ sở cho sự
tăng trưởng bền vững và tăng cường tạo ra các cơ hội kinh tế mới”.
Theo Ủy ban Kinh tế của Liên hợp quốc khu vực châu Á và Thái Bình
Dương (ESCAP), “Tăng trưởng xanh nhấn mạnh phát triển kinh tế bền vững
thân thiện với môi trường để thúc đẩy nền kinh tế các-bon thấp, nhằm phát
triển xã hội công bằng".
Theo Hàn Quốc : "Tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng đạt được bằng
cách tiết kiệm và sử dụng các nguồn tài nguyên và năng lượng hiệu quả để
giảm thiểu biến đổi khí hậu và thiệt hại tới môi trường, tạo ra các động lực
tăng trưởng mới thông qua nghiên cứu và phát triển công nghệ xanh, tạo các
cơ hội việc làm mới và đạt được sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ
môi trường".
Việt Nam đã có khái niệm về tăng trưởng xanh, thể hiện trong chiến
lược tăng trưởng xanh như là một hướng cụ thể hóa định hướng phát triển bền
vững. Khái niệm của Việt Nam là: Tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng dựa
trên quá trình thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế nhằm tận
dụng lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh
tế thông qua việc nghiên cứu và áp dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ
thống cơ sở hạ tầng hiện đại để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm
12
phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm
nghèo và tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế một cách bền vững.
Qua một số định nghĩa và khái niệm trên, luận văn cho rằng: “Nền kinh
tế xanh” là sự nâng cấp của “Kinh tế môi trường”, trong kinh tế môi trường về
bản chất đó là “Nghiên cứu mối quan hệ tương tác, phụ thuộc và quy định lẫn
nhau giữa kinh tế và môi trường (hệ thống hỗ trợ cuộc sống của trái đất) nhằm
bảo đảm một sự phát triển ổn định, hiệu quả, liên tục và bền vững trên cơ sở
bảo vệ môi trường và lấy con người làm trung tâm”. Kinh tế xanh nhấn mạnh
hơn đầu tư cho phát triển chú trọng tới giảm thiểu ô nhiễm, nhất là giảm phát
thải cacbon và duy trì, phát triển nguồn vốn của tự nhiên, mang lại quyền
hưởng lợi của mọi người do đầu tư đó mang lại.
Theo kết qủa nghiên cứu của các tác giả trong tài liệu “Hướng tới nền
kinh tế xanh” do chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) công bố
năm 2011, mô hình kịch bản đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDP toàn
cầu (Khoảng 1300 tỷ USD), trong đó khoảng một phần tư của tổng số (0,5%
GDP) tương đương với số tiền 350 tỷ USD được đầu tư cho các lĩnh vực sử
dụng nhiều vốn tự nhiên như các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, nước sạch
và thủy sản. Trong mô hình kinh tế vĩ mô, các tác giả cũng đã tính toán và chỉ
ra rằng, xét trong dài hạn, đầu tư vào nền kinh tế xanh sẽ cải thiện hiệu quả
kinh tế và tăng tổng lượng của cải trên toàn cầu. Mặt khác sự đầu tư đó sẽ
đem lại hiệu quả trong việc phục hồi các nguồn tài nguyên có khả năng tái
tạo, giảm thiểu những rủi ro môi trường và tái thiết sự thịnh vượng cho tương
lai. Như vậy xây dựng một nền kinh tế xanh cũng không thay thế và mâu
thuẫn với “Phát triển bền vững”, vì phát triển bền vững thực chất là "sự phát
triển đáp ứng được các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả
năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai", phát triển bền vững nhằm
13
đạt tới mục tiêu dài hạn (mục tiêu thiên niên kỷ), còn xanh hóa nền kinh tế là
phương tiện đưa chúng ta tới đích của phát triển bền vững.
Để thực hiện nền kinh tế xanh, các quốc gia căn cứ vào thực tiễn của
mỗi nước phải tiến hành chuyển đổi mô hình và phương thức phát triển kinh
tế, phải tiến hành tái cơ cấu kinh tế. Trong thực tế đã có một số nước mặc dù
không nói rõ phát triển “nền kinh tế xanh”, nhưng đã có những điều chỉnh và
chuyển đổi phương thức phát triển không theo phương thức phát triển cũ là
“Kinh tế Nâu” nữa.
Hiện nay đang có xu hướng thay thế kinh tế nâu một mô hình kinh tế đã
tồn tại qua nhiều thế kỷ bằng kinh tế xanh là một mô hình kinh tế tiến bộ mới
xuất hiện đang dần trở thành xu hướng mạnh mẽ của thế giới. Vậy đặc điểm
của hai mô hình này khác nhau như thế nào?
Về năng lượng sử dụng trong nền kinh tế: Kinh tế nâu chủ yếu khai
thác và sử dụng năng lượng từ nguồn nhiên liệu hóa thạch và các nguồn tài
nguyên thiên nhiên cho hoạt động kinh tế trong khi kinh tế xanh hướng tới sử
dụng năng lượng thay thế, năng lượng tái tạo thân thiện với môi trường.
Về tăng trưởng kinh tế: Kinh tế nâu phát triển chủ yếu chú trọng vào
mặt hiệu quả-lợi ích từ hoạt động kinh doanh sản xuất mang lại, mà không
quan tâm đến chi phí môi trường nên tăng trưởng kinh tế trong mô hình này
hiện nay đang đạt tới cấp độ tàn phá nhiều hơn là tạo ra của cải thực. Còn
trong kinh tế xanh không chỉ thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo chiều rộng
mà còn đề cao sự phát triển mang tính chiều sâu, cụ thể tăng trưởng xanh ở
đây chính là tăng trưởng kinh tế trừ đi sự thiệt hại về môi trường.
Về tác động đối với xã hội, môi trường và đa dạng sinh học: Kinh tế
nâu xả ra môi trường một lượng khí nhà kính cực lớn, gây tổn hại cho môi
trường, suy giảm đa dạng sinh học, gây biến đổi khí hậu quy mô toàn cầu,
không đảm bảo an ninh năng lượng, dẫn đến chiến tranh và xung đột, đe dọa
14
cuộc sống con người … Ngược lại kinh tế xanh với mục tiêu cuối cùng là
phát triển bền vững mang lại sự cân bằng lợi ích của 3 yếu tố: kinh tế - môi
trường – xã hội.
Về hiệu quả kinh tế dài hạn: kinh tế xanh được chứng minh là có hiệu
quả về mặt dài hạn hơn hẳn kinh tế nâu, đồng thời duy trì và phục hồi vốn tự
nhiên. Theo báo cáo Hướng tới nền kinh tế xanh của Chương trình Môi
trường Liên hợp quốc – UNEP năm 2011, với kịch bản đầu tư xanh, có số vốn
khoảng 2% GP toàn cầu (tương đương 1.300 tỷ USD) thì các mô hình kinh tế
vĩ mô tính toán và đều chỉ ra rằng: xét trong dài hạn sẽ cải thiện hiệu quả kinh
tế và tăng tổng lượng của cải trên toàn cầu trên cơ sở duy trì và phục hồi được
các nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn.
Kinh tế nâu đã đặt sức ép quá lớn lên thế giới tự nhiên và các nguồn lực
của nó. Do đó, quá trình phát triển kinh tế này đã đưa thế giới tới suy thoái
kinh tế, khủng hoảng sinh thái trầm trọng và biến đổi khí hậu. Nhìn nhận vấn
đề theo mục tiêu phát triển kinh tế theo hướng bền vững, mô hình phát triển
kinh tế nâu hiện tại rõ ràng không còn phù hợp nữa và mô hình kinh tế xanh
chính là hướng đi mới tiến bộ, đúng đắn, mang tính tất yếu khách quan.Nhìn
nhận vấn đề giữa kinh tế và môi trường, trước khi khái niệm kinh tế xanh xuất
hiện, kinh tế môi trường chính là công cụ để phân tích vấn đề này. Mặc dù
đều liên quan đến yếu tố môi trường và kinh tế, nhưng chúng không phải là
một bởi hai khái niệm này đặt ở hai giác độ khác nhau, cụ thể:
Kinh tế môi trường chuyên nghiên cứu các vấn đề về môi trường với cách
nhìn và phương pháp phân tích của kinh tế học, trong đó, yếu tố môi trường
được đề cao hơn, tức là dùng công cụ kinh tế để xét các vấn đề môi trường.
Kinh tế xanh không chỉ nghiên cứu về môi trường, mà nghiên cứu về sự
cân bằng giữa lợi ích của môi trường và lợi ích của xã hội. Đây là hai mặt
15
không thể tách rời trong một tổng thể. Vì thế kinh tế xanh không phải là kinh tế
chỉ nghiên cứu về môi trường, có thể nói nó bao hàm cả kinh tế môi trường.
Xét về mặt học thuật, “kinh tế xanh” là sự nâng cấp của “Kinh tế môi
trường” (Environmental Economy), mở ra một hướng tiếp cận rộng hơn cho cả
những điều chỉnh từ chính sách kinh tế vĩ mô đến điều hành thực hiện trong kinh
tế vi mô (nhất là đối với chính sách công trong đầu tư cho khôi phục tài nguyên,
môi trường, cùng sự tăng trưởng về thu nhập, cũng như việc làm thông qua đầu
tư của Nhà nước và tư nhân), làm giảm thiểu phát thải cacbon, giảm thiểu ô
nhiễm môi trường. Tóm lại, qua các quan niệm và phân tích đã đề cập ở trên, có
thể thấy nhận thức về kinh tế xanh hiện nay chưa thống nhất trên thế giới, tuy
nhiên đây chính là mô hình kinh tế hứa hẹn sự khởi sắc cho tình hình thế giới nói
chung và mỗi quốc gia nói riêng về một tương lai bền vững đảm bảo cân bằng
lợi ích giữa kinh tế, môi trường và xã hội
1.2.
Nội dung của kinh tế xanh.
1.2.1. Đặc điểm của kinh tế xanh
Kinh nghiệm của các quốc gia cho thấy hiện có một số cách tiếp cận để
thúc đẩy tăng trưởng xanh, đó là cách tiếp cận theo từng khu vực của nền kinh
tế, hoặc tiếp cận liên ngành xuyên suốt các lĩnh vực như sử dụng hiệu quả tài
nguyên, sản xuất và tiêu dùng bền vững...Tuy nhiên, với cách tiếp cận nào,
đặc điểm của tăng trưởng xanh chủ yếu bao gồm các vấn đề sau:
- Sản xuất và tiêu dùng bền vững;
- Giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu;
- Xanh hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua phát triển công
nghệ xanh, phát triển các ngành công nghiệp cao, sử dụng ít tài nguyên, áp
dụng các biện pháp sản xuất sạch;
- Xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững;
- Bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên;
16
- Cải tổ và áp dụng các công cụ kinh tế;
- Xây dựng và thực hiện các chỉ số sinh thái.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá kinh tế xanh
Một loạt các chỉ số có thể giúp đo lường các quá trình chuyển đổi
hướng tới một nền kinh tế xanh. UNEP phối hợp với các đối tác như Tổ chức
Hợp tác & Phát triển Kinh tế (OECD) và Ngân hàng Thế giới (WB) để phát
triển một bộ các chỉ tiêu mà từ đó các chính phủ có thể lựa chọn các chỉ tiêu
phù hợp tùy thuộc vào tình hình của mỗi quốc gia, chẳng hạn như cấu trúc của
nền kinh tế hay nguồn vốn tự nhiên. Các chỉ số đang được phát triển này có
thể được tạm chia thành ba nhóm sau đây:
Các chỉ số kinh tế: chỉ số về tỉ lệ đầu tư, tỉ lệ sản lượng và việc làm trong
các lĩnh vực đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững, chẳng hạn như tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) xanh.
Các chỉ số môi trường: chỉ số sử dụng hiệu quả tài nguyên, về ô nhiễm ở
mức độ ngành hoặc toàn nền kinh tế (ví dụ như hệ số sử dụng năng
lượng/GDP, hoặc hệ số sử dụng nước/GDP).
Các chỉ số tổng hợp về tiến bộ và phúc lợi xã hội: ví dụ như các chỉ số
tổng hợp về kinh tế vĩ mô, bao gồm ngân sách quốc gia về kinh tế và môi
trường, hoặc những chỉ số đem lại cái nhìn toàn diện hơn về phúc lợi, ngoài
định nghĩa hẹp của GDP bình quân đầu người.
Còn theo OECD bàn về tăng trưởng xanh năm 2011, tăng trưởng xanh là
mô hình và công cụ thực hiện phát triển bền vững với 4 nhân tố cấu thành cơ
bản: (1) Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài nguyên môi trường; (2) Tài
sản tự nhiên cơ bản của nền kinh tế; (3) Các chỉ số chất lượng môi trường của
cuộc sống (4) Các chỉ số mô tả cơ hội kinh tế và phản ứng chính sách.
Hiệu quả sử dụng tài nguyên môi trường: Nhằm nắm bắt nhu cầu sử
dụng hiệu quả nguồn vốn tự nhiên và nhằm đo lường được các khía cạnh của
17
sản xuất mà khó có thể định lượng trong mô hình kinh tế cũng như trong
khuôn khổ kế toán.
Các chỉ số mô tả tài sản tự nhiên cơ bản của nền kinh tế: Nhằm phản
ánh một thực tế rằng việc suy giảm tài sản tự nhiên chỉ ra những rủi ro cho sự
phát triển của nền kinh tế. Bởi vì, tăng trưởng kinh tế bền vững đòi hỏi các tài
sản tự nhiên cơ bản phải được duy trì.
Các chỉ số chất lượng môi trường của cuộc sống: Nhằm nắm bắt tác
động trực tiếp của môi trường đến cuộc sống của con người. Ví dụ thông qua
việc khả năng tiếp cận nguồn nước sạch của người dân hay ảnh hưởng nguy
hại của việc ô nhiễm không khí tới sức khỏe của con người.
Các chỉ số mô tả cơ hội kinh tế và phản ứng chính sách: được sử dụng
để thấy rõ được hiệu quả của chính sách đối với việc tăng trưởng xanh và
những tác động của nó đối với việc phát triển kinh tế.
Hoạt động kinh tế
Sản xuất
Tiêu dùng
(Hộ gia đình,
1.Hiệu quả sử
dụng tài TNMT
Chính phủ)
3. Chất lượng môi
trường của c-sống
4.Cơ hội kinh tế và
phản ứng chính
sách
Tài nguyên và môi trường
2.Các chỉ số mô tả
tài sản TN cơ bản
Sơ đồ1.1: Mô hình mối quan hệ các thành tố tăng trưởng xanh của OECD
Mặc dù đã có một số thử nghiệm và đề xuất xây dựng nội dung và
phương pháp tính GDP xanh, luận văn cho rằng, GDP xanh là phần GDP còn
18
lại sau khi khấu trừ một phần chi phí cần thiết để phục hồi môi trường do hậu
quả của quá trình tái sản xuất gây ra.
Hay: GDP xanh = GDP truyền thống - Chi phí tiêu dùng tài nguyên –
Chi phí mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế. 1
Theo “Hướng tới nền kinh tế xanh” do UNEP công bố năm 2011, mô
hình kịch bản đầu tư xanh với số vốn khoảng 2% GDP toàn cầu (khoảng 1.300 tỉ
USD), trong đó khoảng một phần tư của tổng số (0,5% GDP) được đầu tư cho
các lĩnh vực sử dụng nhiều vốn tự nhiên như các ngành nông nghiệp, lâm
nghiệp, nước sạch và thủy sản (GDP xanh). Do quy mô, giai đoạn phát triển kinh
tế khác nhau, do tình trạng môi trường tự nhiên và do sự lựa chọn cách thức tiến
hành chính sách của mỗi quốc gia khác nhau nên cấu phần xanh trong tổng giá
trị gói kích thích kinh tế hiện nay là khác nhau.
Nước
Tỷ lệ (%)
Nước
Tỷ lệ (%)
Hàn Quốc
81
Đức
13
EU
Trung Quốc
59
35
Mỹ
Nhật Bản
2
2,6
Pháp
21
Ấn Độ
0
Bảng 1.1: Tỷ lệ của cấu phần “xanh” trong tổng giá trị gói kích thích kinh tế
Nguồn: HSBC Global Research. 2009. A Climate for Recovery: The
Color of Stimulus Goes Green.
Cơ cấu GDP xanh càng lớn, quốc gia đó càng chủ trọng đẩy mạnh tăng
trưởng xanh. Cơ cấu GDP xanh trong tổng gói kích thích nền kinh tế của một
nước chiếm từ 20% trở lên cho thấy quốc gia đó hướng đến đầu tư mạnh mẽ
phát triển kinh tế xanh cho sự phát triển bền vững trong tương lai.
_____________________________________
1
Theo viện Khoa Học Thống Kê (2012) “Một vài thông tin về chỉ tiêu GDP
xanh”.
19
1.3.
Các yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế xanh và các chỉ số đo lường
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế xanh và đồng thời là cơ sở cho các
chỉ số giúp đo lường các quá trình chuyển đổi hướng tới một nền kinh tế
xanh. UNEP phối hợp với các đối tác như OECD và WB để phát triển một bộ
các chỉ tiêu mà từ đó các chính phủ có thể lựa chọn các chỉ tiêu phù hợp tùy
thuộc vào tình hình của mỗi quốc gia, chẳng hạn như cấu trúc của nền kinh tế
hay nguồn vốn tự nhiên. Các chỉ số đang được phát triển này có thể được tạm
chia thành ba nhóm sau đây:
Các chỉ số kinh tế: chỉ số về tỉ lệ đầu tư, tỉ lệ sản lượng và việc làm trong
các lĩnh vực đáp ứng các tiêu chuẩn bền vững, chẳng hạn như GDP xanh.
GDP xanh là chỉ số được tính bằng cách lấy chỉ số GDP truyền thống trừ đi
các chỉ số về cạn kiệt tài nguyên và thiệt hại do ô nhiễm môi trường. Chỉ số
GDP xanh cho phép chúng ta có được những chính sách tăng trưởng bền
vững hơn, tránh tình trạng tăng trưởng bất chấp mọi giá.
Các chỉ số môi trường: chỉ số sử dụng hiệu quả tài nguyên, về ô nhiễm ở
mức độ ngành hoặc toàn nền kinh tế (ví dụ như hệ số sử dụng năng
lượng/GDP, hoặc hệ số sử dụng nước/GDP)
Các chỉ số tổng hợp về tiến bộ và phúc lợi xã hội: ví dụ như các chỉ số
tổng hợp về kinh tế vĩ mô, bao gồm ngân sách quốc gia về kinh tế và môi
trường, hoặc những chỉ số đem lại cái nhìn toàn diện hơn về phúc lợi, ngoài
định nghĩa hẹp của GDP bình quân đầu người.
1.4.
Vai trò của kinh tế xanh
Theo nghiên cứu của nhóm chuyên gia của UNEP thì quá trình xanh
hóa không những tạo thêm của cải, đặc biệt đối với vốn tự nhiên, mà còn gia
tăng tốc độ tăng trưởng GDP. Nền kinh tế xanh còn là trụ cột để giảm nghèo.
Trong thời kỳ quá độ sang nền kinh tế xanh, những việc làm mới được tạo ra
20
sẽ dần thay thế việc làm bị mất đi do chuyển đổi từ nền kinh tế nâu sang xanh.
Nếu có ý thức phát triển kinh tế xanh sớm sẽ rút ngắn được quá trình phát
triển, nhanh chóng tiến tới xã hội thịnh vượng, phát triển bền vững.
1.4.1. Kinh tế xanh đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững
“Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu
cầu hiện tại mà không ảnh hưởng hay làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu
cầu của các thế hệ tương lai”. Từ cuối những năm 80, thuật ngữ này đã gây
được sự chú ý từ dư luận quốc tế sau khi xuất hiện trong bản báo cáo “Tương
lai chung của chúng ta”, một báo cáo mang tính bước ngoặt của Ủy ban
Brundtland; và tiếp tục gây được tiếng vang tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái
đất năm 1992 (Rio 1992), được coi như là một nguyên tắc quyết định về phát
triển bền vững. Phát triển bền vững đòi hỏi sự tiến bộ và tăng cường sức
mạnh của cả ba yếu tố có tính chất phụ thuộc và tương hỗ: kinh tế - xã hội môi trường. Chuyển đổi sang nền kinh tế xanh có thể là một động lực quan
trọng trong nỗ lực này. Thay vì bị coi như là nơi hấp thụ chất thải tạo ra bởi
các hoạt động kinh tế một cách thụ động, thì trong nền kinh tế xanh môi
trường được xem là nhân tố có tính quyết định đến tăng trưởng kinh tế, cải
thiện chuỗi giá trị, đem lại sự ổn định và thịnh vượng lâu dài. Nói cách khác,
nhân tố môi trường thực sự đóng vai trò như là chất xúc tác cho tăng trưởng
và đổi mới trong nền kinh tế xanh. Trong nền kinh tế xanh, nhân tố môi
trường có khả năng tạo ra tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội. Ngoài ra, khi
mà sinh kế của một bộ phận người dân có mức sống dưới mức nghèo khổ phụ
thuộc nhiều vào tự nhiên, hơn nữa họ là những đối tượng dễ bị tổn thương do
tác động của thiên tai cũng như sự biến đổi khí hậu, việc chuyển đổi sang nền
kinh tế xanh cũng góp phấn cải thiện sự công bằng xã hội, và có thể được xem
như là một hướng đi tốt để phát triển bền vững. Cách thức để áp dụng mô
hình kinh tế xanh đối với một quốc gia phát triển hoặc đang phát triển có thể
21